1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM HIỆN NAY

44 535 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 577 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Ngoài ra, còn có các ngân hàng liên doanh và các văn phòng đại diện của cácTCTD nước ngoàiCụ thể, tính đến cuối năm 2011, có 5 NHTM nhà nước trong đó có 3 ngân hànglà: Ngân hàng Ngoại

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

Nhóm: 09

TP.HỒ CHÍ MINH, năm 2013

Trang 2

MỤC LỤC CHƯƠNG 1 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN

TỪ 1993- ĐẾN NAY 4

1.1 Vài nét về hệ thống ngân hàng Việt Nam 4

1.2 Phân loại các nhóm ngân hàng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam 4

1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của các nhóm ngân hàng 5

1.3.1 Kết quả kinh doanh 5

1.3.2 Nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam 7

1.3.3 Rủi ro đạo đức trong ngành NH 10

CHƯƠNG 2 GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VÀ CHÍNH PHỦ VIỆT NAM 13

2.1 Lý do dẫn đến quyết định tái cấu trúc hệ thống NH Việt Nam của NHNN và Chính phủ 13

2.2 Tiến trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng: 14

2.3 Giải pháp tái cấu trúc hệ thống NH Việt Nam 16

2.4.Một số khó khăn, thách thức trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện nay 29

2.5 So sánh giải pháp tái cấu trúc hệ thống NH Việt Nam với khu vực 31

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC HẠN CHẾ CỦA QUÁ TRÌNH TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM HIỆN NAY 34

3.1 Kinh nghiệm tái cấu trúc đối với Việt Nam 34

3.2 Ngân hàng nhà nước cần làm gì để đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc và đem lại hiệu quả 36

3.3 Xu hướng tái cấu trúc hệ thống ngân hàng trong năm 2013 37

3.4 Đề xuất giải pháp tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam 39

KẾT LUẬN 42

Trang 3

DANH MỤC VIẾT TẮTNH: Ngân hàng

NHNN: Ngân hàng nhà nước

TCTD: Tổ chức tín dụng

NHTM: Ngân hàng thương mại

NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần

Trang 4

CHƯƠNG 1

THỰC TRẠNG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ

1993- ĐẾN NAY

1.1 Vài nét về hệ thống ngân hàng Việt Nam

Hệ thống ngân hàng được coi là “huyết mạch” của nền kinh tế, đóng vai trò quantrọng nhất trong hệ thống trung gian tài chính Bởi vậy, hoạt động ngân hàng cần phảiluôn thông suốt, hiệu quả và an toàn để duy trì sự vận hành trôi chảy các hoạt động trongnền kinh tế, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển

Sau hơn hai thập kỷ tiến hành cải cách, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã trải quabốn giai đoạn phát triển đáng chú ý:

- Giai đoạn 1990 - 1996: ghi nhận sự tăng lên nhanh chóng về số lượng và loại

hình tổ chức tín dụng (TCTD) nhằm đáp ứng sự tăng vọt của cầu về dịch vụ tài chínhtrong giai đoạn đầu “bung ra” trong thời kỳ chuyển đổi

- Giai đoạn 1997 - 2005: củng cố, chấn chỉnh hệ thống ngân hàng hai cấp mới

được hình thành trong bối cảnh khủng hoảng tiền tệ châu Á

- Giai đoạn 2006 - 2010: nâng mức vốn pháp định và tăng cường các quy chế

điều tiết; các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) nông thôn được chuyển đổi lênthành ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần đô thị; một số ngân hàng mới được thànhlập, xuất hiện loại hình ngân hàng 100% vốn nước ngoài

-Giai đoạn 2011 đến nay: hệ thống ngân hàng bộc lộ những yếu kém, dễ tổn

thương vì những yếu kém tồn tích từ lâu, đe dọa gây đổ vỡ hệ thống, dẫn tới yêu cầu cấpthiết phải tiến hành tái cơ cấu hệ thống các TCTD

1.2 Phân loại các nhóm ngân hàng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam

Hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay bao gồm 3 nhóm ngân hàng chính:

+ Các NHTM nhà nước

+ Các NHTM cổ phần

+ Các NHTM nước ngoài

Trang 5

+ Ngoài ra, còn có các ngân hàng liên doanh và các văn phòng đại diện của cácTCTD nước ngoài

Cụ thể, tính đến cuối năm 2011, có 5 NHTM nhà nước (trong đó có 3 ngân hànglà: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam - VCB, Ngân hàng Công thương Việt Nam -Vietinbank, và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - BIDV đã được cổ phần hóa,tuy nhiên, Nhà nước vẫn giữ cổ phần chi phối trên 70%), 1 ngân hàng chính sách, 37NHTMCP, 5 ngân hàng liên doanh, 5 ngân hàng có 100% vốn nước ngoài, và 54 chinhánh ngân hàng nước ngoài Ngoài ra còn có các TCTD phi ngân hàng, bao gồm 18công ty tài chính, 13 công ty cho thuê tài chính và hệ thống Quỹ Tín dụng nhân dân(gồm 1 Quỹ Tín dụng nhân dân Trung ương với hơn 1.073 quỹ thành viên)

1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của các nhóm ngân hàng

1.3.1 Kết quả kinh doanh

Năm 2009 với biết bao gánh nặng đối với hệ thống Ngân hàng Việt Nam Gánhnặng từ cuộc khủng hoảng bên ngoài, gánh nặng từ trách nhiệm mà Chính phủ đặt lênvai với vai trò làm kênh dẫn xuất các chính sách tài khoá, tiền tệ phục vụ tăng trưởngkinh tế, ưu tiên hàng đầu của Nhà nước trong bối cảnh suy thoái chung toàn cầu Điềunày đặt ra nhiều cơ hội, nhưng sẽ có rủi ro nếu các ngân hàng thương mại (NHTM)không có một quy trình kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng tín dụng Nhận thức đượcnhững khó khăn này, rất nhiều ngân hàng đã thận trọng hơn với các khoản cho vay, tìmmọi cách giảm rủi ro trong quá trình cho vay; đề phòng và miễn dịch với các dự án đầu

tư hay cho vay mà ở đó các khoản nợ xấu, khó đòi là cao; tập trung vào các khoản mụcsinh lợi tốt, khả năng hoàn vốn cao và có sự phát triển trong tương lai Đồng thời, chủđộng chuyển hướng sang các dịch vụ ngân hàng bán lẻ và dịch vụ phi tín dụng Vì vậy,

có không ít ngân hàng thuộc nhóm các ngân hàng lớn trong khối cổ phần đã có tỷ trọngnguồn thu phi tín dụng khá cao Tỷ trọng đó tại ACB hay Techcombank hiện ở khoảng50%, tại Sacombank khoảng 40% Cũng nhờ thế, đến giữa năm 2009, hệ thống Ngânhàng Việt Nam đã dần đi vào hoạt động ổn định

Tăng trưởng tín dụng cao từ năm 2008,tăng trưởng tín dụng cao luôn luôn là mộttín hiệu cảnh báo do tăng trưởng tín dụng quá nóng thường dẫn đến đổ vỡ tín dụng sau

đó Các ngân hàng chỉ có thể tăng trưởng tín dụng đến một mức độ nào đó vì số lượng

Trang 6

khách hàng vay đáng tin cậy không nhiều Ở Việt Nam, tổng dư nợ tín dụng đã tăng từ1.068.000 tỷ đồng vào cuối năm 2007 lên 2.655.000 tỷ đồngvào cuối năm 2011 Đây làgiai đoạn nền kinh tế không tăng trưởng mạnh mẽ Vậy thì tất cảsố tiền đó đã đi đâu?

Dư nợ tín dụng ngân hàng và tăng trưởng tín dụng (cột phải: % so với cùng kỳ năm

trước)

Năm 2011, thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, ngành Ngân hàng đã chủ độngtrong điều hành chính sách tiền tệ một cách chặt chẽ, linh hoạt và phù hợp với tình hìnhthực tế, khẳng định vị trí huyết mạch của nền kinh tế Trong năm này, NHNN cùng vớicác NHTM đã thực hiện kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng ởmức thấp hơn đáng kể so với chỉ tiêu của Chính phủ đề ra trong Nghị quyết số 11/NQ-

CP, góp phần tích cực kiềm chế lạm phát và từng bước giảm dần tốc độ tăng giá Ước cảnăm 2011, tổng phương tiện thanh toán (M2) ước tăng khoảng 10% so với tháng12/2010 (chỉ tiêu là khoảng 15-16%); tổng dư nợ tín dụng tăng khoảng 12% (chỉ tiêu làdưới 20%); kiểm soát tăng trưởng tín dụng; giám sát việc bảo đảm các tỷ lệ an toàntrong hoạt động cũng như tình hình thanh khoản của các TCTD; xử lý nghiêm các viphạm phát sinh; tăng cường công tác thông tin truyền thông; tổ chức các cuộc đối thoạigiữa NHNN với các ngân hàng thương mại (NHTM) có thị phần lớn để nắm bắt diễn

Trang 7

biến thị trường tiền tệ, tìm ra các giải pháp nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc; đưa

ra khỏi danh mục tín dụng phi sản xuất đối với một số loại hình cho vay; Nghiệp vụ thịtrường mở được điều hành linh hoạt với khối lượng và lãi suất hợp lý nhằm kiểm soát và

ổn định thị trường tiền tệ, hạn chế tối đa sử dụng các biện pháp hành chính.Lãi suất huyđộng tăng cao ở những tháng đầu năm, nhưng từ tháng 9/2011, hầu hết các NHTM thựchiện nghiêm túc quy định của NHNN về trần lãi suất huy động bằng VIỆT NAMD ởmức không quá 14%/năm Lãi suất liên ngân hàng ở mức cao trong 4 tháng đầu nămnhưng đã giảm từ tháng 5/2011 đến nay, đặc biệt là đối với lĩnh vực sản xuất nôngnghiệp, nông thôn, xuất khẩu từ mức phổ biến 18-21%/năm xuống còn 16-19%/năm.Bên cạnh đó, cơ cấu tín dụng chuyển dịch theo chiều hướng tích cực, phù hợp với chỉđạo của Chính phủ ; thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phát triển

Năm 2012 là năm thực hiện chương trình tái cấu trúc nền kinh tế, mà một trongnhững trọng tâm là cơ cấu lại hệ thống các ngân hàng thương mại, với phương châm:Thận trọng nhưng quyết liệt, toàn diện, từng bước nâng cao tính an toàn, lành mạnh vàhiệu quả của hệ thống ngân hàng Việt Nam

1.3.2 Nợ xấu của các ngân hàngViệt Nam

Chuyện nợ xấu không phải nói lần đầu Đó là hệ quả tất yếu của quá trình tăngtrưởng tín dụng quá nóng trong những năm trước đó, cộng với cơn sốt cho vay bất độngsản, chứng khoán ồ ạt thời kỳ 2006-2007, bên cạnh đó là những khoản đầu tư chéo, sởhữu chéo giữa các định chế tài chính, các trung gian như công ty bảo hiểm, công ty tàichính với khách hàng…

Mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các ngân hàng thương mại phải hạn chếtăng trưởng tín dụng không quá cao, nhưng trên thực tế trong 10 năm trở lại đây tốc độtăng trưởng tín dụng luôn ở mức hơn 20%/năm (chỉ có năm 2006 đạt 19,2%) Đáng chú

ý là năm 2007, tăng trưởng tín dụng lên đến 51,39%, 2009 là 37,7% và 2010 tuy có giảmsong vẫn cao, ở mức 29,8% Chính sách cho vay lỏng lẻo những năm trước đã để lạinhiều hệ lụy, trong đó là vấn đề nợ xấu.NHNN thì vẫn cho rằng nợ xấu đangở mức antoàn và kiểm soát được

Tuy nhiên, tổ chức xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings không nghĩ thế Họ vừa công bố tỉ lệ nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam là 13% tổng dư nợ năm 2011, theo

Trang 8

chuẩn mực quốc tế (theo chuẩn mực quốc tế, nếu phần nợ đến hạn không trả được thìtoàn bộ khoản nợ phải được xếp vào nợ xấu)

Tăng trưởng tín dụng ngân hàng (% so với cùng kì năm trước)

Giai đoạn năm 2008 tăng trưởng tín dụng rất cao, từ đó đã đưa tới hệ lụy nợ xấucho toàn ngành ngân hàng Việt Nam.Theo số liệu công bố của NHNN ngày 12/7/2012,

nợ xấu năm 2009 khoảng 45 nghìn tỷ đồng chiếm tỷ lệ 2,5% tổng dư nợ; năm 2010khoảng 38 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 2,1%.Số liệu từ đơn vị nghiệp vụ của Ngân hàngNhà nước cho thấy tính đến hết tháng 8/2011 nợ xấu ( nhóm 3,4,5 ) của toàn hệ thốngngân hàng thương mại chiếm 3,21%/ tổng dư nợ, vào khoảng 76 nghìn tỉ đồng Trong

đó, nợ nhóm 3 chiếm 30,18%, nhóm 4 chiếm 20,53% và nhóm 5 chiếm trên 49% Điều

đó đồng nghĩa các NHTM có nguy cơ mất trắng khoảng 33 nghìn tỉ đồng.Trong khi đó,

nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng tính đến thời điểm cuối tháng 10/2012 chiếm vàokhoảng từ 8,8% - 10%/tổng dư nợ.Số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN)cho biết, 9 tháng đầu năm 2012, tổng tài sản của hệ thống các tổ chức tín dụng đạt hơn

Trang 9

4.866 nghìn tỷ đồng, giảm 1,89% so với cuối năm 2011 Nhóm ngân hàng cổ phần cótổng tài sản tại thời điểm cuối tháng 9 đạt gần 2.102,5 nghìn tỷ đồng, giảm 7,06% so vớicuối năm 2011 So với mức 2.224,6 nghìn tỷ đồng cuối tháng 8, con số này cũng giảmxấp xỉ 5,5% Trong tháng 9, tổng tài sản của khối ngân hàng nhà nước cũng giảm từ2.075 nghìn tỷ đồng hồi cuối tháng 8 xuống còn 2.069 nghìn tỷ đồng… Nhiều khả năngkhối tài sản của các ngân hàng bị "bốc hơi" là do nợ xấu…

Những con số này cho thấy, nợ xấu có xu hướng gia tăng và trở thành vấn đềnóng bỏng đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay

Câu hỏi đặt ra là tại sao nợ xấu khó giải quyết?

Thứ nhấtvì không có thông tin chính xác về gánh nặng tổng nợ xấu Nguồn tin

chính thức nhất là số liệu do NHNN công bố dựa trên việc tổng hợp số liệu báo cáo củatừng tổ chức tín dụng Con số này vào ngày 7/7/2012 là 4,47%, tiếp theo là những con sốcao hơn cũng của NHNN (8,6% từ Thanh tra NHNN và 10% từ Thống đốc NHNN trướcQuốc hội), và sau đó là 11,8% từ Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia Ngoài ra, còn có

số cao nhất là hơn 13% do Fitch công bố, sử dụng số liệu tài chính của tổ chức tín dụngViệt Nam nhưng phân loại nợ theo chuẩn mực kế toán quốc tế thay vì chuẩn mực kế toánViệt Nam

Thứ hai, sự không đồng nhất về số liệu được luận giải là do các tiêu chí phân loại

nợ xấu khác nhau giữa NHNN (cơ quan giám sát nhận báo cáo) và các ngân hàng thươngmại (các cơ quan báo cáo) Các ngân hàng này cố ý khai giảm nợ xấu để tránh phải lập

dự phòng rủi ro cao làm giảm số lợi nhuận báo cáo.Báo cáo với NHNN một sổ, còn làmcho mình một sổ riêng Đây là vấn đề báo động trong hệ thống ngân hàng về quản trị rủiro

Thứ ba, nguyên nhân căn bản nữa, việc duy trì lãi suất huy động trần từ quá lâu

khiên các ngân hàng thương mại cho các con số báo cáo để tuân theo qui luật lãi suấttrần khác với các con số thực về nhiều mức lãi suất thỏa thuận cao hơn Hơn nữa, cácngân hàng còn áp dụng giống như năm ngoái là hình thức cho vay ngầm để tránh giớihạn về tín dụng.Ngoài ra, đảo nợ khá thông dụng ở một số ngân hàng Việt Nam.Khi tiềnlãi không trả được của một số khách hàng lớn được thay bằng một “dòng nợ mới” trong

sổ sách của cả 2 bên Đây là điều hết sức rủi ro khi khủng hoảng ngân hàng bùng nổ vìcác lợi nhuận “khủng” có được trên sổ sách chưa chắc đã là lợi nhuận thực Do đó, nợ

Trang 10

xấu cũng không báo cáo đúng vì phải báo cáo theo sổ sách đã công bố với NHNN Vàcũng vì thế, báo cáo về thực trạng nợ xấu của ngành ngân hàng có nhiều con số như đãnói trên.Thêm vào đó, tình trạng tài chính không minh bạch còn dễ dẫn đến các rủi rođạo đức của hệ thống ngân hàng hay hệ lụy vỡ nợ, mất khả năng chi trả Do vướng trầnlãi suất của NHNN, buộc các ngân hàng phải lách bằng cách đưa ra 2 sổ sách

1.3.3 Rủi ro đạo đức trong ngành NH

Ngân hàng là ngành nghề kinh doanh gắn chặt với tiền, rất nhiều tiền nên bị cácvấn đề đạo đức bủa vây là hiển nhiên.Mấu chốt của vấn đề là kiểm soát, kiềm chế thếnào các vấn đề này thôi.Tuy nhiên, đây là chuyện không dễ nhất là khi các ngân hàngViệt Nam còn yếu kém về kiểm soát, chủ quan và dễ dãi trong quản lý Trên lý thuyết,rủi ro đạo đức gồm rủi ro đạo đức của nhân viên và cả rủi ro đạo đức của kháchhàng.Không loại trừ có những khách hàng xấu cố tình lừa đảo, làm giả giấy tờ để lừa đảongân hàng.Những vụ lừa đảo rất nghiêm trọng như Huỳnh Thị Huyền Như lừa đảo tronglĩnh vực ngân hàng gây thiệt hại lên đến hàng ngàn tỷ Rõ ràng, trong nhiều vụ lừa đảo,đồng thời khởi tố bị can đối với kẻ lừa đảo là khởi tố đối với các nhân viên ngân hàng.Đây chính là dấu hiệu cấu kết, liên minh là có, rủi ro đạo đức của khách hàng và củanhân viên là đi liền với nhau Tình trạng này là hệ quả của việc làm ăn theo quan hệ, domối quan hệ và chủ quan Sau đây là những ví dụ về rủi ro đạo đức của nhân viên ngânhàng Mà bất cứ ngân hàng lớn nhỏ nào cũng đều có thể vấp phải và sẽ gánh chịu nhữngtổn thất lớn nếu chủ quan “căn bệnh ung thư” này

Tại Agribank, tháng 5/2012, cơ quan công an cũng đã khởi tố, bắt giam nguyênGiám đốc, Trưởng, Phó Phòng Tín dụng CN Hồng Hà khi lợi dụng chức vụ, quyền hạn

ký khống 8 bảo lãnh không hồ sơ, không hạch toán, không thu phí Theo số liệu củaViện Kiểm sát nhân dân TP Hà Nội, năm 2011, các cơ quan pháp luật của thành phố đã

xử lý 22 vụ tham nhũng thì có tới 10 vụ liên quan đến các cán bộ ngân hàng, khởi tố 27

bị can là nhân viên các nhà băng Theo Tổng cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm, trongnăm 2010 và 9 tháng đầu năm 2011, cơ quan này đã xử lý 69 vụ, khởi tố 40 vụ, khởi tố

bị can 70 cán bộ ngân hàng, thiệt hại 8.000 tỷ, thu hồi được có 2.000 tỷ

Trước đây, khi nhắc tới tiêu cực, bộ phận hay bị để ý nhất là tín dụng Đây lànhững cán bộ trực tiếp làm việc với khách hàng, thẩm định hồ sơ, ra phán quyết tín

Trang 11

dụng… Điều này có thể chứng minh khi những thông tin khởi tố các cán bộ quản lý, cán

bộ tín dụng các ngân hàng liên tục trên các mặt báo vì những hành vi sai phạm của mình.Các hành vi phổ biến như thiếu trách nhiệm trong thẩm định, cấu kết với khách hàng, ănchia hoa hồng trên số tiền vay được, liên kết với nhau để vay mượn lòng vòng, thậm chí

là vay ké của khách hàng… Tuy nhiên, các rủi ro đạo đức không chỉ xảy ra với cán bộtín dụng mà có thể ở các bộ phận nghiệp vụ khác của ngân hàng, thậm chí là giao dịchviên, thủ quỹ Các hình thức quen thuộc vẫn là lập khống, tất toán khống sổ tích kiệmcủa khách, cạo sửa sổ tiết kiệm, cầm cố khống các giấy tờgiả

Những năm vừa qua, ngành ngân hàng làm ăn tốt và các nhân viên được tiếng làthu nhập cao, thưởng tốt, đặc biệt là giới lãnh đạo Đây là uy tín ngầm và nhiều khi được

sử dụng, tạo sự tin tưởng để đivay tiền rất nhiều cán bộ ngân hàng đã rơi vào cảnh vỡ nợ

do vay mượn ở bên ngoài, như Nguyễn Hữu Giang của SeABank Hải Phòng, Võ HoàngNhật, nhân viên SHB Kiên Giang…

Mấu chốt là vấn đề con người

Muốn làm tốt công tác quản trị rủi ro thì cần phải tìm ra được những điểm yếutrong quy trình hệ thống Rất nhiều ngân hàng đã bắt đầu công cuộc tái cơ cấu, nhưngvấn đề các ngân hàng quan tâm là đi tìm mô hình tổ chức hợp lý cho mình, tổ chức, sắpxếp lại… Nhưng khi xét đi xét lại, nhiều ngân hàng thành lập gần 20 năm mà quy địnhnội bộ gần như không có gì, hoặc có thì rất chung chung

Trong khi đó, cơ chế kiểm soát tín dụng của nhiều ngân hàng đang bộc lộ nhiềunhược điểm Trong những năm qua, các ngân hàng đều phát triển nóng với các đơn vịkinh doanh (chi nhánh, phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm) trải dài trên cả nước dẫn đến sựphân tán nhất định của các nguồn lực Đặc biệt là sự phân tán thẩm quyền phán quyết tíndụng Theo đó, việc giao quyền cho các giám đốc chi nhánh quá lớn còn hội sở ở xa, quyđịnh nội bộ lờ mờ, công tác quản lý giấy tờ, con dấu thiếu chuẩn chỉnh, chặt chẽ thốngnhất…rất dễ dẫn đến các vấn đề rủi ro đạo đức.Hiện nay, mới chỉ vài ngân hàng đã ápdụng được công tác quản lý tín dụng tập trung Trong đó, hội sở kiểm soát chặt chẽ đượccác hồ sơ tín dụng, lực lượng kiểm soát tín dụng được trao thực quyền, tổ chức tốt và đặcbiệt là được nắm quyền hạch toán giải ngân nên đã hạn chế được nhiều rủi ro đạo đức

Trang 12

Vấn đề nhân sự của các ngân hàng cũng rất đang quan tâm, nhất là bộ phận tíndụng và bộ phận tái thẩm định Các cán bộ tín dụng hàng năm đều được bổ sung từnguồn sinh viên mới tốt nghiệp Nhiều khi, các sinh viên này trực tiếp được giao nhiệm

vụ làm cán bộ tín dụng duy nhất của 1 PGD Đương nhiên, một người không thể ảnhhưởng đến cả quyết định cho vay vì còn rất nhiều bộ phận đi kèm nhưng các cán bộ tíndụng này rất dễ thành “máy ký” dưới sự chỉ đạo của các lãnh đạo PGD Đây cũng là rủi

ro cần thấy, và trên thực tế là có xảy ra

Bộ phận tái thẩm định của các ngân hàng cũng cần được củng cố.Có chi nhánhngân hàng đã tuyển cả người mới tốt nghiệp đại học, chưa kinh qua công tác tín dụng, táithẩm định để làm công tác này với khẩu hiệu “đào tạo từ từ”.Thiết nghĩ, các bộ phận nhưtái thẩm định thì cần phải có những người xuất sắc, chứ không phải có kinh nghiệm là

đủ

Rủi ro đạo đức là điều không thể tránh khỏi.Nhưng, vấn đề là phải làm sao đểquản trị tốt, giảm thiểu những rủi ro này.Đây cũng là một câu hỏi lớn dành cho các ngânhàng trong quá trình tái cấu trúc sắp tới, cũng nhưng quá trình vận hành ngân hàng sautái cấu trúc sau này

Trang 13

CHƯƠNG 2

GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM CỦA

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VÀ CHÍNH PHỦ VIỆT NAM

2.1.Lý do dẫn đến quyết định tái cấu trúc hệ thống NH Việt Nam của NHNN và Chính phủ

Cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu gần đây nhất 2009) xuất phát từ việc cho vay “dưới chuẩn” của các NH, đặc biệt là ở Mỹ, buộc cácquốc gia phải quan tâm, đánh giá lại toàn bộ hoạt động của các NH Việc tái cấu trúc NHtrở nên phổ biến và cấp thiết ở mỗi quốc gia, đảm bảo cho các NH thích nghi được vớinhu cầu phát triển mới trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đầy biến động Ở Việt Nam,khi mà thị trường chứng khoán chưa phát triển, gánh nặng về vốn còn dồn lên vai NH,thì việc giữ cho hệ thống NH ổn định và lành mạnh càng phải đặc biệt quan tâm

(2007-Thứ nhất, nhìn tổng thể nền kinh tế vĩ mô hiện nay,có thể khẳng định lĩnh vực gây

xáo trộn cho nền kinh tế nhiều nhất là ngân hàng Vì hoạt động sản xuất kinh doanh củatất cả các doanh nghiệp đều phụ thuộc vào hai chữ "vốn và lãi suất" của ngân hàng Hiệntượng lãi suất cho vay cao thực sự gây bất ổn lớn, điều đó thật sự bất lợi đối với các DNvừa và nhỏ, số lượng DN lâm vào tình trạng phá sản ngày càng tăng Do vậy cải cách hệthống ngân hàng thương mại(NHTM)là nhiệm vụ phải làm

Thứ hai, thời gian qua, thanh khoản của ngân hàng thực sự có vấn đề.Lãi suất trên

thị trường liên ngân hàng có những lúc lên đến 30 - 40% và duy trì ở mức cao trong mộtthời gian dài.Cuộc chạy đua lãi suất giữa các NHTM đẩy lãi suất cho vay tăng cao gâykhốn đốn cho các DN, dẫn đến nợ xấu Nợ xấu thậm chí đã xuất hiện trên cả thị trườngliên ngân hàng, gây tổn hại uy tín và mất sự tin tưởng lẫn nhau giữa các NH, do vậy cànglàm tăng tính rủi ro và làm căng thẳng thêm tình hình thanh khoản.Đặc biệt là nợ xấu củabất động sản (BĐS) có nguy cơ tăng lên vì thị trường BĐS vẫn tiếp tục đóng băng.Mộtkhi các nhà đầu tư không thể cầm cự được nữa thì nó sẽ thành một quá trình gia tốc nợxấu của khu vực ngân hàng, và nếu không được kiểm soát tốt thì quá trình này thậm chí

có thể dẫn đến những vụ sụp đổ lớn

Thứ ba, khu vực ngân hàng của Việt Nam hiện nay tiềm ẩn nhiều rủi ro hệ thống,

có thể là nhân tố kích hoạt cho sự đổ vỡ kinh tế.Do đó Chính phủ phải đặt ưu tiên cao độ

Trang 14

cho việc cải cách khu vực ngân hàng Mặt khác ưu tiên tái cấu trúc hệ thống NHTM cònxuất phát từ những tác động lan tỏa của nó Nếu sau tái cấu trúc mà các NHTM chỉ cầnlàm được một việc, đó là cho vay có tính thương mại (chứ không phải cho vay có tínhquan hệ hay tính chính trị) thì chúng đã thực hiện một chức năng vô cùng quan trọng làphân bổ nguồn lực hữu hạn, cụ thể là nguồn tín dụng và tài chính của quốc gia, đến taynhững người sử dụng một cách hiệu quả nhất.Có nghĩa là hoạt động kinh doanh của hệthống ngân hàng thương mại phải đảm bảo tính cạnh tranh bình đẳng và công bằng theođúng quy luật cạnh tranh của nền kinh tế thị trường.Đó chính là việc làm có tác độngtăng hiệu quả của nền kinh tế, đồng thời giúp giảm lạm phát Khi mối quan hệ giữa ngânhàng và doanh nghiệp là mối quan hệ thương mại thì lập tức nó sẽ làm giảm sự ảnhhưởng quá lớn của khu vực DNNN - khu vực được cho là kém hiệu quả, và lúc đó sẽphân bổ lại nguồn vốn cho khu vực dân doanh - nơi tạo ra đa số công việc làm và tạo ra

¾ tăng trưởng của nền kinh tế

Thứ tư, là tính khả thi.Trong 43 ngân hàng thương mại trong nước có trên dưới 10

ngân hàng là có vấn đề thật sự.10 ngân hàng không phải là con số quá áp lực với NHNN

Thứ năm, một trong những nguyên nhân khiến rất nhiều NHTM gặp khó khăn về

thanh khoản hay tín dụng trong thời gian qua ngoài nguyên nhân chủ quan còn có cảnguyên nhân khách quan từ sự điều hành mang tính tình thế, chính sách đi sau thực tế,chưa hoàn toàn theo kịp thời biến động thị trường của NHNN Bên cạnh đó, năng lựcquản trị điều hành của các NHTM là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự khó khăncủa các NHTM

Có thể nói, nền kinh tế cũng như hệ thống ngân hàng Việt Nam đã cơ bản vượtqua cơn khủng hoảng 2007-2009 Tuy nhiên, trước những biến động phức tạp thời giangần đây của nền kinh tế thế giới, để ôn định và phát triển nền kinh tế hiệu quả và bềnvững, Đảng và Nhà nước ta đã ra Nghị quyết tái cấu trúc nền kinh tế, trong đó tái cấutrúc NH, tái cấu trúc đầu tư công và tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước là 3 trụ cộttrong tiến trình tái cấu trúc nền kinh tế

2.2 Tiến trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng:

Chương trình TCT chia làm 3 giai đoạn và được khởi động từ cuối năm 2011

- Giai đoạn đầu tiên là tái cấu trúc một số ngân hàng có nguy cơ khủng hoảng

thanh khoản, đồng thời khắc phục thiếu hụt thanh khoản của toàn hệ thống Kết quả có

Trang 15

một số ngân hàng được sáp nhập hoặc NHNN đưa vào dạng giám sát đặc biệt đã được táicấp vốn.

Có thể nói, cho đến nay giai đoạn 1 là củng cố thanh khoản đã thành công.Thanhkhoản của hệ thống ngân hàng hiện khá ổn định.Mặc dù vẫn còn một số ngân hàng khókhăn nhất định về thanh khoản, nhưng vấn đề này không trở thành một nguy cơ cho toàn

hệ thống nữa

- Giai đoạn 2: NHNN cũng đã khởi động của quá trình tái cấu trúc vào đầu năm

2012 Bắt đầu từ việc chấn chỉnh lại thị trường tiền tệ liên ngân hàng; chấn chỉnh thịtrường tín dụng, đặc biệt đưa ra các hạn mức tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thốngcũng như từng nhóm TCTD

Đồng thời, NHNN cũng bắt tay vào xử lý nợ xấu NHNN đã ra hàng loạt chỉ thị vàtập trung chủ yếu vào việc tái cơ cấu lại nợ, trong đó biện pháp được tập trung chủ yếu làgiãn nợ và khoanh nợ cho một số DN khó khăn còn có khả năng phục hồi và phát triển

Bên cạnh đó, NHNN cũng yêu cầu các TCTD trích lập dự phòng rủi ro (DPRR)

đủ và đúng theo quy định, từ đó có thể sử dụng DPRR để xử lý nợ xấu Trên thực tế năm

2012, các NHTM đã sử dụng khoảng trên 40.000 tỷ đồng DPRR để xử lý nợ xấu và cũng

đã giãn nợ cho các DN còn có khả năng tồn tại và phát triển với tổng trị giá khoảng trên

200 nghìn tỷ đồng Điều này làm cho nợ xấu giảm xuống nhanh, đến nay theo thông báocủa NHNN chỉ còn khoảng 6%

Ngoài ra, NHNN cũng đã trình một dự án tổng thể về xử lý nợ xấu trong đó cóviệc thành lập công ty AMC Công ty này hiện đang hoàn thiện các thủ tục để có thểthành lập vào quý II năm nay

- Giai đoạn 3 - giai đoạn tái cấu trúc tổ chức và hoạt động.Trong năm 2012,

NHNN cũng đã xây dựng các chương trình về hiện đại hóa các TCTD Trong đó có một

số trọng tâm như: tái cấu trúc hệ thống TCTD về mặt tổ chức và quản lý theo mô hìnhquản trị DN của OECD; tái cấu trúc lại hệ thống quản trị rủi ro (QTRR); chấn chỉnh vàxây dựng mới các sổ tay tín dụng; dự thảo về áp dụng các chuẩn mực quốc tế về kế toán

và báo cáo tài chính và đặc biệt là sửa đổi quyết định 493 về phân loại tài sản và trích lậpDPRR

Ngoài ra, NHNN cũng đang chuẩn bị hàng loạt các quy định về tỷ lệ an toàn chohoạt động ngân hàng; các chỉ thị về hệ thống giám sát từ xa theo chuẩn của CAMELS

Trang 16

hay áp dụng các nguyên tắc về QTRR và an toàn hệ thống của Basel II, một phần BaselIII.

Như vậy có thể thấy chương trình tái cấu trúc hệ thống các TCTD là một trong những chương trình được khởi động một cách thực tế với những bước đi khá tích cực

Những điểm chưa được của tiến trình.

Có 2 vấn đề chủ yếu mà dư luận chưa hài lòng đó là:

- Tiến độ xử lý những ngân hàng yếu kém vẫn còn chậm Hiện vẫn còn một

số ngân hàng đang có khó khăn lớn về thanh khoản chưa được xử lý dứt điểm và họ đanggây nên những khó khăn nhất định cho hệ thống, nhất là tính ổn định của lãi suất

- Vấn đề thứ hai là tiến độ XLNX, đặc biệt là công ty AMC ra đời chậm,không đúng với kế hoạch ban đầu của NHNN, vì vậy có thể tạo ra những khó khăn choviệc thực thi các biện pháp của giai đoạn 3 Đặc biệt, theo kinh nghiệm của quốc tế,XLNX làm càng nhanh càng tốt Để chậm ngày nào thì sẽ có thêm nhiều DN phá sản,nhiều con nợ gặp khó khăn và gây rất nhiều khó khăn lớn về tài chính cho các NHTM

2.3 Giải pháp tái cấu trúc hệ thống NH Việt Nam

Quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam đã bắt đầu được tiến

hànhtheo Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015” Hệ

thống ngân hàng Việt Nam đang chủ động tiếp cận với việc tái cấu trúc, lành mạnh hóa

hệ thống ngân hàng, từ đó tiến đến hoàn thành các mục tiêu đề ra Tuy nhiên với tìnhtình kinh tế bất ổn nói chung và thị trường tiền tệ nhiều khó khăn nói riêng như hiện nay,việc xem xét và lựa chọn các giải pháp tái cấu trúc hợp lý nhằm giúp hệ thống NH hoạtđộng hiệu quả hơn cần được nghiên cứu, bổ sung và cụ thể hóa

Tiếp theo việc thực thi Luật các TCTD sửa đổi (có hiệu lực năm 2011), vào đầunăm 2012 hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam đã bắt đầu quá trình tái cơcấutheo Đề án mới được ban hành (Quyết định số 254/QÐ-TTG, ngày 1/3/2012 củaThủ

tướng Chính phủ: “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 2015") Đề

án đã đưa ra các mục tiêu chung đến năm 2020 và các mục tiêu cụ thể đếnnăm 2015, xácđịnh rõ các quan điểm, định hướng, giải pháp và lộ trình thực hiện táicơ cấu các tổ chứctín dụng (TCTD) Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015 Riêng đốivới các NHTM, đề án

Trang 17

chia các ngân hàng thành 02 nhóm đối tượng: NHTMNN và NHTM cổ phần, trong đóNHTM cổ phần lại được chia thành 03 nhóm: nhóm ngânhàng lành mạnh, nhóm ngânhàng thiếu thanh khoản tạm thời và nhóm ngân hàng yếukém Trên cơ sở đó, đề án cũng

đã đưa ra các định hướng và giải pháp tái cơ cấu khácnhau đối với từng nhóm ngânhàng

NH yếu được đánh giá đạt mức hiệu quả cao nhất mặc dù vậy vẫn có nhiều ý kiến chorằng giải pháp này sẽ phát sinh chi phí nhất định và có thể làm cho NH mạnh yếu đi.Giải pháp tái cấu trúc được đồng thuận hiện nay là sáp nhập các NH để phân chia theokhu vực hoạt động Tuy nhiên đã phần các vụ sáp nhập hiện nay chủ yếu là gộp “nhỏ”thành “lớn”, gộp các ngân hàng đang gặp vấn đề khó khăn, quy mô nhỏ lại với nhau.Mộttrong những thương vụ sáp nhập khá lớn diễn ra giữa 3 ngân hàng TMCP: Sài Gòn

Trang 18

(SCB), Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiaBank) và Đệ Nhất (Ficombank) tháng 12-2011.Thương vụ này được nhìn nhận là mang màu sắc "cơ cấu", bởi cả 3 đều không đủ "sứckhỏe" để duy trì hoạt động Thương vụ khác được nhắc đến nhiều là Ngân hàng TMCPNhà Hà Nội (Habubank) sáp nhập vào Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) cũng

có màu sắc "cơ cấu" khi Habubank rơi vào tình trạng yếu về thanh khoản tại thời điểm

đó Những thương vụ khá lớn khác là Ngân hàng TNHH Mizuho (MHCB) - thành viêncủa Tập đoàn Tài chính Mizuho (Nhật Bản) mua 15% vốn tính trên số cổ phần đã pháthành của Ngân hàng TMCP Ngoại thương (Vietcombank), tương đương 567,3 triệu USD

và Ngân hàng Tokyo-Mitsubishi UFJ (Nhật Bản) mua 20% cổ phần của Ngân hàngTMCP Công thương (Vietinbank) với giá 743 triệu USD Trước đó, thương vụ mua bán,sáp nhập được đánh giá cao phải nói đến Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam (VIỆTNAMPOST) góp vốn vào Ngân hàng TMCP Liên Việt (LienVietBank) với việc sápnhập Công ty Dịch vụ tiết kiệm Bưu điện (VPSC) và LienVietBank Sau sáp nhập, ngânhàng có tên gọi mới là Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank).Cuộc

"kết hôn" này đã cho ra đời mô hình ngân hàng bưu điện đầu tiên tại Việt Nam, kết hợpgiữa ngân hàng thương mại truyền thống với dịch vụ tiết kiệm bưu điện.Nhờ đó, vốnđiều lệ của LienVietPostBank tăng từ 5.650 tỷ đồng lên 6.010 tỷ đồng, địa bàn hoạt độngcủa LienVietPostBank tăng lên hơn 10.000 điểm giao dịch trên toàn quốc

Dự báo, năm 2013 sẽ có thêm 2 ngân hàng hợp nhất, đó là Ngân hàng TMCPPhương Tây (WTB) và Tổng Công ty CP Tài chính dầu khí (PVFC) Mặc dù chưa đưa ranhững thông tin chính xác và đầy đủ về cuộc sáp nhập này, song đây có thể cũng làthương vụ đình đám Theo các chuyên gia, xu thế sáp nhập để phát triển nguồn lực, cũngnhư có thêm kinh nghiệm lớn hơn, sẽ là tất yếu và mua bán, sáp nhập sẽ là giải pháp

"vàng" cho những ngân hàng muốn phát triển

Như vậy, có thể thấy các giải pháp sáp nhập ngân hàng đang được thực hiệnthiên về giải pháp ngắn hạn, nhằm giải quyết yếu kém về thanh khoản cho các một sốngân hàng yếu.

Các NHTM Việt Nam được và mất gì từ hoạt động M&A?

Đối với hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và các ngân hàng nói riêng,đây không phải là một vấn đề đơn giản bởi cái được và cái mất luôn đan xen M&A sẽmang lại những giá trị lớn cho cả bên bán lẫn bên mua và đặc biệt hữu ích khi các ngân

Trang 19

hàng rơi vào suy thoái do sức ép cạnh tranh, hay thị trường thay đổi… Những cái đượclớn nhất có thể kể đến là:

Thứ nhất, gia tăng quy mô vốn cũng như tổng tài sản

Sau M&A, các ngân hàng đều có cơ hội gia tăng quy mô vốn và tổng tài sản Việcsáp nhập của Habubank vào SHB hay như việc sáp nhập của 3 ngân hàng SCB,TinNghiaBank và FicomBank thành SCB đã làm tăng giá trị tài sản, vốn điều lệ cũngnhư các chỉ số tài chính khác Sau sáp nhập, tổng tài sản của SHB tăng 28% từ 80.985 tỷlên 103.785 tỷ đồng và vốn điều lệ của SHB tăng gần gấp đôi lên 8.865 tỷ đồng, rút ngắnchênh lệch với các ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu Vốn điều lệ của SCB tăng2.5 lần từ 4 ngàn tỷ lên hơn 10 ngàn tỷ đồng, giúp SCB “mới” vươn lên vị trí thứ 5 xét

về quy mô vốn điều lệ, chỉ đứng sau EximBank, VietinBank, VietcomBank, BIDV vàAgribank Tương tự, việc bán cổ phần cho các nhà đầu tư nước ngoài cũng khiến tổngvốn điều lệ của các ngân hàng Việt Nam gia tăng đáng kể Sau 2 thương vụ bán cổ phầncho đối tác chiến lược, vốn điều lệ Vietinbank giờ tăng lên 32.661 tỷ VIỆT NAMD, tăngvốn tự có lên khoảng 45.000 tỷ VIỆT NAMD, đưa VietinBank sẽ trở thành ngân hàngthương mại có vốn điều lệ lớn nhất và cơ cấu cổ đông mạnh nhất ở Việt Nam

Thứ hai, nâng cao vị thế ngân hàng nhờ vị thế của đối tác

Việc M&A với các công ty hay ngân hàng lớn sẽ góp phần nâng cao vị thế củangân hàng, không chỉ trong nước mà cả trên trường quốc tế Điều này đã được thể hiện

rõ nét qua các thương vụ M&A ngân hàng tại Việt Nam, đặc biệt ở các thương vụ muabán cổ phần có yếu tố nước ngoài Có thể nói rằng hầu hết các thương vụ trên đều gópphần làm tăng vị thế ngân hàng Đơn cử như với việc IFC nắm giữ 10% hay MitsubishiTokyo UFJ nắm giữ 20% cổ phần, vị thế của VietinBank đã tăng lên đáng kể trong conmắt nhà đầu tư Ngày 28/12/2012, Công ty xếp hạng danh tiếng Standard & Poor’s đãtăng mức xếp hạng tín nhiệm nhà phát hành dài hạn của VietinBank từ B+ lên BB- vớitriển vọng “ổn định” S&P cũng tăng mức xếp hạng dài hạn theo khu vực ASEAN củaVietinBank từ “axBB” lên “axBB+” Mức xếp hạng tín nhiệm nhà phát hành ngắn hạncủa VietinBank vẫn giữ nguyên ở mức B Đồng thời, trái phiếu không đảm bảo có độ ưutiên cao của VietinBank cũng được nâng từ B+ lên BB- Tương tự vậy, ngày 16/11/2012,S&P cũng nâng xếp hạng tín nhiệm EximBank ở mức B+ với triển vọng ổn định

Trang 20

EximBank sẽ được hưởng lợi từ sự hợp tác với cổ đông chiến lược nước ngoài nắm giữ15% vốn là Tập đoàn Sumitomo Mitsui Banking Corp.

Thứ ba, mở rộng mạng lưới chi nhánh và tiết kiệm chi phí hành chính

Với M&A, thay vì việc gây dựng chi nhánh và phòng giao dịch từ đầu với rấtnhiều chi phí thành lập, xây dựng, mở rộng hệ thống, triển khai mạng lưới phân phối,ngân hàng có thể tận dụng ngay hệ thống mạng lưới, con người sẵn có của các đối tác.Điều này không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn giúp giảm đến mức tối đa thời gian thâmnhập thị trường Đối với thương vụ ngân hàng Liên Việt sáp nhập với công ty Dịch vụTiết kiệm Bưu điện (VPSC), bởi bản thân đối tác đã có hệ thống mạng lưới lớn nhấttrong cả nước với hơn 10.000 điểm giao dịch tại các bưu cục, vì thế, sau khi sáp nhập họ

đã trở thành một trong các ngân hàng có mạng lưới lớn nhất cả nước, lớn hơn rất nhiều

so với con số 60 điểm giao dịch trên toàn quốc trước khi sáp nhập Tương tự, với việcsáp nhập với Habubank, số lượng chi nhánh và phòng giao dịch của SHB tăng gấp rưỡi

từ 141 chi nhánh và phòng giao dịch lên 211 chi nhánh và phòng giao dịch

Song song với việc tăng điểm giao dịch, việc sáp nhập cũng giúp giảm chi phí thuê vănphòng, chi phí tiền lương nhân viên, chi phí hoạt động của chi nhánh, phòng giao dịch.Chi phí giảm xuống đồng nghĩa với doanh thu tăng lên là yếu tố sẽ làm cho hoạt độngcủa ngân hàng sau sáp nhập-mua lại hoạt động hiệu quả cao hơn

Thứ tư, tăng cơ sở khách hàng

Bên cạnh việc gia tăng số lượng điểm giao dịch, việc mua bán và sáp nhập cònlàm tăng cơ sở khách hàng nhờ tận dụng hệ thống khách hàng của nhau Vì mỗi ngânhàng có một đặc thù kinh doanh riêng phù hợp với tiềm năng vốn có của nó, do vậy khikết hợp lại sẽ có những lợi thế riêng để khai thác, bổ sung cho nhau Thực tế cho thấy,lũy kế từ thời điểm sáp nhập với Habubank ngày 28/8 đến ngày 28/9/2012, số lượngkhách hàng cá nhân tại SHB tăng thêm là 9.611 khách hàng; số lượng khách hàng tổchức tăng thêm là 182 khách hàng; số lượng tài khoản cá nhân tăng thêm là 115.592 tàikhoản và tăng thêm 2.713 tài khoản của các tổ chức kinh tế Còn đối với các thương vụmua bán cổ phần, số lượng khách hàng tăng lên không chỉ là kết quả của phép cộng đơnthuần từ khách hàng của các đối tác mà chính là nhờ tận dụng lợi thế cộng hưởng và sựgia tăng vị thế của ngân hàng trên thị trường

Trang 21

Ngoài những lợi thế trên, hoạt động M&A còn đem lại cho ngân hàng lợi thế về

đa dạng hóa hệ thống dịch vụ, chọn lọc nhân tài cũng như được hưởng những lợi ích vềthuế Chẳng hạn, sau khi Standard Chartered Bank trở thành cổ đông chiến lược củaACB, các khách hàng VIP của ACB sẽ được phục vụ trọn gói các yêu cầu giao dịch tàichính và tư vấn riêng theo phương thức đầu tư tài chính sinh lợi nhất tại StandardChartered Bank cũng như có cơ hội nhận ưu đãi tại các địa điểm giao dịch của StandardChartered Bank tại Singapore và Malaysia… Đối với vấn đề nhân sự, việc sáp nhập sẽtạo cho ngân hàng có cơ hội lựa chọn được đội ngũ nhân sự thực sự có tài, đặc biệt là độingũ cán bộ quản lý cấp trung, từng bước xây dựng được nguồn nhân lực vừa có tâm, vừa

có tầm và lại vừa có tài

Rõ ràng, đối với các ngân hàng M&A sẽ mở ra một chu kỳ phát triển mới, làmthay đổi cơ cấu sở hữu, khả năng kiểm soát, điều hành, năng lực tài chính và quy môkinh doanh, từ đó góp phần mở ra những cơ hội kinh doanh mới, tăng cường vị thế cạnhtranh và hiệu quả kinh doanh Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích không thể phủ nhận,ngân hàng sẽ phải đối mặt với những khó khăn không nhỏ, cả trong và sau quá trìnhM&A

Nhược điểm của việc sáp nhập các ngân hàng

Thứ nhất tổng tài sản tăng nhưng chất lượng tài sản sau M&A lại giảm do các

khoản lỗ và nợ xấu tăng

Trong trường hợp một ngân hàng phải sáp nhập với một ngân hàng yếu và tỷ lệ

nợ xấu cao, mặc dù tổng tài sản có tăng lên nhưng nếu chất lượng tài sản sau M&Akhông đảm bảo thì khó có thể nói rằng việc tích hợp giữa hai bên sẽ mang lại cho ngânhàng mới lợi thế cạnh tranh hơn, hoặc ngang ngửa so với những ngân hàng đang có khốilượng tài sản tương đương Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh, đếnthương hiệu, vị thế của ngân hàng và sau đó là đến thu nhập của từng người lao động.Đây chính là một trong những rào cản lớn nhất trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngânhàng Việt Nam hiện nay.Với việc sáp nhập Habubank, SHB phải xử lý khoản lỗ nghìn tỷ

và hàng tỷ đồng nợ xấu Sau khi sáp nhập với Habubank, lợi nhuận trước thuế 9 thángcủa SHB lỗ 1.105 tỷ đồng, trong khi 6 tháng (thời điểm trước sáp nhập) ngân hàng nàylãi hơn 600 tỷ đồng Nợ xấu của SHB ở thời điểm 30/09/2012 đạt hơn 6.200 tỷ đồng,

Trang 22

chiếm 13,23% tổng dư nợ, trong khi đầu năm trước khi sáp nhập, tỷ lệ nợ xấu của SHBchỉ ở mức 2,23%.

Thứ hai, ảnh hưởng tới niềm tin của khách hàng

Nếu chỉ thực hiện một phép tính số học, ngân hàng mới sẽ có sự gia tăng về sốlượng khách hàng.Song điều đó chỉ đúng trên sổ sách tại thời điểm sáp nhập, còn sau đó,ngân hàng có duy trì được cơ sở khách hàng này hay không là cả một vấn đề Bởi lẽ, kinh doanh dịch vụ nói chung và dịch vụ ngân hàng nói riêng, yếu tố tâm lý lựa chọn

“nhà cung cấp” luôn là yếu tố đóng vai trò quan trọng quyết định Hơn nữa, ngân hàng làlĩnh vực mà hoạt động kinh doanh chủ yếu dựa vào uy tín và niềm tin.Mọi biến động đều

có thể ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin của khách hàng Mặc dù một số khách hàng chorằng, sáp nhập, hợp nhất sẽ tạo ra một hệ thống NHTM với diện mạo mới hơn, an toànhơn và lành mạnh hơn nhờ sự gia tăng về quy mô, nâng cao chất lượng phục vụ và đápứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất, nhưng cũng có không ít khách hàng chorằng sau khi hợp nhất sáp nhập sẽ có sự thay đổi trong chính sách đãi ngộ khách hànghay hoài nghi về hiệu quả hoạt động ngân hàng sau sáp nhập Điều này có thể dẫn đến sựsụt giảm số lượng của cả khách hàng hiện hữu và khách hàng tiềm năng.Đây tiếp tục làmột rào cản không nhỏ khi tiến hành hợp nhất, sáp nhập

Ngoài nguyên nhân khách quan do tâm lý khách hàng, sự cắt giảm nhân sự cũng lànguyên nhân gây ra tổn thất về khách hàng trong quá trình M&A Khi một nhân viên rờikhỏi ngân hàng sẽ dẫn đến một phần những khách hàng thân thiết của nhân viên đó cũngchuyển sang dùng dịch vụ của ngân hàng khác Việc lấy lại lòng tin của khách hàng hiệnhữu cũng như thu hút khách hàng tiềm năng là một thách thức không nhỏ đối với ngânhàng hậu sáp nhập

Thứ ba, khó khăn trong việc tích hợp công nghệ thông tin

Hệ thống ngân hàng lõi là hệ thống phần mềm tích hợp các ứng dụng tin họctrong quản lý thông tin, tài sản, giao dịch, quản trị rủi ro… trong hệ thống ngân hàng Hệthống ngân hàng Việt Nam hiện đang sử dụng rất nhiều hệ thống core banking khácnhau, như T24, I-flex, TCBS… Khi 2 ngân hàng sáp nhập với nhau, ngoài việc kết hợp

hệ thống cơ sở hạ tầng, nhân sự… thì việc tích hợp hệ thống CNTT là một vấn đề cầnlưu tâm khi các ngân hàng sử dụng core khác nhau Các ngân hàng đều tốn khoảng thờigian nhất định khi muốn vận hành một hệ thống core banking mới, bao gồm việc “làm

Ngày đăng: 09/04/2015, 10:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w