Tuy nhiên, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại đòihỏi kết hợp nhiều biện pháp, để đảm bảo tái cơ cấu toàn diện, một số các biện pháp điểnhình như : i Điều chỉnh hoặc xây dựng khun
Trang 1KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Trang 2Lời mở đầu 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 2
1.1 Lý do tái cấu trúc 2
1.2 Đối tượng tái cấu trúc 5
1.3 Mục tiêu của việc tái cấu trúc ngân hàng 5
1.3.1 Mục tiêu ngắn hạn/ trung hạn 5
1.3.2 Mục tiêu dài hạn 6
1.4 Phương thức thực hiện 6
CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM TỪ NHỮNG THƯƠNG VỤ TÁI CẤU TRÚC CỦA CÁC NGÂN HÀNG TRÊN THẾ GIỚI 8
2.1 Trung Quốc 8
2.1.1 Thực hiện tăng vốn 8
2.1.2 Cải thiện cơ sở hạ tầng hoạt động của hệ thống 12
2.2 Hàn Quốc 15
2.2.1 Nguyên nhân dẫn đên khủng hoảng tài chính : Sự nuông chiều với các chaebol và quả bom nợ xấu 15
2.2.2 Tái cấu trúc hệ thống tài chính 16
2.3 Thụy Điển 18
2.3.1 Giải pháp của Thụy Điển 19
2.3.2 Bài học từ cuộc tái cấu trúc của Thụy Điển 20
2.4 Thái Lan 22
2.4.1 Nguyên nhân buộc phải tái cấu trúc 22
2.4.2 Các giải pháp thực hiện 23
2.4.3 Kết quả đạt được 26
2.5 Malaysia 26
2.6 Những khó khăn và rủi ro của việc tái cấu trúc ngân hàng 28
CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ HÀM Ý TƯ DUY CHO VIỆT NAM .30
3.1 Bài học kinh nghiệm tái cấu trúc thành công 30
Trang 33.1.2 Chú trọng phát triển thị trường trái phiếu 31
3.1.3 Tính minh bạch thông tin 31
3.1.4 Nguồn lực để tái cơ cấu phải thật sự mạnh 32
3.1.5 Giải quyết các vấn đề của hệ thống ngân hàng phải nằm trong tổng thể một gói chính sách vĩ mô đúng đắn có tầm nhìn 32
3.1.6 Bài học về cách thức thực hiện 33
3.2 Hàm ý tư duy cho Việt Nam 33
3.2.1 Việt Nam cần thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng 33
3.2.2 Nguyên tắc thực hiện 34
KẾT LUẬN 36
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) đóng một vai trò hết sức quan trọng trongviệc lưu chuyển nguồn vốn trong nền kinh tế, góp phần thúc đẩy kinh tế- xã hội của quốcgia phát triển Trong gần 25 năm đổi mới, cùng với nền kinh tế, hệ thống NHTM ở ViệtNam đã có những chuyển biến cơ bản, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước Mặc dù vậy, hệ thống ngân hàng Việt Nam đang bộc lộ nhiều hạn chếtrước những đòi hỏi ngày càng cao của yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng bền vữngcũng như của quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là khi Việt Nam
đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO Bối cảnh hậu khủng hoảng tài chính vàsuy thoái kinh tế toàn cầu không chỉ đặt ra cho Việt Nam vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế, màcòn có yêu cầu cấp thiết là tái cấu trúc một cách toàn diện và đồng bộ hệ thống ngân hàngnhư một yếu tố then chốt để bảo đảm sự phát triển nhanh và bền vững
Tuy nhiên, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là một vấn đề mới, rất phức tạp đối vớikhông chỉ ngành ngân hàng mà của cả nền kinh tế, đòi hỏi cần phải có nghiên cứu, tìm hiểu
về kinh nghiệm quốc tế qua đó rút ra bài học và nghiên cứu phát triển để áp dụng đối vớithực tiễn của Việt Nam Dựa trên mục đích này, nhóm chúng em đã chọn đề tài “Kinhnghiệm tái cấu trúc của các ngân hàng trên thế giới và hàm ý cho Việt Nam” để thực hiện vàtrình bày
Trang 5CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG
NGÂN HÀNG
1.1 Lý do tái cấu trúc
Khủng hoảng tài chính châu Á bắt đầu từ tháng 7/1997 ở Thái Lan đã gây ra những ảnhhưởng vĩ mô nặng nề như: mất giá tiền tệ, sụp đổ thị trường chứng khoán, giảm giá tài sản ởmột số nước Ðông Á Nhiều doanh nghiệp bị phá sản, dẫn đến hàng triệu người ở một sốquốc gia châu Á bị đẩy xuống dưới ngưỡng nghèo trong các năm 1997-1998 Những nước
bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan
“Bong bóng” bất động sản cùng với giám sát tài chính thiếu hoàn thiện ở Mỹ đã dẫn tớimột cuộc khủng hoảng tài chính ở nước này từ năm 2007, bùng phát mạnh từ cuối năm
2008 Là một cường quốc kinh tế có quan hệ rộng khắp toàn cầu, cuộc khủng hoảng từ Mỹ
đã lan rộng ra nhiều nước trên thế giới, dẫn tới những đổ vỡ tài chính, suy thoái kinh tế, suygiảm tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước trên thế giới
Rồi tiếp theo lại đến tình trạng bất ổn trong khu vực đồng tiền chung châu Âu khiếnkhu vực này đến nay còn chìm đắm trong khủng hoảng nợ và làm tốc độ tăng trưởng kinh tếtoàn cầu chậm lại Thế giới nhận thức rõ những khủng hoảng kinh tế thế giới từ mấy thập kỷnay đều bắt nguồn từ quản trị doanh nghiệp, nhất là quản trị doanh nghiệp trong lĩnh vực tàichính Tình trạng tồi tệ của các tổ chức tài chính đã khiến cho dòng vốn khó ra được nềnkinh tế ảnh hưởng nghiêm trọng tới khu vực sản xuất thực
Sau khủng hoảng tài chính Ðông Á, đặc biệt là sau khủng hoảng tài chính từ Mỹ năm
2008, thế giới nhận thức rõ hơn sự cần thiết phải có một hệ thống tài chính - ngân hàngvững mạnh, minh bạch Vì vậy, vấn đề cải cách cơ cấu nền kinh tế nói chung, tái cấu trúckhu vực tài chính ngân hàng nói riêng ngày càng trở nên cấp thiết, sự phát triển lành mạnh
và sự an toàn của hệ thống ngân hàng có vai trò quyết định đến sự phát triển kinh tế Bêncạnh đó, bản thân các tổ chức tài chính cũng phải tự điều chỉnh để thích nghi với bối cảnhtăng trưởng kinh tế chậm lại, thắt chặt tín dụng, những rủi ro tiềm ẩn của quá trình toàn cầuhóa, và sự can thiệp mạnh hơn của chính phủ đối với nền kinh tế Theo ông Sameer Goyal
Trang 6(điều phối viên Khu vực tài chính và tư nhân của Ngân hàng Thế giới) thì động cơ tái cấutrúc hiện nay bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân như sau:
Khủng hoảng tài chính kinh tế
Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy lịch sử phát triển khu vực ngân hàngcủa bất kỳ quốc gia nào cũng trải qua những quá trình cải cách, cải tổ và tái cơ cấu ngânhàng Quá trình này thường được các quốc gia tiến hành sau khi các cuộc khủng hoảng tàichính tiền tệ diễn ra, vì vậy, nó cũng thường gây ra hiểu lầm chung phổ biến: tái cơ cấungân hàng chứng tỏ khu vực ngân hàng đang gặp khủng hoảng Để hiểu một cách chính xáchơn về động lực đằng sau yêu cầu thực hiện tái cơ cấu ngân hàng của các quốc gia, cần hiểu
rõ mối quan hệ giữa môi trường kinh tế và khu vực ngân hàng Thực tiễn phát triển hệ thốngngân hàng thế giới đã khẳng định: Động lực phát triển khu vực ngân hàng chính là nhu cầu
phát triển của nền kinh tế; hỗ trợ cho sự phát triển của khu vực ngân hàng nhằm đáp ứngnhu cầu ngày càng đa dạng và tinh vi của nền kinh tế là những đổi mới trong lĩnh vực côngnghệ; tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của khu vực ngân hàng là những thay đổi kịpthời trong môi trường thể chế và không ngừng nâng cao cơ sở hạ tầng tài chính Có thể nói,
sự phát triển của hệ thống ngân hàng tất yếu gắn kết chặt chẽ với sự thay đổi và phát triểncủa nền kinh tế Sự phát triển của hệ thống ngân hàng bất cứ nước nào cũng không tránhkhỏi những giai đoạn khó khăn, khủng hoảng Đó chính là dấu hiệu cho thấy sự phát triểncủa hệ thống ngân hàng và các thể chế chính sách đi kèm đã không còn phù hợp với sự pháttriển của nền kinh tế; và đã đến thời điểm cần phải thực hiện những cải tiến đổi mới Đó là
lý do khi tổng kết thực tiễn phát triển khu vực ngân hàng thế giới, người ta thường thấy tái
cơ cấu ngân hàng đi đôi với khủng hoảng diễn ra trong khu vực này Tuy nhiên, từ nhậnthức đúng đắn về mối quan hệ giữa môi trường kinh tế và khu vực ngân hàng, có thể thấynếu có thể nhận định trước, NHNN đón đầu những đổi mới trong môi trường kinh tế vĩ mô,trong nhu cầu hoạt động kinh tế để định hướng phát triển kịp thời và xây dựng môi trườngthể chế chính sách phù hợp cho khu vực ngân hàng, việc tránh và hạn chế được những tácđộng bất lợi của khủng hoảng là hoàn toàn có thể Vì vậy, nói một cách chính xác, sự pháttriển, trong đó có cả quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng là hệ quả tất yếu của sự thayđổi và phát triển của nền kinh tế
Trang 7 Nợ xấu gia tăng
Khủng hoảng tài chính tiền tệ là tiền đề cho công cuộc tái cơ cấu của ngành ngân hàng,khi các chính sách hiện tại của ngân hàng không còn phù hợp với tình hình kinh tế hậukhủng hoảng Nhưng lý do dễ nhận thấy trước mắt của việc tái cơ cấu là những lỗ hỏng, khókhăn của ngành ngân hàng do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng
Nợ xấu của ngân hàng tăng khi ngân hàng gặp rủi ro với những khoản vay quá mức
với lĩnh vực bất động sản, ngoại hối, các doanh nghiệp thua lỗ (kể cả doanh nghiệp nhànước), cho vay với bên quen biết…
Mức vốn yếu so với rủi ro ( khả năng thanh khoản yếu kém )
Khi ngân hàng gặp phải rủi ro, tức là khả năng thu hồi nợ từ khách hàng của ngânhàng thấp Ngân hàng phải dùng vốn để trang trải cho các khoản thất thoát này, đến mộtchừng mực nào đó ngân hàng không những không thể thực hiện việc xóa sổ những khoảnthất thoát này mà còn lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền
Thực hiện vai trò trung gian không hiệu quả
Khi luồng tín dụng không đủ, các ngân hàng lại thường theo đuổi rủi ro quá mức củacác ngân hàng do thực hiện tăng trưởng tín dụng nhanh, không kiểm soát, lãi suất bị bópméo
Khuôn khổ giám sát và quản lý yếu
Thiếu niềm tin vào hệ thống ngân hàng
Ngân hàng là ngành kinh tế nhạy cảm, phụ thuộc nhiều vào lòng tin, do đó khi thông tinngân hàng trở nên yếu kém, khả năng trả nợ của ngân hàng không chắc chắn, người gửi tiền
sẽ đổ xô đi rút tiền làm ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản
Ngân hàng nhà nước của bất kì quốc gia nào cũng đều có nhiệm vụ bảo đảm hệ thốngngân hàng hoạt động một cách an toàn và ổn định Nếu một ngân hàng gặp vấn đề tronghoạt động tín dụng và ở một mức độ nhất định nào đó sẽ đe dọa tới sự an toàn và ổn địnhcủa toàn bộ hệ thống ngân hàng Vì vậy ngân hàng gặp phải những vấn đề như trên, ngânhàng nhà nước sẽ hành động để điều chỉnh, đưa hoạt động ngân hàng trở lại hoạt động lànhmạnh
Trang 81.2 Đối tượng tái cấu trúc
Đối tượng của tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thường được hiểu theo hai nghĩa rộng
và hẹp Xét theo nghĩa rộng, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là quá trình tái cấu trúc tất cảcác bộ phận cấu thành của hệ thống, bao gồm: ngân hàng trung ương, hệ thống ngân hàngthương mại, hệ thống ngân hàng chính sách xã hội và ngân hàng phát triển và hệ thống các
tổ chức tín dụng vi mô Xét theo nghĩa hẹp, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng chỉ bao gồmviệc giải quyết những vấn đề của một trong những cấu phần nói trên của hệ thống, hoặcthậm chí là một ngân hàng có nguy cơ đổ vỡ ngay trong điều kiện hệ thống ngân hàng vẫnđang hoạt động hiệu quả (Waxman, 1998)
1.3 Mục tiêu của việc tái cấu trúc ngân hàng
Trước khi xác định mục tiêu tổng thể và phương hướng cho việc tái cấu trúc một cách rõràng và chính xác, cần phải hiểu rõ bản chất, phạm vi của vấn đề đang xảy ra thông qua việcđánh giá đúng mực các ngân hàng trên nhiều phương diện
Đánh giá sức khỏe tài chính của các ngân hàng ( trạng thái vốn, tình hình nợ xấu, khảnăng thanh khoản, khả năng thu lợi nhuận….)
Hiểu được các vấn đề cụ thể về tổ chức và cấu trúc như các hạn chế về hệ thống
Quản lý rủi ro, kiểm soát nội bộ và quản trị, cấu trúc hệ thống IT…
Rà soát khuôn khổ giám sát, quản lý và luật pháp
Hiểu được năng lực thể chế tại các tổ chức và các cơ quan quản lý
Sau khi xác định được bản chất của việc tái cơ cấu, chúng ta xác định mục tiêu củaviệc tái cơ cấu
1.1.1 Mục tiêu ngắn hạn/ trung hạn
Duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng; Đảm bảo khả năng chi trả, thanh
khoản và các vai trò trung gian tài chính không bị đình trệ
Giải quyết các vấn đề một cách kịp thời nhằm ngăn ngừa sự lây lan hoặc các vấn
đề hệ thống
Khôi phục niềm tin vào hệ thống ngân hàng
Tối thiểu hóa chi phí tái cấu trúc với ngân hàng trung ương, BHTG và/hoặc chínhphủ
Trang 91.1.2 Mục tiêu dài hạn
Khuôn khổ quản trị mới
Xây dựng tính cạnh tranh và khả năng chống chịu
Tăng cường cơ sở hạ tầng tổng thể của hệ thống tài chính
1.4 Phương thức thực hiện
Theo khảo sát tại 24 quốc gia thực hiện tái cấu trúc của IMF (Dziobek, 1998), mỗiquốc gia có những phương pháp để giải quyết cuộc khủng hoảng hệ thống ngân hàng vớimức độ thành công khác nhau Tuy nhiên, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại đòihỏi kết hợp nhiều biện pháp, để đảm bảo tái cơ cấu toàn diện, một số các biện pháp điểnhình như :
i) Điều chỉnh hoặc xây dựng khung khổ pháp luật (Luật phá sản, luật về muabán và sáp nhập, quy định về giải quyết tranh chấp…) và các cơ chế, chính sách cho điềutiết (Bảo hiểm tiền gửi, trích lập dự phòng, quy định vốn tối thiểu, chuẩn mực kế toán phùhợp với quốc tế…), giám sát và đánh giá theo chuẩn mực quốc tế
ii) Thành lập cơ quan chuyên trách thực hiện quá trình tái cấu trúc
iii) Xử lý nợ khó đòi hay nợ không hiệu quả (NPL)
iv) Tái cấp vốn (Chính phủ bơm vốn hoặc mua cổ phiếu để nắm giữ quyền quảnlý; Sáp nhập các ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài hoặc các ngân hàng trongnước với nhau; Thay đổi cơ cấu sở hữu ….)
v) Đóng cửa các ngân hàng không có khả năng tồn tại một cách có trật tự (đồngthời chi trả bảo hiểm tiền gửi hoặc bán phần hoạt động tốt cho ngân hàng khác);
vi) Thành lập công ty mua bán nợ
vii) Đổi mới quản trị, công nghệ và nhân lực…
Song các phương thức không nên được xem xét một cách riêng lẻ, cách tốt nhất làthực hiện lựa chọn nhiều phượng thức để có cái nhìn tổng quan và chính xác hơn Sau đây làbảng ví dụ về việc lựa chọn nhiều phương thức:
Trang 10Bảng 1: Lựa chọn phương thức thực hiện
Mức vốn của hệ thống thấp (lo ngại mất khả
năng thanh toán)
Tiếp cận có điều kiện với các quỹ tái cấp vốn; hỗtrợ việc tiếp cận của nhà đầu tư (ví dụ; cho phépcác nhà đầu tư nước ngoài tham gia nhiều hơn),
cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước
Nợ xấu tăng một cách có hệ thống Các yêu cầu về dự phòng và vốn cao hơn, Các
công ty Quản lý Tài sản-AMC (tập tung hóahoặc ngân hàng cụ thể), Mô hình Ngân hàng xấu–Ngân hàng tốt, tái cấu trúc doanh nghiệp
Ngân hàng khó khăn trong việc huy động vốn
(tiền gửi) và hỗ trợ cho vay
Tạm thời cung cấp cửa sổ thanh khoản (chứcnăng người cho vay cuối cùng của NHTW);Tăng cường bảo vệ người gửi tiền để tái lập niềmtin công chúng (tăng hạn mức BHTG)
Các phương thức được lựa chọn dựa trên các vấn đề của riêng mỗi quốc gia Giải
pháp hay phản ứng mà một chính phủ chọn phụ thuộc vào một số yếu tố như kinh tế chính
trị, phạm vi và mức độ nghiêm trọng của vấn đề, các điều kiện kinh tế hiện tại, tình trạng tài
chính của các ngân hàng và chính phủ, các hạn chế của khuôn khổ quản lý và pháp luật (kể
cả luật phá sản và các luật liên quan khác), năng lực về tổ chức của các tổ chức liên
quan….Do đó, các giải pháp không nên được xem xét một cách biệt lập mà phải dựa trên
cái nhìn tổng thể, tiến hành nhiều biện pháp song song một cách phù hợp để giải quyết vấn
đề một cách toàn diện
Trang 11CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM TỪ NHỮNG THƯƠNG VỤ TÁI
CẤU TRÚC CỦA CÁC NGÂN HÀNG TRÊN THẾ GIỚI
dụng nông thôn, thành thị Trung Quốc đã thực hiện 05 biện pháp trong công cuộc cải tổ này,bao gồm: tăng vốn; xử lý các khoản nợ khó đòi; chuyển đổi nợ thành vốn góp; sáp nhập;đóng cửa, cho phá sản một số định chế tài chính mất khả năng thanh toán
Các chương trình tái cấu trúc không chỉ tập trung xử lý những vấn đề của từng ngânhàng (kết cấu tài sản - vốn), mà còn quan tâm mạnh mẽ đến các mức độ đáp ứng của cơ sở
hạ tầng trong việc tạo lập môi trường hoạt động cho ngành ngân hàng (việc tuân thủ các quyđịnh về an toàn hoạt động, các quy định liên quan đến sự tham gia của các ngân hàng nướcngoài…)
2.1.1 Thực hiện tăng vốn
Trong giai đoạn đầu, Chính phủ thông qua Bộ Tài chính đã bơm vốn cho các NHTMthuộc sở hữu nhà nước Sau đó, khuyến khích các ngân hàng chủ động tăng vốn thông quaviệc tạo điều kiện cho các ngân hàng được niêm yết trên TTCK và huy động vốn từ các tổchức, ngân hàng nước ngoài dưới hình thức mua cổ phần hoặc thực hiện liên minh, liên kết
Tháng 3/1998, một đợt phát hành trái phiếu kho bạc đặc biệt trị giá 270 tỷ nhân dân
tệ đã được thực hiện Mục đích của đợt phát hành này nhằm tăng vốn cho 4 NHTM nhànước và tăng tỷ lệ vốn tối thiểu của các ngân hàng này lên 8% Các trái phiếu kho bạc này
Trang 12đã được 4 NHTM nhà nước mua bằng nguồn tiền rút ra từ việc cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắtbuộc từ 13% xuống còn 8% Tuy nhiên, các NHTM cổ phần và các hợp tác xã tín dụngnông thôn không được hưởng nguồn tài trợ từ Chính phủ Việc tăng vốn của họ chủ yếu đến
từ các cổ đông hoặc lợi nhuận tích lũy, nên nguồn vốn của các tổ chức này khó có thể tănglên nhanh chóng Đặc biệt, đối với một số công ty ủy thác và đầu tư, vốn của họ không đượctăng trong thời gian dài trong khi tích tụ thêm các khoản lỗ và nợ xấu Ngoài 4 NHTM nhànước, phần lớn các định chế tài chính nằm dưới sự quản lý của chính quyền địa phươnghoặc các công ty nhà nước, cổ đông của họ không mặn mà với việc góp vốn trừ phi phảichịu sức ép mạnh mẽ
2.1.1.1 Xử lý nợ xấu của các NHTM, chuyển đổi các khoản nợ thành vốn góp:
Nợ xấu gia tăng là nhân tố hạn chế lớn nhất khả năng thanh khoản của hệ thống ngânhàng Nếu các ngân hàng phải trực tiếp xử lý các khoản nợ này ra khỏi bảng cân đối, thì tấtyếu sẽ làm suy giảm vốn Vào những năm 1990, thị trường vốn tại Trung Quốc chưa pháttriển và khá phân đoạn nên nước này đã lựa chọn phương pháp xử lý nợ xấu tập trung Cónghĩa là sử dụng phương pháp hoán đổi nợ và vốn cổ phần là chủ yếu
Theo đó, tất cả các khoản nợ xấu từ ngân hàng sẽ được bán cho một hoặc một vàicông ty quản lý tài sản mới được thiết lập (AMC), với một tỷ lệ chiết khấu nhất định Khoảntiền để trả cho các tài sản đó sẽ được quy đổi thành giá trị phần vốn góp của AMC đầu tưvào ngân hàng Theo cách này, phần vốn cơ bản của ngân hàng được bảo toàn, nhưng quan
hệ sở hữu bị suy giảm một phần Sau đó, các AMC sẽ tập trung vào việc thu hồi các khoản
nợ xấu
Tại Trung Quốc khi đó, số lượng nợ xấu của các NHTM nhà nước là rất lớn, chiếm
tỷ lệ 6-7% trên tổng dư nợ Theo quy chế do Bộ Tài chính đề ra lúc đó thì chỉ 1% dư nợ củanăm trước liền kề phải được trích ra làm dự phòng cho việc xóa đi các khoản nợ xấu củanăm hiện hành Kết quả là các khoản trích lập dự phòng rủi ro là rất nhỏ Công ty quản lý tàisản (AMC) đầu tiên chịu trách nhiệm xử lý các khoản nợ xấu cho các NHTM nhà nước đãđược thành lập vào tháng 4/1999 và tiếp sau đó là thêm 3 công ty nữa đã ra đời Họ chịutrách nhiệm tách bạch các khoản nợ xấu ra khỏi các NHTM nhà nước và sử dụng nhiều biệnpháp khác nhau để xử lý các khoản nợ xấu này Đây chỉ là giải pháp cuối cùng trong việc tái
Trang 13cấu trúc ngân hàng, vì nó làm thiệt hại đến quyền lợi của chủ nợ và kết quả cuối cùng khôngđược như trông đợi
Một trường hợp điển hình là Công ty Đầu tư và Ủy thác Everbright Công ty này cócác khoản vay nợ lớn tại 1 công ty dầu mỏ nhà nước và 2 NHTM nhà nước, nhưng không thểtrả được nợ khi đến hạn Để giúp công ty tránh bị phá sản, ngân hàng trung ương (NHTW)quyết định chuyển đổi nợ của các định chế này (tương đương 5 tỷ nhân dân tệ) thành vốngóp Tuy nhiên, công ty vẫn không có lãi trong 3 năm liên tiếp sau đó, và các chủ nợ đã bịthua lỗ nhiều do hậu quả của việc chuyển đổi nợ này
2.1.1.2 Thực hiện sáp nhập
Để tăng cường năng lực tài chính của ngân hàng, chính phủ nước này còn khuyếnkhích thực hiện sáp nhập giữa ngân hàng yếu với ngân hàng mạnh trên quan điểm cho rằng,quản lý thành công sẽ tạo ra sự khác biệt và tính hiệu quả của việc quản lý thành công nàykhông bị cản trở bởi quy mô hoạt động Theo phương châm này thì các ngân hàng nướcngoài thực sự đóng vai trò quan trọng Trong một số trường hợp, sự tham gia của các đối tácnước ngoài có thể xem là đối tác “kép” Điều đó có nghĩa là họ vừa cung cấp vốn, vừa giúpcác ngân hàng yếu kém xác định và thực hiện những thay đổi trong hoạt động quản lý củamình
Từ 1995 đến 1998, hơn 2000 hợp tác xã tín dụng thành thị được sáp nhập vào 88NHTM cấp thành phố theo các nguyên tắc: đánh giá tài sản và vốn, xóa các khoản nợ xấu,ước tính khoản vốn đóng góp ròng và khuyến khích sự tham gia của các cổ đông mới Tuynhiên, giải pháp này vẫn chưa có trường hợp nào thành công Do hoạt động yếu kém của cáchợp tác xã tín dụng thành thị trước đó, 88 NHTM mới đã có khoản nợ xấu lớn và bị thua lỗnặng nề, và một số rơi vào tình trạng khủng hoảng thanh toán Để giảm thiểu rủi ro, Chínhphủ đã thực hiện kế hoạch cắt giảm số lượng NHTM cấp thành phố từ 239 xuống còn 60thông qua biện pháp sáp nhập
Một trường hợp khác là việc thành lập (tháng 8/1995) Ngân hàng Phát triển Hải Nam
từ việc sáp nhập 5 công ty đầu tư và ủy thác đóng trên địa bàn tỉnh Hải Nam với sự tham giacủa các cổ đông mới Chất lượng tài sản rất thấp của 5 công ty đầu tư và ủy thác đã dẫn đếntình trạng hoạt động yếu kém của ngân hàng Tháng 12/1997, Ngân hàng phát triển
Trang 14Hải Nam tiếp nhận thêm quỹ tín dụng thành thị tại địa phương đang gặp khó khăn về thanhkhoản, khiến cho tình trạng của ngân hàng càng trở nên điêu đứng hơn Mặc dù NHTW hỗtrợ thanh khoản trên 3 tỷ nhân dân tệ, khách hàng vẫn tiếp tục rút tiền Hậu quả là vào tháng1/1998, NHTW buộc phải đóng cửa Ngân hàng này.
2.1.1.3 Đóng cửa, giải thể và cho phá sản:
Trong 2 năm 1997 và 1998, một NHTM mất khả năng thanh toán và 3 công ty đầu tư
và ủy thác đã bị đóng cửa tại Trung Quốc Các khoản nợ của 4 định chế này lên đến khoảng
120 tỷ nhân dân tệ Tại Trung Quốc, việc đóng cửa một định chế tài chính có tính chất khácbiệt với phá sản và phải tuân thủ các quy trình sau :
- Thứ nhất, NHTW công bố việc đóng cửa một định chế tài chính và chỉ định một NHTM
xử lý các khoản nợ tồn đọng của định chế này
- Thứ hai, NHTM đó hoặc một công ty kiểm toán độc lập thanh lý tài sản của định chế bịđóng cửa, đồng thời thực hiện việc đăng ký và xác nhận các khoản nợ của định chế đó
- Thứ ba, quyết định các nguyên tắc thanh toán nợ Nói chung, gốc và lãi hợp pháp của cácchủ nợ nước ngoài và người gửi tiền cá nhân phải được ưu tiên chi trả đầu tiên Số lượng tiềngửi của các pháp nhân trong nước được thanh toán bao nhiêu tùy thuộc vào tài sản ròng saukhi thanh lý, thông thường thì không có đủ để chi trả thậm chí cho gốc của các khoản tiềngửi
- Thứ tư, nếu một định chế bị thua lỗ đặc biệt nặng nề, thì định chế này có thể nộp đơnlên tòa án xin được phá sản Khi quy trình phá sản bắt đầu thực hiện thì quy trình đóng cửa
và thanh lý sẽ chấm dứt ngay
Tháng 10/1998, Công ty đầu tư và ủy thác quốc tế Quảng Đông (GITIC) bị thua lỗnặng nề và không có khả năng chi trả các khoản nợ đến hạn, NHTW đã công bố cho đóngcửa định chế tài chính này Tuy nhiên, quy trình thanh lý do một công ty kiểm toán quốc tế
có uy tín thực hiện đã phát hiện thấy rằng GITIC đã mất khả năng thanh toán nghiêm trọngnên tháng 1/1999, GITIC đã nộp đơn xin cho phá sản Đây là vụ phá sản đầu tiên của mộtđịnh chế tài chính ở Trung Quốc
Trang 152.1.2 Cải thiện cơ sở hạ tầng hoạt động của hệ thống
- Tư nhân hóa và giảm quy mô Một trong những giải pháp quan trọng đem đến sự
thành công trong việc cải cách khu vực ngân hàng tại Trung Quốc đó là việc chuyển 4NHTM thuộc sở hữu nhà nước lớn, chiếm 70% tài sản và thị phần tín dụng, sang các doanhnghiệp cổ phần Quá trình tư nhân hóa này đã tạo ra một sân chơi bình đẳng trong lĩnh vựcngân hàng Chính vì vậy, Chính phủ Trung Quốc rất quyết tâm trong việc tạo lập một cơ sởbền vững để các ngân hàng có thể niêm yết trên TTCK trong nước và quốc tế Mặc dù vậy,các ngân hàng này vẫn được xếp vào nhóm “quá lớn để đổ vỡ”, nên vấn đề quy mô ngânhàng như thế nào là hợp lý cũng được cân nhắc trong giai đoạn này Các cơ quan quản lý đãtiến hành rà soát và đưa ra những quy định hạn chế các hoạt động kinh doanh khác của ngânhàng như việc thành lập công ty con phi tài chính, các hoạt động tín thác và đầu tư chứngkhoán… Việc tiến hành đồng thời giải pháp tư nhân hóa và thu hẹp quy mô hoạt độngkhông chỉ giúp các ngân hàng tăng năng lực cạnh tranh, mà còn tập trung phát triển chuyênsâu vào một số nhóm sản phẩm
- Ban hành, đổi mới các quy định điều tiết hoạt động ngân hàng và tăng cường hoạt động thanh tra, giám sát Các cơ quan quản lý tăng cường hoạt động thanh tra, giám
sát, đặc biệt đối với các ngân hàng lớn, nhằm ngăn chặn nguy cơ lan truyền rủi ro hệ thốnggiống như cuộc khủng hoảng ở khu vực Đông Á năm 1997 Đồng thời, trong giai đoạn cảicách, các cơ quan này ban hành một khuôn khổ điều tiết linh hoạt, đảm bảo cho các ngânhàng phát triển ổn định trong môi trường hoạt động liên tục thay đổi và độ mở ngày cànggia tăng
- Chấp nhận sự hiện diện của các ngân hàng nước ngoài Chính phủ Trung Quốc
đã triển khai việc cải cách và cơ cấu lại hoạt động ngân hàng một cách linh hoạt theo hướngtìm kiếm sự trợ giúp các ngân hàng yếu kém từ ngân hàng nước ngoài một cách thận trọng.Mặc dù các ngân hàng nước ngoài có những lợi thế nhất định, nhưng khi chấp nhận để cácngân hàng này gia nhập thị trường, Trung Quốc đã phải chuẩn bị một nền tảng vững chắccho công tác thanh tra, giám sát Hơn nữa, các ngân hàng nước ngoài được phép gia nhậpthị trường phải tập trung nguồn lực tín dụng cho các khu vực chủ chốt của nền kinh tế, đồngthời, tuân thủ các quy định về giới hạn hoạt động tại một vài khu vực, lĩnh vực chính yếu
Trang 16 Một số khó khăn trong công cuộc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng ở Trung Quốc:
Do môi trường xã hội cùng với hành lang pháp lý hiện hành có nhiều hạn chế, côngcuộc tái cấu trúc các định chế tài chính ở Trung Quốc đã vấp phải một số vấn đề khó khănnhư sau :
- Khó khăn trong việc bảo lãnh để chi trả các khoản tiền gửi cá nhân: (vì khi đó chưa có
tổ chức bảo hiểm tiền gửi): Tài sản hiện hữu ròng của một số định chế tài chính phải đóngcửa không đủ để chi trả tiền gốc cho các khoản tiền gửi tiết kiệm cá nhân Trong trường hợp
đó thì các cổ đông, chính quyền địa phương, chính quyền trung ương hoặc NHTW phải cungứng tiền để bù đắp cho việc chi trả
- Thiếu cơ sở hành lang pháp lý: Vì chưa có luật cụ thể cho việc đóng cửa và cho phá sản
các định chế tài chính, nên gặp rất nhiều khó khăn cho các định chế đó phá sản Việc choGITIC phá sản phải thực hiện dựa trên luật phá sản chung cho các doanh nghiệp
- Các khoản lỗ không được giải quyết triệt để: Mặc dù công ty quản lý tài sản ra đời để xử
lý nợ xấu cho các NHTM nhà nước, nhưng vấn đề ai là người xử lý các khoản lỗ cuối cùngvẫn không được giải quyết Trong một số hoàn cảnh cụ thể, NHTW cần phải sử dụng quỹcông để xử lý vấn đề này, nhưng khi đó ngân sách trung ương không thể bố trí nguồn vốn choviệc xử lý đó Vì vậy, một số khoản lỗ được NHTW xử lý theo phương thức như các khoản
nợ của NHTW
- Các NHTM lớn không sẵn lòng tham gia bảo hiểm tiền gửi: Tại Trung Quốc, bốn ngân
hàng lớn nhất chiếm 63% thị trường nợ và tiền gửi Do vậy, nếu cơ quan thẩm quyền yêu cầu
4 ngân hàng lớn nhất tham gia tổ chức bảo hiểm tiền gửi thì họ phải thực hiện phần đóng góprất lớn Trong khi đó, cuộc khủng hoảng tài chính 1997 tại Trung Quốc chủ yếu cứu vãn cácđịnh chế tài chính nhỏ, chính vì vậy các ngân hàng lớn không sẵn lòng tham gia bảo hiểmtiền gửi Tuy nhiên, nếu 4 ngân hàng đó không tham gia tổ chức bảo hiểm tiền gửi, thì khôngcông bằng đối với các định chế tài chính khác và hơn nữa là các khoản đóng góp cho cơ quanbảo hiểm tiền gửi sẽ rất nhỏ, không đủ chi trả người gửi
- Các nguyên tắc kế toán tài chính hiện hành không thể đáp ứng nhu cầu phát triển ngành
tài chính và cũng không thể hiện các nguyên tắc kế toán an toàn, chẳng hạn như việc tính
toán kỳ hạn các khoản phải thu lãi và nguyên tắc trích lập dự phòng cho các khoản nợ xấu
Trang 17Đặc biệt trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng chưa có quy chuẩn cho việc đánh giá
và tính toán tài sản ròng
- Tình trạng không có đủ và thiếu độ tin cậy của hồ sơ lưu trữ kinh doanh của các định chế
tài chính ở Trung Quốc và mức độ thiếu minh bạch thông tin đã gây khó khăn cho công việcsáp nhập, tái cơ cấu hoặc đóng cửa các định chế tài chính
- Sự can thiệp quá sâu của các cấp chính quyền địa phương: Một số định chế tài chính cần
phải tái cơ cấu do chính quyền địa phương quản lý toàn bộ hoặc một phần lớn; do vậy, cácchính quyền địa phương thường chỉ định ban giám đốc các định chế tài chính đó hoặc canthiệp qúa nhiều vào hoạt động kinh doanh của các định chế này Mặc dù các chính quyền địaphương chỉ chịu trách nhiệm hạn chế trong việc cung cấp nguồn lực cho việc sáp nhập, tái cơcấu, đóng cửa hoặc cho phá sản các định chế tài chính, nhưng họ thường can thiệp vào tất cảmọi công việc trong quy trình tái cơ cấu để phục vụ cho lợi ích riêng của mình Ngoài ra, việctái cơ cấu các định chế tài chính không thể thực hiện một cách công minh, bởi vì các banngành luật pháp thường phải tuân thủ chỉ thị của các cấp chính quyền địa phương
- Rào cản cho việc chuyển nhượng, phát mại hoặc chứng khoán hóa các tài sản có giá
trị: Khi nợ xấu của các ngân hàng được xử lý và các ngân hàng đóng cửa hay phá sản, thì có
nhiều rào cản cho việc chuyển nhượng, phát mại hoặc chứng khoán hóa các tài sản có giátrị Trước hết là do không có một thị trường tín dụng thứ cấp tại Trung Quốc, thứ hai là hầuhết các khoản tín dụng không có thế chấp rõ ràng, và thứ ba là có hàng loạt khó khăn về mặtpháp lý và những khó khăn khác trong việc đấu giá các tài sản thế chấp Vì vậy, giá cả thịtrường tài sản ròng của các định chế tài chính khó có thể thực hiện được, và tỷ lệ giữa giá trịthực và giá trị sổ sách của tài sản là rất thấp
Trên thực tế, công cuộc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng ở mỗi một quốc gia là đặcthù, xét đến điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội ở mỗi nước là khác nhau Hệ thống ngânhàng Việt Nam cũng không giống với bất kỳ một quốc gia nào khác, song có những néttương đồng với các nước châu Á như Malaysia hay Hàn Quốc, trên phương diện hệ thốngngân hàng Việt Nam có nhiều ngân hàng nhỏ, phân tán, thiếu những ngân hàng đủ lớn làmtrụ cột; tương đồng với Trung Quốc về văn hóa, mối quan hệ của hệ thống ngân hàng vàkhối DNNN Ngoài ra, điều kiện ở Trung Quốc có khác biệt bởi nước này đã có sẵn những
Trang 18ngân hàng trụ cột và rất lớn về mặt quy mô, song hoạt động không khỏe mạnh, cần được cải
tổ và tái cấu trúc
Như vậy, lộ trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể kết hợp tham khảonhững bài học thành công của các quốc gia này, trước hết là quá trình xây dựng hệ thốngngân hàng mạnh với những ngân hàng đủ lớn như ở Malaysia và Hàn Quốc, sau đó là thamkhảo những biện pháp quyết liệt của Chính phủ Trung Quốc nhằm nâng cao năng lực, hiệuquả, an toàn và chất lượng hoạt động của những ngân hàng trụ cột này, đáp ứng những tiêuchuẩn quốc tế và vươn tầm cạnh tranh khu vực Cũng như các quốc gia khác, tái cấu trúc hệthống ngân hàng ở Việt Nam là một bài toán khó, song nỗ lực để tái cấu trúc hệ thống ngânhàng của Chính phủ và NHNN Việt Nam với những bước đi cụ thể cho thấy viễn cảnh lạcquan về nền kinh tế khỏe mạnh và có sức thu hút lớn đối với các nhà đầu tư
1.6 Hàn Quốc
Năm 1997 hệ thống tài chính Hàn Quốc đứng bên bờ vực đổ vỡ do các tập đoàn đầu
tư dàn trải gây thua lỗ, nợ xấu các ngân hàng tăng cao Vậy nhưng bằng những chính sáchtái cấu trúc đúng hướng, chỉ sau 5 năm kinh tế Hàn Quốc đã “lột xác” Cuối năm 1997, khi
cuộc khủng hoảng tài chính châu Á lan rộng, Hàn Quốc đã phải vay tổng cộng 57 tỷ USD từ
Quỹ tiền tệ thế giới IMF để cứu nguy hệ thống ngân hàng và giúp nền kinh tế khỏi đổ vỡ.Đây là hậu quả của một thời gian dài chính phủ dễ dãi trong việc cấp tín dụng cho các tậpđoàn lớn khiến hoạt động đầu tư trở nên dàn trải, nợ xấu các ngân hàng tăng cao Ngân hàngtrung ương Hàn Quốc đã hành động rất mạnh tay Vậy nhưng bằng những chính sách tái cấutrúc đúng hướng, chỉ sau 5 năm kinh tế Hàn Quốc đã lấy lại thăng bằng và phát triển mạnh
mẽ cho đến tận ngày nay Có rất nhiều kinh nghiệm quý giá Việt Nam có thể học hỏi từ đấtnước xứ sở kim chi này
2.1.3 Nguyên nhân dẫn đên khủng hoảng tài chính : Sự nuông chiều với các chaebol và quả bom nợ xấu.
Năm 1960, với mục tiêu thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh dựa vào xuất khẩu,chính phủ Hàn Quốc đã có chính sách khuyến khích hình thành các tập đoàn lớn làm đầutàu cho nền kinh tế Khác với Việt Nam, các tập đoàn này đều là của tư nhân được quản trịtheo kiểu gia đình và được gọi là các chaebol Mối quan hệ dễ dãi quá mức giữa các chaebol
Trang 19và chính phủ Hàn Quốc khi đó đã giúp các tập đoàn này dễ dàng vay vốn từ ngân hàng Bêncạnh đó việc cho phép các chaebol đầu tư không hạn chế vào các tổ chức không phải ngânhàng trong những năm 1990 đã khiến các tập đoàn này mở rộng đầu tư quá mức và nợ nầnchồng chất Tính đến năm 1998, số nợ của các tập đoàn này đã tương đương 175% GDP củaHàn Quốc, dẫn đến thâm hụt tài khoản vãng lai Đáng chú ý là vào thời điểm đó, do chínhsách quản chặt dòng vốn đầu tư của nước ngoài, các khoản thâm hụt tài khoản vãng lai hầuhết được tài trợ bằng chính nguồn vốn vay ngắn hạn từ các định chế tài chính trong nước.Những định chế này lại đi vay các ngân hàng nước ngoài tại Hàn Quốc để có vốn cho vay.Việc này đã dẫn tới một lượng khổng lồ nợ vay ngắn hạn không ổn định từ nước ngoài.
Năm 1997, khi khủng hoảng nổ ra khiến hoạt động xuất khẩu giảm sút còn chínhsách tiền tệ bị thắt chặt, nhiều chaebol quy mô trung bình phá sản và các khoản nợ xấu tạicác định chế tài chính trong nước tăng vọt Lo ngại mất vốn, các ngân hàng nước ngoài ồ ạt
gõ cửa các ngân hàng, công ty tài chính Hàn Quốc đòi nợ Tuy nhiên các định chế tài chínhtrong nước không thể hoàn trả bởi họ đã đem nguồn vốn vay ngoại tệ ngắn hạn cho cácchaebol vay đầu tư dài hạn Và khi lượng dự trữ ngoại hối của nhà nước không đủ để cấpvốn ứng cứu thị trường, cuối năm 1997 chính phủ Hàn Quốc buộc phải cầu viện IMF
Có thể thấy 3 nguyên nhân chính dẫn tới khủng hoảng tài chính tại Hàn Quốc đó là:
sự quản lý của các cổ đông với các chaebol rất yếu kém do không có sự tách bạch rõ rànggiữa quan hệ sở hữu và quản lý (các chaebol thực chất là công ty gia đình và cổ phần do cáccông ty liên kết nắm giữ) Hai là, mặc dù các ngân hàng đã được cổ phần hóa nhưng chínhphủ vẫn có thể can thiệp vào quyết định cho vay của họ Và mối quan hệ dễ dãi quá mứcgiữa chính phủ và giới doanh nghiệp khiến các chaebol dễ dàng vay vốn ngân hàng Ba là,việc các tập đoàn được phép đầu tư không hạn chế vào các quỹ đầu tư, công ty tài chínhkhiến họ càng dễ dàng vay vốn từ các kênh này Một mặt họ tăng cường phát hành tráiphiếu và giấy tờ có giá trên thị trường vốn, mặt khác không ngừng vay từ các ngân hàng Vàchính các ngân hàng cũng đứng ra mua trái phiếu, giấy tờ có giá của chaebol
2.1.4 Tái cấu trúc hệ thống tài chính
Trước tình hình khủng hoảng nêu trên, chính phủ Hàn Quốc đã tung ra 3 biện pháp