b.Theo WTO : Rào cản trong thương mại quốc tế bao gồm 2 loại là các biện pháp thuế quan và các biện pháp phi thuế quan c.Theo Hoa Kỳ : Rào cản trong thương mại quốc tế bao gồm 9 nhóm cơ
Trang 1Chương 1: Khái niệm, phân loại, xu hướng rào cản thương mại :
1.1 Rào cản thương mại là gì ?
a.Khái niệm : Rào cản thương mại có thể hiểu là biện pháp hay hành động gây cản trở đối với thương mại quốc tế Rào cản thương mại quốc tế rất đa dạng, phức tạp và được quy định
bởi cả hệ thống pháp luật quốc tế, cũng như luật pháp của từng quốc gia, được sử dụng không giống nhau ở các quốc gia và vùng lãnh thổ
b.Theo WTO : Rào cản trong thương mại quốc tế bao gồm 2 loại là các biện pháp thuế quan
và các biện pháp phi thuế quan
c.Theo Hoa Kỳ : Rào cản trong thương mại quốc tế bao gồm 9 nhóm cơ bản : Chính sách nhập khẩu; Tiêu chuẩn, kiểm tra, nhãn mác và chứng nhận; Mua sắm của chính phủ; Trợ cấp xuất khẩu; Bảo hộ sở hữu trí tuệ; Các rào cản dịch vụ; Các rào cản đầu tư; Các rào cản chống cạnh tranh; Các rào cản khác(tham nhũng, hối lộ, …)
1.2 Phân loại rào cản
Dựa trên cách tiếp cận của tổ chức WTO rào cản trong thương mại quốc tế được chia
thành 2 loại : Rào cản thuế quan (TARIFF) và Rào cản phi thuế quan (Non TARIFF)
1 Rào cản thuế quan : có 3 loại thuế quan phổ biến
như sau
a Thuế phần trăm : Được đánh theo tỉ lệ phần trăm giá trị giao dịch của hàng hóa nhập khẩu.Đây là loại thuế được sử dụng rộng rãi nhất nhưng nhìn chung còn ở mức cao
b Thuế phi phần trăm : Bao gồm 3 loại, được áp dụng chủ yếu cho hàng nông sản
• Thuế tuyệt đối : Thuế xác định bằng một khoản cố định trên một đơn vị hàng nhập khẩu
• Thuế tuyệt đối thay thế : Quy định quyền lựa chọn áp dụng thuế phần trăm hay thuế tuyệt đối
• Thuế tổng hợp : Là sự kết hợp cả thuế phần trăm và thuế tuyệt đối
• Thuế quan đặc thù :
+Hạn ngạch thuế quan : là một biện pháp quản lý nhập khẩu với 2 mức thuế suất nhập khẩu Hàng hóa trong hạn ngạch thuế quan thì có mức thuế suất thấp còn ngoài hạn ngạch thuế quan thì chịu mức thuế suất cao hơn
+Thuế đối kháng (thuế chống trợ cấp xuất khẩu) : đánh vào sản phẩm nhập khẩu
để bù lại việc nhà sản xuất và xuất khẩu sản phẩm đó được Chính phủ nước xuất khẩu trợ cấp
Trang 2+Thuế chồng bán phá giá : nhằm ngăn chặn và đối phó với hàng nhập khẩu được bán phá giá vào thị trường nội địa.
+ Thuế thời vụ : là loại thuế với mức thuế khác nhau cho cùng một loại sản phẩm Thường được áp dụng cho hàng nông sản, khi vào thời vụ thu hoạch trong nước thì áp dụng mức thuế suất cao nhằm bảo hộ sản xuất trong nước
+ Thuế bổ sung : được đặt ra để thực hiện biện pháp tự vệ trong trường hợp khẩn cấp
***Hiện tại có một số loại thuế cụ thể được áp dụng trong Thương mại quốc tế như sau :
c Thuế phi tối huệ quốc : là mức thuế cao nhất mà các nước áp dụng đối với những nước chưa phải là thành viên của WTO và chưa kí kết hiệp định thương mại song phương với nhau
d Thuế tối huệ quốc : là thuế mà các nước thành viên WTO áp dụng cho nhau hoặc theo các hiệp định song phương về ưu đai thuế quan Nó thấp hơn nhiều so với thuế phi tối huệ quốc
e Thuế quan ưu đai phổ cập : nhằm ưu đai cho một số hàng hóa nhập khẩu từ các nước đang phát triển được các nước công nghiệp phát triển cho hưởng
f Thuế áp dụng đối với các khu vực thương mại tự do : là loại thuế có mức thuế suất thấp nhất hoặc có thể bằng không đối với nhiều mặt hàng
g Thuế quan ưu đai khác : một số nước dành cho nhau các ưu đai thuế quan đặc biệt đối với một số sản phẩm, ví dụ một số nược tham gia kí kết hiệp định thương mại máy bay dân dụng…
2 Rào cản phi thuế quan :
a Các biện pháp cấm : như là cấm vận toàn diện, cấm vận từng phần, cấm xuất khẩu hoặc nhập khẩu đối với một số loại hàng hóa nào đó
b Hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu : là hạn ngạch về số lượng hoặc giá trị được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu trong một thời kì nhất định(thường là 1 năm)
c Cấp giấy phép xuất nhập khẩu : có 2 loại
+ Giấy phép về quyền hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
+ Giấy phép xuất nhập khẩu đối với một số loại hàng hóa hoặc phương thức kinh doanh xuất nhập khẩu nào đó
d Các thủ tục hải quan : khi nó quá phức tạp, chậm chạp thì sẽ trở thành các rào cản, như là quy định về kiểm tra trước khi xếp hàng, quy định về cửa khẩu thông quan…
Trang 3e Rào cản kĩ thuật trong thương mại quốc tế : là các quy định và tiêu chuẩn kĩ thuật, các quy định về phòng thí nghiệm và quy định về công nhận hợp chuẩn.
f Các biện pháp vệ sinh động thực vật : bao gồm tất cả luật, nghị định, quy định, yêu cầu, và thủ tục, kể cả các tiêu chí sản phẩm cuối cùng, các quá trình và phương pháp sản
xuất thử nghiệm… liên quan trực tiếp đến an toàn thực phẩm.Đây là một trong những loại rào cản phổ biến nhất hiện nay và mức độ của nó ngày càng tinh vi
g Các quy định về thương mại dịch vụ : như quy định vềthanh toán và kiểm soát ngoại tệ, quy định về quảng cáo và xúc tiến thương mại… đều có thể trở thành rào cản trong
thương mại quốc tế nếu chúng không minh bạch và có sự phân biệt đối xử
h Các quy định về đầu tư có liên quan đến thương mại như lĩnh vực không hoặc chưa cho phép đầu tư nước ngoài… nhằm phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp trong nước
với doanh nghiệp nước ngoài
i Các quy định chuyên ngành về các điều kiện sản xuất, thử nghiệm, lưu thông và phân phối các sản phẩm được xác định trong các hiệp định của WTO như : Hiệp định nông
nghiệp, Hiệp định về hàng dệt may và may mặc…
j Các quy định về sở hữu trí tuệ : như là quy định về xuất xứhàng hóa, thương hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp…
k Các quy định về bảo vệ môi trường bao gồm :
+ Quy định về môi trường bên ngoài biên giới theo hiệp ước hoặc công ước quốc tế.+Quy định trực tiếp về môi trường trong lãnh thổ quốc gia
+ Quy định liên quan trực tiếp đến môi trường nhưng thuộc mục tiêu đảm bảo vệ sinh
1.3 Xu hướng áp dụng rào cản trong Thương Mại Quốc Tế
1.Hiện nay trên nền kinh tế Thế giới đang có xu hướng toàn cầu hóa, do đó việc áp dụng các rào cản trong Thương mại quốc tế cũng có rất nhiều sự thay đổi, nhưng chủ yếu là theo hai
xu hướng cơ bản:
Trang 4+Một là thuế quan hóa các biện pháp phi thuế quan.
+ Hai là xu hướng cắt giảm thuế quan của các quốc gia
2.Tuy nhiên bản thân mỗi quốc gia đều muốn bảo hộ sản xuất trong nước mình,chính vì vậy các rào cản trong thương mại quốc tế ngày càng trở nên tinh vi hơn,những biện pháp chủ yếu thường được sử dụng như là: Hàng rào kĩ thuật (TBT), rào cản về môi trường ( Mỹ quy định không nhập khẩu những mặt hang thủy hải sản mà khi đánh bắt nó ảnh hưởng đến nguồn thức ăn cho cá Heo), vệ sinh dịch tể (SPS), các rào cản về văn hóa (người theo đạo Hồi không ăn thịt bò,nên loại hàng này bị cấm nhập khẩu)…Do đó,trong phần trình bày tiếp theo chúng ta sẽ phân tích sâu hơn về TBT và SPS
1.4 Khái niệm TBT:
Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (Technical Barriers to Trade – TBT) là một loại hàng rào phi thuế quan, được xem là một trong những nhóm biện pháp hữu hiệu nhất để ngăn chặn hàng xuất khẩu Hàng rào này liên quan tới việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật như tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, các biện pháp nhằm đảm bảo quá trình sản xuất hàng hóa phải an toàn, vệ sinh, bảo vệ môi trường, các vấn đề liên quan tới ghi nhãn, vận chuyển, bảo quản hàng hóa Chúng là các rào cản hợp lý và hợp pháp, cần được duy trì Rào cản thương mại quốc tế rất đa dạng, phức tạp và được quy định bởi cả hệ thống pháp luật quốc
tế, cũng như luật pháp của từng quốc gia, được sử dụng không giống nhau ở các quốc gia và vùng lãnh thổ Tuy nhiên, còn có những hàng rào kỹ thuật được dựng lên để hạn chế thương mại của nước khác hoặc mang tính phân biệt đối xử giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ, giữa hàng hóa trong nước hoặc nhập khẩu
Hàng rào kỹ thuật (hay rào cản kỹ thuật) là những biện pháp kỹ thuật cần thiết để bảo
vệ người tiêu dùng trong nước, lợi ích quốc gia, bảo hộ sản xuất trong nước song có thể gây trở ngại cho thương mại quốc tế do việc đưa ra những quy định quá mức cần thiết hoặc không phù hợp với các định chế của Hiệp định TBT
1.5 Phân loại TBT và hệ thống TBT:
*** Phân loại:
1 Rào cản phi thuế quan:
Trang 5Là rào cản không dùng thuế quan mà sử dụng các biện pháp hành chính để phân biệt đối xử chống lại sự thâm nhập của hàng hoá nước ngoài, bảo vệ hàng hoá trong nước Các nước công nghiệp phát triển thường đưa ra lý do là nhằm bảo vệ sự an toàn và lợi ích của người tiêu dùng, bảo vệ môi trường trong nước đã áp dụng các biện pháp phi thuế quan để giảm thiểu lượng hàng hoá nhập khẩu.
Nhật Bản quy định cấm nhập khẩu đậu lạc có chứa Apflatoxin, Pháp không cho nhập khẩu thịt bò mà trong quá trình chăn nuôi có sử dụng chất tăng trọng Tháng 2/2002 EU loại Trung Quốc ra khỏi danh sách các nước được phép xuất khẩu thuỷ sản vào khu vực do nước này không đáp ứng được yêu cầu kiểm soát dư lượng kháng sinh Cloramphenicol
2 Rào cản kỹ thuật TBT (Technological Barrier to Trade ):
Đây là hàng rào quy định về hệ thống quản trị chất lượng, môi trường, đạo đức kinh doanh, điểm kiểm soát tới hạn , đối với các doanh nghiệp khi thâm nhập vào thị trường
*** Hệ thống TBT gồm có:
Hệ thống quản trị chất lượng ISO 9001:2000
Hệ thống này đã được trên 140 quốc gia áp dụng ISO 9001:2000 đề cập chủ yếu đến các lĩnh vực về chất lượng, theo Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) các doanh nghiệp áp dụng hệ thống này sẽ:
Đáp ứng được yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước
Nâng cao tinh thần làm việc và đoàn kết của nhân viên trong doanh nghiệp
Vượt qua rào cản trong thương mại quốc tế
Gia tăng thị phần, diện tích, lợi nhuận và phát triển bền vững
Trong thực tế, sản phẩm của doanh nghiệp nào được cấp giấy chứng nhận phù hợp với ISO 9001:2000 sẽ dễ dàng thâm nhập thị trường các nước phát triển
Hệ thống quản trị môi trường ISO 14001:2000
Hệ thống này xem xét khía cạnh bảo vệ môi trường của tổ chức và của sản phẩm thị trường thế giới hiện nay rất chú trọng đến vấn đề môi trường, tổ chức Môi trường thế giới đã khuyến cáo các doanh nghiệp nên cung ứng những sản phẩm “xanh và sạch” Mức độ ảnh
Trang 6hưởng đến môi trường của 1 sản phẩm có vai trò lớn tới sức cạnh tranh của sản phẩm đó trên thị trường.
Hệ thống thực hành sản xuất tốt GMP (Good Manufacturing Practices)
Đây là 1 hệ thống đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt là dược phẩm Các nước lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Australia đều yêu cầu các sản phẩm là thực phẩm và dược phẩm khi nhập vào thị trường nước họ phải được công nhận đã áp dụng GMP
Bộ Y tế Việt Nam quy định đến năm 2005 doanh nghiệp sản xuất dược phẩm nào không đạt GMP sẽ không được cấp số đăng ký sản xuất thuốc
Hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn HACCP (Hazard Analysis
Critical Control Point):
Đây là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp chế biến hàng thuỷ sản nếu muốn thâm nhập vào thị trường Mỹ, EU, NB, Australia, Canada , Bộ Thuỷ sản Việt Nam quy định các doanh nghiệp chế biến hàng thuỷ sản phải áp dụng HACCP kể từ năm 2000
Tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội SA 8000:
Đây là tiêu chuẩn quốc tế dựa trên công ước quốc tế về lao động của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và nhân quyền Các nước Mỹ, EU, Nhật Bản, Canada quy định cấm nhập khẩu hàng hoá mà trong quá trình sản xuất có sử dụng lao động trẻ em, lao động cưỡng bức, phân biệt đối xử, bắt người lao động làm việ quá thời hạn cho phép của Luật lao động
Ngoài ra còn 1 số hệ thống khác như QS 9000: áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất ôtô; Q-Base: áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.6 Hiệp định về hàng rào kỹ thuật (TBT)
Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại (gọi tắt là Hiệp định TBT) là một trong
18 hiệp định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được xây dựng và thực thi Theo Hiệp định TBT, hàng rào kỹ thuật được thể hiện dưới các hình thức như Tiêu chuẩn và Văn bản quy phạm pháp luật về kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật; quy trình đánh giá sự phù hợp Đây là hàng rào quy định về hệ thống quản trị chất lượng, môi trường, đạo đức kinh doanh, điểm kiểm soát tới hạn , đối với các doanh nghiệp khi thâm nhập vào thị trường
Trang 7Hiệp định này ra đời nhằm đảm bảo các quy định, tiêu chuẩn, các trình tự đánh giá chất lượng, hợp chuẩn mà các thành viên WTO tiến hành không tạo ra các trở ngại không cần thiết đối với hoạt động thương mại.
Hiệp định này thừa nhận rằng các nước có quyền chấp thuận các quy định kỹ thuật có
mô tả các tiêu chuẩn bắt buộc của sản phẩm (trong đó có các yêu cầu về đóng gói và ghi nhãn) Ngoài một số mục đích khác, các quy định này được ban hành để đảm bảo chất lượng của hàng hóa xuất khẩu bảo vệ sức khỏe và an toàn của con người, động vật và thực vật Hiệp định này yêu cầu các nước thành viên phải đảm bảo rằng các quy định kỹ thuật của họ đáp ứng được một số yêu cầu sau:
- Các quy định kỹ thuật cần phải áp dụng trên cơ sở MFN đối với hàng hóa nhập khẩu
từ tất cả các nguồn;
- Các quy định kỹ thuật không được đối xử đối với hàng hoá nhập khẩu kém ưu đãi hơn so với các hàng hóa được sản xuất trong nước (nguyên tắc đối xử quốc gia);
- Các quy định kỹ thuật không được xây dựng và áp dụng bằng cách thức có thể gây ra
“trở ngại không cần thiết cho thương mại”
- Các quy định kỹ thuật cần phải dựa trên các thông tin và chứng cứ kỹ thuật
Hiệp định này cung cụ thể hóa các tiêu chuẩn mà các cơ quan quản lý phải đáp ứng trong quá trình xây dựng các quy định kỹ thuật, để đảm bảo các quy định này không tạo ra các cản trở không cần thiết đối với thương mại
***Mục tiêu của Hiệp định
- Thúc đẩy các mục tiêu của hiệp định chung về hàng rào thuế quan
- Khẳng định vai trò quan trọng trong các tiêu chuẩn và các hệ thống quốc tế về đánh giá sự phù hợp trong quá trình nâng cao hiệu quả sản xuất và kinh doanh thương mại
Trang 8- Bảo đảm các tiêu chuẩn, văn bản pháp quy kỹ thuật và các quy trình đánh giá sự phù hợp, không gây trở ngại cho thương mại quốc tế.
- Không ngăn cản các nước áp dụng áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo đảm chất lượng hàng xuất khẩu, bảo vệ sức khỏe, an toàn cuộc sống con người, động thực vật, bảo vệ môi trường, chống gian lận thương mại và đảm bảo an ninh quốc gia
*** Các nguyên tắc chính của Hiệp định TBT
Khi ban hành các quy định về kỹ thuật đối với hàng hoá, mỗi nước thành viên WTO đều phải đảm bảo rằng việc áp dụng các quy định này là:
• Không phân biệt đối xử;
• Tránh tạo ra rào cản không cần thiết đối với thương mại quốc tế (nếu có thể dùng các biện pháp khác ít hạn chế thương mại hơn)
• Hài hoà hoá: Các thành viên WTO có nghĩa vụ dùng các tiêu chuẩn quốc tế liên quan làm cơ sở cho các quy định về kỹ thuật
• Có tính đến các tiêu chuẩn quốc tế chung :Các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế thông dụng hiện nay do các tổ chức sau đây ban hành:
+ Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá (ISO)
+ Uỷ ban Kỹ thuật Điện tử quốc tế (IEC)
+ Liên đoàn viễn thông quốc tế (ITU)
+ Uỷ ban dinh dưỡng (CODEX)
• Đảm bảo nguyên tắc tương đương và công nhận lẫn nhau (với các nước khác);
• Minh bạch; nghĩa là bình luận của nước thứ ba về dự thảo các quy định kỹ thuật và các thủ tục đánh giá hợp chuẩn gửi tới Uỷ ban TBT phải được xem xét
Đây là những công cụ quan trọng mà doanh nghiệp có thể sử dụng để bước đầu nhận biết một biện pháp kỹ thuật có tuân thủ WTO hay không để từ đó có biện pháp khiếu nại, khiếu kiện hợp lý nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của mình
***Nội dung chính của Hiệp định TBT
Gồm có 15 điều khoản và 3 phụ lục
Điều 1 : Các điều khoản chung
Trang 9Điều 2 : Soạn thảo, thông qua và áp dụng các văn bản pháp quy kỹ thuật do các cơ
quan chính phủ trung ương ban hành
Điều 3 : Xây dựng, ban hành và áp dụng các văn bản pháp quy kỹ thuật do các cơ
quan nhà nước địa phương và tổ chức phi Chính phủ ban hành
Điều 4 : Xây dựng, ban hành và áp dụng tiêu chuẩn
Điều 5 : Các quy trình đánh giá sự phù hợp do các cơ quan nhà nước trung ương thực
Điều 11 : Trợ giúp kỹ thuật cho các Thành viên khác
Điều 12 : Đối xử đặc biệt và khác biệt đối với các nước thành viên đang phát triển Điều 13 : Uỷ ban về hàng rào kỹ thuật đối với thương mại
Điều 14 : Tham vấn và giải quyết tranh chấp
Điều 15 : Điều khoản cuối cùng
Trang 105 Tổ chức hoặc hệ thống khu vực
6 Cơ quan Chính phủ trung ương
7 Cơ quan Chính phủ ở địa phương
8 Tổ chức phi chính phủ
Phụ lục 2 (của Hiệp định TBT) : Các nhóm chuyên gia kỹ thuật
Phụ lục 3 (của Hiệp định TBT) : Quy chế thủ tục đối với việc soạn thảo chấp nhận
- Khỏi những rủi ro do sự thâm nhập, hình thành hoặc lan truyền côn trùng, bệnh dịch, các sinh vật mang bệnh hoặc gây bệnh;
- Khỏi những rủi ro do các chất phụ gia, các chất ô nhiễm, chất độc hoặc các sinh vật gây bệnh có trong thực phẩm, đồ uống hoặc thực ăn gia súc gây ra;
Hiệp định SPS yêu cầu các nước:
- Áp dụng các quy định về SPS dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế, các hướng dẫn hoặc khuyến nghị;
- Tham gia đầy đủ vào các hoạt động của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Uỷ ban về tiêu chuẩn Thực phẩm (Codex Alimentarius Commision), Văn phòng quốc tế về Bệnh dịch
Trang 11Động vật (International Office Epizootics) và Công ước về Bảo vệ Thực vật quốc tế (International Plant Protection Convention) để xúc tiến việc hài hòa hóa các quy định của SPS trên cơ sở quốc tế;
- Tạo cơ hội cho các bên quan tâm ở các nước khác bình luận về các tiêu chuẩn dự thảo khi các tiêu chuẩn này không dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế hoặc các tiêu chuẩn quốc
tế không được coi là thích hợp; và
- Công nhận các biện pháp về SPS của các thành viên xuất khẩu là tương đương với các biện pháp của mình nếu các biện pháp đó đạt được mức độ bảo vệ vệ sinh dịch tễ tương đương
Ngoài ra, Hiệp định SPS còn có một số yêu cầu quan trọng khác, trong đó đáng chú ý là:
- Thứ nhất, Hiệp định SPS cho phép các tiêu chuẩn được áp dụng trên cơ sở phân biệt đối xử nếu chúng “không phân biệt đối xử một cách tuỳ tiện và không chính đáng giữa các thành viên có các điều kiện giống hoặc tương tự như nhau” Lý do của quy tắc này là do có
sự khác nhau về khí hậu, tỷ lệ xuất hiện của côn trùng hoặc bệnh tật và các điều kiện về an toàn thực phẩm, không phải lúc nào cung có thể áp dụng các tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ như nhau cho các sản phẩm động và thực vật có xuất xứ từ các nước khác nhau
- Thứ hai, Hiệp định SPS dành cho các nước mức độ linh hoạt để tránh né việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế cao hơn mức mà một số hiệp định như Hiệp định TBT cho phép
- Mặt khác, Hiệp định SPS quy định rằng, một nước có thể áp dụng hoặc duy trì một biện pháp vệ sinh dịch tễ mà đạt được mức độ bảo vệ về vệ sinh dịch tễ cao hơn so với một tiêu chuẩn quốc tế nếu có giải trình khoa học hoặc khi nước đó xác định rằng mức độ bảo vệ cao hơn là cần thiết Đối với lý do sau, Hiệp định này đưa ra một số hướng dẫn Hiệp định này quy định rằng mức độ bảo hộ thích hợp cần phải dựa trên đánh giá về rủi ro phù hợp với các hoàn cảnh, các chứng cứ khoa học sẵn có, các quy trình và các phương pháp sản xuất có liên quan, và sự tồn tại của các dịch bệnh hoặc trùng bệnh cụ thể
Trang 12- Thứ ba, trong khi đánh giá những rủi ro đối với cuộc sống hoặc sức khỏe của động hoặc thực vật, cần phải xem xét các yếu tố về kinh tế như sự hình thành và lan truyền của côn trùng hoặc dịch bệnh, các chi phí cho việc kiểm soát hoặc loại trừ chúng ở các nước thành viên nhập khẩu; và tính hiệu quả về chi phí có liên quan của các biện pháp tuỳ chọn để hạn chế các rủi ro.
- Thứ tư, trong khi xác định mức độ bảo vệ thích hợp về vệ sinh dịch tễ, cần tính đến mục tiêu của việc giảm thiểu các ảnh huởng tiêu cực đối với thương mại
- Thứ năm, Hiệp định SPS cho phép các nước chấp nhận các biện pháp vệ sinh dịch tễ trên cơ sở tạm thời như một hành động ngăn ngừa trong các trường hợp sắp xảy ra rủi ro của việc lan truyền bệnh dịch nhưng không có các “chứng cứ khoa học” đầy đủ
***Các nguyên tắc chính của Hiệp định SPS
Các nguyên tắc chính là tính hài hòa, tính tương đương, mức độ bảo vệ phù hợp
(ALOP), mức đánh giá rủi ro, điều kiện của vùng và tính minh bạch được đề cập đếntrong các Điều khoản cụ thể của Hiệp định SPS
Tính hài hòa:
Các nước thành viên WTO có toàn quyền quyết định biện pháp SPS riêng của mình miễn là phù hợp với các điều khoản trong Hiệp định SPS Tuy nhiên, trong nguyên tắc về
tính hài hòa, các nước thành viên WTO được khuyến khích xây dựng các biện pháp SPS
riêng của mình dựa trên những hướng dẫn, khuyến nghị và tiêu chuẩn quốc tế hiện có Ủy ban SPS tạo điều kiện và giám sát việc hài hòa hoá với các tiêu chuẩn quốc tế
Có ba tổ chức chính xây dựng tiêu chuẩn quốc tế được đề cập đến một cách cụ thể trong Hiệp định SPS, Các tổ chức này thường được nói đến như là ‘ba chị em’
• Công ước Bảo vệ Thực vật Quốc tế (IPPC) qui định về sức khoẻ thực vật
• Tổ Chức Thú y Thế giới (OIE) qui định về sức khoẻ động vật
• Ủy ban dinh dưỡng Codex (Codex) qui định về an toàn thực phẩm
Trang 13Các nước thành viên WTO được khuyến khích tham gia tích cực vào ba tổ chức này vì chúng mở ra các diễn đàn khác cho chuyển giao hỗ trợ kỹ thuật.
Tính tương đương:
Hiệp định SPS yêu cầu các nước nhập khẩu là thành viên WTO chấp nhận các biện pháp SPS của các nước xuất khẩu là thành viên WTO là tương đương, nếu nước xuất khẩu chứng minh được một cách khách quan cho nước nhập khẩu thấy rằng những biện pháp đó đạt được mức độ bảo vệ phù hợp (ALOP) của nước nhập khẩu Cụ thể là, công nhận tương
đương thông qua việc tham vấn song phương và trao đổi các thông tin kỹ thuật
Mức độ bảo vệ phù hợp:
Theo Hiệp định SPS, mức độ bảo vệ phù hợp (ALOP) là mức độ bảo vệ mà quốc gia thành viên WTO cho là phù hợp để bảo vệ đời sống hay sức khỏe con người cũng như động thực vật trong phạm vi lãnh thổ của mình.Điều quan trọng là cần phải phân biệt rõ ràng giữa mức độ bảo vệ phù hợp được một thành viên WTO thiết lập với các biện pháp SPS Mức độ bảo vệ phù hợp có một mục tiêu bao quát Các biện pháp SPS được thiết lập nhằm đạt mục tiêu này Theo trật tự lô-gích thì trước tiên phải xác định mức độ bảo vệ phù hợp sau đó mới xây dựng các biện pháp SPS
Mỗi thành viên WTO đều có quyền quyết định mức độ bảo vệ phù hợp cho riêng mình Tuy nhiên, khi đưa ra quyết định đó các nước thành viên WTO phải tính đến mục tiêu giảm thiểu tác động tiêu cực tới thương mại Ngoài ra, các thành viên WTO buộc phải áp dụng nhất quán khái niệm về mức độ bảo vệ phù hợp; tức là họ phải đảm bảo “không áp dụng tùy tiện và thiếu căn cứ” dẫn đến “hậu quả là sự phân biệt đối xử hay vô hình trung hạn chế thương mại quốc tế”
Đánh giá rủi ro:
Hiệp định SPS yêu cầu các thành viên WTO khi xây dựng các biện pháp SPS của mình trên cơ sở đánh giá rủi ro, phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể Trong việc thực hiện các đánh giá rủi ro, các thành viên WTO được yêu cầu xem xét đến các biện pháp kỹ thuật
được các tổ chức quốc tế liên quan xây dựng như đã trình bày ở trên.
Trang 14Lý do mà các thành viên WTO tiến hành đánh giá rủi ro là để quyết định các biện pháp SPS cần áp dụng cho một mặt hàng nhập khẩu nhằm đạt được mức độ bảo vệ phù hợp của mình Tuy nhiên, những biện pháp SPS mà một nước thành viên WTO áp dụng không được hạn chế thương mại nhiều hơn so với yêu cầu nhằm đạt được mức độ bảo vệ phù hợp riêng và phải xem xét tính khả thi cả về mặt kỹ thuật lẫn về mặt kinh tế.
Tính minh bạch:
Nguyên tắc chính về tính minh bạch trong Hiệp định SPS là yêu cầu các nước thành viên WTO phải cung cấp thông tin về các biện pháp SPS và thông báo những thay đổi về các biện pháp SPS của mình Các nước thành viên WTO cũng được yêu cầu công bố các quy định về SPS của mình Những thông báo này cần được thực hiện thông qua một Cơ quan thông báo của quốc gia Mỗi nước thành viên WTO cũng cần chỉ định một đầu mối quốc gia cung cấp các thông tin liên quan nhằm giải đáp những thắc mắc về SPS của các nước thành viên WTO khác Một cơ quan có thể thực hiện cả hai chức năng là thông báo và hỏi đáp
***Phân biệt các biện pháp TBT và các biện pháp SPS :
Liên quan đến các yêu cầu về đặc tính sản phẩm, quy trình sản xuất, đóng gói… bên cạnh các “biện pháp kỹ thuật” (TBT), các nước còn duy trì nhóm các “biện pháp kiểm dịch động thực vật” (SPS) Trên thực tế, có nhiều điểm giống nhau giữa hai nhóm biện pháp này
Tuy nhiên, WTO có quy định riêng cho mỗi nhóm, tập trung ở hai Hiệp định khác nhau
(với các nguyên tắc khác nhau)
Tiêu chí để phân biệt hai nhóm biện pháp này là mục tiêu áp dụng của chúng:
• Các biện pháp SPS hướng tới mục tiêu cụ thể là bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ con
người, vật nuôi, động thực vật thông qua việc đảm bảo vệ sinh thực phẩm và ngăn chặn các dịch bệnh
• Các biện pháp TBT hướng tới nhiều mục tiêu chính sách khác nhau (an ninh quốc
gia, môi trường, cạnh tranh lành mạnh…)
Việc phân biệt khi nào một yêu cầu là biện pháp kỹ thuật hay biện pháp vệ sinh dịch tễ là rất quan trọng đối với doanh nghiệp bởi mỗi loại biện pháp sẽ chịu sự điều chỉnh của các nguyên tắc và quy định khác nhau của WTO; trên cơ sở đó, doanh nghiệp biết bảo vệ quyền lợi của mình bằng phương pháp nào thì thích hợp
Trang 15Ví dụ 1: Các quy định về thuốc sâu:
Quy định về lượng thuốc sâu trong thực phẩm hoặc trong thức ăn gia súc nhằm bảo
vệ sức khoẻ con người hoặc động vật: Biện pháp SPS;
Quy định liên quan đến chất lượng, công năng của sản phẩm hoặc những rủi ro về sức khoẻ có thể xảy ra với người sử dụng: Biện pháp TBT
Việc xây dựng hệ thống tự vệ bằng các hàng rào kỹ thuật là công việc chủ động bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng và nhà sản xuất trong nước Nó sẽ giúp làm giảm áp lực cạnh tranh của các sản phẩm nhập ngoại mà các nước thường có lợi thế, đồng thời giúp các doanh nghiệp trong nước có điều kiện đầu tư nâng cao năng lực sản xuất nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn bảo vệ người tiêu dùng
Theo quy định, Hiệp định rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT) đòi hỏi các nước tham gia Hiệp định phải chấp hành
Trước tiên, các bên cam kết không tạo ra các hàng rào về kỹ thuật đối với thương mại bằng cách phải minh bạch hóa các quy định theo các nguyên tắc xây dựng chung; phân định
rõ các tiêu chuẩn kỹ thuật và quy định kỹ thuật; hàng hóa phải được đối xử bình đẳng; xây dựng hệ thống phân phối hỏi đáp thông tin về các yêu cầu kỹ thuật đối với sản phẩm hàng hóa ở mỗi nước; các hàng hóa chỉ có thể thiết lập các yêu cầu kỹ thuật khi liên quan đến vệ sinh, an toàn, điều kiện môi trường… Chúng ta hiện chưa có những điều khoản tự bảo vệ này.Vậy bắt đầu như thế nào? Theo một số chuyên gia, mục đích rào cản đối với thương mại chủ yếu bảo vệ người tiêu dùng khỏi các sản phẩm hàng hóa kém chất lượng, không đảm bảo
an toàn, làm ảnh hưởng xấu đến môi trường… Đồng thời, đây cũng là các rào cản “hợp lý” nhằm hạn chế nhập khẩu, trong đó hạn chế nhập khẩu hàng hóa không đạt tiêu chuẩn từ các nước, tăng chi phí kiểm tra và kiểm định hàng hóa cũng như các chi phí lưu kho, bảo quản
Trang 16làm giảm tính cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu Vấn đề còn lại chính là phương thức tạo
ra các rào cản này sao cho hợp với quy định chung của Hiệp định TBT
Thực tế như Nhật Bản thường áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật cao với những bộ tiêu chuẩn riêng không theo hệ thống ISO khiến cho hàng hóa các nước muốn vào thị trường này
sẽ bị kiểm tra rất gắt gao
Ở Hoa Kỳ, các tiêu chuẩn về môi trường cực kỳ khắt khe, các yêu cầu về an toàn trong sử dụng Với EU, các tiêu chuẩn bảo vệ người tiêu dùng như các chỉ tiêu về tồn dư hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật… Còn thực tế ở nước ta trong thời gian qua, các bộ Tiêu chuẩn Việt Nam được ban hành hầu như không còn phù hợp với xu thế phát triển nhanh về công nghệ, yêu cầu bảo vệ môi trường
Việc chỉnh sửa và nâng các bộ tiêu chuẩn này cũng như ban hành thêm các tiêu chuẩn mới hiện hết sức cần thiết, song khối lượng công việc này cũng rất nhiều Tại Bộ Công nghiệp, chỉ sơ bộ rà soát toàn bộ hệ thống tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật cho 4 ngành hóa chất, thép, thiết bị điện và dệt may, thì trong hàng trăm tiêu chuẩn kỹ thuật của mỗi ngành đã
có hàng chục tiêu chuẩn không còn tương thích, gần cả trăm tiêu chuẩn cần xây dựng mới trong giai đoạn tới
Đơn cử trong ngành thép, rà soát 250 tiêu chuẩn kỹ thuật, có đến 26 tiêu chuẩn không tương thích và trong 3 năm tới cần xây dựng mới 52 tiêu chuẩn Ngành dệt có gần 200 tiêu chuẩn trong đó có tới 72 tiêu chuẩn cần phải xem xét hoặc thay thế do không còn phù hợp với xu thế chung, 49 tiêu chuẩn cần được xây dựng mới tập trung vào các phương pháp xác định tồn dư kim loại và hóa chất có tác động đến con người; bổ sung thêm các nội dung về quy cách ghi nhãn hàng hóa, bao gói; xây dựng và ban hành danh mục thuốc nhuộm độc hại không được phép sử dụng tại Việt Nam và các quy định không được sử dụng các nguyên liệu dệt có sử dụng thuốc nhuộm trong danh mục này Điều này cũng tương tự trong các ngành thiết bị điệnvàhóachất
Việc nhanh chóng hoàn thiện hệ thống rào cản kỹ thuật là rất cần thiết để bảo vệ người tiêu dùng và nhà sản xuất trong nước Trong một thời gian ngắn, khối lượng công việc phải hoàn thành rất lớn, đòi hỏi cần được tập trung sức người, sức của từ các ngành có liên quan
Trang 17Trong đó, vai trò của các doanh nghiệp cũng rất cần thiết, ngoài việc tập trung đầu tư nâng cao năng lực sản xuất, cũng cần chủ động nghiên cứu đề xuất với các cơ quan quản lý các biện pháp và chính sách phù hợp nhằm hỗ trợ bảo vệ sản xuất cho chính mình, thông qua vai trò của Hiệp hội ngành nghề
Chương 2: Thực trạng về hàng hóa Việt Nam thường gặp
2.1 Các rào cản thương mại hàng hóa Việt Nam gặp phải khi xuất khẩu:
2.1.1 Đối với hàng thuỷ sản :
Trang 18Ngày 4/3/1999, EU ban hành quyết định số 508/1999 quy định 10 hoá chất không được phép có trong sản phẩm thực phẩm có nguồn gốc động vật, gồm có:
từ 0,3 ppb (phần tỷ) trở xuống Tháng 3/2002, EU chính thức thông báo phát hiện ra hàng thuỷ sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này có hoá chất nitrofuran, do đó quyết định áp dụng các biện pháp kiểm tra nghiêm ngặt ở cả 2 chỉ tiêu là dư lượng kháng sinh chloramphenicol và hoá chất nitrofuran đối với 100% các lô hàng xuất khẩu từ Việt Nam Tính đến cuối tháng 7/2002 đã có 66 lô hàng thuỷ sản các loại của Việt Nam bị phát hiện nhiễm các kháng sinh và hoá chất trên
Quy định mới của EU rõ ràng đang gây những khó khăn lớn cho xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam Trước đây, EU đã công nhận phương pháp và thiết bị kiểm tra dư lượng chloramphenicol của Việt Nam cũng như chấp nhận hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam
Trang 19vào EU phải có hàm lượng chloramphenicol dưới 1,5 ppb Các phòng kiểm nghiệm tại các chi nhánh của Trung tâm kiểm tra chất lượng và vệ sinh thuỷ sản (Nafiqacen) hiện tại chỉ mới phân tích được chất chloramphenicol ở mức thấp nhất là 1,5 ppb, còn về nitrofuran thì chưa có phòng thí nghiệm nào ở Việt Nam có khả năng phân tích được Hiện nay, công tác quản lý việc sử dụng các chất kháng sinh, hoá chất ở nước ta còn rất yếu kém, hầu hết nông dân nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản cũng như các đại lý thu gom nguyên liệu chưa được hướng dẫn về sử dụng kháng sinh và hoá chất, các doanh nghiệp thực hiện chưa nghiêm chỉnh các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm của ngành Điều đó khiến cho khi gặp các tiêu chuẩn khắt khe, thuỷ sản Việt Nam khó đáp ứng được.
Khi có lô hàng bị phát hiện có dư lượng kháng sinh và hoá chất cao hơn mức quy định, thiệt hại đầu tiên đối với doanh nghiệp xuất khẩu là mất trắng tiền hàng do lô hàng đó không bán được nữa Nghiêm trọng hơn, EU đã thông báo sẽ tịch thu và tiêu huỷ những lô hàng đó thay vì trả về cho chủ hàng như trước đây, chủ hàng phải trả chi phí lưu kho và tiêu huỷ (khoảng 7.100 USD/container)
Thiệt hại sâu xa hơn, đó là sự sút giảm uy tín đối với khách hàng, do tên doanh nghiệp
bị đưa lên mạng cảnh báo nhanh cho toàn châu Âu Nhiều doanh nghiệp sau khi hàng xuất khẩu bị phát hiện có dư lượng kháng sinh cao hơn quy định đã bị đối tác ở châu Âu ngưng đặt hàng
Trước tình hình trên, một số doanh nghiệp trong nước tỏ ra e ngại khi xuất khẩu thuỷ sản sang EU, do đó tỷ trọng thuỷ sản xuất khẩu vào EU tiếp tục giảm Lãnh đạo của một công ty xuất khẩu thuỷ sản đông lạnh đã lý giải việc công ty của anh ngừng xuất khẩu tôm vào thị trường châu Âu như sau: “Lợi nhuận khi xuất hàng vào EU chỉ khoảng 1-2%, nhưng rủi ro có khi lên đến 100%” Phản ứng trên rõ ràng không phải đúng cách vì không chỉ EU, các nước khác như Mỹ, Nhật, Canada, … cũng đang đẩy mạnh kiểm tra các tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn vệ sinh dịch tễ Ngay cả Trung Quốc và Hồng Kông, thị trường thường được nhìn nhận là dễ dãi nhất trong nhóm thị trường chủ lực của thuỷ sản Việt Nam cũng đang nâng cao những tiêu chuẩn đối với hàng thực phẩm
Việc Mỹ cấm sản phẩm cá tra và cá basa của Việt Nam ghi nhãn catfish theo điều khoản 10806 của Đạo luật H.R 2646 cũng ảnh hưởng không nhỏ đến nước ta Với vị trí là
Trang 20nước xuất khẩu cá da trơn lớn nhất vào Mỹ, Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất
từ biện pháp này Xét về mặt ngư học, catfish Việt Nam và catfish Mỹ đều là catfish Tháng 10/2001, theo đề nghị của FDA với Thương vụ Việt Nam tại Mỹ, Bộ Thuỷ sản Việt Nam đã
tổ chức lấy mẫu và gửi mẫu cá cho Phòng thí nghiệm của FDA tại Washington Trên cơ sở mẫu cá được cung cấp, FDA đã công nhận tên cá tra và cá basa vẫn có đuôi catfish Cụ thể,
cá basa được mang 1 trong 5 tên thương mại là basa, bocourti, bocourtifish, basa catfish,
bocourti catfish và tên khoa học là Pangasius bocourti, cá tra được mang 1 trong 3 tên thương mại là swai, striped catfish, sutchi catfish và tên khoa học là Pagasius hypophthalmus
Ảnh hưởng của biện pháp này thật sự không nhỏ Các doanh nghiệp xuất khẩu của nước ta phải đăng ký lại nhãn hiệu (chi phí khoảng 450 USD) cũng như thay đổi toàn bộ bao
bì, nhãn mác, … rất tốn kém Việc tổ chức tiếp thị, giới thiệu lại sản phẩm cũng góp phần làm tăng giá thành sản phẩm Hơn nữa, theo các chuyên gia của VASEP, việc phải thay đổi tên gọi của sản phẩm ở thị trường Mỹ sẽ ảnh hưởng đến lượng hàng hoá được tiêu thụ vì người tiêu dùng chưa quen với tên sản phẩm mới
2.1.2 Đối với hàng may mặc :
Mấy năm gần đây, ngày càng nhiều sản phẩm dệt- may của Trung Quốc bị khách hàng từ chối hoặc phải bồi thường do không phù hợp với những tiêu chuẩn “xanh” - tiêu chuẩn ra đời từ rào cản thương mại “xanh” greentrade barrier
Nói tới hàng may mặc “xanh” là nói tới các sản phẩm đáp ứng được các tiêu chuẩn sinh thái quy định, an toàn về sức khoẻ đối với người sử dụng và không gây ô nhiễm môi trường trong sản xuất Nếu như tình trạng trên đã xảy ra đối với hàng dệt-may của Trung Quốc, thì tất yếu sẽ xảy ra đối với ngành Dệt- May của Việt Nam và các nước châu Á khác
Như vậy là, trong cuộc cạnh tranh quyết liệt sau khi hạn ngạch dệt- may được rỡ bỏ
và tiêu chuẩn “Eco friendly” được EU áp dụng, thì rào cản thương mại “xanh” là một thách thức, trở ngại lớn đối với tất cả các nước xuất khẩu hàng dệt- may vào các thị trường nói
trên Cơ hội và thách thức là giống nhau đối với các nước này
Trong ngành Dệt-May Việt Nam, cho đến nay, việc sản xuất các sản phẩm “xanh” chưa được quan tâm đúng mức Một số nhà quản lý, điều hành doanh nghiệp còn chưa được
Trang 21trang bị kiến thức hoặc hiểu biết còn hạn chế về những yêu cầu “xanh” đối với các sản phẩm dệt- may xuất khẩu Ngoài ra, phần lớn các công ty, xí nghiệp trong dây chuyền nhuộm- hoàn tất vẫn còn sử dụng một số hoá chất, chất trợ, thuốc nhuộm và các công nghệ gây ô nhiễm môi trường Có thể nêu lên vài ví dụ nổi bật sau đây Trong hồ sợi, ngày càng sử dụng nhiều PVA làm tăng tải lượng COD (nhu cầu oxy hoá học) trong nước thải và PVA khó xử lý vi sinh Nước thải rũ hồ thông thường chứa 4000-8000 mg/l COD Kỹ thuật “giảm trọng” polieste bằng kiềm được áp dụng phổ biến làm sản sinh một lượng lớn terephtalat và glycol trong nước thải sau sử dụng 5-6 lần, đưa COD có thể lên tới 80.000 mg/l Trong thành phần nước thải của các công ty, nhà máy dệt – nhuộm hiện nay, có khoảng 300-400 mg/l COD (đã vượt tiêu chuẩn nước thải loại B 3-4 lần) dự đoán sẽ tăng lên mức 700-800 mg/l và có thể còn tăng hơn nữa trong tương lai.
Nếu như tình hình ô nhiễm môi trường, trước hết là ô nhiễm nước thải không được kiểm soát, thì các doanh nghiệp dệt- nhuộm phải đương đầu với nhiều vấn đề nghiêm trọng, phải tốn rất nhiều kinh phí cho việc xử lý môi trường, mới đáp ứng được các tiêu chuẩn quy định về môi trường, cũng như để phát triển sản xuất, xuất khẩu bền vững, đáp ứng các yêu cầu của tiêu chuẩn “Eco friendly” về môi trường
2.2 Thách thức của các doanh nghiệp Việt Nam:
Đa số các biện pháp kỹ thuật ở các thị trường được áp dụng một cách ổn định, thường xuyên và liên tục (không phải biện pháp bất thường và không mang tính trừng phạt) Hàng hoá từ tất cả các nguồn đều phải đáp ứng các điều
kiện này Vì vậy, về nguyên tắc, không có biện pháp phòng tránh hay đối phó mà chỉ có biện pháp duy nhất là tuân thủ.
Việc tuân thủ các biện pháp này đôi khi đòi hỏi những thay đổi quan trọng không chỉ đối với hàng hoá thành phẩm xuất khẩu mà cả quá trình nuôi trồng, khai thác nguồn nguyên liệu, quy trình chế biến, đóng gói, vận chuyển sản phẩm
Đây là việc khó nhưng phải làm bởi nếu không đáp ứng các điều kiện kỹ thuật, hàng hoá “lỗi” có thể bị từ chối nhập khẩu Nghiêm trọng hơn, trong một số trường hợp, nếu việc
vi phạm xuất hiện quá nhiều và khó kiểm soát, nước nhập khẩu có thể tăng cường các biện pháp kiểm soát hoặc thậm chí cấm nhập khẩu hàng hoá tương tự từ tất cả các doanh nghiệp của nước xuất khẩu liên quan (dù một số
doanh nghiệp không vi phạm).
Thách thức lớn nhất hiện nay đối với doanh nghiệp là phải chấp nhận tiêu chuẩn quốc
tế như một loại ngôn ngữ quốc tế thống nhất về tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa Trong khi
đó, với trình độ công nghệ, quản lý và khả năng tài chính còn hạn chế, quy mô nhỏ, chi phí
Trang 22sản xuất cao, kiểu dáng sản phẩm đơn điệu, chất lượng sản phẩm chưa cao và thiếu mạng lưới phân phối, tiếp thị, nhiều doanh nghiệp khó có thể áp dụng ngay tiêu chuẩn quốc tế đối với sản phẩm, hàng hóa của mình Do vậy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất khó tiếp cận trực tiếp được với thị trường nước ngoài Các doanh nghiệp còn thiếu thông tin về tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm, đối thủ cạnh tranh cùng loại khiến doanh nghiệp khó có những bước đi thích hợp để tạo lợi thế cạnh tranh hàng hóa cùng loại Môi trường kinh doanh, pháp lý không ổn định và năng lực quản lý còn yếu là những thách thức của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp còn hiểu khái niệm về TBT rất mơ hồ, mờ nhạt thậm chí cả cấp chỉ đạo, hoạch định chiến lược,… do chưa hiểu, chưa nhận thức được vài trò và tầm quan trọng của TBT, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Việc thực hiện TBT là tất yếu vì chỉ có như vậy hàng hóa của các doanh nghiệp mới có thể “hội nhập” được, nhiều doanh nghiệp hiểu được điều này nhưng không phải ai cũng thực hiện đúng và tốt được, có nhiều doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn chất lượng của các nước mà họ định xuất khẩu hàng hóa của mình sang nhưng họ lại không đầu tư cho việc mua thiết bị, máy móc để thử nghiệm, đó cũng là hạn chế lớn của các doanh nghiệp
Hiện nay xu thế các quốc gia chuyển các chất kháng sinh trong thực phẩm từ danh mục chất hạn chế cấm sang danh mục cấm hoàn toàn đang ngày một trở nên phổ biến
Trình độ công nghệ, quản lý và khả năng tài chính còn hạn chế, nhiều DNVN khó có thể áp dụng ngay tiêu chuẩn quốc tế đối với sản phẩm hàng hóa của mình
DN thiếu thông tin về tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm, đối thủ cạnh tranh hàng hóa cùng loại, khiến DN khó có những bước đi thích hợp để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho hàng hóa của mình, đặc biệt là chất lượng Môi trường kinh doanh, pháp lý không ổn định và năng lực quản lý còn yếu là những thách thức của DN
Trong số 5.600 tiêu chuẩn Việt Nam thì chúng ta mới có khoảng 24% tiêu chuẩn bảo đảm hài hòa với tiêu chuẩn quy định của quốc tế và khu vực
2.3 Các hình thức của rào cản thương mại:
2.3.1 Các tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật, an toàn vệ sinh dịch tễ
Trang 23Cơ quan chức năng đặt ra các yêu cầu liên quan chủ yếu đến kích thước, hình dáng, thiết kế, độ dài và các chức năng của sản phẩm Theo đó, các tiêu chuẩn đối với sản phẩm cuối cùng, các phương pháp sản xuất và chế biến, các thủ tục xét nghiệm, giám định, chứng nhận và chấp nhận, những quy định và các phương pháp thống kê, thủ tục chọn mẫu và các phương pháp đánh giá rủi ro liên quan, các yêu cầu về an toàn thực phẩm, … được áp dụng Mục đích của các tiêu chuẩn và quy định này là nhằm bảo vệ an toàn, vệ sinh, bảo vệ sức khoẻ, đời sống động, thực vật, bảo vệ môi trường, …
Các tiêu chuẩn thường dược áp dụng trong thương mại là HACCP đối với thuỷ sản và thịt, SPS đối với các sản phẩm có nguồn gốc đa dạng sinh học, …
2.3.2 Các tiêu chuẩn chế biến và sản xuất theo quy định môi trường
Đây là các tiêu chuẩn quy định sản phẩm cần phải được sản xuất như thế nào, được sử dụng như thế nào, được vứt bỏ như thế nào, những quá trình này có làm tổn hại đến môi trường hay không Các tiêu chuẩn này được áp dụng cho giai đoạn sản xuất với mục đích nhằm hạn chế chất thải gây ô nhiễm và lãng phí tài nguyên không tái tạo
2.3.3 Các yêu cầu về nhãn mác
Biện pháp này được quy định chặt chẽ bằng hệ thống văn bản pháp luật, theo đó các sản phẩm phải được ghi rõ tên sản phẩm, danh mục thành phần, trọng lượng, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, thời hạn bảo quản, xuất xứ, nước sản xuất, nơi bán, mã số mã vạch, hướng dẫn sử dụng, hướng dẫn bảo quản … Quá trình xin cấp nhãn mác cũng như đăng ký thương hiệu kéo dài hàng tháng và rất tốn kém, nhất là ở Mỹ Đây là một rào cản thương mại được
sử dụng rất phổ biến trên thế giới, đặc biệt tại các nước phát triển
2.3.4 Các yêu cầu về đóng gói bao bì
Gồm những quy định liên quan đến nguyên vật liệu dùng làm bao bì, những quy định
về tái sinh, những quy định về xử lý và thu gom sau quá trình sử dụng, … Những tiêu chuẩn
và quy định liên quan đến những đặc tính tự nhiên của sản phẩm và nguyên vật liệu dùng làm bao bì đòi hỏi việc đóng gói phải phù hợp với việc tái sinh hoặc tái sử dụng
Trang 24Các yêu cầu về đóng gói bao bì cũng ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và sức cạnh tranh của sản phẩm do sự khác nhau về tiêu chuẩn và quy định của mỗi nước, cũng như chi phí sản xuất bao bì, các nguyên vật liệu dùng làm bao bì và khả năng tái chế ởmỗi nước là khác nhau
2.3.5 Phí môi trường
Phí môi trường thường được áp dụng nhằm 3 mục tiêu chính: thu lại các chi phí phải
sử dụng cho môi trường, thay đổi cách ứng xử của cá nhân và tập thể đối với các hoạt động
có liên quan đến môi trường và thu các quỹ cho các hoạt động bảo vệ môi trường Các loại phí môi trường thường gặp gồm có:
- Phí sản phẩm: áp dụng cho các sản phẩm gây ô nhiễm, có chứa các hoá chất độc hại hoặc có một số thành phần cấu thành của sản phẩm gây khó khăn cho việc thải loại sau sử dụng
- Phí khí thải: áp dụng đối với các chất gây ô nhiễm thoát vào không khí, nước và đất, hoặc gây tiếng ồn
- Phí hành chính: áp dụng kết hợp với các quy định để trang trải các chi phí dịch vụ của chính phủ để bảo vệ môi trường
- Phí môi trường có thể được thu từ nhà sản xuất hoặc người tiêu dùng hoặc cả nhà sản xuất và người tiêu dùng
2.3.6 Nhãn sinh thái
Sản phẩm được dán nhãn sinh thái nhằm mục đích thông báo cho người tiêu dùng biết
là sản phẩm đó được coi là tốt hơn về mặt môi trường Các tiêu chuẩn về dán nhãn sinh thái được xây dựng trên cơ sở phân tích chu kỳ sống của sản phẩm, từ giai đoạn tiền sản xuất, sản xuất, phân phối, tiêu thụ, thải loại sau sử dụng, qua đó đánh giá mức độ ảnh hưởng đối với môi trường của sản phẩm ở các giai đoạn khác nhau trong toàn bộ chu kỳ sống của nó
Sản phẩm được dán nhãn sinh thái, thường được gọi là “sản phẩm xanh”, có khả năng cạnh tranh cao hơn so với sản phẩm cùng chủng loại nhưng không dán nhãn sinh thái do người tiêu dùng thường thích và an tâm khi sử dụng các “sản phẩm xanh” hơn Ví dụ, trên
Trang 25thị trường Mỹ, các loại thuỷ sản có dán nhãn sinh thái thường có giá bán cao hơn, ít nhất 20%, có khi gấp 2-3 lần thuỷ sản thông thường cùng loại
2.4 Một vài qui định về nhập khẩu của Hoa Kì, EU, Nhật Bản:
2.4.1 MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ NHẬP KHẨU HOA KÌ:
Luật An ninh Y tế và Sẵn sàng Đối phó với Khủng bố Sinh học năm 2002 (Public Health Security and Bioterrorism Preparedness and Response Act of 2002), gọi tắt là Luật Chống Khủng bố Sinh học (the Bioterrorism Act), do Tổng thống Hoa Kỳ G.W Bush ký ngày 12/6/2002 đã chỉ định Bộ trưởng Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân dân tiến hành các biện pháp cần thiết để đối phó với nguy cơ khủng bố nhằm vào nguồn cung thực phẩm cho Hoa Kỳ
- Quy định tạm thời của FDA về đăng ký các cơ sở sản xuất/chế biến, bao gói và bảo quản thực phẩm theo Luật Chống Khủng bố Sinh học.
Để thực hiện Luật này ngày 10/10/2003, FDA đã công bố quy định cuối cùng tạm thời yêu cầu các sở sản xuất/chế biến, đóng gói, hoặc bảo quản thực phẩm dành cho người và động vật tại Hoa kỳ sử dụng phải đăng ký với cơ quan này Theo qui định này, tất cả các cơ
sở thuộc diện phải đăng ký phải tiến hành đăng ký xong trước ngày 12 tháng 12 năm 2003
Trong trường hợp có nguy cơ hoặc xảy ra khủng bố sinh học hoặc phát sinh ốm đau
do thực phẩm gây ra, các thông tin đăng ký cơ sở sẽ giúp cho FDA xác định địa điểm và nguồn gốc sự kiện và thông báo nhanh chóng đến các cơ sở có thể bị ảnh hưởng
Chỉ các cơ sở sản xuất/chế biến, đóng gói, hoặc bảo quản thực phẩm dành cho tiêu dùng ở Hoa kỳ mới phải đăng ký Thực phẩm thuộc diện phải đăng ký bao gồm các loại sau:
Tên sản phẩm bằng tiếng Anh Tên sản phẩm dịch sang tiếng Việt
Dietary supplements and dietary ingredients Các thức để làm đồ ăn
Beverages (including alcoholic beverages and
bottled water)
Đồ uống (kể cả đồ uống có cồn và nước đóng chai)
Dairy products and shell eggs Các sản phẩm sữa và trứng
Raw agricultural commodities for use as food Nông sản chưa chế biến dùng làm thực
Trang 26Tên sản phẩm bằng tiếng Anh Tên sản phẩm dịch sang tiếng Việt
or components of food phẩm hoặc thành phần thực phẩm
Canned and frozen foods Thực phẩm đóng hộp và đông lạnh
Bakery goods, snack food, and candy
(including chewing gum) Các loại bánh kẹo (kể cả kẹo cao su)
Live food animals Động vật sống dùng làm thực phẩm
Animal feeds and pet food Thức ăn gia súc và thực phẩm cho vật nuôi Các chất có tiếp xúc với thực phẩm và thuốc trừ sâu không thuộc diện phải đăng ký theo qui định này Do vậy các cơ sở sản xuất/chế biến, đóng gói, hoặc bảo quản các chất có tiếp xúc với thực phẩm hoặc thuốc trừ sâu sẽ không phải đăng ký với FDA
- Ai phải đăng ký?
Chủ sở hữu, người vận hành hoặc đại lý phụ trách của cơ sở sản xuất/chế biến, đóng gói, và bảo quản các loại thực phẩm dành cho người và gia súc tại Hoa Kỳ và tại các nước khác có xuất khẩu vào Hoa Kỳ hoặc cá nhân được các cơ sở uỷ quyền phải làm thủ tục đăng
ký cơ sở của mình với cơ quan FDA Cơ sở trong nước vẫn phải đăng ký ngay cả trong trường hợp thực phẩm của cơ sở không được lưu thông từ bang này sang bang khác Cơ sở nước ngoài phải chỉ định một đại lý Hoa kỳ (ví dụ người nhập khẩu hoặc môi giới của cơ sở) Đại lý phải là người sống hoặc có chỗ kinh doanh ở Hoa kỳ và phải hiện diện ở Hoa kỳ mới được phép đăng ký
- Những cơ sở nước ngoài nào không phải đăng ký?
Các cơ sở của nước ngoài có sản phẩm tiêu thụ ở Hoa Kỳ nhưng không trực tiếp giao hàng vào Hoa Kỳ mà đựơc chế biến tiếp và đóng gói tại một nước thứ ba khác trước khi nhập khẩu vào Hoa Kỳ cũng không thuộc diện phải đăng ký
Tuy nhiên, nếu cơ sở sản xuất nước ngoài kế tiếp đó chỉ tiến hàng một vài hoạt động tối thiểu (ví dụ dãn nhãn) thì cả hai cơ sở đều phải đăng ký
Nếu hàng chuyển qua nước thứ ba trước khi vào Hoa Kỳ nhưng không qua chế biến hay thay đổi nhãn hiệu hàng hoá thì cả chủ cơ sở sản xuất và người giao hàng chuyển tải ở nước thứ ba đều phải làm thủ tục đăng ký
Trang 27- Qui định mới của Hoa Kỳ về nhãn hàng thực phẩm
Bắt đầu từ ngày 01/1/2006, trên nhãn cung cấp các thông tin về dinh dưỡng thực phẩm phải ghi thêm hàm lượng axít béo chuyển hóa (TFA) ngay sau dòng về hàm lượng axít béo no (saturated) và Cholesteron Yêu cầu này trên nhãn đối với rau quả và cá tươi là tự nguyện Trong giai đoạn từ nay đến 01/1/2006, các nhà sản xuất có thể vẫn dùng nhãn cũ Tuy nhiên, sau thời hạn trên, các sản phẩm trên nhãn không ghi hàm lượng axít béo chuyển hóa sẽ không được phép lưu thông trên hoặc nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ
Các qui định hiện hành về thông tin dinh dưỡng trên nhãn hàng thực phẩm tiêu thụ tại Hoa Kỳ như sau:
(1) Liều lượng dùng và số lần dùng của mỗi hộp;
(2) Tổng lượng calo và lượng calo từ chất béo mỗi lần dùng;
(3) Tổng lượng chất béo và lượng chất béo no (saturated) tính theo gram; tổng lượng choresrol và sodium (miligram), tổng lượng Carbohydrate, dietary fiber, đường và protein tính bằng gam mỗi lần dùng;
(4) Phần trăm của tất cả các thành phần liệt kê tính theo tỷ lệ cần cho cơ thể trong một ngày trên cơ sở lượng calo cần thiết hàng ngày là 2.000 calo;
(5) Tỷ lệ % trong mức khuyến cáo tiêu thụ hàng ngày (recommended daily allowances - RDA) của Hoa Kỳ của một số loại vitamin và chất khoáng của một lần dùng;
(6) Ghi các trị giá cần hàng ngày, các trị giá kiến nghị tính bằng gram hoặc miligram - tuỳ theo từng thành phần - đối với chất béo, chất béo no, cholesterol, sodium, carbohydrate, dietary fiber, cùng với lượng calo trên gram đối với chất béo, carbohydrate, và protein
(7) Các chất dinh dưỡng khác được coi là thành phần cơ bản trong thức ăn của người
có thể được liệt kê nếu những chất này chiếm ít nhất 2% RDA của Hoa Kỳ
- Một số qui chế quản lý nhập khẩu thực phẩm của Hoa Kỳ
Trang 28Tất cả các loại thực phẩm sản xuất trong nước và nhập khẩu đều phải chịu sự điều tiết của các Luật Liên bang về Thực phẩm, Dược phẩm và Mỹ phẩm (Federal Food, Drug, and Cosmetic Act -FDCA), Luật về Bao bì và Nhãn hàng (Fair Packaging and Labeling Act - FPLA), và một số phần của Luật về Dịch vụ Y tế (PHSA).
Cơ quan An toàn Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về nhập khẩu thực phẩm vào Hoa Kỳ Các quy định của FDA về nhập khẩu thực phẩm rất nhiều và chặt chẽ Ngoài các qui định của FDA, có thể có các quy định riêng của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) và/hoặc Cục Nghề cá Hoa Kỳ (NMFS) đối với một số mặt hàng nông thủy sản cụ thể
Theo luật, thực phẩm nhập khẩu thuộc quyền quản lý của FDA sẽ phải được FDA kiểm tra tại cảng đến trước khi được phép nhập khẩu vào thị trường Nếu hàng đến bị phát hiện không phù hợp với những quy định hiện hành, thì có thể bị giữ lại tại cửa khẩu FDA có thể cho phép tái chế lô hàng cho phù hợp trước khi có quyết định cuối cùng cho phép nhập lô hàng Tuy nhiên, mọi công việc tuyển lựa lại, tái chế, hoặc làm lại nhãn hàng phải được tiến hành dưới sự giám sát của nhân viên FDA Mọi chi phí liên quan do người nhập khẩu chịu Nếu hàng đã được tái chế hoặc làm lại nhãn mà vẫn không đạt yêu cầu thì FDA sẽ yêu cầu tái xuất hoặc tiêu hủy
Việc cho phép tái chế hàng là ưu đãi mà FDA có thể giành cho người nhập khẩu chứ không phải quyền đương nhiên các nhà nhập khẩu được hưởng Vì vậy, nếu người nhập khẩu tiếp tục có các chuyến hàng tương tự không phù hợp, thì sẽ có nguy cơ bị FDA coi là lạm dụng ưu đãi và sẽ không tiếp tục cho phép người nhập khẩu tái chế hàng Thay vào đó, FDA
sẽ yêu cầu người nhập khẩu hủy hoặc tái xuất khẩu lô hàng
Các nhà xuất khẩu nước ngoài nếu nhiều lần vi phạm xuất hàng không đủ tiêu chuẩn vào Hoa Kỳ cũng dễ bị FDA đưa vào diện Cảnh báo Nhập khẩu và hàng của họ sẽ bị FDA tự động giữ lại hoặc kiểm tra chặt chẽ hơn (xem thêm phần Cảnh báo Nhập khẩu dưới đây) Hơn nữa, nếu các nhà xuất khẩu nước ngoài giao hàng không đủ tiêu chuẩn và/hoặc đúng với các qui định của FDA, và hàng bị từ chối nhập khẩu vào thị trường sẽ gây tổn hại kinh tế và phiền toái cho người nhập khẩu Trong trường hợp này, người xuất khẩu không những phải bồi thường tổn hại cho người nhập khẩu mà còn có nguy cơ mất khách hàng
Trang 29Dưới đây là tóm tắt một số qui định của Luật FDCA, và một số qui định dưới luật của FDA liên quan đến nhập khẩu thực phẩm vào Hoa Kỳ Ngoài các qui định chung đối với nhập khẩu thực phẩm được nêu trong mục này, các nhà xuất khẩu cần phải tìm hiểu thêm những qui định riêng có thể có đối với từng mặt hàng Các nhà xuất khẩu cũng có thể và nên liên hệ với các cơ quan quản lý Hoa Kỳ liên quan đến sản phẩm của mình để biết thêm các chi tiết cụ thể.
2.4.2 MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ NHẬP KHẨU EU:
Hiện tại EU đang tạo ra các tiêu chuẩn thống nhất và điều hoà cho toàn EU đối với các lĩnh vực sản phẩm chính nhằm thay thế hàng ngàn các tiêu chuẩn quốc gia khác nhau Nhìn chung, các mức độ yêu cầu đang được đặt ra hoặc sẽ được đặt ra trong những năm tới đây Các quốc gia thành viên được phép đưa ra thêm các yêu cầu cho ngành công nghiệp của mình Tuy nhiên, nếu sản phẩm nào đáp ứng được những yêu cầu tối thiểu sẽ được cho phép lưu hành tự do tại EU
- Nhãn CE (European Conformity)
Mục đích của nhãn CE là đặt ra yêu cầu chung đối với các nhà sản xuất nhằm đảm bảo đưa ra những sản phẩm an toàn tại thị trường EU Nhãn CE được coi là 1 giấy thông hành của nhà sản xuất trong danh mục của các Chỉ thị Tiếp cận mới và áp dụng trên diện rộng đối với nhiều sản phẩm công nghiệp như máy móc thiết bị, các thiết bị điện có hiệu điện thế thấp, đồ chơi, các thiết bị an toàn cá nhân, các thiết bị y tế… trên thị trường EU Tuy nhiên nhãn CE không áp dụng cho tất cả các hàng hoá công nghiệp, nó không áp dụng cho các sản phẩm trang trí nội thất, quần áo và các sản phẩm da Nhãn CE chỉ ra rằng sản phẩm tuân thủ các yêu cầu về luật định và có thể được áp dụng về an toàn, sức khỏe, môi trường và bảo vệ người tiêu dùng, nhưng nhãn CE không bảo đảm về chất lượng sản phẩm
Có ba nhóm sản phẩm trong phạm vi của các Chỉ thị Tiếp cận mới, và những sản phẩm muốn vào thị trường EU phải đóng dấu CE:
+ Tất cả các sản phẩm mới dù được sản xuất trong EU hoặc ở các nước thứ ba; + Các sản phẩm đã qua sử dụng hoặc đồ second-hand nhập khẩu từ các nước thứ ba;
Trang 30+ Các sản phẩm đã biến đổi về căn bản và được quy định trong các Chỉ thị như những sản phẩm mới
Việc gắn mác CE thể hiện sản phẩm đáp ứng được các quy định liên quan của EU đối với nhà sản xuất trong các vấn đề an toàn, sức khoẻ, bảo vệ môi trường và bảo vệ người tiêu dùng Mác CE gắn vào sản phẩm là một tuyên bố của người có trách nhiệm rằng sản phẩm
đó tuân thủ tất cả các quy định liên quan của EU Các nước thành viền không thể từ chối việc thâm nhập thị trường của các sản phẩm được gắn mác CE, trừ phi họ có bằng chứng để phán quyết rằng sàn phẩm đó có yếu tố không phù hợp
Thủ tục cho việc gắn mác CE có thể khác nhau theo từng Quy định và từng loại sản phẩm, phụ thuộc chủ yếu vào mức độ rủi ro/nguy cơ về mặt an toàn liên quan đến việc sử dụng sản phẩm EU đã lập một hệ thống phân nhóm với 8 loại khác nhau (Từ nhóm A đến nhóm H) Nhóm A là các sản phẩm có độ rủi ro/nguy cơ về an toàn thấp nhất, nhóm H là các sản phẩm có độ rủi ro/nguy cơ về an toàn cao nhất Mỗi Quy định mô tả một sản phẩm thuộc nhóm nào và các trách nhiệm liên quan đối với nhà sản xuất
Mác CE có thể gắn tại một nước ngoài EU chừng nào việc đánh giá tuân thủ/ phù hợp được tiến hành theo các Quy định của EU Mác CE phải được gắn vào sản phẩm hoặc biển
dữ liệu của sản phẩm tại vị trí dễ nhìn thấy, dễ đọc và không thể tẩy xoá Mác CE có thể được đóng vào bao bì nếu như đặc tính của sản phẩm không cho phép việc gắn mác CE trực tiếp
- HACCP (the Hazard Analysis Critical Control Point system)
Tiêu chuẩn HACCP được áp dụng cho ngành công nghiệp thực phẩm và chế biến với các nguyên tắc cơ bản:
* Xác định tất cả các nguy cơ có thể xẩy ra cho sản phẩm trong chu kỳ sống của sản phẩm;
* Xác định các Điểm kiểm soát tới hạn (Critical Control Points), các giai đoạn có thể kiểm soát được trong chu kỳ sống của sản phẩm;
* Xác định những biên độ tiêu chuẩn cao nhất có thể cho phép cho mỗi điểm kiểm soát tới hạn;
Trang 31* Thiết kế và thực hiện một hệ thống kiểm soát kiểm nghiệm hoặc quan sát cho mỗi Điểm kiểm soát tới hạn, bao gồm 01 lịch trình theo thời gian;
* Thiết kế và thực hiện các kế hoạch hành động chính xác cho mỗi Điểm kiểm soát tới hạn;
* Đưa ra một tiến trình xác nhận, bào gồm các kiểm nghiệm và tiến trình khác nhằm kiểm tra tính hiện quả và hiệu quả của hệ thống HACCP;
* Chứng từ hoá tất cả các tiến trình và kết quả kiểm nghiệm
- Phụ gia thực phẩm và gia vị
Phụ gia thực phẩm chịu sự điều chỉnh của luật pháp EU ban hành đối với chất làm ngọt, chất mầu và các phụ gia thực phẩm khác được sử dụng trong đồ ăn Chỉ những phụ gia nào được phép sử dụng một cách rõ ràng theo Quy định này mới có thể được dùng trong EU Các chất phụ gia thực phẩm được phép sử dụng sẽ có số xác minh Số này sẽ có một chữ E đứng trước (E number) Các phụ gia thực phẩm phải được ghi rõ trong danh mục thành phần
in trên bao bì tên của chất có trong phụ gia hay số E của nó
Hầu hết các chất phụ gia thực phẩm chỉ có thể sử dụng với các khối lượng hạn chế trong một số thực phẩm nhất định Đối với các chất phụ gia thực phẩm, EU sẽ sớm công bố một danh mục các chất phụ gia được phép sử dụng Sau đó, chỉ các chất phụ gia nêu trong danh mục này được phép đưa vào thực phẩm
Các vấn đề nhạy cảm là mức độ thặng dư thuốc trừ sâu, phụ gia thực phẩm, sự hiện diện của kim loại nặng, của các chất gây ô nhiễm, sử dụng hoá chất, gỗ rừng nhiệt đới, ô nhiễm nguồn nước, không khí và việc sử dụng cạn kiệt các tài nguyên không thể tái tạo
- Những tiêu chuẩn về môi trường
Các nhà xuất khẩu buộc phải xem xét ảnh hưởng môi trường của sản phẩm của mình, của quá trình sản xuất và đóng gói Người tiêu dùng yêu cầu các sản phẩm mang tính môi trường Do vậy các nhà xuất khẩu Việt Nam phải hiểu rằng việc tuân thủ các quy định về sản
Trang 32phẩm là rất cần thiết Việc đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng EU là một trong những yếu
tố quyết định thành công tại thị trường EU
Các vấn đề nhạy cảm là mức độ thặng dư thuốc trừ sâu, phụ gia thực phẩm, sự hiện diện của kim loại nặng, của các chất gây ô nhiễm, sử dụng hoá chất, gỗ rừng nhiệt đới, ô nhiễm nguồn nước, không khí và việc sử dụng cạn kiệt các tài nguyên không thể tái tạo
Chỉ thị 94/62/EC về đóng gói và chất thải bao bì đóng gói: có quy định các mức độ tối
đa của các kim loại nặng trong bao bì và mô tả các yêu cầu đối với sản xuất và thành phần của bao bì:
• Bao bì được sản xuất bằng phương pháp để cho thể tích và cân nặng được giới hạn ở mức thấp nhất nhằm duy trì mức độ an toàn, vệ sinh cần thiết và sự chấp thuận của người tiêu dùng cho sản phẩm đóng gói
• Bao bì được thiết kế, sản xuất và thương mại hoá sao cho có thể được tái sử dụng hoặc thu hồi, bao gồm tái chế và để giảm thiểu ảnh hưởng về môi trường khi chất thải bao bì hoặc những phần dư từ chất thải bao bì được loại trừ
• Bao bì phải được sản xuất để giảm thiếu sự hiện diện của các chất độc hại và các chất nguy hiểm khác
Các tiêu chuẩn quản lý môi trường là các tiêu chuẩn mang tính tự nguyện Hiện nay tiêu chuẩn môi trường cho các quốc gia đang phát triển được áp dụng nhiều nhất là ISO
14001
- ISO 14001
Mục đích của tiêu chuẩn ISO14001 về bản chất cho phép mọi người biết rằng công ty được quản lý dưới hệ thống quản lý môi trường Tiêu chuẩn ISO14001 có thể trở thành 1 yêu cầu không chính thức tăng khả năng cạnh tranh trong nhiều khu vực thị trường
Các đặc điểm của tiêu chuẩn quản lý môi trường ISO 14001
Trang 33• Chứng nhận ISO dựa trên cơ sở tự nguyện, mặc dù nó có một sức ép đáng kể từ những người mua hàng Tây Âu;
• Nó là một quyết định của đội ngũ quản lý nhằm tránh sự ô nhiễm và chất thải đồng thời trở nên hiệu quả hơn và cạnh tranh hơn khi tôn trọng môi trường;
• Các bộ tiêu chuẩn được thể hiện chi tiết dưới dạng thực hiện các công việc gì chứ không phải là như thế nào;
• Một chính sách môi trường cần được trình bày 1 cách có hệ thống;
• Huấn luyện nhân viên đóng vai trò gì trong các vấn đề môi trường;
• Kế hoạch, trách nhiệm và các tiến trình phải được ghi chép bằng văn bản;
• Các cơ chế kiểm soát, điều chỉnh và hoạt động ngăn cản cần được định ra;
• Yêu cầu kiểm toán nội bộ và kiểm toán bên ngoài;
• Yêu cầu thực hiện kiểm tra quản lý định kỳ;
• Giấy chứng nhận do phía thứ 3 cấp
- Tiêu chuẩn quản lý chất lượng
Tổ chức Quốc tế Tiêu chuẩn Hoá (International Organization for Standardisation – ISO) phát triển và chấp nhận sêri ISO 9000 nhằm cung cấp một cơ cấu cho quản lý và bảo đảm chất lượng Các nhà sản xuất xem chứng nhận ISO 9001, ISO 9002 như là một tài sản quan trọng và là điểm bắt đầu để cạnh tranh trong thị trường EU, tạo một niềm tin mạnh mẽ cho đối tác Giấy chứng nhận ISO chỉ có giá trị trong 3 năm, do vậy để tiếp tục duy trì ISO, các đợt kiểm toán nội bộ (1-2 lần/năm) và kiểm toán từ bên ngoài (2 lần trong năm) cần được thực hiện Điều này có nghĩa là công ty cần phải có 01 người quản lý chịu trách nhiệm cho các chính sách về quản lý chất lượng
- Các nội dung cơ bản của ISO
Các tiêu chuẩn ISO 9000: 9001 và 9002 là quan trọng nhất