1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ KỶ LUẬT THỊ TRƯỜNG VÀ MINH BẠCH THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

35 359 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 202,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những điều ước quốc tế được các nhà quản trị ngân hàng đặc biệt quantâm chính là hiệp ước quốc tế về an toàn vốn trong hoạt động ngân hàng - còn được biếtthông dụng với tên gọi

Trang 1

HỌ TÊN SINH VIÊN MSSV Dương Thị Hiền K094040543 Bùi Kim Ngân K094040572 Nguyễn Thị Trang K094040618

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO và đang trong tiến trình hội nhập quốc

tế Với xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá mạnh mẽ như hiện nay, kinh doanh Ngânhàng được xem là một trong những lĩnh vực hết sức nhạy cảm, phải mở cửa gần nhưhoàn toàn theo các cam kết quốc tế Trong bối cảnh chung đó, đòi hỏi hệ thống NHTMViệt Nam phải chủ động nhận thức và sẵn sàng tham gia vào quá trình hội nhập để có thểbiến thách thức thành cơ hội, biến những khó khăn thành lợi thế

Để hệ thống NHTM Việt Nam tham gia tốt hơn vào sân chơi chung quốc tế, nângcao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập, cần phải tuân thủ theo một số điều ướcquốc tế, để từ đó có cơ sở so sánh, đánh giá và xếp hạng giữa các ngân hàng Việt Namvới các ngân hàng nước ngoài của các quốc gia khác trên thế giới

Một trong những điều ước quốc tế được các nhà quản trị ngân hàng đặc biệt quantâm chính là hiệp ước quốc tế về an toàn vốn trong hoạt động ngân hàng - còn được biếtthông dụng với tên gọi Hiệp ước Basel Ra đời từ cách đây hơn 20 năm, hiệp ước nàyđược rất nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng làm chuẩn mực để đánh giá và giám sáthoạt động của hệ thống ngân hàng nước mình Hiện nay hiệp ước Basel đã có phiên bảnhai (được biết đến với tên gọi The New Basel Capital Accord) cập nhật, đổi mới một số

nội dung hơn so với phiên bản thứ nhất trước đó

Ớ Việt Nam, việc ứng dụng hiệp ước Basel này trong công tác giám sát và quản trịngân hàng vẫn còn nhiều vướng mắc, nên chỉ mới dừng lại ở việc lựa chọn một số tiêuchí đơn giản trong Hiệp ước Basel I để vận dụng và vẫn chưa tiếp cận nhiều với Basel II.Việc tuân thủ 3 trụ cột chính của Basel II vẫn chưa được triển khai mạnh mẽ, và đặc biệt

là các quy định về tuân thủ quy luật thị trường và vấn đề minh bạch thông tin của cácNHTM Việt Nam

Trang 3

1. BASEL

1.1 Lịch sử ra đời của Ủy ban Basel và các thành viên

Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking supervision BCBS) được thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các Ngân hàng Trung ương và cơquan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cáchngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80, trong đó đáng chú ýnhất là sự sụp đổ của ngân hàng Herstatt ở Tây Đức lúc bấy giờ Hiện nay, các thànhviên của Ủy ban gồm đại diện ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát hoạt độngngân hàng của các nước: Anh, Bỉ, Canada, Đức, Hà Lan, Hoa Kỳ, Luxembourg, Nhật,Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ và Ý Ủy ban được nhóm họp 3 - 4 lần trongmột năm

-Hội đồng thư ký của Ủy ban Basel được đề xuất bởi Ngân hàng Thanh toán Quốc

tế ở Basel, gồm 15 thành viên là những nhà giám sát hoạt động ngân hàng chuyên nghiệpđược biệt phái tạm thời từ các tổ chức tín dụng tài chính thành viên Ủy ban Basel và cáctiểu ban sẵn sàng đưa ra những lời tư vấn cho các cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng

ở tất cả các nước

Ủy ban Basel không có bất kỳ một cơ quan giám sát nào và những kết luận của Uỷban này không có tính pháp lý và yêu cầu tuân thủ đối với việc giám sát hoạt động ngânhàng Thay vào đó, Ủy ban Basel chỉ xây dựng và công bố những tiêu chuẩn và nhữnghướng dẫn giám sát rộng rãi, đồng thời giới thiệu các báo cáo thực tiễn tốt nhất trong kỳvọng rằng các tổ chức riêng lẻ sẽ áp dụng rộng rãi thông qua những sắp xếp chi tiết phùhợp nhất cho hệ thống quốc gia của chính họ Theo cách này, Ủy ban khuyến khích việc

áp dụng cách tiếp cận và các tiêu chuẩn chung mà không cố gắng can thiệp vào các kỹthuật giám sát của các nước thành viên

Ủy ban báo cáo thống đốc ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát hoạt độngngân hàng của nhóm G10 Từ đó tìm kiếm sự hậu thuẫn cho những sáng kiến của Ủyban Những tiêu chuẩn bao quát một dải rất rộng các vấn đề tài chính Một mục tiêu quantrọng trong công việc của Ủy ban là thu hẹp khoảng cách giám sát quốc tế trên hainguyên lý cơ bản là: (1) không ngân hàng nước ngoài nào được thành lập mà thoát khỏi

sự giám sát; và (2) việc giám sát phải tương xứng Để đạt được mục tiêu đề ra, từ năm

Trang 4

1975 đến nay, Ủy ban Basel đã ban hành rất nhiều văn bản, tài liệu liên quan đến vấn đềnày.

Vào năm 1988, Ủy ban đã quyết định giới thiệu hệ thống đo lường vốn mà nó được

đề cập như là Hiệp ước vốn Basel (the Basel Capital Accord) hay Basel I Hệ thống nàycung cấp khung đo lường rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu 8% Basel I khôngchỉ được phổ biến trong các quốc gia thành viên mà còn được phổ biến ở hầu hết cácnước khác có các ngân hàng hoạt động quốc tế Đến năm 1996, Basel I được sửa đổi vớirất nhiều điểm mới Tuy vậy, Hiệp ước vẫn có khá nhiều điểm hạn chế

Để khắc phục những hạn chế của Basel I, tháng 6/1999, Uỷ ban Basel đã đề xuất

khung đo lường mới với 3 trụ cột chính: (i) yêu cầu vốn tối thiểu trên cơ sở kế thừa Basel I; (ii) sự xem xét giám sát của quá trình đánh giá nội bộ và sự đủ vốn của các tổ chức tài chính; (iii) sử dụng hiệu quả của việc công bố thông tin nhằm làm lành mạnh kỷ

luật thị trường như là một sự bổ sung cho các nỗ lực giám sát Đến ngày 26/6/2004, bảnHiệp ước quốc tế về vốn Basel mới (Basel II) đã chính thức được ban hành

1.2 Những điểm cơ bản của Basel I và Basel II

1.2.1 Basel I

- Mục đích của Basel I: Củng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng quốc

tế; Thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm cạnhtranh không lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế

- Tiêu chuẩn của Basel I:

(1) Tỉ lệ vốn dựa trên rủi ro - “Tỉ lệ Cook”: tỉ lệ này được phát triển bởi BCBS vớimục đích củng cố hệ thống ngân hàng quốc tế, đối tượng ban đầu là những ngân hànghoạt động quốc tế, nhưng sau này đã được thực thi trên hơn 100 quốc gia Theo tiêuchuẩn này, ngân hàng phải giữ lại lượng vốn bằng ít nhất 8% của rổ tài sản, được tínhtoán theo nhiều phương pháp khác nhau và phụ thuộc vào độ rủi ro của chúng

Tỉ lệ thoả đáng về vốn (CAR) = Vốn bắt buộc / Tài sản tính theo độ rủi ro gia quyền (RWA)

Trang 5

Theo đó, ngân hàng có mức vốn tốt là ngân hàng có CAR > 10%, có mức vốnthích hợp khi CAR > 8%, thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khi CAR < 6% vàthiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2%.

(2) Vốn cấp 1, cấp 2 và cấp 3: Thành tựu cơ bản của Basel I là đã đưa ra được địnhnghĩa mang tính quốc tế chung nhất về vốn của ngân hàng và một cái gọi là tỷ lệ vốn antoàn của ngân hàng Tiêu chuẩn này quy định:

Vốn cấp 1 ≥ Vốn cấp 2 + Vốn cấp 3

Vốn cấp 1 là lượng vốn dự trữ sẵn có và các nguồn dự phòng được công bố, như làkhoản dự phòng cho các khoản vay, bao gồm: Vốn chủ sở hữu vĩnh viễn; Dự trữ công bố(Lợi nhuận giữ lại); Lợi ích thiểu số (minority interest) tại các công ty con, có hợp nhấtbáo cáo tài chính; Lợi thế kinh doanh (goodwill)

Vốn cấp 2 (Vốn bổ sung) gồm: Lợi nhuận giữ lại không công bố; Dự phòng đánhgiá lại tài sản; Dự phòng chung/dự phòng thất thu nợ chung; Công cụ vốn hỗn hợp; Vayvới thời hạn ưu đãi; Đầu tư vào các công ty con tài chính và các tổ chức tài chính khác.Vốn cấp 3 (Dành cho rủi ro thị trường) = Vay ngắn hạn

(3) Vốn tính theo rủi ro gia quyền:

RWA = Tổng (Tài sản x Mức rủi ro phân định cho từng tài sản trong bảng cân đối

kế toán) + Tổng (Nợ tương đương x Mức rủi ro ngoại bảng)

Basel I đưa ra trọng số rủi ro gồm 4 mức: quốc gia 0%; ngân hàng 20%; doanhnghiệp 100% Trọng số rủi ro không phản ánh độ nhạy cảm rủi ro trong mỗi loại này

- Những thiếu sót của Basel I: Sau khi rủi ro tín dụng được thiết lập vào năm

1988, Uỷ ban Basel đã chuyển sự chú ý của họ sang rủi ro thị trường để phản ứng lại cáchoạt động kinh doanh chuyên hữu ngày càng tăng của các ngân hàng thương mại và đếnnăm 1996, Basel I đã được sửa đổi với mục đích tính đến cả phí vốn đối với rủi ro thịtrường

Mặc dù vậy, Basel I vẫn có khá nhiều điểm hạn chế Một trong những điểm hạn chế

cơ bản củaBasel I là không đề cập đến một loại rủi ro đang ngày càng trở nên phức tạp

với mức độ ngày càng tăng lên, đó là rủi ro vận hành (không có yêu cầu vốn dự phòng

Trang 6

rủi ro vận hành) Ngoài ra, còn một số điểm hạn chế khác, như: không phân biệt theo loại rủi ro, không có lợi ích từ việc đa dạng hóa…

1.2.2 Basel II

- Mục tiêu của Basel II: Nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng

quốc tế; Tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trênbình diện quốc tế; Đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnhvực quản lý rủi ro

Hai mục tiêu đầu của Basel II là những mục tiêu chủ chốt của Hiệp ước vốn Basel

I Mục tiêu cuối cùng là mới, đó là dấu hiệu của việc bắt đầu chuyển dần từ cơ chế điềutiết dựa trên tỷ lệ, mà đó chỉ là một phần của khung mới, hướng đến một sự điều tiết mà

sẽ dựa nhiều hơn vào các số liệu nội bộ, thông lệ và các mô hình

- Basel II sử dụng khái niệm“Ba trụ cột”:

(1) Trụ cột thứ I: liên quan tới việc duy trì vốn bắt buộc Theo đó, tỷ lệ vốn bắtbuộc tối thiểu (CAR) vẫn là 8% của tổng tài sản có rủi ro như Basel I Tuy nhiên, rủi rođược tính toán theo ba yếu tố chính mà ngân hàng phải đối mặt: rủi ro tín dụng, rủi rovận hành (hay rủi ro hoạt động) và rủi ro thị trường So vớiBasel I, cách tính chi phí vốnđối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi lớn, đối với rủi ro thị trường có sự thay đổi nhỏ,nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro vận hành Trọng số rủi ro của Basel IIbao gồm nhiều mức (từ 0%-150% hoặc hơn) và rất nhạy cảm với xếp hạng

(2) Trụ cột thứ II: liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, Basel IIcung cấp cho các nhà hoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so với Basel I Trụcột này cũng cung cấp một khung giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng đối mặt, như rủi

ro hệ thống, rủi ro chiến lược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý, màhiệp ước tổng hợp lại dưới cái tên rủi ro còn lại (residual risk)

Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám sát: Thứ nhất, các ngân

hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức độ đầy đủ vốn nội bộ theo danh mục

rủi ro và phải có được một chiến lược đúng đắn nhằm duy trì mức vốn đó Thứ hai, các

giám sát viên nên rà soát và đánh giá việc xác định mức độ vốn nội bộ và chiến lược củangân hàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỉ lệ vốn tối thiểu; giám sát

Trang 7

viên nên thực hiện một số hành động giám sát phù hợp nếu họ không hài lòng với kết

quả của quy trình này Thứ ba, Giám sát viên khuyến nghị các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định Thứ tư, giám sát viên nên can thiệp ở giai đoạn

đầu để đảm bảo mức vốn của ngân hàng không giảm dưới mức tối thiểu theo quy định và

có thể yêu cầu sửa đổi ngay lập tức nếu mức vốn không được duy trì trên mức tối thiểu.(3) Trụ cột thứ III: Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đángtheo nguyên tắc thị trường Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngânhàng phải công khai thông tin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đếnnhững thông tin liên quan đến mức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi rothị trường, rủi ro vận hành và quy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ronày

Như vậy, quá trình phát triển của Basel và những Hiệp ước mà tổ chức này đưa ra,các ngân hàng thương mại càng ngày càng được yêu cầu hoạt động một cách minh bạchhơn, đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn và do vậy, hy vọng sẽ giảmthiểu được rủi ro

1.2.3 Ưu điểm của Basel II so với Basel I

- Về cấu trúc và nội dung: Basel I tập trung vào một giải pháp quản lý rủi ro duy

nhất là “yêu cầu vốn tối thiểu” Trong khi, Basel II tập trung nhiều hơn vào các phươngpháp nội bộ của chính ngân hàng, đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát và kỷ luật trênnguyên tắc thị trường Do đó, quyền lực của các nhà quản lý quốc gia được tăng lên bởi

họ cần phải đánh giá sự đủ vốn của ngân hàng có tính đến đặc điểm rủi ro cụ thể của nó

- Về tính linh động của ứng dụng: Basel I quy định chung một chọn lựa cho tất cả

các ngân hàng Basel II linh hoạt hơn với một danh sách các phương pháp, các biện phápkhuyến khích để các nhà quản lý quốc gia và các ngân hàng chọn lựa

- Về tính nhạy cảm với rủi ro: Basel I đo đạc rủi ro quá sơ bộ Basel II nhạy cảm

hơn với rủi ro thông qua độ nhạy cảm của yêu cầu vốn đối với mức độ rủi ro tăng lên và

sự công khai bắt buộc một cách chi tiết về độ nhạy cảm rủi ro và chính sách rủi ro

- Về trọng số rủi ro: Basel I quy định từ 0 – 100 và ưu đãi hơn với các nước thuộc

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD- Organisation for Economic Co-operation

Trang 8

and Development) Basel II quy định từ 0 - 150 hoặc hơn và không có đặc quyền nào,bao gồm cả phân cấp bên trong và bên ngoài.

- Về kỹ thuật giảm rủi ro tín dụng: Basel I chỉ hỗ trợ và đảm bảo Basel II thừa

nhận về kỹ thuật giảm thiểu rủi ro tốt hơn, đưa ra nhiều kỹ thuật hơn như hỗ trợ, đảmbảo, phái sinh tín dụng, lập mạng lưới vị thế (position netting)

1.3 Thực tiễn áp dụng Basel II tại Châu Á:

Hầu hết các nhà quản lý ở Châu Á đều ủng hộ các mục tiêu chung của Basel II vàtin tưởng rằng khuôn khổ này sẽ đưa ra những khích lệ hơn nữa để cải thiện công tácquản lý rủi ro, cũng như các thay đổi khác nhằm bổ sung cho các mục tiêu giám sát của

họ Việc thực thi Basel II ở một số nước Châu Á cụ thể như sau:

Quốc gia Các cách tiếp cận rủi ro tín dụng Các cách tiếp cận rủi ro hoạt động

Trung Quốc Không áp

Không ápdụng

Không áp

Không ápdụng

Trang 9

(SA là cách tiếp cận chuẩn hóa; IRBF là cách tiếp cận cơ bản dựa trên xếp hạng nội bộ; IRBA là cách tiếp cận nâng cao dựa trên xếp hạng nội bộ; BIA là cách tiếp cận chỉ số cơ bản; AMA là cách tiếp cận đo lường tiên tiến)

Việc tiếp cận Basel II đòi hỏi kỹ thuật phức tạp và chi phí khá cao Đối với mộtnước có hệ thống ngân hàng mới đang ở giai đoạn phát triển ban đầu như Việt Nam, việc

áp dụng Basel II gặp nhiều khó khăn, thách thức và mất nhiều thời gian Tuy nhiên,trước xu thế hội nhập và mở cửa thị trường dịch vụ tài chính - ngân hàng với nhiều loạihình dịch vụ ngân hàng mới, việc áp dụng Basel II tại Việt Nam là yêu cầu cấp thiếtnhằm tăng cường năng lực hoạt động và giảm thiểu rủi ro đối với các ngân hàng thươngmại (NHTM)

Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, NHNN Việt Nam và các TCTD Việt Nam đã cónhiều nỗ lực trong việc hoàn thiện hệ thống pháp lý về tiền tệ và hoạt động ngân hàngcũng như nâng cao năng lực quản trị điều hành, đặc biệt là năng lực quản trị rủi ro củacác NHTM tiến dần từng bước đến các thông lệ và chuẩn mực quốc tế Theo đó, việctừng bước áp dụng các chuẩn mực của Basel II được đặc biệt chú trọng, nhất là sau cuộckhủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu thời gian qua

Về phía cơ quan quản lý, mới đây, NHNN Việt Nam đã ban hành quy định mới vềcác tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng (Thông tư số13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010) và đang khẩn trương hoàn thiện để ban hành quyđịnh mới về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng tronghoạt động của các tổ chức tín dụng Đây là bước tiến quan trọng trong việc từng bước ápdụng các chuẩn mực Basel II tại Việt Nam

Về phía các tổ chức tín dụng Việt Nam, Basel II đã có ảnh hưởng lớn trong việcnâng cao năng lực quản trị điều hành, nhất là năng lực quản lý rủi ro Bên cạnh việc tuânthủ các quy định bắt buộc của NHNN, các TCTD cũng đang rất nỗ lực để hoàn thiện hơnnữa hệ thống quản trị rủi ro của ngân hàng mình cho phù hợp với điều kiện hoạt động cụthể của mỗi ngân hàng và từng bước tiếp cận với các chuẩn mực của Basel II

Mặc dù được coi như một cơ chế quan trọng để đẩy mạnh cải cách và củng cố toàn

bộ công tác điều hành trong lĩnh vực tài chính, nhưng cuộc khủng hoảng tài chính hiệntại đã cho thấy những thiếu sót, bất cập của Basel II Một số thiếu sót cơ bản của Basel II

Trang 10

là thiếu yêu cầu về phí vốn thanh khoản, quá tin cậy vào cơ quan xếp hạng tín dụng vàbản chất có tính chu kỳ của nó.

Mới đây, lãnh đạo hàng đầu của các nền kinh tế thuộc G20 đã hối thúc Ủy banBasel đưa ra biện pháp cải thiện chất lượng và số lượng vốn của các ngân hàng và thắtchặt yêu cầu thanh khoản (Basel III) để các ngân hàng ứng phó tốt hơn với khủng hoảng

và ngăn khủng hoảng tài chính lặp lại mà không cần đến hỗ trợ từ chính phủ Theo dựthảo đưa ra tại G20, đến cuối năm 2012, Basel khuyến cáo các nước cần áp dụng tiêuchuẩn mới về vốn và đưa ra các biện pháp linh hoạt hơn để khuyến khích các ngân hàngthay đổi

Trụ cột thứ ba làm gia tăng một cách đáng kể các thông tin mà một ngân hàng phảicông bố Trụ cột này bao gồm các điều từ điều khoản 757 đến 775 theo quy định củaBasel II quy định cụ thể, rõ ràng về cách công bố các thông tin của ngân hàng Phần nàyđược thiết kế để cho phép thị trường có một bức tranh hoàn thiện hơn về vị thế rủi rotổng thể của ngân hàng và cho phép các đối tác của ngân hàng định giá và tham giachuyển giao một cách hợp lý Trụ cột này yêu cầu mức độ minh bạch thông tin một cáchtoàn diện, bao gồm công bố chất lượng và số lượng để đánh giá rủi ro lãi suất, rủi ro hoạtđộng của ngân hàng, công bố cho các ngân hàng về sử dụng cách tiếp cận mô hình nội

bộ (IMA) đối với danh mục tài sản mua và bán để đánh giá rủi ro thị trường, giảm thiểurủi ro tín dụng bằng cách công bố cách tiếp cận chuẩn hóa và IRB, minh bạch về vốn và

cơ cấu vốn của ngân hàng,…

Nội dung cơ bản của trụ cột ba:

 Nhấn mạnh tiềm năng đối với tính kỷ luật của thị trường đối với việc củng cốcác quy định về vốn và những nỗ lực thanh tra giám sát khác nhằm thúc đẩy sự an toàn

và sự lành mạnh trong các ngân hàng và các hệ thống tài chính

 Đưa ra một số đề nghị về công bố thông tin như yêu cầu bắt buộc, một vài đềnghị là những điều kiện tiên quyết đế chấp thuận việc thanh tra giám sát Việc công bốthông tin cốt lõi chuyển tải những thông tin mang tính sống còn cho tất cả các định chế

và quan trọng cho tính kỷ luật của thị trường Việc công bố thông tin phụ thuộc vào “tínhtrọng yếu” Thông tin là “quan trọng” nếu việc bỏ lỡ thông tin này có thể thay đổi hoặc

Trang 11

ảnh hưởng đến việc đánh giá hoặc ra quyết định của người sử dụng dựa trên thông tin đó.Các công bố thông tin bổ sung có thê chuyển tải thông tin đáng kể cho các hành động kỷluật của thị trường đối với một định chế cụ thể nào đó.

2.1 Trụ cột 3, một bước tiến quan trọng đối với báo cáo thị trường

Trong những năm gần đây, các nhà hoạch định chính sách như Hội đồng Chuẩnmực kế toán quốc tế (IASB) và Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel) có thực hiệncác bước tiến quan trọng để cải thiện thị trường báo cáo theo IFRS 7 và trụ cột 3 củaKhung điều chỉnh quốc tế về các tiêu chuẩn và đo lường vốn (Basel II) tương ứng Đặcbiệt, trụ cột 3 với mục tiêu là để nâng cao kỷ luật thị trường thông qua công bố công khaimột cách hiệu quả để bổ sung cho yêu cầu của trụ cột 1 và trụ cột 2 Cuối cùng, trụ cột 3

đã đưa ra rất nhiều những yêu cầu công bố mới, thể hiện sự tăng lên về số lượng thôngtin công bố công khai của các ngân hàng xung quanh cơ cấu vốn, an toàn vốn, quản trị và

đo lường rủi ro IFRS 7 có hiệu lực bắt đầu vào hoặc sau ngày 01 tháng 1 năm 2007 Cácngân hàng áp dụng Basel II vào năm 2007 phải công bố dữ liệu như trong trụ cột 3 quyđịnh Đối với những ngân hàng khác, chẳng hạn như ngân hàng châu Âu áp dụng Basel

II vào tháng Giêng năm 2008, trụ cột 3 phải được thực hiện lần đầu tiên ngay trong nămtài chính kết thúc năm 2008 Đối với những ngân hàng chưa bắt đầu áp dụng trụ cột 3 cóthể học tập được từ những kinh nghiệm quý giá từ những ngân hàng đã áp dụng trước.Tóm lại, trụ cột 3 công khai bao gồm các quan điểm định tính và định lượng trên cáckhía cạnh sau đây:

 Phạm vi áp dụng của khung an toàn vốn;

 Cơ cấu vốn và an toàn vốn;

 Rủi ro tín dụng (yêu cầu được mở rộng cho các ngân hàng áp dụng nhiềuphương pháp tiếp cận nâng cao: lãi suất cơ bản nội bộ, hoặc IRB);

Trang 12

 Rủi ro hoạt động (yêu cầu là lựa chọn hợp lý hơn cho các ngân hàng áp dụngcác phương pháp tiếp cận đo lường nâng cao, hoặc AMA)

Ngoài ra, các ngân hàng phải giải thích theo phương pháp tiếp cận của họ về antoàn vốn nội bộ theo tiến trình đánh giá (ICAAP) dưới trụ cột 2 Tuy nhiên, không giốngnhư IFRS 7, Basel II không yêu cầu công bố cụ thể về rủi ro thanh khoản Điều quantrọng cần lưu ý rằng những công bố liên quan đến cơ cấu vốn và an toàn vốn, cũng nhưnhững yếu tố liên quan đến ICAAP, không những phải được công bố hợp nhất mà cònphải công bố riêng biệt cho từng công ty con Điều này tạo thêm gánh nặng cho các tổchức hoạt động quốc tế có hoạt động tại một số quốc gia

Về bản chất, trụ cột 3 công bố rất nhiều các thông tin đã thu thập được thông qua

sự chuẩn bị cho trụ cột 1, bởi vì nhiều dữ liệu công bố theo yêu cầu của Trụ cột 3 cũngđược sử dụng trong các báo cáo về yêu cầu vốn tối thiểu theo Trụ cột 1 Tuy nhiên, cácngân hàng không nên đánh giá thấp việc nỗ lực thực hiện quá trình công bố thông tintheo trụ cột 3, và có lẽ quan trọng hơn, họ không nên bỏ qua ý nghĩa của chiến lượctruyền thông liên quan đến việc công bố thông tin này

2.2 Sớm thiết lập một cơ cấu quản lý chặt chẽ là rất quan trọng

Thách thức đầu tiên mà ngân hàng phải đối mặt khi chuẩn bị cho công bố thông tintheo trụ cột 3 là thiết lập một cơ cấu quản trị xung quanh quá trình công bố Do đa dạngcủa các đơn vị tổ chức tham gia, một trong những rủi ro chính liên quan đến việc thựchiện công bố thông tin là thiếu quyền sở hữu toàn bộ quá trình, và /hoặc sự tham giamuộn các bên liên quan Thông thường, thực hiện thành công trụ cột 3 ban đầu đòi hỏi

sự tài trợ của các giám đốc tài chính và những người liên quan, để đảm bảo rằng tất cảcác yếu tố đầu vào được xem xét và chịu trách nhiệm, được xác định bao gồm:

 Hội đồng quản trị (phải phê duyệt chính sách công bố chính thức);

 Tài chính và kế toán (thường chịu trách nhiệm chính về tài chính và báo cáoquản lý);

 Quản lý rủi ro (phần lớn các dữ liệu cần được công bố theo Trụ cột 3);

 CNTT (chịu trách nhiệm cho việc thiết kế và bảo trì bộ sưu tập dữ liệu);

Trang 13

 Kiểm toán nội bộ/ kiểm toán độc lập (phụ thuộc vào việc có được công bốtrong các báo cáo tài chính hay có nhất quán với các dữ liệu trong các báo cáo tài chínhhay không);

 Thông tin liên lạc bên ngoài / nhà đầu tư quan hệ (xác định tổng thể chiếnlược truyền thông xung quanh rủi ro quản lý và đảm bảo tính nhất quán của các thôngđiệp giữa tất cả các khía cạnh của báo cáo thị trường)

2.3 Trụ cột 3 thể hiện số lượng lớn dữ liệu và tiến trình thách thức

Một khi cơ cấu quản trị được thành lập, thử thách tiếp theo xoay quanh mức độ cósẵn và chất lượng của dữ liệu Trong khi khoảng 80% số liệu và các thuyết minh thôngtin định lượng của Trụ cột 3 có sẵn từ dữ liệu tích lũy cho Trụ cột 1, các ngân hàngkhông phải lúc nào cũng đáp ứng được yêu cầu của trụ cột 3 khi đáp ứng trụ cột 1 Theo

đó, dữ liệu không phải lúc nào cũng được tổ chức theo cùng một cách để có thể dễ dànglấy ra và công bố công khai Ngoài ra, những công bố chắc chắn đến từ ghi chép kế toán,chẳng hạn như tiếp cận dư nợ tín dụng cuối kỳ và dư nợ trung bình, những thay đổi trong

dự phòng rủi ro cho vay, hoặc số tiền cho vay suy giảm Một rắc rối tiềm tàng phát sinhkhi mà các thông tin kế toán hợp nhất công bố không trùng khớp với các thông tin đượcyêu cầu công bố trong trụ cột 3, ví dụ như do sự loại trừ hoạt động bảo hiểm hoạt độngtrong Basel II Do đó, phương pháp cách tiếp cận nguồn dữ liệu cho Trụ cột 3 là chìakhóa để đảm bảo rằng sự chênh lệch dữ liệu sớm được xác định và giải quyết

Ngoài việc dữ liệu có sẵn hay không, chất lượng dữ liệu cũng là một vấn đề lớn màcác ngân hàng phải xử lý Trong lịch sử, các dữ liệu rủi ro được sử dụng trong quá trìnhquản trị rủi và chỉ lưu hành nội bộ, và không được kiểm định "chất lượng” - sau đó, 90%hoặc 95% có thể được dùng cho đo lường rủi ro và thông tin quản trị mục tiêu Chú ýrằng chất lượng của dữ liệu công bố trong IFRS 7 đã được cải thiện đã đáng kể Kể đếnnhững kinh nghiệm này, chúng tôi hy vọng rằng chất lượng dữ liệu trong quản trị rủi rokhác của hầu hết các ngân hàng được cải thiện

Trụ cột 3 yêu cầu phải có kiểm soát nội bộ một cách thích hợp trong việc công bốthông tin đúng chỗ Ngoài ra, các ngân hàng phải có quá trình xác nhận độc lập Đây làmột yêu cầu pháp định; do đó nguồn nhân viên độc lập, tay nghề cao cần phải có mặt để

Trang 14

thực hiện vai trò này Những nhân viên có kinh nghiệm trong kiểm toán nội bộ có thểthực hiện nhiệm vụ này.

Đối với các ngân hàng chịu sự quản lý của Ủy ban chứng khoán và sàn giao dịch(SEC), luật Sarbanes-Oxley cũng sẽ áp dụng yêu cầu công bố thông tin như trong trụ cột

3 nếu chúng được tiến hành trong các báo cáo tài chính hoặc do SEC đệ trình Số ít ngânhàng trên thế giới vẫn chưa được quản lý đầy đủ sự phụ thuộc lẫn nhau giữa Sarbanes-Oxley và Basel II Người ta mong chờ có rất nhiều điều chỉnh theo yêu cầu Basel II (ví

dụ mô hình quá trình xác nhận dưới trụ cột 1, quản trị và giám sát quá trình theo Trụ cột2) sẽ là một bước tiến dài để thực hiện những yêu cầu của Đạo luật Sarbanes-Oxley Tuynhiên, kiểm soát cần thiết cho Đạo luật Sarbanes-Oxley xung quanh bảng tính và ứngdụng CNTT có thể không được xem xét đầy đủ cho các mục đích của Basel II

2.4 Các ngân hàng cần thiết lập chiến lược truyền thông và công bố thông tin mạch lạc xoay quanh việc quản trị rủi ro.

Đây có lẽ là vấn đề chiến lược nhất các ngân hàng sẽ cần phải xem xét, như trụ cột

3 sẽ làm tăng đáng kể khối lượng thông tin công bố công khai xoay quanh những rủi ro,đặc biệt là rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động cũng như đề cập ở trụ cột 2 Điều này trùnghợp với những quy định công bố theo yêu cầu của IFRS 7, tiêu chuẩn IFRS quy địnhcông bố thông tin về các công cụ tài chính Đặc biệt, liên quan đến tín dụng và rủi ro thịtrường, phần lớn thông tin định tính có thể và nên được liên kết Tương tự như vậy, cómột số lượng đáng kể số liệu công bố chồng chéo nhau, chẳng hạn như các phân tích rủi

ro tín dụng và đo lường giá trị tại mức rủi ro Tuy nhiên có sự khác biệt giữa hai IFRS 7

và trụ cột 3 Ví dụ, trụ cột 3 không bao gồm rủi ro thanh khoản và IFRS 7 không đề cậptới rủi ro hoạt động

Để thuyết minh cho hình ảnh một thị trường tài chính một cách mạch lạc và đángtin cậy, cần phải có sự nhất quán giữa rủi ro theo IFRS và thể hiện vấn đề quản trị vốntương ứng ở trụ cột 3 Vượt ra ngoài IFRS 7, các ngân hàng sẽ cần phải xem xét sự phùhợp của Trụ cột 3 và công bố những thông tin quản lý rủi ro khác Đây là chìa khóa trongviệc đáp ứng nhu cầu của các cơ quan quản lý, các nhà phân tích và nhà đầu tư, cho phùhợp hơn và thông tin sâu sắc về rủi ro và quản lý vốn, và kết quả của nó Trong khi mộtcách tiếp cận minh bạch hơn để công bố có thể sẽ đưa ngân hàng đến sự giám sát, chắc

Trang 15

chắn là vì lợi ích của những người mà có thể chứng minh rõ ràng thế mạnh của mìnhtrong lĩnh vực đó.

Kinh nghiệm cho thấy nhóm rủi ro quản trị và kế toán không phải lúc nào cũng kếthợp với nhau hiệu quả Trong bối cảnh thực hiện trụ cột 3 và IFRS 7, nếu không làmđược như vậy sẽ có khả năng làm tăng chi phí của việc tuân thủ với các yêu cầu này, và

tệ hơn nữa các thông tin đưa ra có thể không phù hợp Dù bắt đầu từ nguồn nào đi nữathì những thông tin công bố cũng phải nhất quán và phản ánh quan điểm của người quản

lý Do đó các thông tin đồng bộ gửi từ CEO tới các cổ đông, bằng tất cả các cách phảiđược các kế toán ghi chép, cần thiết phải tuân thủ Trụ cột 3 Điều này đòi hỏi sự nỗ lựcphối hợp giữa tất cả các bên liên quan, trong đó tiếp tục nhấn mạnh cần thiết sự mạnh

mẽ trong cơ cấu quản trị như nêu trên

Một vấn đề nữa mà cần phải được xem xét bởi bộ phận nhà đầu tư là mức độ tinh

tế, chi tiết mà ngân hàng đã có thể đạt được dưới Basel II sẽ ngay lập tức được nhìnnhận Dưới Basel I, tất cả các ngân hàng là đối tượng của cùng một bộ quy tắc, và nhữngcon số chỉ quan tâm đến là tỷ lệ an toàn vốn của mình Basel II cho phép một loạt cácphương pháp tiếp cận khác nhau được thông qua, với sự gia tăng mức độ chi tiết DướiTrụ cột 3, một ngân hàng áp dụng phương pháp tiếp cận nào phải được minh bạch Cácnhà đầu tư và các nhà phân tích phản ứng thế nào nếu, nói, Ngân hàng A chỉ áp dụngphương pháp tiếp cận cơ bản, trong khi các ngân hàng khác đã áp dụng phương pháptinh vi hơn? Có nói lên được điều gì về mức độ tinh vi, chi tiết và / hoặc chất lượng dữliệu trong ngân hàng A so với các ngân hàng khác?

Ngoài ra, Trụ cột 3 tăng đáng kể mức độ chi tiết các thông tin được tiết lộ và có thểđược sử dụng bởi các nhà đầu tư, các nhà phân tích và viện nghiên cứu đánh giá để sosánh và phân tích rủi ro của từng ngân hàng Ví dụ, trụ cột 3 sẽ tạo cơ hội cho các nhàphân tích và những người khác các chuẩn dữ liệu quan trọng (ví dụ xác suất vỡ nợ (PD))đối từng ngân hàng đối và các ngân hàng khác trong cùng nhóm của nó Điều này chắcchắn sẽ đặt ra một số câu hỏi về chất lượng tài sản, trích lập dự phòng, sức mạnh củahoạt động quản trị rủi ro và / hoặc độ tin cậy của dữ liệu được công bố

Khối lượng công việc liên quan đến việc giải thích những con số phức tạp từ Basel

II cũng không nên đánh giá thấp, đặc biệt là trong những năm đầu, khi mà các ngân hàng

Trang 16

còn đang áp dụng hỗn hợp các phương pháp tiếp cận trong giai đoạn chuyển tiếp Cácnhà đầu tư và các nhà phân tích có thể đưa ra kết luận dựa trên sự hiểu biết đầy đủ về cáccon số Ví dụ, đối với các ngân hàng áp dụng phương pháp tiếp cận IRB, tính chu kỳtrong các tài sản rủi ro được nhấn mạnh trong tính toán - trong thời kỳ suy thoái kinh tế,tính chu kỳ được khách hàng kỳ vọng giảm xuống và / hoặc khả năng vỡ nợ tăng Điềunày cho kết quả là sự gia tăng khối lượng tài sản rủi ro trong bảng cân đối và gây áp lựclên tỷ lệ an toàn vốn Rất khó để tăng vốn trong hoàn cảnh kinh tế như vậy

Hơn nữa, tỷ lệ vốn cấp 1 và tỷ lệ an toàn vốn mục tiêu, mà theo các quy định hiệnhành được đưa ra so sánh giữa các ngân hàng, bây giờ còn phụ thuộc vào phương pháptiếp cận Basel II đã được lựa chọn Ví dụ, làm thế nào để bạn so sánh tỷ lệ vốn cấp 1mục tiêu là 7% cho một ngân hàng áp dụng phương pháp tiếp cận đúng so với một ngânhàng IRB?

Một vấn đề tương tự như phát sinh đó là các quy định quốc gia lệch với các quy tắc

cơ bản, đặc biệt là tại các quốc gia bảo thủ Ví dụ, trường hợp của Úc, cơ quan quản lý

đã áp đặt mức tối thiểu là 20% tổn thất nhất định (LGD) bảo đảm bất động sản (trên 10%

so với khuôn khổ Basel) và đòi hỏi phải có vốn bù đắp rủi ro lãi suất của ngân hàng làmột phần yêu cầu về vốn tối thiểu trong trụ cột 1 Kết quả là ngân hàng Úc sẽ có tỷ lệ antoàn vốn thấp hơn so với các ngân hàng quốc tế khác, điều này có thể bị hiểu sai

2.5 Các bước trong quá trình triển khai thực hiện trụ cột 3

Không nên đánh giá thấp các nỗ lực liên quan đến việc triển khai thực hiện công bốthông tin theo Trụ cột 3 Dựa trên sự am hiểu sâu sắc các bước, ngân hàng có thể tiếp cận

dự án này như sau:

 Thiết lập cấu trúc dự án riêng biệt bởi nhà quản lý (ví dụ như giám đốc tàichính);

 Thiết lập chính sách quyết định theo trụ cột 3, chẳng hạn như việc công bốthông tin ở đâu, tần suất, phạm vi công bố, ý nghĩa của các thông tin,… Tách bạch cácthông tin công bố trên các báo cáo thường niên đã kiểm toán với các thông tin trên cácphương tiện truyền thông khác, chẳng hạn như các trang web, có thể là một thách thứclớn;

Trang 17

 Xác định những mức độ khác so với những yêu cầu mà Trụ cột 3 công bố đểthực hiện;

 Thực hiện phân tích của những thông tin cần thiết để bổ sung thông tin chotrụ cột 1;

 Thực hiện một phân tích những thông tin nội bộ và bên ngoài, góp phần giámsát theo yêu cầu Basel II;

 Thực hiện phân tích sự chồng chéo thông tin công bố giữa Trụ cột 3 với rủi rođược công khai tiết lộ và thông tin về quản trị vốn theo các chuẩn mực khác (ví dụ IFRS7);

 Thiết kế các mẫu thông tin công bố đáp ứng các yêu cầu của Trụ cột 3 và cácyêu cầu công bố thông tin khác;

 Nguồn thông tin bao gồm các dữ liệu có sẵn trên các hệ thống và xác định cácnhững khoảng trống dữ liệu;

 Xác định kiến trúc CNTT cho dữ liệu thu thập, tổng hợp và báo cáo;

 Thiết lập một quá trình xác nhận xung quanh việc công bố thông tin theo Trụcột 3;

 Giai đoạn đầu cần xác định chiến lược thông tin và quan hệ nhà đầu tư ;

 Công bố thông tin

TRƯỜNG VÀ MINH BẠCH THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

3.1 Bối cảnh kinh tế

Từ năm 2008 đến nay, trong bối cảnh thị trường thế giới khó khăn, giá lương thực,thực phẩm và nguyên vật liệu cơ bản biến động phức tạp… tình hình kinh tế vĩ mô củaViệt Nam cũng có những diễn biến phức tạp Sau những khó khăn về kinh tế năm 2008,

2009, bước sang năm 2010, nền kinh tế có dấu hiệu ổn định hơn, nhưng từ đầu năm 2011đến nay, một số vấn đề kinh tế vĩ mô lại nổi lên: tỷ lệ lạm phát gia tăng rồi lại chuyểnsang bắt đầu có dấu hiệu giảm so với mục tiêu điều hành (CPI tháng 6/2012 giảm 0,26%

Ngày đăng: 09/04/2015, 10:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w