1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HIỆN TƯỢNG “BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH” Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

48 1,2K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2009, Việt Nam chính thức vượt qua ngưỡng thu nhập thấp, trở thànhquốc gia có thu nhập trung bình theo cách phân loại của Ngân hàng Thế giới WB.Tuy nhiên, theo đánh giá chung của nhi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ-LUẬT

KHOA KINH TẾ

BÀI TIỂU LUẬN

- -HIỆN TƯỢNG “BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH” Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

CHO VIỆT NAM

Trang 2

MỤC LỤC

A PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cưu 3

6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

7 Kết cấu của đề tài 3

B PHẦN NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4

1.1 Các quan niệm về bẫy thu nhập trung bình 4

1.2 Nguyên nhân rơi vào tình trạng bẫy thu nhập trung bình 8

1.3 Giải pháp để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình9

1.3.1 Dưới góc nhìn của các chuyên gia 9

1.3.2 Chính sách công nghiệp tiên phong 10

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH Ở CÁC NƯỚCĐANG PHÁT TRIỂN VÀ CÁC NƯỚC CÓ NỀN KINH TẾ MỚI NỔI 12

2.1 Bẫy thu nhập trung bình ở các nước đang phát triển 12

2.1.1 Thái Lan 12

2.1.1.1 Khái quát kinh tế Thái Lan 12 2.1.1.2 Hoạt động R&D và chất lượng nguồn nhân lực 14 2.1.1.3 Thể chế chính trị 15

2.1.1.4 Năng lực cạnh tranh quốc tế 16 2.1.2 Philippines 17

Trang 3

2.1.2.1 Khái quát kinh tế Philippines 17

2.1.2.2 Hoạt động R&D và chất lượng nguồn nhân lực 18

2.1.2.3 Thể chế chính trị 20

2.1.2.4 Năng lực cạnh tranh quốc tế 21

2.2 Sức ép của bẫy thu nhập trung bình ở các nước có nền kinh tế mới nổi 22 2.2.1 Trung Quốc 22

2.2.1.1 Khái quát kinh tế Trung Quốc 22

2.2.1.2 Hoạt động R&D và chất lượng nguồn nhân lực 23

2.2.1.3 Thể chế chính trị 25

2.2.1.4 Năng lực cạnh tranh quốc tế 26

2.2.2 Ấn Độ 26

2.2.2.1 Khái quát kinh tế Ấn Độ 26

2.2.2.2 Hoạt động R&D và chất lượng nguồn nhân lực 27

2.2.2.3 Thể chế chính trị 28

2.2.2.4 Năng lực cạnh tranh quốc tế 29

CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 31

3.1 Khái quát kinh tế Việt Nam 31

3.2 Nguy cơ mắc bẫy thu nhập trung bình 32

3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 35

3.3.1 Bài học kinh nghiệm từ Thái Lan và Philippines 35

3.3.2 Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc 36

3.3.3 Bài học kinh nghiệm từ Ấn Độ 37

Trang 4

DANH MỤC BẢNG Trang

Bảng 2.1: GDP bình quân đầu người của Thái Lan giai đoạn 2008 – 2011 12

Bảng 2.2: Số lượng bằng sáng chế được cấp theo năm 24

Bảng 2.3: Đầu tư vào giáo dục của Trung Quốc năm 2010 24

Bảng 3.1:Tóm tắt các chỉ số tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 1990-2009 33

Bảng 3.2 Chỉ số tham nhũng của Việt Nam giai đoạn 2001-2012 34

Bảng 3.3: Tăng trưởng GDP và hệ số ICOR của các quốc gia 35

Trang 5

DANH MỤC HÌNH Trang

Hình 1.1: Sơ đồ về bẫy thu nhập trung bình của ông Kenichi Ohno 6

Hình 1.2: Các giai đoạn phát triển của một nền kinh tế 7

Hình 2.1 Thể chế liên quan hoạt động kinh tế tại Thái Lan 15

Hình 2.2: Chỉ số cạnh tranh giữa hai ngành công nghệ tại Thái Lan 16

Hình 2.3: Thể chế liên quan hoạt động kinh tế tại Philippines 20

Hình 2.4: Chỉ số cạnh tranh giữa hai ngành công nghệ tại Philippines 21

Hình 2.5: Chỉ số tham nhũng ở Trung Quốc năm 2010 25

Trang 6

A.PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hành trình “ hóa rồng” của các nước thế giới thứ 3 là hành trình đầy thửthách Các quốc gia đang phát triển không những phải đối mặt với những bất cậpcủa nền kinh tề như chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh củanền kinh tế còn thấp, các cân đối vĩ mô chưa vững chắc, chất lượng nguồn nhânlực… Bên cạnh đó còn là vấn đề phải vượt qua bẫy thu nhập trung bình”

Năm 2009, Việt Nam chính thức vượt qua ngưỡng thu nhập thấp, trở thànhquốc gia có thu nhập trung bình theo cách phân loại của Ngân hàng Thế giới (WB).Tuy nhiên, theo đánh giá chung của nhiều nhà nghiên cứu kinh tế, tăng trưởng màViệt Nam có được trong một thời gian qua ngoài lý do chính sách đổi mới đúnghướng hiệu quả, sự điều hành kinh tế vĩ mô nhạy bén, phù hợp thì phần quan trọng

là do tác động của tự do hóa đúng thời điểm, đồng thời đã tận dụng lợi thế vị trí địa

lý, nguồn tài nguyên phong phú, nguồn lao động trẻ dồi dào, … Nhưng liệu ViệtNam có thể tiếp tục tăng trưởng nhanh và bền vững, tiếp đó có thể đứng vào cácnước có thu nhập cao như Hàn Quốc, Đài Loan đã làm trong thời gian qua, haychúng ta lại đi vào vết xe đổ của Philippines (2.123 USD/năm) và Indonesia (2.900USD/năm)?

Có thể thấy, hiện nay Việt Nam đã vượt qua khỏi ngưỡng đói nghèo, nhưngnhững gì mà chúng ta đã làm để vượt qua khỏi ngưỡng đó thì lại phụ thuộc quánhiều vào ngoại lực, vào các chính sách mở cửa với các luồng vốn FDI (vốn đầu tưtrực tiếp) – trong khi những nguồn nội lực thì chưa được phát huy một cách hiệu quả

và tích cực Sự phụ thuộc quá nhiều vào các yếu tố bên ngoài này có thể giúp ViệtNam tăng trưởng tới mức thu nhập trung bình, thậm chí có thể trung bình cao,nhưng rất có thể cũng sẽ chỉ dừng lại ở mức đó mà thôi – hay nói cách khác là đã rơivào “bẫy thu nhập trung bình” Theo lý thuyết kinh tế và bài học rút ra từ các quốc

Trang 7

gia đã vượt qua khỏi mức thu nhập trung bình thì quốc gia đó phải có “chính sáchtốt” và “sự năng động của khu vực tư nhân”.

Thái Lan, Malayxia đã thành công với giai đoạn đầu quá trình công nghiệphóa Nhưng họ cũng chỉ quẩn quanh mãi ở mức thu nhập bình quân đầu người5000$/năm trong suốt 30 năm nay Các nước Mỹ Latinh đã từng tăng trưởng ấntượng liên tục 50-60 năm, đặc biệt là Brazil với mức tăng trưởng bình quân 6%/nămsuốt 100 năm, nhưng đến nay khu vực này vẫn đang giậm chân tại chỗ Chỉ có HànQuốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore và mới đây nhất là Chile mới thoát khỏibẫy thu nhập trung bình và vươn lên hàng ngũ các quốc gia có thu nhập cao

Vậy Việt Nam chúng ta, đất nước đi sau, mới đây đã gia nhập vào hàng ngũcác quốc gia có thu nhập bình quân đầu người trung bình liệu có rơi vào “bẫy thunhập trung bình” như các nước láng giềng hay không ? Liệu Việt Nam sẽ vươn lênthành quốc gia phát triển trong nay mai hay cứ giậm chân tại chỗ ở mức thu nhậptrung bình khi mà điều kiện nước ta hiện nay đang rất giống với các nước như TháiLan, Malayxia,… ở những thập niên 80, 90 (thế kỷ XX) về rất nhiều mặt Đó là lý

do nhóm 1 chọn đề tài “Hiện tương “bẫy thu nhập trung bình” ở các nước đang

phát triển và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu.

2 Mục tiêu nghiên cứu

 Nghiên cứu vấn đề bẫy thu nhập trung bình ở các quốc gia đang phát triển:Philippines, Thái Lan và sức ép của bẫy thu nhập trung bình từ các nền kinh

tế mới nổi: Trung Quốc, Ấn Độ

 Khái quát nền kinh tế Viêt Nam và nguy cơ mắc bẫy từ kinh nghiệm của cácquốc gia rút ra bài học cho Việt Nam để có thể vững bước hơn trên conđường phát triển kinh tế

3 Đối tương nghiên cứu

 Tình hình kinh tế của Thái Lan, Philippines, Malaysia, Trung Quốc, Ấn Độ

 Hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) và chất lượng nguồn nhân lực củaThái Lan, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ

Trang 8

 Thể chế chính trị của Thái Lan, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ.

 Năng lực cạnh tranh quốc tế của Thái Lan, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ

4 Phạm vị nghiên cứu

Nghiên cứu vấn đề bẫy thu nhập trung bình ở các quốc gia đang phát triển:Philippines, Thái Lan, Malaysia và sức ép của bẫy thu nhập trung bình từ cácnền kinh tế mới nổi: Trung Quốc, Ấn Độ

5 Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp thống kê, thu thập thông tin trên các trang web

 Phương pháp đánh giá

 Phương pháp tổng hợp

6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Từ những cơ sở lý thuyết, phân tích và đánh giá tác giá bẫy thu nhập trungbình ở các nước đang phát triển: Philippines, Thái Lan, Malaysia và sức épcủa bẫy thu nhập trung bình từ các nước nền kinh tế mới nổi: Trung Quốc,

Ấn Độ Rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ta có thể đưa ra các giảipháp cho Việt Nam tránh “bẫy thu nhập trung bình”, cũng như chỉ ra nhữngthách thức có thể nảy sinh đối với một nước thu nhập trung bình

7 Kết cấu của đề tài

Kết cấu đề tài gồm 3 chương:

 Chương 1: Cơ sở lý thuyết

 Chương 2: Thực trạng bẫy thu nhập trung bình ở các nước đang phát triển vàcác nước có nền kinh tế mới nổi

 Chương 3: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Trang 9

B.PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Các quan niệm về hiện tượng bẫy các nước thu nhập trung bình

Theo đúng nghĩa, phát triển phải hình thành nhờ nâng cao chất lượng vốncon người hơn là nhờ may mắn vì có được nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào hay vịtrị địa lý thuận lợi để dễ dàng tiếp nhận hỗ trợ và đầu tư nước ngoài Nếu phụ thuộcvào những yếu tố không tự mình tạo ra, quốc gia có thể tăng trưởng đến mức thunhập thấp, trung bình hay cao với một chút nỗ lực, nhưng rồi cuối cùng cũng sẽ bị mắckẹt ở mức thu nhập đó nếu không xây dựng được ý thức quốc gia và những thể chế đểkhuyến khích nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Tình trạng này được gọi là “bẫyphát triển” Nếu đất nước có chút ít lợi thế về tài nguyên thiên nhiên và vị trí địa lý,đất nước đó sẽ dễ bị rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”

 Theo Indermit Gill, cố vấn và Homi Kharas, chuyên gia kinh tế trưởng của Ngânhàng thế giới (WB) thì “ bẫy của các nước thu nhập trung bình” hay “bẫy thunhập trung bình” là tình trạng không đáp ứng nổi những đòi hỏi cao và rất caokhi nền kinh tế đã đạt đến mức thu nhập trung bình Thu nhập của các quốcgia trên thế giới được chia theo 3 mức:

 Nước có thu nhập thấp: thu nhập bình quân đầu người dưới mức1000USD/năm

 Nước có mức thu nhập trung bình: thu nhập bình quân đầu người đạt từ1000USD đến 10000USD/năm

 Nước có mức thu nhập cao: thu nhập bình quân đầu người đạt trên10000USD/năm

Trong đó có hai mốc quan trọng: thu nhập bình quân đầu người trên 1000 USDngười/năm và trên 10.000 USD người/năm Chỉ có nền kinh tế nào vượt qua mốc thứ

Trang 10

nhất và sau đó tiếp tục tăng trưởng mạnh để đạt tới mốc thứ hai, rồi vẫn tiếp tục tăngtrưởng thì mới trở thành nền kinh tế công nghiệp hóa.

 Theo quan niệm của Kenichi Ohno, Viện Nghiên cứu chính sách Quốc giaTokyo và của Homi Kharas, chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng thếgiới, sự ngộ nhận về khả năng đáp ứng yêu cầu cao và rất cao về trình độchuyên môn hóa của nền kinh tế, trình độ nguồn nhân lực bản địa và trình độquản lý vĩ mô chính là bẫy thu nhập trung bình ngăn cản sự hóa rồng của nềnkinh tế: tưởng là đã đáp ứng được các nhu cầu để tiếp tục phát triển, nhưnghóa ra thế vẫn chưa đủ để “cất cánh”; không còn quá nghèo để phải dồn mọinguồn lực cho tăng trưởng, song lại chưa đủ giàu về hạ tầng kinh tế - xã hội,

về các nguồn lực nội sinh cho “bước nhảy sinh mệnh” của đất nước Cáichính của bẫy thu nhập ở đây chính là chất lượng phát triển, trình độ pháttriển của một đất nước không thể vượt qua được cái ngưỡng do chính mìnhtạo ra

Cũng theo giáo sư Kenichi Ohno, bẫy thu nhập trung bình được ví như mộtcái “trần thủy tinh vô hình” ngăn cản sự phát triển của các quốc gia từ giai đoạn 2lên giai đoạn 3 trong quá trình phát triền 4 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Do sự gia tăng FDI ồ ạt, các lĩnh vực của nền kinh tế như thiết

kế, công nghệ, sản xuất và marketing đều được chỉ đạo bởi người nước ngoài

Ở giai đoạn này, các nguyên liệu và các thành phần quan trọng của sản xuấtđều phải nhập khẩu, nguồn lực trong nước chỉ cung cấp đất công nghiệp vàlao động kỹ năng thấp Điều đó tạo việc làm cho người nghèo, nhưng giá trịnội tại thấp và giá trị được tạo ra chủ yếu bởi người nước ngoài Việt Namđang ở giai đoạn này

 Giai đoạn 2: Khi FDI tích lũy và sản xuất mở rộng, cung nội địa cho nền kinh

tế bắt đầu phát triển Ở giai đoạn này, công nghiệp lắp ráp trở nên cạnh tranh

và vòng tuần hoàn giữa nhà lắp ráp và nhà cung cấp được thiết lập Nguồnlực trong nước đã tạo ra sự phát triển cho nền công nghiệp Sáng tạo giá trị

Trang 11

nội tại tăng, nhưng sản xuất cơ bản vẫn dưới sự quản lý và hướng dẫn nướcngoài Thái Lan và Malaysia đã đạt đến giai đoạn này

 Giai đoạn 3: Nội địa hóa kỹ năng và kiến thức bằng cách phát triển nguồnnhân lực trong nước để thay thế lao động nước ngoài ở mọi khâu của sản xuấtbao gồm quản lý, công nghệ, thiết kế, vận hành xí nghiệp, hậu cần, quản lýchất lượng, và marketing là thách thức tiếp theo của nền kinh tế Khi mức độphụ thuộc nước ngoài giảm, giá trị nội tại tăng đáng kể Nền kinh tế nổi lênnhư một nhà xuất khẩu năng động của các sản phẩm chất lượng cao, tháchthức những đối thủ cạnh tranh ở trình độ cao hơn và thiết lập lại bức tranhcông nghiệp toàn cầu Hàn Quốc và Đài Loan đang trong giai đoạn này

 Giai đoạn 4: Giai đoạn cuối cùng, nền kinh tế tạo được khả năng tạo ra sảnphẩm mới và xu hướng thị trường toàn cầu Nhật Bản, Mỹ và một số nước

EU hiện đang là những nhà sáng tạo công nghiệp

Hình 1.1: Sơ đồ về bẫy thu nhập trung bình của ông Kenichi Ohno

Trang 12

nước ngoài, nền kinh tế đủ trình độ là nhà xuất khẩu năng động với các sản phẩmchất lượng cao đáp ứng và cạnh tranh với nền kinh tế thế giới

 Theo Giáo sư Trần Văn Thọ, Đại học Waseda, Tokyo thì khung khái niệm cơbản của “bẫy thu nhập trung bình” bắt đầu bằng việc phân tích ba giai đoạnphát triển của một nền kinh tế:

Hình 1.2: Các giai đoạn phát triển của một nền kinh tế

Nguồn: Theo tạp chí nghiên cứu và phát triển Thời đại mới số 24 - GS.Trần Văn Thọ

 AB: Xã hội truyền thống, chưa phát triển, trực diện với bẫy nghèo

 BC: Giai đoạn phát triển ban đầu, thoát khỏi bẫy nghèo, thị trường đang trênquá trình hình thành, C là mức thu nhập trung bình

 CD: Tiếp tục phát triển bền vững lên mức thu nhập cao (D)

 CE: Trì trệ hoặc phát triển với tốc độ rất thấp, trực diện bẫy thu nhập trungbình

Điểm C trong hình chỉ giai đoạn đạt mức thu nhập trung bình Một nước còGDP bình quân đầu người 500 USD nếu phát triển trung bình năm là 7% (khôngphải tốc độ GDP mà là tốc độ thu nhập đầu người) nghĩa là tăng gấp đôi thu nhập

Trang 13

đầu người trong 10 năm, thì nước nầy cần bội tăng thu nhập 3 lần (cần 30 năm) đểđạt mức 4.000 USD hoặc cần 40 năm để đạt 8.000 USD là những mức thuộc thunhập trung bình cao Nếu thu nhập trung bình tăng mỗi năm 5% thì nước này cần từ

45 đến 60 năm mới đạt được mức thu nhập trung bình cao nói trên

 Từ việc phân tích trên, ta thấy có rất nhiều quan niệm khác nhau về “bẫy thunhập trung bình” Tuy nhiên, chúng ta có thể rút ra khái niệm ngắn gọn về

“bẫy của thu nhập trung bình ” như sau: “bẫy thu nhập trung bình” hiểu mộtcách đơn giản nhất đó là khi một quốc gia thoát khỏi mức thu nhập thấp bướcvào nhóm các nước có mức thu nhập trung bình, nhưng trong một thời giandài có thể là 30 năm, 50 năm hoặc có thể là mãi mãi nước đó vẫn không thểvươn lên hàng các quốc gia có mức thu nhập cao – quốc gia phát triển, nghĩa

là nước đó đã mắc vào bẫy thu nhập trung bình

Việc chuyển từ một nước nghèo sang một nước có thu nhập trung bình là mộtquá trình phát triển kéo dài rất nhiều năm Tuy nhiên, nếu quá trình phát triển bềnvững tiếp tục thì từ mức thu nhập trung bình cao tiến lên mức thu nhập cao chỉ cầnmột khoảng thời gian ngắn Quá trình nầy chỉ cần 15 năm nếu thu nhập đầu ngườităng mỗi năm 5% Đây là khoảng thời gian rất ngắn.Tuy nhiên, như nhiều người đãnhận định, quá trình đó ngắn nhưng rất khó khăn

1.2 Nguyên nhân rơi vào tình trạng bẫy thu nhập trung bình

Các quốc gia đang phát triển lại vướng vào “ bẫy thu nhập trung bình” là docác nguyên nhân chính sau :

 Sự suy giảm hiệu quả vốn đầu tư sau quá trình kích thích tăng trưởng

 Tiếp tục tình trạng của một nền kinh tế gia công

 Sự phân hóa thu nhập dẫn đến phân cực và bất ổn

Ngoài ra, quá trình phát triển từ thu nhập thấp đến thu nhập trung bình cũngngầm chứa nhiều yếu tố là nguyên nhân để một nước rơi vào bẫy trung bình Đó là sựhủy hoại môi trường sống mà phải mất nhiều nguồn lực và thời gian khắc phục, sự

Trang 14

thay đổi môi trường xã hội dễ tạo ra những xung đột, tâm lý đòi thưởng công trạngbiểu hiện ở nhu cầu hưởng thụ sớm

Thực tế, có nhiều nền kinh tế ở châu Á từ nghèo chuyển thành có thu nhậptrung bình, nhưng có rất ít trong số đó vượt lên như trường hợp của Đài Loan vàHàn Quốc Philippines là quốc gia điển hình của tình trạng vướng vào bẫy thu nhậptrung bình đã không thể vượt qua ngưỡng 2.000 USD trong nhiều thập niên.Indonesia cũng mất hơn một thập niên để từ trên 1.000 USD vượt lên hơn 2.000 USD/người Còn Thái Lan thì bất ổn kéo dài từ sau 2005 và cũng mất hơn hai thập niên mớivượt qua con số 3.000 USD

Nước ta với mức thu nhập bình quân đầu người khoảng 1.200 USD như hiệnnay, nếu không rút kinh nghiệm từ các nước láng giềng trên đây, cũng như không họctập mô hình phát triển của Đài Loan và Hàn Quốc thì liệu 15 đến 20 năm nữa cóvượt qua bẫy thu nhập trung bình hay không? Chính vì thế mà Việt Nam phải cẩntrọng để tránh vướng vào “bẫy thu nhập trung bình”

1.3 Giải pháp để thoát ra tình trạng bẫy thu nhập trung bình

1.3.1 Dưới góc nhìn của các chuyên gia:

Ở bất kỳ giai đoạn nào, nếu muốn nền kinh tế có những thành tựu trongtăng trưởng và phát triển, mỗi nền kinh tế đều cần phải được quản lý sáng tạo vàđiều chỉnh không ngừng Tuy nhiên, nếu chỉ như thế, nền kinh tế vẫn không vượt quađược bẫy thu nhập trung bình Những đòi hỏi cao và rất cao để vượt qua bẫy này,theo Indermit Gill, Homi Kharas và các chuyên gia WB, gồm:

 Chuyển từ đa dạng hóa sang chuyên môn hóa: Khi bắt đầu tăng trưởng, cácnền kinh tế đều có xu hướng đa dạng hóa Nhưng xu hướng này đảo ngượcthành chuyên môn hóa khi nền kinh tế đạt tới một ngưỡng nào đó về hiệu quảtính trên quy mô tương ứng Ở Singapore, ngưỡng này là 2500 USDngười/năm Một số nước khác từ 5000 – 8000 USD người/năm

 Có ý chí và có phương thức đổi mới công nghệ: Khi các doanh nghiệp trong

Trang 15

một nền kinh tế đạt tới “biên giới công nghệ” thì cần phải khuyến khích sựxuất hiện của các doanh nghiệp mới với công nghệ mới Điều này đòi hỏiphải thay đổi từ luật lệ, chính sách đến bản thân doanh nghiệp Chọn thờiđiểm thực hiện bước chuyển này và xử lý được sự phản kháng của các nhómlợi ích là thách thức lớn đối với các chính phủ.

 Biết ưu tiên đầu tư cho giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học: Chuyển ưutiên từ đầu tư chung cho giáo dục sang đầu tư cho các nghiên cứu khoa học(R&D) khi nền kinh tế đạt tới trình độ nào đó về chuyên môn hóa, đòi hỏi phảisản xuất được những sản phẩm mới với các quy trình công nghệ mới Thôngthường, do không biết chính xác các hoạt động R &D nào cần đầu tư, các chínhphủ buộc phải ưu tiên đầu tư cho giáo dục đại học và sau đại học

1.3.2 Chính sách công nghiệp tiên phong:

Chính sách công nghiệp tiên phong nhằm củng cố sự cân bằng vốn rất mongmanh và hay thay đổi giữa chỉ đạo của nhà nước và định hướng thị trường, giữa camkết toàn cầu hóa và duy trì công cụ chính sách, giữa lãnh đạo quyết đoán với nhu cầulắng nghe doanh nghiệp tư nhân một cách cẩn trọng Chính sách này rất khó thựchiện so với việc đơn giản buông lỏng thị trường hoặc kiểm soát mọi việc bằng cỗmáy nhà nước Hợp phần chủ đạo của chính sách này là chấp nhận cơ chế thịtrường và toàn cầu hóa, tinh thần học hỏi linh hoạt của cả chính phủ và khu vực tưnhân, và mối tương tác phức tạp, không ngừng thay đổi giữa hai khu vực này Cụthể hơn, chính sách công nghiệp tiên phong phải thỏa mãn tất cả những điều kiện sau:

 Phát triển theo cơ chế thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa: khu vực tưnhân tham gia chủ yếu vào hoạt động sản xuất, đầu tư, thương mại và cáchoạt động kinh tế khác trong môi trường cạnh tranh mở do cơ chế thịtrường và quá trình toàn cầu hóa tạo ra Nhà nước không tham gia vào hoạtđộng sản xuất, trừ những lĩnh vực khu vực tư nhân chưa sẵn sang tiếp quản vaitrò của nhà nước

 Nhà nước mạnh: Nhà nước đảm đương vai trò vững chắc và chủ động trong

Trang 16

việc định hướng và hỗ trợ phát triển mặc dù về nguyên tắc, mọi hoạt động sảnxuất đều do tư nhân tiếp nhận là chủ yếu

Trang 17

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ CÁC

NƯỚC CÓ NỀN KINH TẾ MỚI NỔI 2.1 Bẫy thu nhập trung bình ở các nước đang phát triển

2.1.1 Thái Lan

2.1.1.1 Khái quát kinh tế Thái Lan:

Bảng 2.1: GDP bình quân đầu người của Thái Lan giai đoạn 2008 – 2011

Nguồn: http://data.worldbank.org

Phục hồi đầu tư tư nhân của Thái Lan sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á1997-1998 đã chậm chạp Cho đến năm 1996, tốc độ tăng trưởng của Thái Lan đãđược đặc trưng bởi tỷ lệ cao trong tổng đầu tư Phục hồi đầu tư tư nhân sau khi cuộckhủng hoảng diễn ra chậm hơn so với sự phục hồi quá khứ và hiện tại tỷ lệ đầu tưnhư vậy vẫn còn thấp mặc dù sự phục hồi kinh tế mạnh mẽ sau năm 2001 Năm

2004, đầu tư tư nhân chỉ đạt khoảng 15% của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), so vớimức trung bình của hơn 25% trong giai đoạn trước khủng hoảng

Bản chất của sự tăng trưởng của Thái Lan cũng đã thay đổi trong những nămgần đây Trước khi cuộc khủng hoảng tài chính, như với hầu hết các nền kinh tếĐông Á, tăng trưởng đã giúp giá cao tích lũy vốn Giữa năm 1977 và năm 1996,

Trang 18

tổng số nhân tố năng suất (TFP) đóng góp tăng trưởng trung bình 1,6 phần trăm mỗinăm cho sự tăng trưởng của sản lượng so với bốn phần trăm tăng trưởng vốn và 1,6phần trăm từ việc làm gia tăng Duy trì tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và khả năngcạnh tranh trong trung và dài hạn, Thái Lan có thể cần phải tham gia vào một chiếnlược khác nhau cần nỗ lực nhiều hơn để tăng cường sự đóng góp của tăng trưởngTFP đối với tăng trưởng sản lượng bằng cách nhấn mạnh sự đổi mới, các kỹ năng vàkhả năng công nghệ phát triển.

Đầu năm 2010, các dự báo cho rằng, GDP của Thái Lan chỉ tăng từ 4 đến5% Tới đầu tháng 9 này, có các số liệu thống kê và những dự báo về nền kinh tếThái Lan đã phác họa bức tranh lạc quan Sáu tháng đầu năm, GDP đạt mức tăng10,6%, sáu tháng cuối năm, mức tăng có thể chậm lại, nhưng chỉ cần ở mức 5%,GDP cũng đã đạt tỷ lệ tăng từ 7 đến 7,6%

Các nhà kinh tế cho rằng, kinh tế Thái Lan dù nếm trải những tổn thương dobất ổn chính trị nhưng đã biết phát huy tốt thế mạnh xuất khẩu Phó Thống đốc Ngânhàng Trung ương Thái Lan Bandid Nijathaworn cũng nhận xét, xuất khẩu tăngmạnh, chính sách tài chính tiền tệ có tính khuyến khích đã giúp kinh tế nước nàytăng trưởng tốt

Xét về quy mô nền kinh tế, GDP của Thái Lan đạt 313 tỷ USD, đứng thứ haitrong các nước ASEAN (sau Indonesia), thu nhập bình quân đầu người khoảng4.700 USD/năm, đứng sau Singapore, Brunei và Malaysia, sức mua tương đươngđạt 545 tỷ USD Tuy nhiên, áp dụng tiêu chí tổng thu nhập quốc dân của Ngân hàngThế giới trên đầu người để phân loại thu nhập của các nền kinh tế, Thái Lan đang ởmức trung bình thấp, khoảng 3.800USD Thái Lan phải mất mất hơn 2 thập kỷ mớivượt qua con số 3.000USD, nhưng vẫn chưa bước vào được nhóm nước có mức thunhập trung bình của trung bình Nguyên nhân vướng vào bẫy thu nhập trung bình là

do sự suy giảm hiệu quả vốn đầu tư sau quá trình kích thích tăng trưởng; tiếp tụctình trạng của một nền kinh tế gia công, sự phân hóa thu nhập dẫn đến phân cực vàbất ổn

Trang 19

Trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội từ 2007-2011, Thái Lan phấn đấulọt vào nhóm trung bình cao (từ trên 3.855USD đến 11.906USD).

2.1.1.2 Hoạt động R&D và chất lượng nguồn nhân lực:

Các hoạt động R&D ở Thái Lan được tập trung chủ yếu tại các trường đạihọc, các trường này chiếm 95% tổng số CBQT (công bố quốc tế) của cả nước so vớicon số 55% của Việt Nam Bên cạnh Đại học Chulalongkorn và Mahidol, Thái Lancòn có nhiều trường Đại học danh tiếng khác như Chiang Mai, Khon Kaen,Kasetsart, Prince Songkla, Thammasat, và Viện Công nghệ Châu Á, hằng năm mỗitrường này đều công bố hàng trăm công trình trên các tạp chí quốc tế.tại thái lanngười tốt nghiệp kĩ sư ,đại học chuyên viên chế tạo khoa học kĩ thuật chỉ chiếm 10%trong khi đó số lượng tốt nghiệp các ngành khoa học xã hội khá cao.số lượng bằngsáng chế của Thái Lan được cấp theo năm ngày có xu hướng giảm từ năm 2000 là

744 nhưng cho tới năm 2010 thì con số đó chỉ còn 46

Đất nước không có số lượng người có tay nghề cao và các nhà nghiên cứu,mức độ chi tiêu cho R&D, hoặc số lượng bằng sáng chế nộp tại Hoa Kỳ mà là phùhợp với nguyện vọng của mình để tiến tới một nền kinh tế tri thức Cải thiện chấtlượng lao động, được đo bởi lợi nhuận trong trình độ học vấn đại diện cho 0,3% mỗinăm, một nguồn tương đối nhỏ của tăng trưởng Tuy nhiên, từ năm 1999, tăngtrưởng của Thái Lan đã được thúc đẩy bởi việc sử dụng ngày càng tăng của dự trữlớn của lao động nông thôn thiếu việc làm trong lĩnh vực sản xuất Như sự cạnhtranh từ các nước láng giềng trong kỹ năng thấp tăng sản xuất, có khả năng là nhucầu tương lai cho lao động phổ thông (UL) sẽ giảm

Trang 20

2.1.1.3 Thể chế chính trị:

Hình 2.1 Thể chế liên quan hoạt động kinh tế tại Thái Lan

Nguồn: Theo tạp chí nghiên cứu và phát triển Thời đại mới Số 24 – GS.Trần Văn Thọ

Thái Lan có vị trí tương đối cao trong chi phí hợp đồng, tín dụng tư nhân vàmức độ cạnh tranh tranh trong nước tuy nhiên có một số lĩnh vực lại mức độ lại thấpbao gồm ổn định chính trị và trách nhiệm giải trình Như đã xác nhận rằng hoạt độngcủa họ vẫn đang bị cản trở bởi ba hạn chế lớn:

 Gánh nặng pháp lý nặng nề, thiếu các kỹ năng và cơ sở hạ tầng thiếu đặc biệt

là bên ngoài Bangkok Hơn 60 phần trăm của 1.385 công ty được khảo sát đãxác định được gánh nặng pháp lý là một trở ngại hàng đầu để làm kinhdoanh Khoảng 50% của các công ty xác định tình trạng thiếu kỹ năng vàkhoảng 40% thiếu hụt cơ sở hạ tầng như hai hạn chế ràng buộc nhất khác đểhoạt động và hiệu suất của chúng

Trang 21

 Thiếu kỹ năng là một trở ngại chính cho các hoạt động, năng suất và tăngtrưởng của các công ty trong tất cả các vùng, trong khi thiếu hụt trong cácdịch vụ cơ sở hạ tầng và hỗ trợ là nghiêm trọng nhất cho các doanh nghiệptrong khu vực tồi tệ nhất hiệu suất.

 Trở ngại lớn cho các doanh nghiệp trong vùng có hiệu suất tốt hơn nhưBangkok và vùng phụ cận là quy định nặng

Các vấn đề cụ thể của gánh nặng pháp lý được xác định bởi các công ty baogồm các quy định về thuế và / hoặc tỷ giá, gánh nặng quan liêu, nội quy lao động,quy định nhập khẩu và hải quan và các quy định quyền sở hữu Các công ty trongThái Lan cũng trải nghiệm một mức độ lớn của sự không chắc chắn liên quan đếnthời gian cần thiết để có được giấy phép, giấy phép và ủy quyền Hiệu suất của TháiLan trong cơ sở hạ tầng đặc biệt yếu đối với điện và các chỉ số liên quan đến điệnthoại

2.1.1.4 Năng lực cạnh tranh quốc tế:

Hình 2.2: Chỉ số cạnh tranh giữa hai ngành công nghệ tại Thái Lan

Nguồn: TheoTạp chí nghiên cứu và phát triển Thời đại mới Số 24 – GS.Trần Văn Thọ

Trang 22

Ta thấy chỉ số cạnh tranh sản phẩm hàm lượng thấp của sản phẩm hàm lượngcao của thái lan có nhiều biến động.

 Chỉ số cạnh tranh của sản phẩm hàm lượng thấp đạt cực đại năm 2000 và có

Mối quan tâm môi trường đầu tư rất khác nhau giữa các khu vực ở Thái Lan.Bangkok được xếp hạng là môi trường đầu tư tốt nhất bằng 28 % của các công ty,khu vực trung tâm 25% và khu vực Đông Thái Lan 21% Miền Nam Thái Lan đượccoi là khu vực có môi trường kinh doanh tồi tệ nhất khoảng 55% của các công ty.Trong khi Bangkok có một cơ sở hạ tầng tốt, sự gia tăng gần đây của xuất khẩutrong các lĩnh vực "công nghệ cao" được khuyến khích, hầu hết các giá trị gia tăngđến từ tăng cường lắp ráp Xuất khẩu máy móc thiết bị điện và phụ tùng, máy móckhông dùng điện và các bộ phận, và các loại xe và phụ tùng chiếm 44% tổng kimngạch xuất khẩu sản xuất trong năm 2004 và giải thích nhiều hơn 50% tăng trưởngsản xuất trong thập kỷ qua

2.1.2 Philippines

2.1.2.1 Khái quát kinh tế Philippines:

Philippines là quốc gia điển hình về tình trạng vướng bẫy thu nhập trungbình, khi mất hàng thập kỷ không thể vượt qua ngưỡng 2.000 USD

Các cơ quan xếp hạng tín nhiệm quốc tế đã nâng mức xếp hạng tín nhiệm đốivới Philippines, lòng tin của các nhà đầu tư cải thiện rõ rệt, thể hiện qua việc giá cổphiếu ở nước này tăng 32,95% trong năm 2012 và chỉ số chứng khoán tại đây đãtăng lên mức cao kỷ lục trong thời gian vừa qua

Trang 23

Trong năm 2012, kinh tế Philippines ghi nhận sự tăng trưởng tích cực trênnhiều lĩnh vực, từ dịch vụ, kinh doanh, bất động sản đến chế tạo Một động lực quantrọng nữa mang lại sự tăng trưởng khả quan cho kinh tế Philippines là lượng kiềuhối chuyển về nước từ gần 10 triệu người Philippines làm việc ở nước ngoài.

Khoảng 70% nền kinh tế của Philippines là từ tiêu dùng, do vậy nguồn kiềuhối chính là động lực chủ chốt Điều đó quyết định sức sống tại các trung tâm muasắm Ngay cả trong lĩnh vực bất động sản, Chính phủ tính rằng 1/3 lượng kiều hốiđược dùng để mua và thuê nhà

2.1.2.2 Hoạt động R&D và chất lượng nguồn nhân lực:

Ông Ayala, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc tập đoàn Jaime Augusto Zobel deAyala của Philippines cũng không quên nhắc đến nguồn lực quan trọng của đấtnước, kiều bào Philippin ở nước ngoài, yếu tố vốn được xem là bằng chứng chonhững yếu kém về cơ cấu.Khoảng 8 triệu người Philippin đang làm việc tại nướcngoài.Nhiều nhà kinh tế cho rằng, việc không có khả năng tạo ra công ăn việc chongười dân địa phương đang phản ánh sự yếu kém cơ bản của nền kinh tế Mặc dù đã

có tiến bộ trong quản lý nhà nước và gia tăng về tỷ lệ tăng trưởng, nhiều học giả vàhội từ thiện vẫn cho rằng lợi ích từ đó vẫn chưa đến được với đại đa số dân nghèo.Khoảng 40% người dân Philipin vẫn đang có mức sống dưới 2 USD/ngày

F Sionil José, tác giả đã ghi lại cuộc đấu tranh giữa Philipin chống lại chủnghĩa thực dân Tây Ban Nha và Hoa Kỳ nói rằng giới cầm quyền đang thiếu sự ýthức về sứ mệnh đối với quốc gia, yếu tố đã giúp thúc đẩy cho sự thăng tiến của nềnkinh tế Hàn Quốc và Nhật Bản "Bạn có thể thấy lợi ích của giới tinh hoa nằm ở đâu,

- ở trong các trung tâm thương mại, các chung cư cao tầng, dự án sân golf và khunghỉ dưỡng trên bãi biển của họ - chứ không ở trong các nhà máy xí nghiệp, không ởcác xưởng chế biến nông nghiệp "

Ông Enrile, Chủ tịch Thượng viện Philippines cho rằng những sự móc ngoặcquyền lực dẫn đến sự thất bại trong việc tạo việc làm trong nước Ông muốn hiếnpháp được sửa đổi để giúp thuận tiện các nhà đầu tư nước ngoài, nâng cao quyền lợi

Trang 24

quốc gia và tằng cường sức cạnh tranh Hiện nay người nước ngoài không được sởhữu đất đai và bị hạn chế tới 40% quyền sở hữu trong hầu hết các ngành côngnghiệp

Theo một xu hướng từ Báo cáo thường niên toàn cầu của IBM, như của tháng

12 năm 2010 Philippines đã vượt qua Ấn Độ như các nhà lãnh đạo thế giới trongquá trình kinh doanh gia công phần mềm Phần lớn trong mười BPO công ty hàngđầu của Hoa Kỳ hoạt động ở Philippines Tổng số việc làm trong ngành côngnghiệp này đã lên đến 100.000 và tổng doanh thu được đặt tại 960,000,000USDtrong năm 2005 Trong năm 2012, việc làm ngành BPO (Gia công quy trình doanhnghiệp) tăng lên tới hơn 700.000 người và đóng góp cho một tầng lớp trung lưuđang phát triển

Trong suốt nhiều năm qua, Philippines là một trong những quốc gia có nềnkinh tế lạc hậu của khu vực Đông Nam Á Mặc dù mang ưu thế của một quốc gia cómức độ tây phương hóa cao với hơn 100 triệu người sử dụng tiếng Anh làm ngônngữ chính, nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, và chế độ chính trị cộng hòa hiệuquả, Philippines gần như vẫn tụt hậu xa so với các quốc gia láng giềng trong cùngkhu vực mức thu nhập bình quân đầu người của quốc gia này chỉ bằng 1/4 Malaysia

và bằng 1/2 so với Thái Lan Ngoài những trung tâm thương mại xa hoa, sang trọng,thủ đô Malina đầy rẫy các khu dân cư ổ chuột Nạn tham nhũng và tình trạng nghèođói ở các khu vực nông thôn diễn ra tràn lan

Sau suốt thời gian dài, nền kinh tế Philippines đã có bước chuyển mình.Tương tự như Brazil, Ấn Độ, thậm chí cả Trung Quốc - các quốc gia có tốc độ tăngtrưởng kinh tế tốt nhất trong những năm gần đây.Quy trình kinh doanh gia côngphần mềm ở Philippines và ngành công nghiệp trung tâm cuộc gọi ở Philippines

Sự phát triển kinh tế của Philippines đã thổi luồng gió mới vào cuộc sống.Vào quý trước, kinh tế Philippines đã có mức độ tăng trưởng đáng kinh ngạc 7.1%.Tốc độ tăng trưởng hiện đang tăng dần đều ở mức ổn định 5-6%, trong khi vào năm

Ngày đăng: 09/04/2015, 15:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bích Diệp (28/1/2012), “Việt Nam cần cải cách để vượt “bẫy thu nhập trung bình””, Dân Trí, xem tại:http://dantri.com.vn/kinh-doanh/viet-nam-can-cai-cach-de-vuot-bay-thu-nhap-trung-binh-560201.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam cần cải cách để vượt “bẫy thu nhập trung bình”
Tác giả: Bích Diệp
Nhà XB: Dân Trí
Năm: 2012
2. Bùi Căn (14/9/2010), “Thái Lan tìm cách vượt bẫy thu nhập trung bình”, Báo mới.com, xem tại:http://www.baomoi.com/Thai-Lan-tim-cach-vuot-bay-thu-nhap-trung-binh/45/4867691.epi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái Lan tìm cách vượt bẫy thu nhập trung bình
3. Đức Phường, “Ấn Độ: Phát triển kinh tế nền tảng Khoa Học và Công Nghệ”, Niềm tin vào tương lai, xem tạihttp://niemtin.free.fr/kinhteando.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ: Phát triển kinh tế nền tảng Khoa Học và Công Nghệ
Tác giả: Đức Phường
Nhà XB: Niềm tin vào tương lai
4. “Giáo dục tại Ấn Độ”, Đại sứ quán Ấn Độ Việt Nam, xem tại:http://www.indembassy.com.vn/tabid/863/default.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục tại Ấn Độ
5. GS. Trần Văn Thọ (3/2012), “ Bẫy thu nhập trung bình nhìn từ các nước Asean”, Thời đại mới, Số 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bẫy thu nhập trung bình nhìn từ các nướcAsean
7. Hà Thu (19/11/2012), “Trung Quốc mắc kẹt trong “bẫy thu nhập trung bình””, VN Express, xem tại:http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/quoc-te/2012/11/trung-quoc-mac-ket-trong-bay-thu-nhap-trung-binh/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc mắc kẹt trong “bẫy thu nhập trung bình”
Tác giả: Hà Thu
Nhà XB: VN Express
Năm: 2012
8. Lan Hương (30/4/2011), “Ba nhân tố giúp VN vượt bẫy thu nhập trung bình”, Vietnam Economic Forum, xem tại:http://vef.vn/2011-04-29-ba-nhan-to-giup-vn-vuot-bay-thu-nhap-trung-binh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba nhân tố giúp VN vượt bẫy thu nhập trung bình
9. Linh Hương (16/11/2012), “Trung Quốc mục tiêu vượt qua “bẫy của nước có thu nhập trung bình”, Báo điện tử của Bộ Văn Hóa, Thể thao và Du lịch, xem tại:http://toquoc.vn/Sites/vi-vn/details/4/kinh-te-the-gioi/112549/trung-quoc-muc-tieu-vuot-qua-bay-cua-nuoc-co-thu-nhap-trung-binh.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc mục tiêu vượt qua “bẫy của nước có thu nhập trung bình”
Tác giả: Linh Hương
Nhà XB: Báo điện tử của Bộ Văn Hóa, Thể thao và Du lịch
Năm: 2012
10. Ngọc Diệp (30/11/2012), “Việt Nam chưa thể mắc “bẫy thu nhập trung bình””, VTV Đài truyền hình Việt Nam, xem tại:http://vtv.vn/Kinh-te/Viet-Nam-chua-the-mac-bay-thu-nhap-trung-binh/52501.vtv Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam chưa thể mắc “bẫy thu nhập trung bình”
Tác giả: Ngọc Diệp
Nhà XB: VTV Đài truyền hình Việt Nam
Năm: 2012
11. Thanh Bình (4/12/2009), “Việt Nam đứng trước bẫy thu nhập trung bình”, Báo mới.com, xem tại:http://www.baomoi.com/Viet-Nam-dung-truoc-bay-thu-nhap-trung-binh/122/3578722.epi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam đứng trước bẫy thu nhập trung bình
Tác giả: Thanh Bình
Nhà XB: Báo mới.com
Năm: 2009
12. Thu Hương (17/11/2012), “Kinh tế Trung Quốc dưới thời ông Hồ Cẩm Đào (P2)”, CAFEF, xem tại:http://cafef.vn/tai-chinh-quoc-te/kinh-te-trung-quoc-duoi-thoi-ong-ho-cam-dao-p2-20121117085228774ca32.chn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Trung Quốc dưới thời ông Hồ Cẩm Đào(P2)
13. Trung Nguyễn (21/3/2010), “Việt Nam có thể tránh bẫy thu nhập trung bình, nếu…”, Báo mới.com, xem tại http://www.baomoi.com/Viet-Nam-co-the-tranh-bay-thu-nhap-trung-binh-neu/122/4014334.epi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam có thể tránh bẫy thu nhập trung bình,nếu…
14. Vân Chi (5/3/2013), “Thoát “bẫy” thu nhập trung bình: Thách thức đối với Việt Nam”, eFinace, xem tại:http://www.taichinhdientu.vn/Home/Thoat--bay-thu-nhap-trung-binh-Thach-thuc-doi-voi-Viet-Nam/20133/127915.dfis Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thoát “bẫy” thu nhập trung bình: Thách thức đối vớiViệt Nam
15. Vietnamnet (25/6/2010), “Việt Nam khó thoát “bẫy thu nhập trung bình””, Tinkinhte.com, xem tại:http://www.tinkinhte.com/viet-nam/phan-tich-du-bao/viet-nam-kho-thoat-bay-thu-nhap-trung-binh.nd5-dt.106666.113121.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam khó thoát “bẫy thu nhập trung bình”
16. Vneconomy (16/4/2013), “Trung Quốc đã “sập bẫy” thu nhập trung bình?”, Mạng xã hội doanh nghiệp, xem tại:http://esn.vn/esn/news_detail/c15696/i15731/trung-quoc-da-sap-bay-thu-nhap-trung-binh-.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc đã “sập bẫy” thu nhập trung bình
17. Võ Hùng Dũng (15/6/2010), “Để vượt qua bẫy thu nhập trung bình”, Doanh nhân 360, xem tại:http://www.doanhnhan360.com/Desktop.aspx/Thi-truong-360/Dau-tu-360/De_vuot_qua_bay_thu_nhap_TB/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để vượt qua bẫy thu nhập trung bình
6. Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Đổi mới hoạch định chính sách công nghiệp ở Việt Nam. Kenichi Ohno (VDF/GRIPS). Sửa đổi 18/3/2010, xem tại www.vdf.org.vn/Doc/2010/Sym18Mar10KOhnoSlidesV.pdf Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ về bẫy thu nhập trung bình của ông Kenichi Ohno - HIỆN TƯỢNG “BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH” Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Hình 1.1 Sơ đồ về bẫy thu nhập trung bình của ông Kenichi Ohno (Trang 11)
Hình 1.2: Các giai đoạn phát triển của một nền kinh tế - HIỆN TƯỢNG “BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH” Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Hình 1.2 Các giai đoạn phát triển của một nền kinh tế (Trang 12)
Bảng 2.1: GDP bình quân đầu người của Thái Lan giai đoạn 2008 – 2011 - HIỆN TƯỢNG “BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH” Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Bảng 2.1 GDP bình quân đầu người của Thái Lan giai đoạn 2008 – 2011 (Trang 17)
Hình 2.1 Thể chế liên quan hoạt động kinh tế tại Thái Lan - HIỆN TƯỢNG “BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH” Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Hình 2.1 Thể chế liên quan hoạt động kinh tế tại Thái Lan (Trang 20)
Hình 2.2: Chỉ số cạnh tranh giữa hai ngành công nghệ tại Thái Lan - HIỆN TƯỢNG “BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH” Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Hình 2.2 Chỉ số cạnh tranh giữa hai ngành công nghệ tại Thái Lan (Trang 21)
Hình 2.3: Thể chế liên quan hoạt động kinh tế tại Philippines - HIỆN TƯỢNG “BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH” Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Hình 2.3 Thể chế liên quan hoạt động kinh tế tại Philippines (Trang 25)
Hình 2.4: Chỉ số cạnh tranh giữa hai ngành công nghệ tại Philippines - HIỆN TƯỢNG “BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH” Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Hình 2.4 Chỉ số cạnh tranh giữa hai ngành công nghệ tại Philippines (Trang 26)
Bảng 2.3:  Đầu tư vào giáo dục của Trung Quốc năm 2010 - HIỆN TƯỢNG “BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH” Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Bảng 2.3 Đầu tư vào giáo dục của Trung Quốc năm 2010 (Trang 29)
Bảng 2.2: Số lượng bằng sáng chế được cấp theo năm - HIỆN TƯỢNG “BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH” Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Bảng 2.2 Số lượng bằng sáng chế được cấp theo năm (Trang 29)
Hình 2.5: Chỉ số tham nhũng ở Trung Quốc năm 2010 - HIỆN TƯỢNG “BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH” Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Hình 2.5 Chỉ số tham nhũng ở Trung Quốc năm 2010 (Trang 30)
Bảng 3.1:Tóm tắt các chỉ số tăng trưởng của Việt Nam - HIỆN TƯỢNG “BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH” Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Bảng 3.1 Tóm tắt các chỉ số tăng trưởng của Việt Nam (Trang 38)
Bảng 3.2 Chỉ số tham nhũng của Việt Nam - HIỆN TƯỢNG “BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH” Ở CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Bảng 3.2 Chỉ số tham nhũng của Việt Nam (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w