ngônngữ là yếu tố quan trọng để phát triển tâm lí, tư duy của con người và xã hội loàingười.” Trong thực tế hiện nay việc dạy và học môn Tiếng Việt vẫn còn nhiều vấn đềkhúc mắc, đặc biệt
Trang 1A CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Năm học 2013 – 2014 thực hiện đổi mới chương trình thay sách giáo khoa bậcTiểu học đã hơn 10 năm ( 2002 – 2013 ) Cùng với vấn đề trên thì mục tiêu giảngdạy trong nhà trường có nhiều đổi mới cả về chương trình, nội dung, phương pháp
và hình thức tổ chức dạy và học để phù hợp với xu thế chung Trong đó, việc đổimới phương pháp dạy, hình thức tổ chức còn có nhiều nguyên nhân cả khách quancũng như chủ quan dẫn đến việc bất cập chưa theo kịp xu thế
Chúng ta ai cũng biết tiếng Việt ảnh hưởng rất lớn đến trình độ học Toán vàcác môn học khác Vì vậy phải làm thế nào để rèn kỹ năng ngôn ngữ cho học sinhnhư: nghe, nói, đọc, viết nhằm giúp các em sử dụng tiếng Việt có hiệu quảtrong học tập giao tiếp hằng ngày tốt hơn Theo quan điểm của triết học Mác – LêNin thì “Ngôn ngữ là phương tiện để con người giao tiếp trong xã hội; ngônngữ là yếu tố quan trọng để phát triển tâm lí, tư duy của con người và xã hội loàingười.”
Trong thực tế hiện nay việc dạy và học môn Tiếng Việt vẫn còn nhiều vấn đềkhúc mắc, đặc biệt ở phân môn Tập Đọc cả về phía giáo viên và học sinh Mỗi giờdạy Tập Đọc là mỗi giờ giáo viên phải vất vả, khó khăn để truyền thụ kiến thứccho các em, mà đa số đối tượng học sinh là người dân tộc thiểu số Cùng với thựchiện đổi mới chương trình thay sách giáo khoa, nên việc giảng dạy vẫn còn gặprất nhiều khó khăn, nhất là phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Bởi nếuchỉ đổi mới về nội dung, chương trình sách giáo khoa mà không ngừng đưa ra cácphương pháp, hình thức tổ chức dạy học mới phù hợp với mục tiêu bài giảng thìhiệu quả không cao
Để nâng cao hiệu quả dạy và học môn Tiếng Việt bậc Tiểu học nói chung vàLớp 3 nói riêng Người giáo viên áp dụng tốt các phương pháp dạy học tích cực,cùng với kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy bộ môn Tiếng Việt Giữ đúng vai
Trang 2trò là người thiết kế, chỉ đạo các hoạt động học tập của học sinh, hướng dẫn họcsinh tìm hiểu và đạt được mục tiêu của mỗi bài tập đề ra.
- Giúp học sinh phát huy tích cực, tự giác chủ động tìm tòi, khám phá nội dungbài học Học sinh hiểu được tầm quan trọng của bộ môn Tiếng Việt với chính bảnthân, với đời sống gia đình, với sự phát triển của xã hội và đất nước
- Giúp học sinh có kỹ năng đọc diễn cảm, vận dụng thực hành nội dung kiếnthức môn Tiếng Việt vào thực tế cuộc sống của bản thân và gia đình, biết thựchiện nếp sống văn hóa
Qua quá trình dạy học thực tế và theo chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt
ở bậc Tiểu học nói chung và cụ thể Tập Đọc từ lớp 1 đến lớp 5 nói riêng Trongquá trình công tác và giảng dạy ở vùng đồng bào đa số là người dân tộc Hre Tôi
đã nhận thấy việc nói và viết tiếng Việt của các em còn sai nhiều, đặc biệt là đọcthế nào viết thế đó Sử dụng từ và đặt câu còn gặp nhiều khó khăn, với ngôn ngữcòn nghèo nàn nên khi nói và viết chưa lưu loát, sai lỗi còn nhiều Một số ( rất ít )các em đã học xong lớp 1; 2 vẫn chưa biết đọc, chưa biết viết; tệ hại hơn có em đãhoàn thành chương trình bậc Tiểu học vẫn chưa biết đọc Từ đó tôi nhận thấy một
số điều (chung ) bất cập sau:
- Học sinh học hết lớp 1 vẫn chưa biết đọc
- Học sinh đọc rất yếu ( đọc còn phải đánh vần và đọc chậm )
- Học sinh phát âm còn sai nhiều
- Học sinh đọc ngắt, nghỉ hơi chưa đúng chỗ
- Học sinh chưa hiểu các từ ngữ trong văn bản, nhất là các từ ngữ mới
- Nội dung bài Tập Đọc khá dài, trong khi đó học sinh đọc chậm dẫn đến trong
40 phút rất khó cho giáo viên hoàn thành bài dạy
- Học sinh còn đọc vẹt ( đọc theo giáo viên, theo bạn mà một lúc sau khôngđọc được, không hiểu nội dung bài đọc )
Trong khi đó Tập đọc là phân môn rất quan trọng trong chương trình bậc Tiểuhọc Nó là một công cụ tư duy giúp học sinh diễn đạt ý tưởng của mình một cách
rõ ràng và đúng nghĩa Nếu học tốt bộ môn này nó sẽ giúp các em học tốt hơn các
Trang 3phân môn của bộ môn Tiếng Việt, như giúp thêm cho phân môn Tập Làm Văn –
vế câu sẽ trau chuốt hơn, diễn đạt bằng ngôn ngữ rõ ràng mạch lạc; biết sàng lọc
để viết thành những câu văn hay trong bài Nó còn giúp cho phân môn Chính Tảnhư viết đúng, ít lỗi hơn Trong phân môn Kể Chuyện, các em sẽ biết cách kể hay,hấp dẫn người nghe hơn v.v Rất nhiều bài Tập Đọc ở tất cả các lớp là ngữ liệudạy học cho các phân môn khác trong môn Tiếng Việt
Chính vì kỹ năng đọc các em còn rất yếu, dẫn đến kết quả học tập chưa cao
Cụ thể: Năm học 2011- 2012 tôi trực tiếp giảng dạy lớp 3, qua khảo sát chấtlượng đầu năm của lớp tôi, với phân môn Tập Đọc là:
- TSHS: 27 em ( 100% các em là người dân tộc Hre ), trong đó:
+ Biết đọc to, rõ ràng, ngắt nghỉ hơi đúng: chiếm 14.8%
+ Đọc ở mức trung bình; chưa nắm được nội dung bài: chiếm 74.1%
+ Chưa biết đọc: chiếm 11.1%
Dựa vào thực tế của lớp, tôi nhận thấy các em còn học rất yếu về phân mônTập Đọc, kéo theo các môn học khác các em cũng không thể học tốt được
Làm thế nào để dạy cho các em viết được, đọc được, đến đọc thông viết thạo
và hiểu được nội dung của bài Tập Đọc Đây là vấn đề đang được Xã hội; ngànhgiáo dục và đặc biệt là những giáo viên trực tiếp giảng dạy đối tượng học sinh làngười đồng bào dân tộc, quan tâm
Chính vì lẽ đó, ngay từ đầu năm học tôi đã nghiên cứu kĩ chương trình, mụctiêu cần đạt được đối với môn học để có hướng và biện pháp phù hợp trong giảngdạy phân môn Tập Đọc, nhằm nâng cao hiệu quả nhất Đó chính là lý do để tôichọn đề tài này
Trang 4B CHƯƠNG 2
NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÍ LUẬN:
1 Đặc điểm tâm, sinh lí
- Ở lứa tuổi này cơ thể của các em phát triển khá hoàn thiện, bộ máy cấu âmcũng khá hoàn chỉnh Song đặc điểm tâm, sinh lí nổi bật của các em là:
+ Còn ham chơi: Vì các em chưa quan tâm đến việc học tập và do phong tụctập quán của người dân, khi cần các em có thể bỏ học nhiều ngày để đi chơi.Nhiều em đến lớp chỉ với mục đính đơn giản là có nhiều bạn để chơi
+ Rụt rè, nhút nhát: Cho dù các em đã học đến lớp 3, đã quen với trường lớp,bạn bè, thầy cô, nhưng các em vẫn không tự tin vào mình Trong học tập, thầy côhỏi thì cứ ngồi lì một chỗ không dám đứng lên trả lời cho dù các em đã biết câutrả lời Nhiều em thấy thầy, cô đến nhà là bỏ chạy, thấy thầy cô là trốn
+ Ngại đến trường vì xấu hổ : Nhiều em không dám đến trường đơn giản chỉ vì
là không có quần áo mới để mặc, không có cặp sách mới,…sợ các bạn chê cười.Mặt khác, nhiều em do học lực yếu nên luôn bị áp lực và rồi cũng không đếntrường ( trường hợp này là rất nhiều )
+ Bỏ học để đi làm giúp đỡ gia đình: Kinh tế gia đình của các em đa phần làkhó khăn nên việc đi làm nương rẫy đã ăn vào máu thịt của các em từ khi các emđang nằm trên lưng mẹ Vì vậy nhiều em bỏ học dài ngày để đi làm: Chăn trâu,giữ em, thả lưới, kiếm củi,…
+ Gầy yếu do suy dinh dưỡng: Nhiều học sinh lớp 3 nhưng thể lực còn yếu, cơthể phát triển chậm, do gia đình các em còn khó khăn nên việc ăn uống của các
em không đảm bảo dẫn đến thiếu chất dinh dưỡng Mặt khác, việc ăn ở của các
em còn thiếu vệ sinh nên mắc nhiều bệnh tật
2 Đặc điểm nhận thức
- So với học sinh lớp 3 vùng thuận lợi thì trình độ nhận thức của học sinh lớp 3
ở vùng bản còn rất hạn chế, tư duy còn phiến diện Các em chưa (hoặc rất ít) phân
Trang 5tích, khái quát hoá vấn đề mà trong khi đó các bài học của các em đều yêu cầu cácthao tác tư duy đó
- Đặc điểm nổi bật trong nhận thức của các em là:
+ Chưa nhận thức đúng vấn đề học tập: Đây là do lịch sử để lại, bởi nhận thứccủa người dân còn rất hạn chế Nhiều em còn ngây thơ bảo rằng: “Học để làmgì?”, “Vì sao phải đi học?”, “Đi học có no cái bụng không?”, Vì vậy, nhiều emkhông muốn đi học
+ Nhận thức còn phiến diện: Nhiều học sinh vẫn còn suy nghĩ rằng: Chỉ cần đilàm rẫy có cơm ăn; đi làm thuê kiếm tiền là tốt rồi, không cần phải học, các emđâu biết rằng nếu muốn làm rẫy có thu hoạch cao phải biết tính toán, phải học cáihay Các em chỉ mới biết nghĩ cho ngày hôm nay thôi, không cần nghĩ cho maisau
+ Chưa ghi nhớ được vấn đề: Nhiều em cứ học trước quên sau, mới học hômqua thì hôm nay đã quên, thậm chí có em mới học xong giáo viên hỏi lại là khôngnhớ rồi Chính vì vậy, chỉ cần nghỉ khoảng 1 tháng thì bài của thầy cô, các em đã
“trả lại” đủ
+ Học vẹt: Nhiều em cứ đọc, nói vanh vách nhưng khi hỏi nội dung thì khôngbiết Chẳng hạn có nhiều em đọc một bài Tập Đọc - Học Thuộc Lòng thì thuộcvanh vách, nhưng khi giáo viên hỏi về nội dung bài thì các em không trả lời được,hoặc nếu trả lời thì không đúng nội dung
- Nói chung, nhận thức của các em còn yếu, vì thế việc truyền thụ kiến thứccho các em là rất khó khăn cho giáo viên Đây chính là sự băn khoăn của tất cảgiáo viên đang công tác tại nơi này
Trang 6kinh nghiệm của nhau.
- Tổ chức thao giảng, dự giờ học hỏi, hội thảo chuyên đề trong nhà Trường
- Thực hiện công văn hướng dẫn: Công văn 5842/BGDĐT: “V/v hướng dẫnđiều chỉnh nội dung dạy học” Giao quyền chủ động cho giáo viên về việc điềuchỉnh thời lượng trong tiết dạy và điều chỉnh nội dung dạy học phù hợp với đốitượng học sinh theo chuẩn kiến thức kỹ năng Thực hiện QĐ 16/2006/QĐ -BGDĐT ngày 5 tháng 5 năm 2006
- Thực hiện theo công văn 9832/ BGDĐT- GDTH ngày 01- 9- 2006 “ HD thựchiện chương trình các lớp 1 – 2 – 3 – 4 – 5 ở tiểu học”, BGH Trường phân bố hợp
lí các tiết dạy môn Tiếng Việt/tuần/5 khối lớp
- Học sinh được mượn sách giáo khoa ( Sách Tiếng Việt ) ở Thư Viện tươngđối đầy đủ
- Cơ sở vật chất lớp học tương đối đảm bảo cho việc dạy và học
2 Khó khăn.
a Do ảnh hưởng từ tiếng mẹ đẻ của các em:
- Học sinh dân tộc khi tới trường mới bắt đầu tiếp xúc làm quen và học tậpbằng một ngôn ngữ hoàn toàn mới là tiếng Việt Các em không có thời gian đểhọc nói tiếng Việt trước, cũng không có điều kiện để tiếp xúc, để được mọi ngườixung quanh dạy nói một cách tự nhiên như học sinh người Kinh Như vậy, ngaynhững ngày mới tới trường, học sinh phải học đồng thời cả ngôn ngữ nói và ngônngữ viết khi học tiếng Việt Các em phải làm quen với một hệ thống ngữ âmkhông hoàn toàn giống với tiếng mẹ đẻ Với người học ngôn ngữ thứ hai thì họcphát âm đúng âm vần đóng vai trò quan trọng ; khi đã biết cách phát âm thì nhữngkhâu tiếp theo như đọc tiếng, từ, câu sẻ trở nên dễ dàng hơn Bởi vậy, cần phảidạy cho các em phát âm đúng ngay khi học âm, vần của tiếng Việt
- Từ lúc mới chào đời, các em đã làm quen với ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ (tiếngHre) Ngôn ngữ đó đã ngự trị trong cuộc sống sinh hoạt của các em Vì thế, việchọc tiếng Việt đối với các em như chúng ta học tiếng nước ngoài vậy Cho dù một
số em có tiếp xúc với người Kinh hoặc nghe bố, mẹ, anh, chị,…nên có một số ít
Trang 7ngôn ngữ tiếng Việt, nhưng chừng đó quả là quá ít đối với việc học tiếng Việt – là một ngôn ngữ chính thống Trong khi đó những học sinh người Kinh thì nhiều
em vào lớp 1 đã biết đọc, biết viết
- Mặt khác, các em học tiếng Việt nhưng không giao tiếp bằng tiếng Việt nênhọc xong lại chóng quên Nhiều em mới biết đọc thì sau 3 tháng hè đã không cònnhớ mặt chữ nữa Như Lê-nin nói: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọngnhất của loài người”, nhưng các em học tiếng Việt mà lại giao tiếp bằng tiếng củadân tộc mình thì học rồi cũng như không
- Hơn nữa, trong ngôn ngữ của các em rất nặng, đa số những tiếng có thanhtrắc ( hỏi, ngã, nặng ) và rất ít thanh bằng ( huyền, không ) nên trong quá trìnhluyện đọc các em phát âm sai rất nhiều về dấu thanh Đọc thế nào viết thế đó, sainhiều khi viết Chính tả
Ví dụ:
+ Thênh thang - đọc thành: Thệnh tháng; thềnh thàng + Thấm thía - đọc thành: Thâm thía, thâm thia; thầm thìa Trong khi đọc, các em còn chẻ từ ra để ngắt, nghỉ hơi, ngắt câu Đây là do các
em chưa hiểu về cấu tạo từ, đơn vị từ, cấu tạo câu của tiếng Việt Các em đọcngắt, nghỉ rất tự do, cứ khi nào hết hơi là các em ngắt, nghỉ để lấy hơi cho dù giáoviên nhắc nhiều lần
Ví dụ:
+ Một hôm, hai anh rủ nhau đi chơi thật xa, nhưng đến giữa trưa thì lạc/ mất đường về
( Tập Đọc, bài: Giọng quê hương )
+ Bà lão nhà/ ông nằm bệnh viện mấy tháng nay rồi
( Tập Đọc, bài: Các em nhỏ và cụ già )
Nhiều em vừa đọc, vừa đánh vần, đọc câu nọ sang câu kia mà không tính đến nghĩa các câu Đó là do các em chưa có kĩ năng đọc, chưa thuộc cấu trúc từ, câu của tiếng Việt
Nói chung, việc ảnh hưởng tiếng mẹ đẻ của các em đã làm cho việc dạy Tập
Trang 8đọc hết sức khó khăn và đây là khó khăn bậc nhất cho giáo viên.
b Do giáo viên chưa giao tiếp được bằng ngôn ngữ của các em:
- Đa số giáo viên công tác tại trường này đều là người Kinh Vì vậy, hầu hếtgiáo viên chưa nói được ngôn ngữ của các em Đó là điều bất cập cho giáo viêntrong việc dạy tiếng Việt, đặc biệt là trong dạy Tập đọc cho các em Cụ thể:
+ Khi giải nghĩa từ cho các em: Rất nhiều em chưa hiểu nghĩa của các từ màkhi giải nghĩa từ, giáo viên sử dụng tiếng Việt để giải nghĩa thì làm cho các em
mơ hồ thêm và cuối cùng các em không biết từ đó có nghĩa như thế nào Vì vậy,khi giải nghĩa từ ngoài việc sử dụng đồ dùng trực quan, giáo viên cần phải sửdụng tiếng của các em để giải nghĩa từ nhằm giúp các em hiểu được nghĩa của từđó
+ Nếu giáo viên nắm được ngôn ngữ của các em thì sẽ có biện pháp giúp các
em đọc đúng, đọc chuẩn chính âm của tiếng Việt, nhất là khi hướng dẫn các emđọc hiểu và đọc diễn cảm
c Do chương trình và sách giáo khoa mới:
- Chương trình – sách giáo khoa mới khá nặng về kiến thức đối với học sinh,nhất là học sinh ở vùng bản Nội dung kiến thức thì nhiều, trong khi vốn ngôn ngữtiếng Việt của các em lại có hạn, nên việc truyền đạt kiến thức cho học sinh trong
40 phút là điều quá khó khăn Ở nước ta, nền giáo dục đã có sự điều chỉnh vàgiảm tải cho các đối tượng học sinh, dù thuận lợi hay khó khăn đều học mộtchương trình và sách giáo khoa, nên vẫn còn thiệt thòi cho các học sinh vùng khó.Nên chăng cần phải có sự chỉnh sửa hợp lí đối với học sinh vùng khó và chuẩnkiến thức riêng, để tất cả các em có khả năng đạt theo chuẩn kiến thức kỹ năng đãquy định
d Do tầm quan trọng của bài tập đọc trong môn Tiếng Việt lớp 3:
- Phân môn Tập Đọc lớp 3 mỗi tuần có 3 tiết, trong đó rất nhiều bài tập đọc lại
là ngữ liệu dạy học của các phân môn khác ( Chính Tả; Kể Chuyện; Luyện Từ vàCâu; Tập Làm Văn ) Vì vậy, chỉ khi đọc được, hiểu được bài Tập Đọc đó thì các
em mới có thể vận dụng vào các phân môn khác Chính vì thế, càng khó khăn và
Trang 9nặng nề cho giáo viên khi dạy Tập đọc.
III CÁC BIỆN PHÁP DẠY – HỌC MÔN TẬP ĐỌC LỚP 3 CHO HỌC SINH DÂN TỘC
1 Phân loại mức độ đọc của học sinh trong lớp học.
- Ngay từ đầu năm học khi được giao công tác chủ nhiệm, tôi đã tìm hiểu tìnhhình của lớp, nắm được chất lượng học tập của học sinh Tôi tiến hành phân loạihọc sinh theo mức độ đọc
- Căn cứ tình hình thực tế của lớp; tham khảo công văn hướng dẫn Công văn5842/BGDĐT: “V/v hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học”; Thực hiện theocông văn 9832/ BGDĐT- GDTH ngày 01- 9- 2006 “ HD thực hiện chương trìnhcác lớp 1 – 2 – 3 – 4 – 5 ở tiểu học”; Thực hiện Quyết định 16/2006/QĐ -BGDĐT ngày 5 tháng 5 năm 2006 Tôi xây dựng kế hoạch phân môn Tập Đọc( có điều chỉnh thời gian và nội dung ) phù hợp với các nhóm đối tượng học sinhtrong lớp
- Xác định mục tiêu bài học theo sự phân hóa các đối tượng học sinh, nội dunggiảng dạy phù hợp với mức độ đọc của từng học sinh
2 Coi trọng phương pháp trực quan trong dạy học Tập đọc.
Sự cần thiết phải coi trọng phương pháp trực quan trong giờ dạy Tập Đọc vớihọc sinh dân tộc là rất quan trọng Lê –Nin nói: “ Từ trực quan sinh động đến tưduy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn là con đường biện chứng củaquá trình nhận thức”
- Phương pháp trực quan ở đây là đồ dùng dạy học trực quan Đối với học sinhTiểu học mới bắt đầu tiếp xúc với tiếng Việt thì đồ dùng dạy học trực quan đóngmột vai trò quan trọng Chính vì vậy, khi dạy học giáo viên cần chú ý:
+ Đọc mẫu: Trong dạy học tập đọc đối với đối tượng học sinh này việc đọcmẫu tốt sẽ giúp các em định hướng tốt cho quá trình học đọc của mình
+ Tranh, ảnh, vật thật hoặc vật thay thế: Đây là yêu cầu bắt buộc giáo viênphải chuẩn bị khi dạy Tập Đọc, đặc biệt khi dùng nó vào việc giải nghĩa từ Muốncác em hiểu hết nghĩa của các từ mới thì cần có tranh, ảnh, … để giải nghĩa từ đó
Trang 10Qua đó, giúp học sinh ghi nhớ lâu hơn và việc đọc - hiểu của các em cũng dễ dàng hơn.
+ Dùng tiếng mẹ đẻ của các em để giải nghĩa từ: Nếu giáo viên thành thạođược tiếng mẹ đẻ của các em thì việc dạy đọc sẽ thuận lợi hơn nhiều, nhất là giúpcác em hiểu nghĩa từ mới và sửa sai khi các em đọc thành tiếng
* Tuy nhiên, khi sử dụng đồ dùng dạy học trực quan, giáo viên cần chú ý:+ Đồ dùng dạy học phải rõ ràng về nội dung và hình thức
+ Đồ dùng dạy học phải đúng và đầy đủ với yêu cầu của bài học, không nên sửdụng những đồ dùng dạy học chỉ có nêu một nghĩa so với yêu cầu hoặc chỉ là vậttượng trưng cho yêu cầu của vấn đề Bởi nếu như vậy làm cho học sinh hiểu mộtcách phiến diện hoặc chung chung về vấn đề cần giải thích
+ Không được lạm dụng đồ dùng dạy học trực quan, phải nắm rõ yêu cầu củabài học để lựa chọn và đưa ra các đồ dùng dạy học, tài liệu trực quan có chấtlượng và sử dụng đúng mục đích dạy học đã xác định
3 Biện pháp dạy – học Tập đọc cho các nhóm đối tượng học sinh trong lớp.
Đọc toàn bài: Thường nhằm giới thiệu, gây cảm xúc, tạo hứng thú và tư thế
đọc cho học sinh Căn cứ trình độ đọc của học sinh mà giáo viên yêu cầu đọc 1đến 2 lần theo mục đích đề ra
Đọc từ, cụm từ: Nhằm sửa phát âm sai và rèn luyện cách đọc đúng cho học
sinh Phần này giáo viên phải chú ý đến từng học sinh vì các em thường phát âmkhông đúng với chuẩn chính âm của tiếng Việt
- Dùng lời nói, kết hợp với chữ viết, kí hiệu và đồ dùng dạy học để hướng dẫncách nghỉ hơi, tốc độ đọc, giọng đọc thích hợp ( Thường phần này học sinh vùng
Trang 11này đọc sai nhiều, nhiều em không biết cách ngắt câu, nghỉ hơi, còn chẻ từ ra đểđọc, …) Vì vậy, giáo viên cần chú ý hướng dẫn kĩ phần này.
- Tổ chức đọc cá nhân ( Đọc trong nhóm, đọc trước lớp ), đọc đồng thanh ( Cảnhóm, cả tổ, cả lớp ); nhận xét cách đọc của học sinh, sửa lỗi phát âm hoặc lỗi thểhiện nội dung qua giọng đọc cho học sinh
Trong việc luyện đọc cho học sinh, giáo viên cần biết nghe học sinh đọc để cócách rèn luyện thích hợp với từng em và cần khuyến khích học sinh trong lớp traođổi, nhận xét về chỗ được, chỗ chưa được của bạn, nhằm giúp học sinh rút kinhnghiệm để đọc tốt hơn
- Đọc thầm:
Dựa vào sách giáo khoa, giáo viên giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh nhằmđịnh hướng việc đọc- hiểu (Đọc câu, đoạn hay khổ thơ nào? Đọc để biết, nhớ điềugì? ) Có đoạn văn ( thơ ) cần cho học sinh đọc thầm 2, 3 lượt với tốc độ nhanhdần và từng bước thực hiện các yêu cầu từ dễ đến khó, nhằm rèn luyện kĩ năngđọc - hiểu Cần khắc phục tình trạng học sinh đọc thầm một cách hình thức, giáoviên không nắm được kết quả đọc - hiểu của học sinh để xử lí trong quá trình dạyhọc
Các biện pháp có thể áp dụng là:
+ Giao nhiệm vụ để định hướng rõ yêu cầu đọc thầm cho học sinh ( Đọc câunào, đoạn nào; đọc để trả lời câu hỏi hay để ghi nhớ, thuộc lòng; đọc để trả lời câuhỏi nào )
+ Giới hạn thời gian để tăng cường tốc độ đọc thầm cho học sinh
Cách thực hiện biện pháp này là từng bước rút ngắn thời gian đọc của học sinh
và tăng độ khó của nhiệm vụ ( Đọc lướt để tìm từ ngữ hay chi tiết, hình ảnh nhấtđịnh trong 2 phút, 1 phút )
- Luyện đọc thuộc lòng:
Ở những bài dạy có yêu cầu học thuộc lòng, giáo viên cần cho học sinh luyệnđọc kĩ hơn để ghi nhớ, sau đó xóa dần hết “ Từ điểm tựa” để học sinh nhớ vàthuộc được cả bài, có thể tổ chức thi học thuộc lòng để gây hứng thú cho học sinh
Trang 12b Hướng dẫn tìm hiểu nghĩa của từ trong bài và nội dung bài đọc:
* Yêu cầu:
- Biết trả lời các câu hỏi liên quan đến bài Tập Đọc
- Hiểu nghĩa các từ ( cần giải nghĩa ) trong bài
- Bước đầu biết đánh giá nhân vật, chi tiết và ngôn ngữ trong các bài Tập Đọc
có giá trị văn chương
* Giúp học sinh hiểu nghĩa các từ cần giải nghĩa:
- Những từ cần tìm hiểu nghĩa:
+ Từ ngữ khó đối với học sinh được nêu ở sau bài học
+ Từ ngữ phổ thông mà học sinh địa phương chưa quen
Đối với những từ ngữ còn lại, nếu học sinh nào chưa hiểu, giáo viên giải thíchriêng cho học sinh đó hoặc tạo điều kiện để học sinh khác giải thích giúp, khôngnhất thiết phải đưa ra giảng giải chung cho cả lớp
- Cách hướng dẫn học sinh tìm hiểu nghĩa của từ ngữ: học sinh có thể tự tìmhiểu nghĩa của từ ngữ bằng cách hiểu biết của mình Bên cạnh đó, giáo viên cũng
có thể dựa vào vốn từ học sinh đã có để giải nghĩa, giải nghĩa bằng đồ dùng dạyhọc (hiện vật, tranh vẽ, mô hình,…), dùng tiếng mẹ đẻ của các em hoặc cho họcsinh làm những bài tập nhỏ để nắm nghĩa của từ ngữ Ví dụ:
+ Dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa hoặc từ ngữ thông dụng ở địa phương, tranh,ảnh, vật thật,…để giải nghĩa từ đó
* Giúp học sinh nắm vững câu hỏi ( bài tập ) tìm hiểu bài:
Trang 13- Phạm vi nội dung cần tìm hiểu:
+ Nhân vật ( số lượng, tên, đặc điểm ), tình tiết của câu chuyện
+ Ý nghĩa của câu chuyện, của bài văn, bài thơ
- Cách tìm hiểu nội dung bài đọc: Phương hướng và trình tự tìm hiểu nội dungbài đọc thể hiện ở những câu hỏi và bài tập đặt sau mỗi bài, giáo viên nêu các câuhỏi giúp học sinh tái hiện nội dung bài đọc ( câu hỏi tái hiện ), sau đó đặt ra nhữngcâu hỏi giúp các em nắm được những vấn đề thuộc tầng sâu hơn như ý nghĩa củabài, tính cách nhân vật, thái độ của tác giả ( câu hỏi suy luận ) Dựa vào hệ thốngcâu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa, giáo viên tổ chức sao cho mỗi học sinhđều được làm việc để tự mình nắm được bài
Sách giáo khoa chỉ có thể nêu những vấn đề chính cần thảo luận Để giúp họcsinh hiểu bài, giáo viên cần có thêm những câu hỏi phụ, những yêu cầu, những lờigiải bổ sung
Sau khi học sinh nêu ý kiến, giáo viên sơ kết nhấn mạnh ý chính và ghi bảng(nếu cần)
- Giáo viên có thể tổ chức linh hoạt các biện pháp sau:
- Tổ chức cho học sinh đọc thầm câu hỏi ( bài tập ) rồi trình bày lại yêu cầucâu hỏi ( bài tập ) đó
- Giáo viên giải thích thêm cho rõ yêu cầu của câu hỏi (bài tập)
- Tách câu hỏi ( bài tập ) trong sách giáo khoa thành một số câu hỏi ( bài tập )nhỏ hoặc bổ sung câu hỏi phụ để học sinh thực hiện Chú ý, tránh đặt những câuhỏi không phù hợp với nội dung câu hỏi chính, với chủ điểm học tập hoặc vượtquá khả năng nhận thức của học sinh
- Tổ chức cho học sinh trả lời hay thực hiện làm mẫu một phần của câu hỏi( bài tập ) để cả lớp nắm được yêu cầu của câu hỏi ( bài tập ) đó
- Trong quá trình tìm hiểu bài, giáo viên cần chú ý rèn luyện cho học sinh cáchtrả lời câu hỏi, diễn đạt ý bằng câu văn gọn, rõ
* Tổ chức cho học sinh trả lời câu hỏi ( thực hiện bài tập ) tìm hiểu bài:
- Dựa vào trình độ của học sinh để giáo viên có thể sử dụng các biện pháp sau: