1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp tăng cường vốn đầu tư và nâng cao hiệu quả đầu tư trong DNNN

48 320 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Tăng Cường Vốn Đầu Tư Và Nâng Cao Hiệu Quả Đầu Tư Trong DNNN
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại bài luận
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 370 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là một đặc điểm cần phải hết sức chú ý để quản lý vốn sao cho thích nghi với hoàn cảnh kinh tế - xã hội

Trang 1

Chương 1:Lý luận chung về đầu tư phát triển trong

Doanh nghiệpI-Khái quát về đầu tư phát triển trong DN

1-Đầu tư phát triển là gì?

Khái niệm:

* Đầu tư phát triển (ĐTPT):

§TPT là bộ phận cơ bản của đầu tư , là việc sử dụng vốn trong hiện tại vào hoạt động nào đó , là việc đánh đổi lợi ích trước mắt lấy lợi ích lâu dài nhằm tạo ra những tài sản mới , năng lực sản xuất mới và vì mục tiêu phát triển

* Đầu tư phát triển trong Doanh nghiệp

§Çu t ph¸t triÓn trong doanh nghiệp là hoạt động sử dụng vốn cùng các nguồn lực khác trong hiện tại nhằm duy trì sự hoạt động và làm tăng thªm tài sản của DN, tạo thªm việc làm và nâng cao đời sống các thành viên trong DN

2.Tầm quan trọng của hoạt động đầu tư phát triển trong DN

Đầu tư là một phần không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển của

DN Bất kì một lĩnh vực nào trong DN cũng cần phải đầu tư cả về vật chất, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực và khoa học công nghệ Tầm quan trọng của đầu tư trong DN được thể hiện:

- Đầu tư tạo điều kiện giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận: Các DN luôn đặt mục tiêu lợi nhuận để xác định quy mô đầu tư của DN mình.

Không chỉ là mong muốn có lợi nhuận mà họ còn mong muốn tiền của họ không ngừng tăng lên tức là quy mô lợi nhuận ngày càng được mở rộng Hoạt động đầu tư của mỗi DN chính là hoạt động nhằm thực hiện chiến lược sản xuất kinh doanh của DN đó với mục tiêu đạt được lợi nhuận mà DN đề ra Khi lợi nhuận càng cao thì lợi ích càng lớn và ngược lại.Doanh thu có lớn hay không lại phụ thuộc vào quá trình đầu tư của

DN Nếu đầu tư mang lại hiệu quả cao thì doanh thu sẽ nhiều Như vậy đầu tư đã tạo điều kiện giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận

- Tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh của DN: Ngày càng

nhiều DN gia nhập vào thị trường, vì thế DN muốn tồn tại và đứng vững càng cần phải đầu tư vào các lĩnh vực thế mạnh nhằm nâng cao sức cạnh tranh

- Đầu tư tạo điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm : Đời sống

ngày càng được nâng caothì nhu cầu về sản phẩm chất lượng cao càng tăng Vì thế DN càng cần phải đổi mới mẫu mã và chất lượng sản phẩm

để cạnh tranh với các DN khác, nhất là khi hàng nhập ngoại đang tràn lan

trên thị trường

Trang 2

- Đầu tư góp phần đổi mới công nghệ, trình độ khoa học kĩ thuật

trong sản xuất sản phẩm của DN: Với trình độ khoa học phát triển như vũ bão hiện nay thì việc đầu tư vào công nghệ là điều cần thiết để tránh rơi vào tình trạng lạc hậu, nâng cao chất lượng sản phẩm Đầu tư cho khoa học công nghệ, kĩ thuật cũng góp phần cho sự phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Đầu tư góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực:

DN đầu tư vào nhiều hoạt động nhằm tạo sự phát triển cũng không thể quên đàu tư cho phát triển nguồn nhân lực Bởi máy móc không thể thay thế con người Con người là chủ đạo Con người tạo máy móc, công nghệ Đầu tư cho nguồn nhân lực là một trong những điều kiện đầu tiên cho sự phát triển của DN

3 Nguồn vốn đầu tư phát triển trong Doanh nghiệp

Các DN khi thực hiện các hoạt động đầu tư thì điều kiện tiên quyết là nguồn vốn Các nguồn vốn đầu tư phát triển của DN bao gồm

- Vốn ban đầu: vốn chủ SH, vốn cổ đông đối với các Cty cổ phần

- Vốn từ các quỹ trong DN: quỹ khấu hao, quỹ đầu tư phát triển

- Lợi nhuận chưa phân phối

- Vốn vay từ các Ngân hàng thương mại

- Vốn tín dụng thương mại

- Tín dụng thuê mua

- Các nguồn vốn khác tùy trong từng loại hình DN

4 Những nội dung cơ bản cña §TPT trong doanh nghiÖp:

4.1) Đầu tư vào tài sản cố định, đổi mới máy móc thiết bị ở doanh

nghiệp

Đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc thiết bị của DN được xem là đầu tư dài hạn và việc đầu tư này có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của DN trong tương lai

Có thể phân biệt nội dung của đầu tư vào TSCĐ theo 2 góc độ

- Đầu tư vào TSCĐ qua mua sắm trực tiếp.

Đó chính là việc DN bỏ vốn mua lại các cơ sở dã có sẵn để tiếp tục

sử dụng và phát huy hiệu quả của nó Hình thức này chủ yếu được sử dụng ở các nước phát triển thông qua sát nhập và thôn tính Với hình thức này thì DN sẽ chỉ phải bỏ ra một khoản vốn vừa phải ( ít hơn so với đầu

tư mới ) như vậy DN có thể tiết kiệm được một khoản chi phí và dành nó cho các hoạt động khác

- Đầu tư vào xây dựng cơ bản.

Trang 3

Đây là việc rất quan trọng hay nói cách khác, để tiến hành được các hoạt động sản xuất kinh doanh thì DN bắt buộc phải có một lượng vốn để đầu tư xây dựng cơ bản, không chỉ DN mà bất kì tổ chức nào muốn tồn tại và hoạt động phải đầu tư xây dựng cơ bản Ta xét trên 2 góc độ:

- Đầu tư xây dựng hệ thông nhà xưởng, công trình.

Đối với một DN mà nói thì đây là yếu tố căn bản ban đầu có thể tiến hành sản xuất kinh doanh

Trước hết ta xem xét DN kinh doanh trên lĩnh vực công nghiệp: để tiến hành sản xuất ra sản phẩm thì phải có nơi, địa điểm (nhà xưởng ) để chứa các dụng cụ hàng hoá, máy móc thiết bị để giao dịch

Đối với DN xây dựng thì đây vừa là công việc vừa là sản phẩm của

họ và họ sẽ chuyển giao bán lại cho ngưới khác…

Vậy tóm lại đầu tư cho việc xây dựng nhà xưởng, trụ sở, cơ quan…

là đầu tư bắt buộc ban đầu, bất kì một DN nào củng phải bỏ ra một khoản vốn để tiến hành xây dựng cơ sở vật chất ban đầu Hơn nữa khi mở rộng sản xuất kinh doanh thì đầu tư thêm vào xây dựng cơ bản là điều hiển nhiên

- Đầu tư vào máy móc thiết bị.

Có nhà xưởng rồi, muốn sản xuất ra các sản phẩm phải mua sắm thiết bị, hay nói cách khác DN muốn mở rộng thêm sản xuất cần mua thêm máy móc thiết bị, sau một thời gian sử dụng máy móc thiết bị bị hỏng, khấu hao hết Máy móc bị hao mòn hữu hình thì đều phải tiến hành bỏ chi phí

để sửa chữa mua sắm mới Tất cả những nội dung đó đều được hiểu là đầu tư vào máy móc thiết bị Như vậy bất cứ giai đoạn nào DN cũng cần hình thành một khoản quĩ để chi dùng cho việc mua sắm, sửa chữa, thay đổi máy móc thiết bị Khoản qũi này có thể được gọi là quĩ khấu hao hoặc dự phòng

Các DN kinh doanh trên lĩnh vực khác nhau thì sử dụng các loại máy móc thiết bị khác nhau, nhưng dù hoạt dộng trên bất kì lĩnh vực sản xuất nào thì đầu tư vào máy móc thiết bị là điều kiện cơ bản của quá trình sản xuất.Đầu tư xây dựng cơ bản khác như: đầu tư xây dựng các công trình tạm, các công trình sản xuất phụ để tạo nguồn vật liệu và kết cấu phu kiện phục vụ ngay cho sản xuất xây dựng…

Việc đầu tư đổi mới máy móc thiết bị,các DN cần xem xét các vấn

đề sau:

- Vòng đời của máy móc thiết bị và công nghệ.

- Phân tích môi trường kinh doanh.

- Phân tích môi trường ngành và nội bộ ngành

- Phân tích thực trạng nội bộ doanh nghiệp

Trang 4

- Phân tích nhóm nhân tố liên quan đến nguồn nhân lực

- Phân tích vị thế của doanh nghiệp trên thị trường:

- Xem xét các điều kiện về cơ sở hạ tầng hiện có hoặc có các biện pháp bổ sung thích hợp với máy móc thiếp bị và công nghệ dự kiến sẽ lựa chọn

- Phân tích các yếu tố liên quan đến máy móc thiết bị và công nghệ

phân tích các chỉ tiêu thể hiện hiệu quả đầu tư đổi mới máy móc thiết bị

và công nghệ

4.2) Đầu tư bổ sung hàng dự trữ

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, dự trữ hàng hoá, nguyên vật liệu

là cần thiết khách quan vì duy trì dự trữ hàng hoá có vai trò:

- Đảm bảo sự gắn bó, liên kết chặt chẽ giữa các khâu, các giai đoạn trong quá trình sản xuất Khi cung và cầu về một loại hàng hoá dự trữ nào đó không đều đặn giữa các thời kì thì việc duy trì thường xuyên một lượng

dự trữ nhằm tích luỹ đủ cho thời kì cao điểm là một vấn đề hết sức cần thiết Nhờ duy trì dự trữ, quá trinh sản xuất sẽ được tiến hành liên tục tránh sự thiếu hụt đứt quãng của quá trình sản xuất

- Đảm bảo kịp thời nhu cầu của khách hàng trong bất cứ thời điểm

nào.Đây cũng là cách tốt nhất duy trì và tăng số lượng khách hàng của

DN Trong nền kinh tế thị trường, việc duy trì một khách hàng là rất khó khăn, ngược lại để mất đi một khách hàng thì vô cùng dễ dàng Vì vậy,

DN cũng cần phải bỏ ra một số chi phí nhất định để thoả mãn nhu cầu của họ

Dự trữ hàng hoá là một yêu cầu khách quan của DN bởi vì có những hàng hoá mà thời gian sản xuất và tiêu dùng là không cùng lúc, hoặc là địa điểm tiêu dùng khác nhau vì vậy cần phải có thời gian và chi phí đầu tư cho việc dự trữ và bảo quản hàng hoá

Hàng dự trữ là hàng hoá mà DN giữ lại trong kho bao gồm cả vật tư

nguyên liệu, bán thành phẩm và thành phẩm

* Đặc điểm của đầu tư hàng dự trữ

-Dự trữ chuyển hoá thành các dạng khác nhau trong quá trình sản xuất -Quy mô đầu tư vào dự trữ phụ thuộc vào nhiều nhân tố như dự đoán cầu trong tương lai , phụ thuộc vào quy luật tiêu dùng nhu cầu riêng biệt của mỗi mặt hàng và quy luật tiêu dùng ở thời kì quá khứ sẽ được phản ánh tương tự ở kì dự báo

-Phụ thuộc vào khách hàng, sản xuất sản phẩm của DN nếu DN có tham vọng chiếm lĩnh thị trường

-Phụ thuộc vào mức độ chậm trễ của khâu phân phối lưu thông thể hiện ở một bộ phận dự trữ

4.3) Đầu tư phát triển nguồn nhân lực

Trang 5

Nguồn nhân lực có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh và sự phát triển của DN Nêú thiếu nguồn nhân lực hoặc nguồn nhân lực không đáp ứng được yêu cầu hoạt động của DN sẽ bị ngừng trệ, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển Nguồn nhân lực luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu tại các DN.

Trước tiên, đầu tư phát triển nguồn nhân lực là đầu tư nâng cao chất lượng nhân lực: đào tạo nâng cao tay nghề và tinh giảm đội ngũ lao động Hình thức đào tạo rất phong phú, nhưng chủ yếu là hình thức đào tạo ngắn hạn để kịp thời cho phục vụ sản xuất kinh doanh đồng thời hình thức đào tạo dài hạn ( hơn 12 tháng ) đang ngày càng tăng, DN ngày càng quan tâm phát triển nguồn nhân lực một cách toàn diện

Trong điều kiện hiện nay nhiều DN coi việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực là chiến lược canh tranh.Nguồn nhân lực trong DN bao gồm :Cán bộ quản lí, công nhân sản xuất và cán bộ nghiên cứu khoa học Đối với từng loại phải có chính sách đào tạo riêng nhưng đều phải liên tục được tu dưỡng rèn luyện nghiên cứu học tập để nâng cao kinh nghiệm, trình độ tay nghề

Đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp bắt đầu từ khâu tuyển người lao động Đây là cơ sở để có được lực lượng lao động tốt, bởi vậy khâu tuyển người đòi hỏi cần phải rất khắt khe cẩn thận nhất.Tiếp đến là quá trình nâng cao khả năng lao động của người lao động thường xuyên.Trong điều kiện đổi mới hiện nay rất nhiều công nghệ hiện đại đã

và đang được ứng dụng trong các loại hình DN nước ta.Vì vậy việc đào tạo lao động là yêu cầu vô cùng quan trọng Cuối cùng là việc khen

thưởng tổ chức các hoạt động về tinh thần giúp người lao động hăng say trong công việc từ đó nâng cao năng suất lao động Các hinh thức khen thưởng đang được thực hiện ở các DN các cá nhân thành viên có thành tích tốt đều được thưởng xứng đáng góp phần nâng cao trong xí nghiệp, công ty, các cuộc thi các cá nhân …Nhờ có chính sách đào tạo lao động nhiều DN đã đạt được những thành công to lớn, góp phần không nhỏ trong chiến lược sản xuất kinh doanh cũng như chiến lược cạnh tranh của mình

4.4.Đầu tư vào chất lượng sản phẩm.

Chất lượng sản phẩm là một phạm trù phức tạp mà DN thường hay gặp trong các lĩnh vực hoạt động của mình

Chất lượng luôn là một yếu tố quan trọng quyết định đến khả năng cạnh tranh của DN trên thị trường

Chất lượng hàng hoá tốt sẽ giúp DN tạo uy tín, danh tiếng tốt tới người tiêu dùng Là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển lâu dài cho DN

- Tăng chất lượng sản phẩm tương đương với tăng năng suất lao dộng xã hội, giảm nguyên vật liệu sử dụng, tiết kiệm tài nguyên và giảm ô nhiễm môi trường

Trang 6

Nâng cao chất lượng sản phẩm còn là biện pháp hữu hiệu kết hợp các loại lợi ích của DN, người tiêu dùng, xã hội, người lao động.

Nâng cao chất lượng lao động sẽ làm giảm chi phí do phế phẩm, công việc phải sửa lại, sử dụng tốt hơn nguyên liệu, máy móc thiết bị, nâng cao năng suất mở rộng thị trường nhờ chất lượng cao hơn và giá thấp hơn Từ

đó dẫn đến tăng sản xuất, đảm bảo việc làm tăng thu nhập cho người lao động.

4.5) Đầu tư vào nghiên cứu và triển khai, đổi mới công nghệ

Khi DN muốn tạo ra sản phẩm mới và các lĩnh vực hoạt động mới đòi hỏi cần đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu, triển khai, ứng dụng công nghệ

Đầu tư nghiên cứu khoa học công nghệ là vô cùng cần thiết đối với các

DN, là con đường nâng cao sức cạnh tranh và khả năng tồn tại phát triển của DN trên thị trường.Tuy nhiên, đầu tư nghiên cứu hoặc mua công nghệ đòi hỏi vốn lớn và độ rủi ro cao

Hiên nay khả năng đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và triển khai khoa học và công nghệ của DN Việt nam còn khá khiêm tốn Cùng với đà phát triển của kinh tế đất nước và DN, trong tương lai tỷ lệ chi cho hoạt động đầu tư này sẽ ngày càng tăng, tương ứng với nhu cầu và khả năng của

DN Nên mục đích của các chương trình dự án không chỉ dừng lại ở nghiên cứu ứng dụng nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm tạo nên sản phẩm có đặc điểm nổi trội mà còn tập trung nghiên cứu tìm kiếm, phát triển kĩ thuật và công nghệ mới nhất, tiên tiến, cho những hoạt động của DN

*Những yếu tố ảnh hưởng đến nghiên cứu và triển khai.

- Qui mô sản xuất kinh doanh của DN: qui mô càng lớn thì khả năng qui

mô đầu tư nghiên cứu triển khai càng lớn

- Cơ hội về đổi mới kĩ thuật và các cơ hội trong ngành: những ngành có nhiều cơ hội đổi mới công nghệ và kĩ thuật đòi hỏi các DN trong ngành

đó phải tích cực đầu tư cho nghiên cứu nắm bắt kịp thời các cơ hội về kĩ thuật và công nghệ trong ngành

- Khả năng tài chính của DN ; đây là khả năng cho phép xác định được khả năng và qui mô đầu tư nghiên cứu và triển khai của DN

Các quan điểm đánh giá hiệu quả hoạt động nghiên cứu triển khai của các DN:

Thứ nhất, hiệu quả đầu tư nghiên cứu triển khai cần được xem xét đánh

giá về tất cả các mặt tài chính kinh tế xã hội, môi trường

Thứ hai, hiệu quả đầu tư nghiên cứu triển khai có thể lượng hoá được

hoặc không lượng hoá được Cho nên kết quả của đầu tư cho nghiên cứu

và triển khai có thể được biểu hiên dưới dạng hiện hoặc ẩn tuỳ từng dự

án, chương trình nghiên cứu

Trang 7

Các bước điển hình đổi mới công nghệ ở Doanh nghiệp

Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường mọi thứ luôn luôn biến đổi và một DN muốn đứng vững trên thị trường và phát triển bền vững luôn được người tiêu dùng đón nhận thì DN cũng phải luôn biến đổi theo kịp những đòi hỏi của công nghệ mới.Muốn vậy DN cần phải có chiến lược đầu tư cho nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ một cách thoả đáng

4.6) Đầu tư vào hoạt động Marketing

Hoạt động marketing là một trong những hoạt động quan trọng của DN Marketing còn có thể định nghĩa là một hệ thống các hình thức kinh doanh để hoạch định, định giá chiêu mại và phân phối hàng hoá hay dịch

vụ nhằm thu lợi nhuận từ thị trường, thị trường này bao gồm cả khách hàng công nghiệp, hộ tiêu dùng hiện tại và trong tương lai

Marketing (MKT) là một trong những yếu tố quan trọng Đầu tư cho hoạt động marketing bao gồm đầu tư cho hoạt động quảng cáo, xúc tiến

thương mại, xây dựng thương hiệu…

*Vai trò của marketing với kinh doanh của doanh nghiêp.

- Một công ty sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao mà không thể phân phối hay đưa chúng ra thị trường để bán và thu lợi nhuận thì không thể tồn tại được Bởi vây, Marketing (MKT) là một trong những

Kế hoạch kinh doanh

Phân tích thị trường

Phân tích

kỹ thuật

Phê chuẩn

Sản xuất và thương mại hóa

Kiểm định thông qua thị trường Loại

bỏ

Trang 8

yếu tố quan trọng Đầu tư cho hoạt động marketing bao gồm đầu tư cho hoạt động quảng cáo, xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu… Trong sự nghiệp kinh doanh của mọi DN trên thị trường thì MKT là vấn

đề đặc biệt được chú trọng Đối với các DN Việt Nam thì nó càng quan trọng hơn, bởi lẽ Việt Nam là thành viên khu vực kinh tế quan trọng nhất thế giới ( khu vực Đông Nam á ) hơn nữa trong tương lai không xa

ASEAN sẽ từng bước tiến tới thị trường thống nhất, hàng hoá của các quốc gia trong khối lưu thông buôn bán trên thị trường Việt Nam Đầu tư cho hoạt động marketing cần chiếm một tỷ trọng hợp lí trong tổng vốn đầu tư của DN Chính vì thế, việc đẩy nhanh các hoạt động MKT trong giai đoạn hiện nay đang là vấn đề cấp bách đối với các DN Việt Nam, vì hàng hoá của chúng ta bị canh tranh gay gắt hơn trên thị trường trong nước, các DN trong nước sẽ không còn được bảo vệ bằng hàng rào thuế quan như trước

*Vai trò của thương hiệu:

- Thương hiệu trước tiên là căn cứ để giúp khách hàng và đối tác phân biệt sản phẩm của DN mình với các DN khác

- Thương hiệu là nhân tố nổi bật gắn với uy tín của DN , chất lượng sản phẩm và dịch vụ của DN cung cấp cho các đối tác trong hoạt động sản xuất kinh doanh

- Thương hiệu mang lại những lợi ích nổi bật cho DN như: tạo niềm tin cho khách hàng vào chất lượng sản phẩm, yên tâm sử dụng sản phẩm và thu hút khách hàng bởi lẽ nhãn hiệu hàng hoá cũng như tên giao dịch của DN, người ta biết đến trước hết bởi nó gắn liền với sản phẩm

-Thương hiệu mang lại thuận lợi khi tìm kiếm thị trường mới và dễ dàng triển khai xúc tiến bán hàng

-Thương hiệu tốt còn đưa lại ích lợi trong việc thu hút vốn đầu tư, thu hút nhân tài, có ưu thế trong định giá… đây là yếu tố quan trọng tạo nên sự bền vững của DN

Tóm lại việc tạo dựng thương hiệu có uy tín cho một DN, có vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của DN Thương hiệu không chỉ là công cụ để cạnh tranh mà còn góp phần tạo nên nhân tố ổn định cho phát triển

- Chi phí đầu tư cho hoạt động tiếp thị , khuyến mại

- Chi phí dành cho quảng cáo

- Chi phí dành cho hoạt động tiếp thị, khuyến mãi

- Chi phí dành cho nghiên cứu thị trường, xây dựng và củng cố uy tín thương hiệu

- Các chi phí khác

Hoạt động marketing trong DN có tính chất phức tạp, đòi hỏi phải có

sự chuẩn bị đầu tư cũng như lập kế hoạch chi phí cho các hoạt động này một cách chi tiết

Trang 9

5 Những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển trong DN

* Những yếu tố thuộc về chính sánh của nhà nước:

Chiến lược đầu tư có sự chi phối từ các yếu tố về chính trị và chính sánh của Nhà nước Bởi vậy, trong suốt quá trình hoạt động đầu tư đều phải bám sát theo những chủ trương và sự hướng dẫn của Nhà nước: thủ tục hành chính khi lập và thực hiện dự án, chính sách thuế, các biện pháp hỗ trợ cho các DN từ phía Nhà nước về khả năng tiếp cận vốn vay, các luật, quy định của Chính phủ về đầu tư

*Những nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên, văn hóa-xã hội:

Trong quá trình xây dựng và triển khai các dự án đầu tư không thể không chú trọng đến các điều kiện tự nhiên nơi mà các dự án đi vào hoạt động bởi vì trên thực tế, các dự án đầu tư tại đây đều chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên Nếu các điều kiện tự nhiên ở tại dự án không thuận lợi sẽ ảnh hưởng đến tiến độ thi công của dự án điều đó có thể gây rủi ra cho khả năng thu hồi vốn Ngược lại, nếu các điều kiện thuận lợi thì khả năng thu hồi vốn đầu tư là rất lớn

Khía cạnh văn hoá-xã hội từ lâu đã có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến công cuộc đầu tư : chẳng hạn như khi dự án được triển khai và đi vào hoạt động thì nó phải được xem xét là có phù hợp với phong tục tập quán văn hoá nơi đó hay không, các điều lệ và quy định xã hội có chấp nhận nó hay không Đây là một yếu tố khá quan trọng, ảnh hưởng nhiều và lâu dài đối với dự án Do đó cần phân tích một cách kĩ lưỡng trước khi đầu tư để tối ưu hoá hiệu quả đầu tư

5.2.Nhóm nhân tố chủ quan

+ Khả năng tài chính: đây là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư Năng lực tài chính mạnh ảnh hưởng đến vốn, nguyên vật liệu, máy móc… cấp cho dự án và do đó ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng của dự án Năng lực tài chính của DN cũng ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế khác

+ Năng lực tổ chức: có thể coi đây là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng nhiều nhất đến hiệu quả đầu tư của DN Nếu năng lực tổ chức tốt sẽ nâng cao chất lượng dự án, tiết kiệm chi phí và từ đó nâng cao hiệu quả đầu tư

Trang 10

+ Chất lượng nhõn lực: mọi sự thành cụng của DN đều được quyết định bởi con người trong DN Do đú chất lượng của lao động cả về trớ tuệ và thể chất cú ảnh hưởng rất quan trọng đến kết quả hoạt động kinh doanh núi chung và kết quả hoạt động đầu tư núi riờng

+ Trỡnh độ khoa học - cụng nghệ: cú ảnh hưởng lớn đến tiến độ và chất lượng của dự ỏn, do đú ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư Ngoài ra nú cũng ảnh hưởng đến uy tớn của DN trong việc thu hỳt vốn đầu tư và đấu thầu

để cú cỏc dự ỏn

6 Cỏc chỉ tiờu phõn tớch hiệu quả tài chớnh của hoạt động đầu tư trong DN

6.1 Hiệu quả tài chớnh trong doanh nghiệp :

Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính đợc tính nh sau:

-tỷ suât sinh lời vốn đầu t:

6.2 Hiệu quả sử dụng vốn:

Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ngời ta thờng sử dụng các chỉ tỉêu sau:

Số vòng quay của toàn bộ vốn kinh doanh và số ngày của một vòng quay

+Số vòng quay của toàn bộ vốn kinh doanh (n)

n = KD

V TR

N: càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao

+Số ngày của một vòng quay (s)

Trang 11

V : vốn lu động bình quân của doanh nghiệp.

Chỉ tiêu này cho biết với một đồng vốn lu động doanh nghiệp tạo ra mấy

đồng lợi nhuận

-Hiệu quả sử dụng vốn cố định

Hiệu quả sử dụng vốn cố định cho ta biết khả năng khai thác và sử dụng các loại tài sản cố định của doanh nghiệp

6.3 hiệu quả sử dụng lao động:

Lao động là yếu tố cơ bản của sản xúât, hiệu quả sử dụng lao dộng góp phần nâng cao hiệu quả chung của toàn doanh nghiệp Các chỉ tiêu phản

ánh hiệu quả sử dụng lao động gồm:

+Sức sinh lời bình quân của lao động

π : Lợi nhuận bình quân một lao động.

L: Số lao động bình quân trong kì

+Năng suất lao dộng

W = Q L

W: Năng suất đơn vị lao dộng

Q: Sản lợng sản xuất ra

L: Số lao động bình quân trong kì hoăc tổng thời gian lao động

6.4 Nhóm các chỉ tiêu xét về mặt hiệu quả kinh tế xã hội.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng có sự điều tiết vĩ mô của nhà nớc, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó có hoạt động đầu t phải

đợc xem xét từ 2 góc độ, nh đầu tà và nền kinh tế

Trên góc độ nh đầu tà là các doanh nghiệp, mục đích cụ thể có nhiều nhng qui tụ lại là lợi nhuận Khả năng sinh lợi của dự án là thớc đo chủ yếu quyết định sự chấp nhận một việc làm mạo hiểm của nhà đầu t.khả năng sinh lợi càng cao thì càng hấp dẫn các nhà đầu t

Trang 12

Tuy nhiên không phải mọi hoạt động đầu t có khả năng sinh lợi đều tạo ra những ảnh hởng tốt đẹp đối với nền kinh tế và xã hội Do đó, trên góc

độ quản lí vĩ mô phải xem xét mặt kinh tế xã hội của đầu t, xem xét những lợi ích kinh tế xã hội do hoạt động đầu t đem lại Điều này, giữ vai trò quyết định để đợc các cấp có tham quyền chấp nhận cho phép đầu t, các

định chế tài chính quốc tế, các cơ quan viện trợ song phơng và đa phơng tài trợ cho hoạt động đầu t

Lợi ích kinh tế xã hội của đầu t là chênh lệch giữa các lợi ích mà nền kinh tế xã hội thu đợc so với các đóng góp mà nền kinh tế xã hội phải bỏ ra khi thực hiện đầu t

Những lợi ích mà xã hội thu đợc chính là sự đáp ứng của đầu t với việc thực hiện các mục tiêu chung của xã hội, của nền kinh tế Những sự

đáp ứng này có thể đợc xem xét mang tính chất định tính nh đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế, phục vụ các chủ trơng chính sác của Nhà nớc, góp phần chống ô nhiễm môi trờng hoặc đo l… ờng bằng các tính toán định lợng nh mức tăng cho thu ngân sách, mức gia tăng số ngời có việc làm, mức tăng thu ngoại tệ

Chi phí mà xã hội phải gánh chịu khi một công cuộc đầu t đợc thực hiện bao gồm toàn bộ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, của cải vật chất, sức lao động mà xã hội dành cho đầu t thay vì sử dụng vào các công việc khác trong tơng lai không xa Nhóm chỉ tiêu xét về mặt hiệu quả kinh tế - xã hội bao gồm các chỉ tiêu sau:

6.4.1 Tăng thu ngân sách.

Mọi DN khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải có nhiệm vụ nộp cho ngân sách nhà nớc dới hình thức là các loại thuế nh thuế doanh thu, thuế lợi tức, thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đăc biệt Nhà n… ớc sẽ

sử dụng những khoản thu này để cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân

và lĩnh vực phi sản xuất, góp phần phân phối lại thu nhập quốc dân

6.4.2 Nâng cao đời sống ngời lao động:

Ngoài việc tạo công ăn việc làm cho ngời lao động đòi hỏi các

DN làm ăn phải có hiệu quả để góp phần nâng cao mức sốngcủa ngời lao

đông Xét trờn phơng diện kinh tế, việc nâng cao mức sống của ngời dân

đ-ợc thể hiện qua chỉ tiêu nh gia tăng thu nhập binh quan trên đầu ngời, gia tăng đầu t xã hội, mức tăng trởng xã hội …

6.4.3 Tái phân phối lợi tức xã hội:

Sự phát triển không đồng đều ve mặt kinh tế xã hội giữấ các vùng, các lãnh thổ trong một nớc yêu cầu phải có sự phân phối lợi tức xã hội nhằm giảm sự chênh lệch về mặt kinh tế giữa các vùng

Theo quan điểm của các nhà kinh tế hiện nay, hiệu quả kinh tế xã hội còn thể hiện qua các chỉ tiêu: Bảo vệ nguồn lợi môi trờng, hạn chế gây

ô nhiễm môi trờng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế…

ii kháI quát về dnnn

1.Thế nào là DNNN

Trang 13

-DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu vốn điều lệ hoặc có cổ phần,vốn góp chi phối,được tổ chức dưới hình thức công ty nhà

nước,công ty cổ phần,công ty trách nhiệm hữu hạn (theo điều 1 Luật DNNN 2003)

-DNNN là doanh nghiệp mà nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ(khoản

22 điều 4 luật DN 2005)

2 Đặc điểm của DNNN trong nền kinh tế thị trường

−Về mức độ sở hữu vốn của nhà nước trong DN :

Nhà nước phải đầu tư vào DN đó 1 tỷ lệ vốn đủ lớn ( ít nhất trên 50% vốn điều lệ - khoản 5 điều 3 luật doanh nghiệp nhà nước) để có khả năng chi phối hoạt động của DN Vai trò và nhiệm vụ của DN đó trong nền kinh tế

sẽ quyết định mức độ sở hữu vốn của nó

−Phương thức thực hiện quyền năng của chủ sở hữu (CSH) tài sản: nhà nước là chủ sở hữu DN

Nhà nước ủy quyền cho và phân cấp cho các cơ quan của mình ( Chính phủ, thủ tướng chính phủ, bộ quản lí ngành, bộ tài chính, uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, hội đồng quản trị công ty nhà nước do nhà nước đầu tư toàn bộ vốn điều lệ, tổng công ty đầu tư kinh doanh vốn nhà nước, Công ty nhà nước là đại diện phần vốn do công ty đầu tư kinh doanh tại DN khác) thực hiện chức năng chủ sở hữu Những cơ quan này sẽ chịu trách nhiệm trước nhà nước về việc quản lí tài sản nhà nước giao cho

−Hình thức tổ chức DN: DNNN có thể được tổ chức dưới các hình thức như công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiêm hữu hạn =>

3.Hệ thống trách nhiệm trong DNNN

Hệ thống trách nhiệm bao gồm 3 loại thành phần:

- Ban quản trị của DNNN: những người chuyên điều hành hoạt động của

DN, là những người am hiểu những vấn đề và những yêu cầu của sự điều hành trong khu vực riêng của họ

- Chính phủ: quyết định các mục tiêu dài hạn và mục tiêu phi thương mại

- Quốc hội: đại diện cho quyền lợi của công nhân quyết định tối hậu về ngân sách và chi ngân sách

Trang 14

Tuy nhiên 3 hệ thống này không phải lúc nào cũng hoạt động thống nhất với nhau, đôi khi còn hoạt động quá quyền hạn của dẫn đến sự rối loạn, chồng chéo trong điều hành và quản lý.

4 Vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

- Chi phối được các lĩnh vực kinh tế có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển và ổn định của đất nước

- DNNN khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường, tham gia vào các lĩnh vực mà khu vực tư nhân không có khả năng đảm nhiệm, đưa đất nước phát triển theo định hướng XHCN

- Là động lực cho sự phát triển các DN khác

- Là nguồn lực vật chất chủ yếu của Nhà nước

- Là mẫu mực trong vấn đề giải quyết các chính sách xã hội như việc làm

Trong sáu tháng đầu năm 2008, cả nước đã sắp xếp lại 62 DN, đưa tổng

số DNNN cổ phần hóa tính đến nay là 3.786 DN

Qua quá trình sắp xếp, đổi mới DNNN, đến nay cả nước còn 1.720 DN 100% vốn nhà nước được tổ chức dưới hình thức tập đoàn kinh tế (7), tổng công ty nhà nước (86) và công ty nhà nước độc lập (1099) Ngoài ra,

có 4 ngân hàng thương mại nhà nước

Qua cổ phần, DN được cơ cấu theo hướng tập trung quy mô lớn, hướng vào những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế; quy mô vốn của DNNN được tăng lên đáng kể Năm 2001, vốn bình quân của DNNN khoảng 24 tỷ đồng, nay tăng lên đến 63,6 tỷ đồng Tài chính DN được lành mạnh hoá thông qua việc cơ cấu lại các khoản nợ; xử lý tài sản là vật

tư, hàng hoá ứ đọng, tồn kho, máy móc thiết bị cũ…

Tuy nhiên so với yêu cầu đặt ra, CPH DNNN vẫn chưa như mong muốn

Số lượng doanh nghiệp CPH tuy đã tăng đáng kể trong những năm gần đây nhưng so với yêu cầu vẫn còn hạn chế, tốc độ cổ phần chậm và thời gian thực hiện bị kéo dài; Thu hút cổ đông ngoài DN mới chỉ đạt 15,4% vốn điều lệ, vì vậy các cổ đông chiến lược có ít cơ hội để trở thành những

Trang 15

người chủ có vai trò nhất định trong hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp…

2 Thực trạng hoạt động sản xuất của các DNNN

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các DNNN vẫn làm tốt vai trò

là loại hình DN đi đầu, chiếm tỉ trọng đáng kể trong nền kinh tế Song càng ngày, tỷ trọng doanh thu của các DNNN càng giảm.Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này sẽ được làm rõ trong từng hoạt động đầu tư của DNNN Chúng ta có thể thấy được điều đó qua biểu đồ về doanh thu thuần của DN phân theo loại hình DN

-CPH đã tạo ra nhiều loại hình DN với nhiều chủ sở hữu bao gồm Nhà nước và các thành phần khác Qua đó đã huy động được các nguồn vốn nhàn rỗi vào sản xuất kinh doanh, trong khi Nhà nước lại tránh được tình trạng đầu tư dàn trải, nhỏ lẻ, giảm được rủi ro đầu tư và mặt khác lại có thể có dùng vốn để đầu tư vào các lĩnh vực then chốt khác

- CPH cũng tạo nên một cơ chế quản lý, đội ngũ cán bộ mới thích nghi hơn với cơ chế thị trường Những chuyển biến này đã nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN

Bên cạnh đó, CPH vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục:

- Nhà nước vẫn còn nắm tỷ lệ vốn quá cao trong tổng vốn điều lệ (bình quân 46,5%) Hơn nữa tuy số DNNN đã CPH chiếm hơn 60% nhưng số vốn Nhà nước được cổ phần còn nhỏ bởi hầu hết các DN đã CPH là các

DN nhỏ và vừa, trong khi vốn Nhà nước lại tập trung ở các DN lớn Điều này cho thấy Nhà nước vẫn còn đầu tư dàn trải, hơn nữa còn làm hạn chế

Trang 16

việc mua cổ phần tham gia đầu tư của công nhân viên trong DN và đặc biệt là các tổ chức, cá nhân ngoài DN ở trong và ngoài nước.

- Các DNNN gặp khó khăn trong vấn đề định giá tài sản sau CPH, chưa

có sự đối xử bình đẳng trong vấn để tài chính đối với các DN trước và sau CPH

- Những vướng mắc về việc xử lý nợ đọng của DN trước và sau CPH, vấn

đề định giá DN, việc giải thể các DNNN làm ăn kém hiệu quả,

3.Tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư trong DNNN

Theo số liệu thống kê đến cuối năm 2007, cả nước còn gần 3.000 DNNN các loại, đang nắm giữ 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, gần 50% tổng vốn đầu tư của Nhà nước, 70% tổng vốn vay các ngân hàng nước ngoài

và gần 60% tổng lượng vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại nhà nước

3.1.Vốn bên trong DNNN

*.Vốn của Nhà nước

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, năm 2000 cả nước có 5.266 DNNN, với tổng số vốn Nhà nước tại các DN này là 180.104 tỷ đồng, số vốn Nhà nước bình quân tại một DN là 34 tỷ đồng; Quá trình sắp xếp, cổ phần hoá đến cuối năm 2004 số lượng DNNN chỉ còn 3.811 đơn vị, với tổng số vốn là 270.159 tỷ đồng, số vốn Nhà nước bình quân tại một DN là 71 tỷ đồng, số vốn Nhà nước tại một DN tăng bình quân 2,08 lần so với năm 2000;

Theo thông tin từ Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển DN của Chính phủ, sau quá trình sắp xếp, đổi mới DNNN, đến hết năm 2007 Nhà nước giữ 100% vốn điều lệ ở 524 DN thành viên, giữ trên 50% vốn điều lệ ở

738 DN thành viên và dưới 50% vốn điều lệ ở 672 DN đã cổ phần hóa Báo cáo gửi về Chính phủ của 7 tập đoàn lớn, 11 tổng công ty 91 và 56 tổng công ty 90 qua 6 tháng đầu năm 2008 cho thấy, tổng vốn nhà nước đang có tại các tập đoàn, tổng công ty là 402.815 tỉ đồng so với tổng doanh thu là 510.000 tỉ, tăng 50,8% so với cùng kỳ năm 2007

Nhà nước chỉ tham gia quản lý DN với tư cách là chủ sở hữu, người góp vốn, quản lý tính hiệu quả và việc sử dụng hợp pháp đồng vốn giao cho DN Nhà nước giao vốn cho DN, thì Nhà nước ở vị trí của người góp vốn vào DN, mà mối quan tâm hàng đầu của người góp vốn đó là lợi nhuận Song trên thực tế, không ít tình trạng Nhà nước can thiệp trực tiếp

bằng biện pháp hành chính, do đó rất khó đảm bảo tính tự chủ của DN

*.Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh

Theo số liệu thống kê, sáu tháng đầu năm 2008, tổng lợi nhuận trước thuế

76329 tỉ đồng, tăng 72% so với cùng kỳ năm 2007 Trong đó,18 tập đoàn, TCT 91 đạt 68956 tỉ đồng, tăng 73% so với cùng ký năm 2007 Những tập đoàn, công ty Nhà nước đạt lợi nhuận trước thuế cao là: TCT Lương thực Miền Bắc, Tập đoàn Than –khoáng sản, Tập đoàn dầu khí

Trang 17

Lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh đã tạo nguồn vốn đáng kể và hữu ích cho hoạt động đầu tư của các DNNN

3.2 Vốn huy động bên ngoài

Xét về tổng vốn huy động thì Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp cho rằng, tính đến ngày 31/12/07, tổng vốn huy động của 76 tập đoàn và tổng công ty nhà nước hiện đã huy động hơn 514.000 tỉ đồng (gấp 1,36 lần vốn chủ sở hữu) Con số này tính chung cả vốn vay trong nước, nước ngoài, ngắn hạn, dài hạn và các khoản nợ phải trả khác

Như vậy, tỷ lệ nợ trên vốn của DNNN còn quá cao, một số công ty có số

nợ phải trả gấp năm lần vốn nhà nước tại công ty, có công ty vay gấp hơn

20 lần vốn, dẫn đến độ rủi ro cao, khả năng thanh toán nợ thấp

Việc xử lý các tồn tại về tài chính còn chậm do nhiều nguyên nhân nhưng chưa được khắc phục

Nguồn vốn chủ yếu của các DNNN huy động được là từ các NHTM Nhà nước, các hình thức vay khác: tín dụng thuê mua, vay các NH nước

ngoài.Ngoài ra qua quá trình cổ phần hóa còn huy động được nguồn vốn đáng kể qua việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu và các hoạt động đầu tư tài chính khác

II/ Thực trạng đầu tư của hệ thống DNNN

1.Thực trạng đầu tư vào nhà xưởng, vật kiến trúc

Các DN từ trước tới nay đã rất chú trọng tới việc đầu tư vào nhà xưởng

và vật kiến trúc Các DNNN được ưu tiên hơn so với các loại hình DN khác về cơ sở hạ tầng, đất đai và nguồn vốn hỗ trợ cho việc đầu tư vào xây dựng nhà xưởng, vật kiến trúc, văn phòng nên có lợi thế về mặt bằng Tuy nhiên DNNN Việt Nam hiện nay đầu tư vào xây dựng nhà xưởng chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao.Vẫn còn một số mặt hạn chế,khó khăn như sau:

- Khó khăn về điều kiện giao thông và cơ sở hạ tầng

- Khó khăn về hệ thống điện nước Điện năng hiện nay chưa đủ đáp ứng nhu cầu trong các trung tâm công nghiệp chủ chốt Chi phí cho điện năng và viễn thông rất đắt đỏ, chất lượng đường xá không đồng đều tại các nơi khác nhau của VN hay tình trạng ngập lụt trên nhiều tuyến đường ảnh hưởng lớn tới việc vận chuyển hàng hóa Thông thường ở các thành phố lớn mạng luới điện nước được xây dựng khá tốt song tình trạng thiếu điện nước vẫn xảy ra thường xuyên gây ảnh hưởng xấu đến việc sản xuất kinh doanh của các DN Còn đối với những tỉnh khác thì nhìn chung hệ thống điện nước còn rất kém, khó đáp ứng cho nhu cầu các dự án đầu tư của các DN

- Tình trạng thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng diễn ra khá phổ biến, gây ra thiệt hại to lớn cho nhà nước, bức xúc cho toàn xã hội Năm 2003, nhà nước thanh tra 14 dự án lớn với tổng mức đầu tư là 8133

tỷ đồng trong đó giá trị vốn đầu tư được thanh tra là 6450 tỷ đồng.Qua

Trang 18

thanh tra phát hiện sai phạm về kinh tế do làm trái quy định nhà nước là

1235 tỷ đồng, chiếm khoảng 19% số vốn được thanh tra

Nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng đó là do quyết định đầu

tư thiếu cân nhắc, chủ quan, không nghe sự phản biện từ mọi phía, dẫn đến hiệu quả đầu tư kém hiệu quả Qua thực tế triển khai các công trình

đã xây dựng có tới 90% các công trình là thiếu cân nhắc Nhiều công trình xây dựng được quyết định quá nhanh chóng, theo ý lãnh đạo chứ không có sự phản biện, giám sát của các cơ quan có chức năng và nhân dân

-Tình trạng chạy và bán dự án diễn ra rất bất cập Nhiều người lợi dụng chức vụ, quen biết để tìm cách chạy chọt xin được các dự án xây dựng dẫn đến việc nhiều công trình xây dựng đã hoàn thành với chất lượng kém do thất thoát, lãng phí lớn, nhưng vẫn được quyết toán Hơn thế nữa, khi đã trúng thầu xây dựng, không ít người đã sang tay bán qua bán lại, đến khi xảy ra sự cố Nhà nước không biết rõ ai là chủ sở hữu của các công trình xây dựng để xử lý

Bên cạnh đó là vấn đề nợ xây dựng cơ bản, một bài toán chưa có lời

giải.Tính đến năm 2003, nợ đọng xây dựng cơ bản vào khoảng 11.000 tỷ đồng ( chiếm 25 % tổng đầu tư ngân sách và băng 50 % vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước )

Một trong những chương trình đầu tư lớn mà không mang lại hiệu quả nhất phải kể đến là chương trình sản xuất 1 triệu tấn đường Theo kết quả kiểm tra của các cơ quan chức năng, tính đến năm 2002, cả nước đã xây dựng 44 nhà máy đường (chủ đầu tư hầu hết là các DNNN địa phương), tổng công suất thiết kế là 82.950 tấn mía/ngày Tổng số vốn đầu tư, mở rộng, xây dựng mới các nhà máy lên tới 10.050 tỉ đồng, trong

đó có hơn 6.677 tỉ đồng thiết bị và hơn 3.372 tỉ đồng xây lắp.Tuy nhiên, đến thời điểm này, tình trạng tài chính của các nhà máy đường trên toàn quốc là hết sức yếu kém với số nợ khoảng trên 5.000 tỉ đồng và đa số mất

Trang 19

Các DNNN sở dĩ được đầu tư nhiều nhưng có hiệu quả thấp.Lãng phí là nguyên nhân chính để DNNN kém hiệu quả Không ai lại lãng phí tài sản của mình Còn tài sản Nhà nước thì hoàn toàn có thể, chỉ cần họ không sai luật, hay không bị luật pháp truy cứu

2 Thực trạng đầu tư vào máy móc, thiết bị

Trước đây, VN xuất khẩu các mặt hàng chủ yếu dưới dạng nguyên liệu và

sơ chế, do vậy kim ngạch xuất khẩu hàng năm chỉ đạt 2 -3 tỉ USD Nhờ đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị mà kim ngạch xuất khẩu đã tăng vọt Theo Bộ công nghiệp, việc đổi mới máy móc thiết bị đã đóng góp tăng trưởng 30 -40% GDP toàn ngành Như vậy việc đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ là một nhân tố rất quan trọng đến khả năng cạnh tranh và tồn tại của DN, đặc biệt đối với vai trò “đầu tàu” của

DNNN hiện nay thì việc đầu tư đổi mới công nghệ lại càng cấp thiết hơn bao giờ hết

Một thực tế đáng buồn là việc đầu tư vào máy móc thiết bị của hầu hết các DNNN còn khá bất hợp lý, lãng phí nhưng trong khi đó chúng ta lại đang thiếu hụt trầm trọng Các DNNN nhỏ thì thiếu vốn đầu tư vào máy móc thiết bị nhưng các tập đoàn kinh tế lớn một mặt do nắm giữ lợi thế độc quyền, không chịu sức ép cạnh tranh nên việc đầu tư mua sắm thiết bị nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa được chú trọng Mặt khác, những máy móc thiết bị trong các DNNN chủ yếu là nhập từ nước ngoài nên cũng chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: việc xem xét trình độ công nghệ, thời gian sử dụng của máy móc,tỷ giá hối đoái, điều kiện sản xuất, năng lực vận hành máy móc thiết bị của công nhân

Thông tin từ Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết: Phần lớn các DN nước ta đang sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới 2 - 3 thế hệ, 80 - 90% công nghệ chúng ta đang sử dụng là công nghệ ngoại nhập trong đó 76% máy móc, dây chuyền công nghệ nhập thuộc thế

hệ 1960 - 1970, 75% số thiết bị đã hết khấu hao

Tính chung cho các DN, mức độ thiết bị hiện đại chỉ có 10%, mức trung bình 38%, lạc hậu và rất lạc hậu chiếm 52% Đặc biệt ở khu vực sản xuất nhỏ, thiết bị ở mức lạc hậu và rất lạc hậu chiếm 70% Trong khi đó các

DN đầu tư đổi mới công nghệ ở mức thấp, tính ra chi phí chỉ khoảng 0,2 - 0,3% doanh thu Con số này ở Ấn Độ là 5%, Hàn Quốc là 10% Đánh giá của Bộ Khoa và & Công nghệ thì năng lực đổi mới công nghệ là “loại năng lực yếu nhất” của các DN Việt Nam

Do thiếu vốn đầu tư, nhiều DNNN không đủ khả năng đầu tư mua sắm máy móc thiết bị mới, hậu quả là, mức tiêu hao năng lượng, nguyên liệu trên một đơn vị sản phẩm tăng, dẫn đến hiệu qủa sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thấp kém Vì thiếu vốn nên đa phần máy móc thiết bị mà DNNN đang sử dụng được sản xuất trước những năm 1995 (chiếm

55.3%) và gần 11% máy móc thiết bị đã được DNNN sử dụng từ trước những năm 70 của thế kỷ trước, nhưng đến khi điều tra vẫn còn được sử

Trang 20

dụng Điều này không chỉ cho thấy sự lạc hậu của thiết bị mà còn giải thích phần nào nguyên nhân đầu tư kém hiệu quả của khu vực DNNN.Ngay cả trong những ngành công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn cũng trong tình trạng công nghệ, máy móc thiết bị lạc hậu Việt Nam là nước xuất khẩu điều đứng thứ hai thế giới, tuy nhiên đến thời điểm này ngành công nghiệp điều của VN vẫn chưa có thiết bị cơ khí tự động hóa cho công đoạn cắt tách và bóc vỏ mà phải làm thủ công Chính công đoạn này đã làm tăng giá thành và làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm điều

VN trên thị trường quốc tế Không riêng gì ngành điều mà ở các DN thuộc ngành công nghiệp chủ lực cũng ở hoàn cảnh tương tự Bởi phần lớn các giá trị máy móc sản xuất chỉ còn 30% giá trị so với ban đầu và đã lạc hậu hơn 30 năm so với thực tế:

Ngành dệt may được coi là ngành công nghiệp xuất khẩu chủ lực nhưng hiện nay có đến 45% thiết bị máy móc của các DN cần phải đầu tư, nâng cấp và 30-40% cần thay thế Ngành cơ khí càng tệ hơn Công nghệ và thiết bị sản xuất đã lạc hâu hơn 40 năm so với các nước trong khu vực và

50 năm so với các nước phát triển Đồng thời 90% là các thiết bị lẻ, không đồng bộ, thiếu chuyên môn hóa nên không có sản phẩm chất lượng cao

Ngành công nghiệp giấy của VN cũng không sáng sủa hơn, Công ty Giấy Bãi Bằng được đánh giá là đơn vị có trình độ công nghệ tự động hóa cao

và hoàn chỉnh nhất Vn hiện nay nhưng một số thiết bị sản xuất đã có

“thâm niên” sử dụng trên 20 năm Công nghệ sản xuất ở nhà máy khá nhất đã bị lạc hậu thì chứng tỏ các nhà máy khác cũng có thiết bị công nghệ hạn chế hơn nhiều

Máy móc các doanh nghiệp sử dụng chủ yếu lạc hậu, không đồng bộ, phần lớn nhập ngoại song công tác thẩm định, nghiên cứu lại chưa cẩn trọng, do đó nhiều trường hợp nhập máy móc với giá cao song chất lượng lại không đáp ứng được nhu cầu cần thiết, gây ra ô nhiễm môi trường… Mặc dù thiếu máy móc thiết bị nhưng khi đi nhập máy móc thiết bị từ nước ngoài về thì hiệu quả sử dụng cũng rất thấp vì đa phần là các công nghệ đã lỗi thời

Một số trường hợp công nghệ lúc mua là loại tiên tiến nhất, nhưng do xác định công suất quá lớn so với khả năng nguyên liệu lúc bấy giờ, cho nên 10 - 15 năm sau vẫn chưa thu hồi được vốn, không có tiền đổi mới công nghệ nên lại trở thành lạc hậu

Thống kê của năm 2006 cho thấy, tỷ lệ máy móc thiết bị nhập khẩu từ các nước tiên tiến có công nghệ nguồn, trừ ngành hàng không là cao nhất, chiếm 98,5% tổng máy móc thiết bị nhập của ngành này, còn tỷ lệ tương ứng của những ngành khác còn thấp như: máy móc thiết bị xây dựng là 56,2%, máy móc thiết bị thông tin liên lạc là 49,8%

Tuy nhiên, qua quá trình CPH đã tạo được cho DNNN có thêm nhiều nguồn vốn để đầu tư mua sắm thiết bị, đồng thời vì mục tiêu lợi nhuận và

Trang 21

môi trường cạnh tranh như hiện nay thì đổi mới mua sắm thiết bị là điều kiện tiên quyết để DNNN tăng năng suất, hạ giá thành sản phẩm thì mới

có thể thích nghi và tồn tại trong nền kinh tế thị trường đang dần hội nhập sâu và rộng như hiện nay Một số minh chứng tiêu biểu ở các DNNN đã thực hiện CPH sau:

Từ một nhà máy sản xuất gạch xây dựng làm ăn không hiệu quả tại thời điểm cuối thập kỷ 80, đến nay Hạ Long Viglacera đã có 3 nhà máy sản xuất gạch, ngói với công nghệ tiên tiến của Đức, Pháp, Italia, công suất lên đến trên 200 triệu viên/ năm Hạ Long Viglacera đã đưa ra thị trường hơn 40 loại sản phẩm, mở rộng hệ thống đại lý ở trong nước và nhiều nước trên thế giới như Malaysia, Thái Lan, Singapore, Trung Quốc, Ấn

Độ, Hàn Quốc, Nam Phi

Trước thực trạng đầu tư vào máy móc thiết bị kém hiệu quả như hiện nay Nhà nước cần có những biện pháp để tránh thiệt hại "kép": vừa tốn ngoại

tệ, vừa biến Việt Nam trở thành bãi rác công nghệ của thế giới như đã

từng xảy ra đối với mía đường, xi măng lò đứng, nhập khẩu tàu cũ

3.Thực trạng của hoạt động đầu tư vào hàng tồn trữ trong DNNN

Hoạt động đầu tư vào nguyên vật liệu tồn trữ trong các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian gần đây đã được cải thiện nhiều nhưng vẫn còn bắt gặp rất nhiều hạn chế

3.1 Nguyên vật liệu chủ yếu nhập khẩu

Theo thống kê thì quy mô hàng hoá nhập khẩu 2006 bằng khoảng 75% GDP, trong đó riêng nguyên liệu nhập khẩu đã bằng khoảng 52-53% GDP Trong tổng nguồn hàng NK, cơ cấu NK chủ yếu nhóm hàng máy móc, thiết bị, phụ tùng khoảng 26,3% nhóm hàng tiêu dùng khoảng 7,5%

và đặc biệt nhóm nguyên nhiên vật liệu cho sản xuất chiếm tới 66,2% Một thực trạng đáng buồn là hầu hết các DN Việt Nam nói chung và DNNN nói riêng phải nhập khẩu nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất Nhiều nhóm sản phẩm có tỷ trọng chi phí cho nguyên vật liệu chiếm trên 60% giá thành sản phẩm như: giấy in, giấy viết, phôi thép và thép cán, lốp xe các loại nhưng hầu như đểu phải nhập khẩu

Việc nhập khẩu với số lượng lớn nguyên vật liệu cũng sẽ gây tác động trực tiếp tới tính chủ động của các doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch kinh doanh và tới giá thành do phụ thuộc vào biến động giá cả nguyên liệu nhập khẩu, biến động tỷ giá hối đoái

3.2 Công nghiệp phụ trợ trong nước chưa phát triển

Có một thực tế là, hầu hết các ngành công nghiệp lớn ở Việt Nam đang phải dựa chủ yếu vào nguồn nguyên, phụ liệu nhập khẩu Điển hình như ngành Dệt may Xuất khẩu hàng năm của ngành này lên đến hàng tỷ USD (gần 8 tỷ USD trong năm 2007) nhưng phần lớn số ngoại tệ thu được này phải chi trả nguồn nguyên, phụ liệu nhập khẩu phục vụ cho sản xuất của chính ngành này

Trang 22

Một trong những nguyên nhân khiến cho các doanh nghiệp phải nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào là do ngành công nghiệp phụ trợ ở nước ta còn quá nhỏ bé, manh mún

Trình độ công nghệ phục vụ trong ngành sản xuất công nghiệp phụ trợ

của Việt Nam chỉ mới ở mức trung bình hoặc thấp, lạc hậu so với các

nước trong khu vực từ 10-15 năm, nên chất lượng sản phẩm chưa cao và tất yếu không có khả năng cạnh tranh với hàng nhập khẩu Một trong

những nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là do số lượng doanh nghiệp chuyên về công nghiệp phụ trợ còn rất ít, tỷ lệ giữa các doanh nghiệp

công nghiệp phụ trợ và doanh nghiệp chế tạo, lắp ráp còn quá thấp

Công nghiệp phụ trợ yếu do nguồn nhân lực kém

Bên cạnh đó, lâu nay hầu hết các doanh nghiệp và cơ quan chức năng

cũng chưa nhận thức một cách đầy đủ về tầm quan trọng của ngành công nghiệp phụ trợ Do đó chưa có sự quan tâm, quy hoạch và đầu tư một

cách bài bản, đúng mức của Nhà nước cũng như chính bản thân các

doanh nghiệp

3.3 Chưa lập được kế hoạch tồn trữ hợp lí

Nhiều doanh nghiệp hiện nay vẫn chưa có một hệ thống kế hoạch kinh doanh cụ thể, kế hoạch giữa các bộ phận tách rời nhau, chưa có sự phối hợp và thống nhất, kế hoạch bán hàng đưa ra chỉ dựa trên thông tin từ

khách hàng và thị trường mà bỏ qua khả năng đáp ứng thực tế trong sản xuất và ngân sách tài chính của doanh nghiệp chưa có khả năng dự đoán chính xác nhu cầu của thị trường về sản phẩm của doanh nghiệp

Do đó, vẫn xảy ra hiện tượng hàng tồn trữ bị thiếu hụt hay được dự trữ quá nhiều trong kì sản xuất Chính điều này đã ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Điều này thể hiện khá rõ trong các doanh nghiệp dệt may nhập đến 80% nguyên liệu phụ thuộc vào nước ngoài, ngành điện tử cũng chỉ nội địa

trên dưới 20% linh kiện, ngành lắp ráp ô tô là 96,5%, công nghiệp xe máy khá phổ biến cũng phải nhập từ 40 đến 60 % linh kiện …Cũng theo số

liệu điều tra.29% trong số gần 1000 DNNN vẫn phải sử dụng trên 40% nguyên,phụ liệu từ nhập khẩu Do vậy tỷ lệ giá trị gia tăng trong hàng

xuất khẩu của các doanh nghiệp nước ta còn thấp

4/Đầu tư phát triển nguồn nhân lực

Con người là tài sản quan trọng mà không một máy móc nào có thể thay thế được Do vậy đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là đòi hỏi tất yếu góp vai trò to lớn tạo nên thành bại trong hiệu quả sản xuất kinh doanh cuả DN nói chung cũng như DNNN nói riêng

Theo thống kê số lượng lao động hoạt động sản xuất kinh doanh tại tời điểm 31/12/2006

Trang 23

Người (đơn vị :nghìn người) TỔNG SỐ

(Theo tổng cục thống kê năm 2007)

DNNN hiện đang sử dụng một lực lượng lao động đông đảo nhưng năng

suất lao động thấp, hiệu quả hoạt động chưa cao Trên thị truờng luôn

khan hiếm nguồn nhân lực có trình độ kĩ thuật cao, công nhân lành nghề

Phần lớn các nhà quản trị trong DNNN chưa được đào tạo chuyên sâu về

kinh tế và kinh doanh trong cơ chế thị trường Do vậy chất lượng nguồn

nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển chung Từ năm 2000 đến

năm 2003 số lượng lao động trong khu vực DNNN nhà nước tăng 176411

nghìn người tương ứng với 8,45% Nhưng đến năm 2004, lượng này bắt

đầu giảm, sau 7 năm với số lượng DNNN giảm dẫn tới việc số lượng lao

động trong khu vực này cũng giảm 188594 nghìn người ứng với 9.03%

Theo thống kê năm 2006 DNNN chỉ chiếm 2.82% trong tổng số các DN

đang hoạt động, nhưng đã chiếm 28,29% tổng số lao động- nguồn nhân

lực - nguồn vốn lớn, tài sản quý của quốc gia Tuy nhiên theo kết quả

điều tra của bộ lao động thương binh và xã hội cũng chỉ ra rằng tỷ lệ lao

động gián tiếp ở DN nhà nước là 21% so với các DN FDI là 7,8% Mặt

khác, DNNN có tỷ lệ lao động có tay nghề cao nhưng chất lượng lao

động thấp Thời gian qua, số lao động mà các DNNN tuyển dụng giảm

đáng kể và ngược lại, tăng cao ở các DN FDI (2% so với 15,6%) Điều

này cho thấy, lao động trong các DNNN đang ở tình trạng đông cứng,

chưa tham gia thật sự vào thị trường lao động, đang làm cản trở sự phát

triển của DN

Trước thềm hội nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam ngoài việc phải

đối mặt với những khó khăn về ngành nghề, thương hiệu, tài chính, thị

trường, v.v , còn một nỗi lo canh cánh khác trong cuộc cạnh tranh là làm

sao gây dựng được đội quân “tinh nhuệ” Đó là đội ngũ nhân viên có

năng lực, nhiệt tình và cam kết gắn bó lâu dài với DN, những người cùng

nghĩ và cùng làm với chủ DN để đạt được mục tiêu kinh doanh của DN

Tuy nhiên để có được và giữ được những người như vậy là một thách

thức lớn với dn nói chung và DNNN nói riêng Thực tế , điều kiện đãi

ngộ của các DNNN vẫn chưa thoả đáng không đảm bảo cho người lao

động phát huy hết khả năng của mình Hiện tượng chảy máu chất xám lại

xảy ra ngay trong ở trong nước khi nhiều người có năng lực lại bỏ dần

Trang 24

DNNN sang làm cho các công ty liên doanh Lực lượng cán bộ trong các DNNN không được cọ sát, nhanh chóng sa sút năng lực Đó là chưa kể một bộ phận cán bộ tha hóa, núp bóng DNNN làm ăn phi pháp Đây là một thực trạng đáng quan tâm đối với các DN ,làm việc kém hiệu quả Năng suất lao động chưa cao, dẫn đến hiệu quả đầu tư vào nguồn lực trong DN còn thấp

Theo đánh giá của các chuyên gia, năm 2007 nguồn cung nhân lực chỉ đáp ứng được 30% so với nguồn cầu tăng 142% và chất lượng nhân lực chưa đáp ứng với yêu cầu thực tế của các DN Do vậy để đáp ứng yêu cầu sản xuất phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu, bên cạnh việc thu hút lao động có trình độ tay nghề cao từ các trường đại học cao đẳng và dạy nghề… DNNN còn tự đào tao bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho cán bộ công nhân viên Nhiều DN đã hình thành quỹ đào tạo nghề như

vinaconex, tổng công ty bưu chính viễn thông, tổng công ty than, tổng công ty thép….Tuy nhiên quy mô đào tạo cho hoạt động này chưa lớn và không ổn định trong các năm Mặc dù nguồn vốn dành cho đào tạo nghề

có tăng nhưng còn thấp, chưa tương xứng với chỉ tiêu đào tạo.Định mức chi phí cho đào tạo nghế hiện nay đã rất thấp nhưng mới chỉ cấp trên 65% và đầu tư còn dàn trải, phân tán, hiệu quả thấp

Mức lương thấp nhất là các DN nhà nước, trong đó mức lương bình quân của cán bộ quản lý là 3 triệu đồng/tháng; có chuyên môn nghiệp vụ: 1,4 triệu đồng/tháng và trực tiếp sản xuất: 1,1 triệu đồng/tháng Kết quả khảo sát, điều tra cũng cho thấy mức độ tăng lương ở các DN không tương xứng với tốc độ tăng năng suất lao động và lợi nhuận.Bất hợp lý nhất là khu vực DN nhà nước, năng suất tăng 10%, lợi nhuận tăng 54% nhưng tiền lương tăng chưa đầy 3%.Tiền lương tăng chậm hơn so với mức lợi nhuận và năng suất lao động So với khu vực FDI, mức tăng lương ở DN nhà nước quá chậm.Đây chính là nguyên nhân kép dẫn đến năng suất lao động ở DN nhà nước tăng chậm hơn khu vực FDI.Tiền lương được trả theo thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động dựa trên năng lực, trình độ tay nghề, chuyên môn của từng người Vì thế, muốn có đội ngũ nhân lực giỏi, tạo ra năng suất lao động cao thì DN phải có chính sách trả lương và các khoản phúc lợi phù hợp, nhất là DN nhà nước.Hiện nay, các DNNN đang thực hiện chế độ trả lương cho nhân viên, người lao động theo quy định của Chính phủ và đang dần có cơ chế sửa đổi, bổ sung cơ chế trả lương cho phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay.Cụ thể, mức lương tối thiểu vùng I: Đối với doanh nghiệp trong nước vùng 1 là 800.000 đồng/tháng ; vùng II tương tự 740.000

đồng/tháng ; vùng 3 là 690.000 đồng/tháng …

5 Đầu tư nghiên cứu triển khai các hoạt động khoa học công nghệ

Ngày đăng: 03/04/2013, 15:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w