1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Thực trạng và giải pháp

83 886 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 763 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện trạng về quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại tại Việt Namthì rủi ro tín dụng thường được các ngân hàng quan tâm nhiều vì đây là hoạtđộng kinh doanh mang lại lợi nhuận chủ y

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng được ví như hệ thần kinhcủa nền kinh tế Hệ thống ngân hàng hoạt động lành mạnh, hiệu quả là tiền đề

để các nguồn lực tài chính luân chuyển, phân bố và sử dụng hiệu quả, kíchthích tăng trưởng kinh tế, ổn định giá trị đồng tiền và tạo công ăn việc làm.Tuy nhiên, trong kinh tế thị trường thì rủi ro là không thể tránh khỏi Đặc biệtngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng hóa đặc biệt – đó làtiền tệ nên hoạt động kinh doanh của ngân hàng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro Dotính chất hệ thống đặc biệt chặt chẽ của ngành trong quan hệ về vốn giữa cácngân hàng, chỉ cần một vài ngân hàng gặp rủi ro thì sẽ gây hiệu ứng dâytruyền lan tỏa trong toàn hệ thống ngân hàng Khi hệ thống ngân hàng mà gặprủi ro thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị, xã hộicủa một nước và có thể lan rộng sang quy mô quốc tế Chính vì vậy, công tácquản trị ngân hàng thương mại càng trở nên bức thiết

Hiện trạng về quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại tại Việt Namthì rủi ro tín dụng thường được các ngân hàng quan tâm nhiều vì đây là hoạtđộng kinh doanh mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, trong khi đó rủi ro

về thanh khoản – một vấn đề rất đáng lo ngại lại chưa được quan tâm đúng mức.Một trong những nhiệm vụ quan trọng mà các nhà quản lý ngân hàng càn thựchiện là đảm bảo khả năng thanh khoản hợp lý cho ngân hàng Ngân hàng có khảnăng thanh khoản tốt, hay nói cách khác là ngân hàng không gặp rủi ro thanhkhoản khi luôn có được nguồn vốn khả dụng với chi phí hợp lý vào đúng thờiđiểm mà ngân hàng cần Điều này có nghĩa nếu ngân hàng không có đủ nguồnvốn cần thiết để đáp ứng mọi nhu cầu của thị trường sẽ có thể mất khả năngthanh toán, mất uy tín và dẫn đến sự đổ vỡ của toàn hệ thống

Sau cuộc khủng tài chính về cho vay thế chấp dưới chuẩn ở Mỹ ( bộc lộ

Trang 2

rõ nhất trong 2 năm 2007 và 2008 ) – biểu hiện rõ nhất ở tính thanh khoảntrên hệ thống ngân hàng và tín dụng toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam nói chung

và hệ thống ngân hàng nói riêng đã rút ra được rất nhiều bài học trong đó cóbài học về thanh khoản Trong cuộc khủng hoảng đó, nhiều ngân hàng, tổchức tài chính ở Mỹ mất khả năng thanh khoản đã phải làm đơn phá sản hoặcsáp nhập ( Lehman Brothers tuyên bố phá sản là một vụ phá sản lớn nhấttrong lịch sử Hoa Kỳ, FED đã cho AIG vay 85 tỷ đô la để giúp công ty nàytránh phá sản, Bear Stearns bán lại cho JP Morgan Chase với giá 1,1 tỷ đô la

… ) Sau sự kiện đó, quản trị thanh khoản được đặt lên hàng đầu ở các ngânhàng, thậm chí có những trường hợp làm mọi cách để chóng đỡ khi khó khăn

Trong những tháng đầu năm 2011, hệ thống ngân hàng thương mại ViệtNam luôn gặp phải vấn đề về thanh khoản, đặc biệt là các ngân hàng thươngmại cổ phần nhỏ Điều đó dẫn đến việc chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng.Mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã quy định trần lãi suất trần huy động là14%/năm, nhưng lãi suất huy động có kỳ hạn tại các ngân hàng thương mạilên tới 17 – 19%/năm, kéo theo lãi suất cho vay tăng lên 22 – 23%/năm Cónhiều ngân hàng không gặp phải vấn đề về thanh khoản cũng tăng lãi suất chỉ

để giữ chân khách hàng của mình Việc lãi suất tăng cao sẽ gây ra tác độngxấu đến nền kinh tế, dẫn đến những rủi ro cao Do đó việc quản trị rủi rothanh khoản tại các ngân hàng là một việc rất cần thiết

Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết trên, cùng với quá trình học tập tại Học

viện Ngân hàng và thời gian nghiên cứu, em đã lựa chọn đề tài : “ Quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Thực trạng và giải pháp ”.

2 Mục đích nghiên cứu

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về rủi ro thanh khoản và quản trịrủi ro thanh khoản trong hoạt động ngân hàng thương mại

Trang 3

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngânhàng TMCP Công thương Việt Nam.

- Đưa ra giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi rothanh khoản tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Hoạt động quản tri rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổphần Công thương Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp phân tích kinh

tế, phân tích tổng hợp và so sánh, từ đó vận dụng lý luận vào thực tiễn để giảithích nguyên nhân và đưa ra các giải pháp thích hợp

5 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của khóa luận được trìnhbày trong 3 chương :

Chương 1: Tổng quan về quản trị rủi ro thanh khoản trong ngân hàngthương mại

Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng TMCPCông thương Việt Nam

Chương 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi rothanh khoản tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỂ QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN

TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm

Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính đóng vai trò quantrọng trong việc đảm bảo nền kinh tế hoạt động nhịp nhàng, hiệu quả Ngânhàng thương mại là loại hình ngân hàng giao dịch trực tiếp với các tổ chứckinh tế và cá nhân thông qua các hoạt động nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi

sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanhtoán và dịch vụ ngân hàng Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng có

số lượng lớn và rất phổ biến trong nền kinh tế thị trường

Theo Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam, khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua vào ngày 16 tháng 6 năm2010: “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cảcác hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này ” ( Khoản 2 Điều 4 ), “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạtđộng ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luậtnày nhằm mục tiêu lợi nhuận ” ( Khoản 3 Điều 4 ) Luật này còn xác định: “

Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạtđộng ngân hàng ” ( Khoản 1 Điều 4 ), và “ Hoạt động ngân hàng là việc kinhdoanh cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhậntiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản ” ( Khoản

12 Điều 4 )

Người ta phân biệt ngân hàng thương mại với các tổ chức trung gian tàichính khác là ở chỗ ngân hàng thương mại là ngân hàng kinh doanh tiền gửi,

Trang 5

chủ yếu là tiền gửi không kỳ hạn, chính vì hoạt động đó đã tạo cơ hội chongân hàng thương mại có thể làm tăng bội số tiền gửi của khách hàng trong

hệ thống ngân hàng của mình Đó là đặc trưng cơ bản để phân biệt ngân hàngthương mại với các ngân hàng khác và các tổ chức tín dụng khác

Như vậy, ngân hàng thương mại là một định chế trung gian tài chínhquan trọng trong nền kinh tế thị trường Nhờ hệ thống định chế trung gian tàichính này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội được huy động,tập trung lại, đồng thời số vốn đó được sử dụng để cấp tín dụng cho các tổchức kinh tế và cá nhân với mục đích phát triển kinh tế xã hội

1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại

Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường và hệ thống ngân hàng pháttriển, ngân hàng thương mại có ba chức năng cơ bản: chức năng trung gian tíndụng, chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền

 Chức năng trung gian tín dụng: Ngân hàng thương mại đóng vai tròtrung gian trong việc tập trung, huy động các nguồn tiền tệ tạm thời nhàn rỗitrong nền kinh tế, bao gồm: tiền gửi, tiền tiết kiệm của dân cư, vốn bằng tiềncủa các đơn vị, tổ chức kinh tế; biến khoản vốn huy động được thành nguồnvốn tín dụng để cho vay ( cấp tín dụng ), đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh,vốn đầu tư cho các ngành kinh tế và nhu cầu vốn tiêu dùng của xã hội

 Chức năng trung gian thanh toán: Ngân hàng thương mại đứng ra làmtrung gian thanh toán để thực hiện các giao dịch giữa người mua và ngườibán, giữa các khách hàng với nhau nhằm hoàn tất các quan hệ kinh tế thươngmại của các đối tượng nêu trên

 Chức năng tạo tiền: Đây là hệ quả của hai chức năng trên trong hoạtđộng ngân hàng Từ một khoản tiền gửi của khách hàng, sau khi đã để lại mộtkhoản dự trữ bắt buộc, thông qua cho vay bằng chuyển khoản trong hệ thốngngân hàng thương mại, số tiền gửi đã tăng lên gấp bội so với lượng tiền gửi

Trang 6

ban đầu Với vòng quay của vốn thông qua chức năng trung gian tín dụng vàtrung gian thanh toán của ngân hàng, ngân hàng thương mại thực hiện đượcchức năng tạo tiền.

1.1.3 Vai trò của ngân hàng thương mại

Với các chức năng của mình, ngân hàng thương mại giữ vai trò quantrọng trong nền kinh tế thể hiện qua các nội dung sau:

1.1.3.1 Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế

Thực tế cho thấy, để phát triển các đơn vị kinh tế cần phải có mộtlượng vốn lớn để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt độngkhác Nhưng để trực tiếp huy động vốn thì các đơn vị kinh tế gặp phải rấtnhiều khó khăn, do đó rất cần có một chủ thể đứng ra tập trung tiền nhàn rỗi

từ các chủ thể thừa vốn và kịp thời cung ứng vốn cho các chủ thể có nhu cầu

về vốn Bằng việc nhận tiền gửi từ các chủ thể trong xã hội và các hoạt độnghuy động vốn khác, ngân hàng thương mại có được một lượng vốn lớn có thểđáp ứng các nhu cầu về vốn một cách kịp thời Như vậy, khi có nhu cầu vềvốn, các chủ thể kinh tế không cần phải tốn thời gian và chi phí để tự huyđộng vốn cho mình mà chỉ cần đến ngân hàng là có thể có được lượng vốncần thiết Ngân hàng thương mại đã trở thành chủ thể chính đáp ứng nhu cầuvốn cho nền kinh tế Nhờ có hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại vàđặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp, cá nhân có điều kiện mởrộng sản xuất, cải tiến máy móc, công nghệ để tăng năng suất lao động, nângcao hiệu quả kinh tế và chất lượng sản phẩm cho xã hội

1.1.3.2 Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường.

Trong điều kiện kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệpchịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế như: quy luật giá trị, quyluật cung cầu, quy luật cạnh tranh và sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu

Trang 7

thị trường, thỏa mãn nhu cầu thị trường về mọi phương diện: không chỉ giá

cả, khối lượng, chất lượng mà còn đòi hỏi thỏa mãn trên phương diện thờigian, địa diểm Để có thể đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường, doanh nghiệpkhông những cần nâng cao chất lượng lao động, mà còn phải không ngừng cảitiến máy móc thiết bị, đưa công nghệ mới vào sản xuất, tìm tòi và sử dụngnguyên liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp Những hoạtđộng này đòi hỏi một lượng vốn đầu tư rất lớn, nhiều khi vượt quá khả năngcủa doanh nghiệp Do đó để giải quyết khó khăn này, doanh nghiệp đến ngânhàng để xin vay vốn, thỏa mãn nhu cầu đầu tư của mình Thông qua hoạtđộng cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, ngân hàng đã trở thành cầu nối giữacác doanh nghiệp với thị trường Nguồn vốn tín dụng ngân hàng cấp chodoanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng vềmọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu thị trường và từ

đó tạo cho doanh nghiệp chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh

1.1.3.3 Ngân hàng thương mại là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.

Hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động có hiệu quả sẽ thực sự làcông cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thông qua hoạt động thanhtoán giữa các ngân hàng trong hệ thống, ngân hàng thương mại đã góp phần

mở rộng khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông Thông qua việc cấp tíndụng cho nền kinh tế, ngân hàng thương mại đã thực hiện dẫn dắt các nguồntiền, tập hợp và phân phối vốn treen thị trường, điều khiển chúng một cách cóhiệu quả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô Cùng với các cơ quankhác, ngân hàng luôn được sử dụng như một công cụ quan trọng để Nhà nướcđiều chỉnh sự phát triển của nền kinh tế

Khi Nhà nước muốn phát triển một ngành hay một vùng kinh tế nào đóthì cùng với việc sử dụng các công cụ khác để khuyến khích thì các ngân

Trang 8

hàng thương mại luôn được sử dụng bằng cách Ngân hàng Nhà nước yêu cầucác ngân hàng thương mại thực hiện chính sách ưu đãi trong đầu tư, sử dụngvốn như: giảm lãi suất, kéo dài thời hạn vay, giảm điều kiện vay vốn hoặc quacác ngân hàng thương mại nhà nước cấp vốn ưu đãi cho các lĩnh vực nhấtđịnh Khi nền kinh tế tăng trưởng quá mức, Nhà nước thông qua Ngân hàngTrung ương thực hiện chính sách tiền tệ như: tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đểgiảm khả năng tạo tiền từ đó giảm khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế đểnền kinh tế phát triển ổn định vững chắc.

Việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua hệ thống ngân hàng thương mạithường đạt hiệu quả trong thời gian ngắn nên thường được Nhà nước sử dụng

1.1.3.4 Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế.

Trong nền kinh tế thị trường, khi các mối quan hệ hàng hóa, tiền tệngày càng được mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội giữa các quốcgia trên thế giới ngày càng trở nên cần thiết cấp bách Việc phát triển kinh tế

ở các quốc gia luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và làmột bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó Vì vậy, nền tài chính của mỗiquốc gia cũng cần phải hòa nhập với nền tài chính quốc tế và ngân hàngthương mại với các hoạt động của mình đã đóng góp vai trò vô cùng quantrọng trong sự hòa nhập này Với các nghiệp vụ như thanh toán, nghiệp vụ hốiđoái và các nghiệp vụ khác, ngân hàng thương mại tạo điều kiện thúc đẩyhoạt động ngoại thương phát triển Thông qua hoạt động thanh toán, kinhdoanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng thương mại nước ngoài,ngân hàng thương mại đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nướcphù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế

Ngân hàng thương mại ra đời và ngày càng phát triển dựa trên cơ sởnền sản xuất lưu thông hàng hóa phát triển và nền kinh tế càng phát triển càng

Trang 9

cần đến sự hoạt động của ngân hàng thương mại Với vai trò quan trọng củamình, ngân hàng thương mại trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh

tế quốc dân

1.1.4 Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại

1.1.4.1 Nghiệp vụ Tài sản và vốn tự có của ngân hàng

Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinhdoanh của ngân hàng thương mại, bao gồm các nghiệp vụ sau:

 Nghiệp vụ tiền gửi: Đây là nghiệp vụ phản ánh các khoản tiền gửi

từ các doanh nghiệp vào ngân hàng để thanh toán hoặc với mục đích bảo quảntài sản mà từ đó ngân hàng thương mại có thể huy động và được sử dụng vàokinh doanh Ngoài ra, ngân hàng còn huy động các khoản tiền nhàn rỗi của cánhân hay hộ gia đình được gửi vào ngân hàng với mục đích hưởng lãi Cácsản phẩm tiền gửi của ngân hàng rất phong phú và đa dạng cả về kỳ hạn lẫnhình thức gửi tiền

 Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá: Các ngân hàng thương mại sửdụng nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn dài hạn, nhằm đảm bảo khả năngđầu tư các khoản vốn dài hạn của ngân hàng vào nền kinh tế Ngoài ra, nghiệp

vụ này còn giúp các ngân hàng thương mại tăng cường tính ổn định vốn tronghoạt động kinh doanh của mình Các giấy tờ có giá mà ngân hàng phát hànhthường là kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu ngân hàng

 Nghiệp vụ đi vay: Đối với nghiệp vụ này, các ngân hàng thươngmại tiến hành tạo vốn cho mình bằng việc vay các tổ chức tín dụng trên thịtrường tiền tệ và vay ngân hàng Trung ương dưới các hình thức tái chiết khấuhay vay có đảm bảo nhằm bổ sung vốn khả dụng cho ngân hàng mình

 Nghiệp vụ huy động vốn khác: Các ngân hàng thương mại có thểtiến hành tạo vốn cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay ủy thác vốncho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Ngoài ra, thông qua việc sử

Trang 10

dụng các phương tiện trong thanh toán, đòi hỏi khách hàng phải ký gửi một

bộ phận tiền vào ngân hàng mà trên cơ sở đó các ngân hàng có thể sử dụngnhững vốn nhàn rỗi trên tài khoản để đưa vào hoạt động kinh doanh

 Vốn tự có của ngân hàng: Đây là vốn thuộc sở hữu riêng có của cácngân hàng Trong thực tế, khoản vốn này không ngừng được tăng lên từ hoạtđộng kinh doanh của bản thân ngân hàng mang lại Bộ phận vốn này đónggóp một phần đáng kể vào vốn trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàngthương mại, đồng thời góp phần vào nâng cao vị thế của ngân hàng thươngmại trên thương trường

1.1.4.2 Nghiệp vụ Tài sản Có

Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các mục đíchnhằm bảo đảm an toàn cũng như tìm kiếm lợi nhuận của các ngân hàngthương mại Nội dung của nghiệp vụ này bao gồm:

 Nghiệp vụ ngân quỹ: Nghiệp vụ này phản ánh các khoản vốn củangân hàng được dùng vào mục đích nhằm đảm bảo an toàn về khả năng thanhtoán và thực hiện quy định về dự trữ bắt buộc do Ngân hàng Trung ương đề

ra Ngân quỹ của các ngân hàng thương mại bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiềngửi tại Ngân hàng Trung ương bao gồm cả tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửithanh toán, tiền gửi tại các ngân hàng khác

 Nghiệp vụ cho vay: Đây là nghiệp vụ tạo khả năng sinh lời chínhtrong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Nghiệp vụ nàybao gồm các khoản đầu tư sinh lời của ngân hàng thông qua cho vay ngắnhạn, trung hạn, dài hạn đối với nền kinh tế Các sản phẩm cho vay của ngânhàng cũng rất phong phú và đa dạng, đáp ứng được mọi nhu cầu vốn của nềnkinh tế

 Nghiệp vụ đầu tư tài chính: Các ngân hàng thương mại thực hiệnquá trình đầu tư bằng vốn của mình thông qua các hoạt động hùn vốn, góp

Trang 11

vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trường.

 Nghiệp vụ khác: Bằng các hoạt động khác trên thị trường như: kinhdoanh ngoại tệ, vàng bạc đá quý, thực hiện các dịch vụ tư vấn, dịch vụ ngânquỹ; nghiệp vụ ủy thác và đại lý; kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm; các dịch vụkhác liên quan đến hoạt động ngân hàng như: dịch vụ bảo quản hiện vật quý,giấy tờ có giá, cho thuê két, cầm đồ và các dịch vụ khác theo quy định củapháp luật; mà các ngân hàng thu được những khoản lợi nhuận đáng kể

1.1.4.3 Nghiệp vụ ngoài bảng tổng kết tài sản

Những hoạt động ngoài bảng tổng kết tài sản liên quan đến việc: môigiới mua bán những công cụ tài chính để tạo ra thu nhập nhờ các khoản phí vàchuyển nhượng những món vay

Một dạng thứ hai của hoạt động ngoài bảng tổng kết tài sản ngân hàng

là nhờ bán các món cho vay

Một dạng khác của những hoạt động ngoài bảng tổng kết tài sản ngânhàng gồm việc tạo ra thu nhập nhờ những lệ phí mà các ngân hàng nhận đượckhi cung cấp các dịch vụ chuyên môn hóa cho khách hàng của họ, ví dụ như:thực hiện kinh doanh hối đoái nhân danh một khách hàng; đảm bảo các chứngkhoán vay nợ, ví dụ các hối phiếu được ngân hàng chấp nhận, và cung ứngnhững mức tín dụng hỗ trợ

1.1.5 Các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng

Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh tiền tệ,chính vì vậy mà các hoạt động của ngân hàng luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng được hiểu là những biến cố không mongđợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợinhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để cóthể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định

Có bốn loại rủi ro cơ bản trong kinh doanh ngân hàng, đó là:

Trang 12

1.1.5.1 Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi ngân hàngcấp tín dụng, là những thiệt hại, mất mát mà ngân hàng phải gánh chịu dongười vay vốn hay người sử dụng vốn không trả đúng hạn, không thực hiệnđúng nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng tín dụng vì bất kể lý do gì

Có hai loại rủi ro tín dụng đó là rủi ro đọng vốn và rủi ro mất vốn Rủi

ro động vốn xảy ra khi khách hàng không có khả năng hoàn trả khoản vayđúng hạn, làm ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng và gâykhó khăn cho việc chi trả người gửi tiền Ngân hàng gặp phải rủi ro mất vốnkhi khách hàng không trả được một phần hoặc toàn bộ khoản tín dụng, từ đólàm tăng chi phí và giảm khả năng sinh lời của ngân hàng

Có 4 nhóm nguyên nhân cơ bản dẫn đến rủi ro tín dụng là:

- Các nguyên nhân khách quan ( PEST ) : môi trường chính trị - phápluật ( politics ), môi trường kinh tế ( economics ), môi trường văn hóa xã hội( society ), và công nghệ ( technology )

- Nguyên nhân từ phía người vay

- Nguyên nhân từ phía ngân hàng

- Nguyên nhân từ các bảo đảm tín dụng

1.1.5.2 Rủi ro lãi suất

Rủi ro lãi suất là khoản lỗ tiềm tàng mà ngân hàng phải gánh chịu khilãi suất trên thị trường có sự biến động Rủi ro lãi suất xảy ra sẽ làm biếnđộng thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng

Có hai nguyên nhân chính gây nên rủi ro lãi suất đối với ngân hàng:

- Ngân hàng duy trì sự không cân xứng giữa thời hạn tài sản nợ và thờihạn tài sản có: Khi ngân hàng duy trì tài sản có có kỳ hạn dài hơn so với tàisản nợ thì ngân hàng luôn đứng trước rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ

Trang 13

khi lãi suất có xu hướng tăng; rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu lãi suất huyđộng vốn bổ sung trong những năm tiếp theo tăng lên trên mức lãi suất đầu tưtín dụng dài hạn Trong trường hợp ngân hàng có kỳ hạn của tài sản có ngắnhơn so với kỳ hạn của tài sản nợ thì ngân hàng sẽ gặp phải rủi ro về lãi suất táiđầu tư khi lãi suất trên thị trường có xu hướng giảm.

- Lãi suất trên thị trường có sự biến động: Khi lãi suất trên thị trường có

sự biến động thì ngân hàng có thể gặp phải rủi ro giảm giá trị tài sản Khi lãisuất trên thị trường có xu hướng tăng thì mức chiết khấu giá trị tài sản cũngtăng lên, do đó giá trị hiện tại của tài sản giảm xuống Ngược lại, nếu lãi suấttrên thị trường giảm thì giá trị tài sản sẽ tăng lên Sự biến động của lãi suấttrên thị trường được gây ra bởi các nguyên nhân chủ yếu là: lạm phát dự tính;

sự phát triển của kinh tế trong chu kỳ kinh doanh; tỷ suất lợi nhuận bình quâncủa nền kinh tế; thị giá, rủi ro và tính lỏng của công cụ nợ; chính sách tàikhóa của Nhà nước; chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương

1.1.5.3 Rủi ro hối đoái

Có rất nhiều định nghĩa về rủi ro hối đoái Theo Peter S Rose: “ Rủi rohối đoái là khả năng thiệt hại ( tổn thất ) mà ngân hàng phải gánh chịu do sựbiến động giá cả tiền tệ thế giới ” Còn theo Hennie Van Greunung và SojaBrajovic Bratanovic thì: “ Rủi ro hối đoái là rủi ro xuất phát từ sự thay đổi tỷgiá hối đoái giữa nội tệ và ngoại tệ ”

Như vậy, nhìn chung rủi ro hối đoái là những khoản lỗ tiềm tàng màngân hàng phải gánh chịu khi có sự biến động về tỷ giá

Có hai nguyên nhân gây ra rủi ro hối đoái, đó là:

Thứ nhất, do tỷ giá hối đoái trên thị trường biến động Có 5 nguyên nhânchủ yếu gây nên sự biến động của tỷ giá: lạm phát, đầu tư nước ngoài, côngnghệ, chính sách thuế quan và hạn ngạch của một quốc gia, yếu tố tâm lý

Thứ hai, do ngân hàng duy trì trạng thái ngoại hối không cân bằng:

Trang 14

ngân hàng có thể ở vào trạng thái trường hay đoản đối với nhiều loại ngoại tệ.

1.1.5.4 Rủi ro thanh khoản

Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàngthiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặthoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán

Rủi ro thanh khoản xảy ra khi cung thanh khoản ít hơn cầu thanhkhoản, rủi ro thanh khoản liên quan đến khả năng chuyển các tài sản chínhthành tiền một cách nhanh chóng mà không chịu thất thoát về giá cả Hay nóimột cách khác, rủi ro thanh khoản là rủi ro khi ngân hàng không đủ tiền đápứng các khoản phải trả khi đến hạn thanh toán, hoặc vì một biến cố nào đó màkhách hàng rút tiền ào ạt

Rủi ro thanh khoản xảy ra có thể do khách hàng có nhu cầu thanh toántăng bất thường, hoặc do có một tin đồn không hay nào đó về ngân hàngkhiến khách hàng mất lòng tin vào ngân hàng và đến rút tiền ồ ạt tại ngânhàng, hoặc có thể do hệ thống ngân hàng đang gặp phải khó khăn về thanhkhoản gây ra hiệu ứng dây truyền dẫn đến ngân hàng cũng có nguy cơ gặpphải rủi ro thanh khoản

1.2 Quản trị rủi ro thanh khoản

1.2.1 Khái niệm về thanh khoản và rủi ro thanh khoản

Tính thanh khoản của ngân hàng thương mại được xem như khả năngtức thời để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đãcam kết Như vậy, rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân hàng không cókhả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thờihoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao Hay nói cách khác, rủi ro thanhkhoản xảy ra khi ngân hàng không có khả năng có được đủ vốn khả dụng vớichi phí hợp lý vào đúng thời điểm mà ngân hàng cần để đáp ứng nhu cầuthanh khoản

Trang 15

Rủi ro thanh khoản xảy ra, nếu nhẹ thì gây thua lỗ cho ngân hàng, hoạtđộng kinh doanh bị đình trệ, làm mất uy tín của ngân hàng và nếu nghiêmtrọng thì sẽ làm ngân hàng mất khả năng thanh toán dẫn đến ngân hàng phảiphá sản.

1.2.2 Cung, cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản

 Cung về thanh khoản

Cung thanh khoản là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngânhàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm:

- Các khoản tiền gửi đang đến

- Doanh thu từ việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng

- Thu hồi các khoản tín dụng đã cấp

- Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng

- Vay mượn trên thị trường tiền tệ

 Cầu về thanh khoản

Cầu về thanh khoản là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của ngânhàng, các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng Thông thường, trong lĩnh vựckinh doanh của ngân hàng, các hoạt động tạo ra cầu về thanh khoản bao gồm:

-Khách hàng rút tiền từ tài khoản

- Giải ngân theo hợp đồng tín dụng đã cam kết

- Thanh toán các khoản vay phi tiền gửi

- Chi phí phát sinh khi cung cấp các sản phẩm, dịch vụ

- Thanh toán cổ tức cho cổ đông bằng tiền

 Trạng thái thanh khoản

Trạng thái thanh khoản ròng, hay còn gọi là khe hở thanh khoản – NLP( Net liquidity position ) của một ngân hàng được xác định như sau:

Trang 16

NLP = Tổng cung về thanh khoản – Tổng cầu về thanh khoản

Có ba khả năng có thể xảy ra sau đây:

Thặng dư thanh khoản: Khi cung thanh khoản vượt quá cầu thanhkhoản ( NLP > 0 ), ngân hàng đang ở trạng thái thặng dư thanh khoản Nhàquản trị ngân hàng phải cân nhắc đầu tư số vốn thặng dư này vào đâu đểmang lại hiệu quả cho tới khi chúng cần được sử dụng để đáp ứng nhu cầuthanh khoản trong tương lai

Thâm hụt thanh khoản: Khi cầu thanh khoản lớn hơn cung thanh khoản( NLP < 0 ), ngân hàng phải đối mặt với trạng thái thâm hụt thanh khoản.Nhà quản trị phải xem xét, quyết định nguồn tài trợ thanh khoản lấy từ đâu,bao giờ thì có và chi phí để có được nguồn vốn đó là bao nhiêu

Cân bằng thanh khoản: Khi cung thanh khoản bằng với cầu thanhkhoản ( NLP = 0 ), ngân hàng ở trạng thái cân bằng thanh khoản Tuy nhiên,trạng thái này rất khó xảy ra trong thực tế

1.2.3 Quản trị rủi ro thanh khoản

Quản trị rủi ro thanh khoản là việc các ngân hàng thương mại sử dụng

hệ thống các cơ chế quản lý, giải pháp nghiệp vụ và công cụ kỹ thuật thíchhợp nhằm duy trì trạng thái cân bằng cung cầu thanh khoản, xử lý kịp thờinhững tình huống rủi ro thanh khoản nhưng vẫn đảm bảo khả năng sinh lờicho ngân hàng

Bản chất của hoạt động quản trị rủi ro thanh khoản trong ngân hàngđược thể hiện ở hai nội dung sau:

Một là, trong thực tế, hiếm có khi nào mà tại một thời điểm tổng cungthanh khoản bằng với tổng cầu thanh khoản Vì vậy, ngân hàng luôn phải đốimặt với tình trạng thặng dư hay thâm hụt thanh khoản, từ đó ngân hàng phải cónhững xử lý kịp thời giúp duy trì trạng thái cân bằng cung cầu thanh khoản

Hai là, thanh khoản và khả năng sinh lời là hai đại lượng luôn tỷ lệ

Trang 17

nghịch với nhau, nghĩa là một tài sản mà có tính thanh khoản càng cao thì khảnăng sinh lời của tài sản đó càng thấp và ngược lại; một nguồn vốn có tínhthanh khoản càng cao thì thường có chi phí huy động càng lớn và do đó, làmgiảm khả năng sinh lời khi sử dụng để cho vay.

Để có thể ứng phó với những cú sốc thanh khoản không mong đợi thìngân hàng cần phải dự trữ thanh khoản Tuy nhiên, ngân hàng cần phải cómột tỷ lệ dự trữ hợp lý để vừa có thể đáp ứng được những yêu cầu thanhkhoản, vừa đảm bảo không làm đọng vốn của ngân hàng, phải đảm bảo khảnăng sinh lời cho ngân hàng

1.2.4 Sự cần thiết phải quản trị rủi ro thanh khoản

Vấn đề thanh khoản là một vấn đề thường nhật, cho nên nhiệm vụthường xuyên của những nhà quản trị ngân hàng là phải đảm bảo khả năngthanh khoản của ngân hàng một cách thường xuyên và liên tục Việc quản trịrủi ro thanh khoản là hết sức cần thiết, bởi vì:

Một là, có sự đánh đổi giữa thanh khoản và khả năng sinh lời: Nghiệp

vụ ngân quỹ của ngân hàng là để dự trữ thanh khoản, nghiệp vụ cho vay giúpgia tăng thu nhập còn nghiệp vụ đầu tư chứng khoán vừa dự trữ thanh khoảnvừa gia tăng thu nhập Khi ngân hàng muốn giải quyết tốt vấn đề thanhkhoản, ngân hàng cần phải tăng dự trữ, giảm phần vốn đầu tư vào cho vay vàđầu tư chứng khoán, mà phần vốn dự trữ là phần vốn không sinh lời dẫn đếngiảm khả năng sinh lời của ngân hàng Nếu ngân hàng đầu tư vào cho vay vàđầu tư chứng khoán nhiều thì khả năng sinh lời tăng nhưng ngân hàng sẽ hạnchế về thanh khoản

Hai là, nếu rủi ro thanh khoản xảy ra, tùy theo mức độ mà ngân hàng cóthể phải chịu: chuyển hóa các tài sản có thanh khoản thành tiền với chi phícao; tiếp cận với thị trường tiền tệ để tăng vốn với những điều kiện khắt khehơn ( ví dụ: phải có tài sản thế chấp, chịu mức lãi suất cao, không được tuần

Trang 18

hoàn nợ cũ, hạn mức tín dụng bị xem xét lại thường xuyên, hoặc bị từ chốicho vay); đình trệ hoạt động dẫn đến giảm thu nhập; mất uy tín dẫn đến mấtkhách hàng, đặc biệt là khách hàng truyền thống và các cơ quan quản lý; tất

cả biểu hiện này đều làm cho ngân hàng tiến gần tới bờ vực mất khả năngthanh toán và đi đến phá sản

Ba là, trong trường hợp đặc biệt, rủi ro thanh khoản có thể đẩy ngân hàngtới tình trạng mất khả năng thanh toán và có thể trở thành hiệu ứng lây lan chotoàn hệ thống, có thể đe dọa đến sự ổn định của cả hệ thống ngân hàng

1.2.5 Dấu hiệu nhận biết rủi ro thanh khoản

Để biết một ngân hàng có đang trong tình trạng rủi ro thanh khoản haykhông chúng ta có thể nhận biết thông qua các dấu hiệu thị trường sau:

- Lòng tin của công chúng Khi lòng tin của công chúng suy giảm thì

đó là dấu hiệu chắc chắn nhất nguy cơ ngân hàng gặp rủi ro thanh khoản.Lòng tin của công chúng suy giảm thể hiện qua viêc ngân hàng đang đánhmất dần khách hàng gửi tiền của mình do họ lo ngại ngân hàng sẽ thiếu tiềnmạt hoặc không thể thanh toán các khoản nợ đến hạn

- Sự biến động giá cổ phiếu của ngân hàng Thị giá cổ phiếu của ngân

hàng giảm có thể do các nhà đầu tư đang dần mất lòng tin vào ngân hàng, điềunày có thể cho thấy nguy cơ đứng trước rủi ro thanh khoản của ngân hàng

- Phần bù rủi ro là một dấu hiệu thị trường để nhận biết rủi ro thanh

khoản Phần bù rủi ro xuất hiện chứng tỏ ngân hàng có chi phí vốn cao hayngân hàng đang chấp nhận một mức lãi suất đi vay cao hơn mức lãi suất thịtrường một cách bất thường Đó là dầu hiệu cho thấy ngân hàng đang đứngtrước khó khăn về nguồn cung thanh khoản

- Chịu lỗ từ việc bán tài sản Ngân hàng phải bán tài sản với giá thấp

hơn so với giá thị trường, điều này có thể cho thấy ngân hàng đang cần bángấp tài sản và đang rất cần vốn, điều đó thể hiện ngân hàng có thể đang gặp

Trang 19

phải khó khăn về thanh khoản.

- Khả năng đáp ứng khách hàng vay Ngân hàng có nghĩa vụ đáp ứng

khách hàng Khi ngân hàng không có khả năng đáp ứng đầy đủ và đúng hẹncác cam kết tín dụng, những nhu cầu xin vay của những khách hàng có hệ sốtín nhiệm cao không được giải quyết thì có thể nhận thấy ngân hàng đang gặpkhó khăn về thanh khoản

- Vay vốn từ Ngân hàng Trung ương Ngân hàng Trung ương là người

cho vay cuối cùng hay nói cách khác là cứu cánh cho vay cuối cùng nhằm cứunguy cho các ngân hàng trung gian khi cần thiết Việc ngân hàng buộc phảivay ngân hàng trung ương với khối lượng lớn và thường xuyên chính là mộtdấu hiệu về tình trạng khó khăn thanh khoản

Khi ngân hàng có những dấu hiệu trên, thì những nhà quản trị ngânhàng cần phải tập trung vào các chính sách quản lý thanh khoản để lấy lạiniềm tin của khách hàng và thị trường

1.2.6 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản

Một ngân hàng gặp phải vấn đề về thanh khoản có thể do các nguyênnhân sau:

Thứ nhất, ngân hàng huy động quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn

từ các cá nhân và định chế tài chính, sau đó sử dụng chúng để cho vay và đầu

tư dài hạn Do đó, xảy ra tình trạng mất cân đối về kỳ hạn giữa tài sản nợ vàtài sản có, mà thường gặp là dòng tiền thu về từ việc đầu tư nhỏ hơn dòng tiềnchi ra để trả các khoản tiền gửi đến hạn

Thứ hai, sự thay đổi của lãi suất có thể tác động đến cả người gửi tiền

và người vay vốn Khi lãi suất giảm, một số người gửi tiền rút vốn khỏi ngânhàng để đầu tư vào những nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn, còn những người đivay thì tích cực tiếp cận các khoản tín dụng vì lãi suất đã thấp hơn trước Nhưvậy, lãi suất thay đổi sẽ sảnh hưởng đến trạng thái thanh khoản của ngân

Trang 20

hàng Hơn nữa, những xu hướng thay đổi của lãi suất còn ảnh hưởng đến giátrị thị trường của các tài sản mà ngân hàng có thể đem bán để tăng thêmnguồn cung thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vay mượn trên thịtrường tiền tệ.

Thứ ba, ngân hàng luôn phải đáp ứng nhu cầu thanh khoản một cách

hoàn hảo Những trục chặc về thanh khoản sẽ làm khách hàng mất dần niềmtin vào ngân hàng Do đó ngân hàng cần phải có những chiến lược quản trị rủi

ro thanh khoản một cách hiệu quả Một trong những việc quan trọng đối vớinhà quản trị ngân hàng là luôn liên hệ chặt chẽ với những khách hàng có số

dư tiền gửi lớn và những khách hàng có hạn mức tín dụng lớn chưa sử dụng

để biết được kế hoạch của họ, từ đó có các phương án thanh khoản thích hợp

1.2.7 Các phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản

Có bốn phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản sau đây:

1.2.7.1 Phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn

Thực chất của phương pháp này là đo lường cung cầu thanh khoản,trong đó phần chủ yếu của cung cầu thanh khoản là tiền gửi và cho vay nênphương pháp này tập trung vào đo lường những thay đổi dự tính trong tiềngửi và cho vay của ngân hàng Việc dự báo nhu cầu gửi tiền và cho vay tươnglại sẽ giúp xác định trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng

Ngay từ đầu năm, ngân hàng ước lượng nhu cầu thanh khoản của cáctháng, quý trong năm Bất cứ khi nào cung cầu thanh khoản không cân bằngvới nhau, ngân hàng sẽ có một khe hở thanh khoản Khe hở thanh khoản đượcxác định như sau:

Khe hở thanh

Nguồn cungthanh khoản -

Nhu cầu thanhkhoảnKhi khe hở thanh khoản dương, ngân hàng đang ở trạng thái thặng dư

Trang 21

thanh khoản Ngân hàng cần phải đầu tư phần thặng dư này để sinh lợi.

Khi khe hở thanh khoản âm, ngân hàng đang ở trạng thái thâm hụtthanh khoản Ngân hàng cần tìm kiếm các nguồn tài trợ bổ sung kịp thời vớichi phí thấp nhất

Các bước cơ bản trong phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụngvốn là:

- Tiền vay và tiền gửi phải được dự báo trong khoảng thời gian hoạchđịnh thanh khoản đã cho ( ngày, tháng hoặc quý )

- Dự báo những thay đổi về tiền vay và tiền gửi cho cùng khoản thờigian xác định đó

- Nhà quản trị thanh khoản ước lượng trạng thái thanh khoản ròng củangân hàng dựa vào sự biến đổi của tiền gửi và tiền vay

Để xây dựng mô hình dự báo về tiền gửi và tiền vay trong tương lai,nhà quản trị có thể sử dụng các kỹ thuật thống kê khác nhau Chảng hạn, một

mô hình dự báo về sự thay đổi trong tiền gửi và tiền vay như sau:

Thay đổi dự kiến của tiền vay phụ thuộc vào các biến số sau:

 Tốc độ tăng trưởng dự kiến của GDP

 Lợi nhuận doanh nghiệp dự kiến

 Tỷ lệ tăng trưởng về cung tiền của ngân hàng thương mại

 Tỷ lệ tăng trưởng của tín dụng thương mại

 Tỷ lệ lạm phát dự kiến

Thay đổi dự kiến của tiền gửi phụ thuộc vào các biến số sau:

 Tăng trưởng về thu nhập cá nhân dự kiến

 Tỷ lệ tăng trưởng cung tiền của ngân hàng trung ương

 Lợi suất dự kiến của tiền gửi trên thị trường tiền tệ

 Tỷ lệ lạm phát dự kiến

Trang 22

Sau khi xây dựng mô hình dự báo về tiền gửi và tiền vay, ngân hàng cóthể ước lượng nhu cầu thanh khoản dự tính bằng cách tính:

Thâm hụt (-), thặng dư

Thay đổi dự tínhtrong tổng tiền gửi -

Thay đổi dự tínhtrong tổng cho vay

1.2.7.2 Phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn

Nếu như phương pháp nguồn vốn và sử dụng vốn giúp ngân hàng đolường cả nguồn cung và nguồn cầu thanh khoản thì phương pháp tiếp cận cấutrúc vốn chỉ quan tâm đến cầu thanh khoản Phương pháp tiếp cận cấu trúcvốn đo lường rủi ro thanh khoản dựa vào việc phân chia cơ cấu nguồn vốnhuy động theo khả năng nguồn vốn bị rút ra khỏi ngân hàng để xác định yêucầu thanh khoản của ngân hàng

Phương pháp này được tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Chia các khoản tiền gửi và các nguồn khác thành nhiều loại

trên cơ sở ước lượng xác suất bị rút tiền của khách hàng Chẳng hạn, tiền gửi

và các nguồn khác của ngân hàng có thể chia thành ba loại:

 Loại 1: Nguồn vốn nóng ( ổn định thấp ): là các khoản tiền gửi vànguồn vốn khác mà có xác suất bị rút ra khỏi ngân hàng là lớn nhấthoặc rất nhạy cẩm với lãi suất

 Loại 2: Nguồn vốn kém ổn định: là các khoản tiền gửi và nguồn vốnkhác có thể sẽ bị rút ra khỏi ngân hàng tại một thời điểm nào đó trong

kỳ kế hoạch

 Loại 3: Nguồn vốn ổn định: loại này có ít khả năng bị rút ra khỏi ngânhàng nhất

Bước 2: Xác định mức dự trữ thanh khoản cho từng loại tiền gửi trên cơ

sở ấn định tỷ lệ dự trữ thích hợp với trạng thái của chúng Ví dụ:

 Loại 1: Tỷ lệ dự trữ là 95%

Trang 23

Bước 3: Đối với nhu cầu vay vốn của khách hàng, ngân hàng phải sẵn

sàng khi khách hàng có yêu cầu Do đó, yêu cầu thanh khoản đối với cáckhoản cho vay là:

Dự trữ thanh khoản cho vay = 100% x ( Quy mô cho vay tối đa – Tổng

dư nợ hiện tại )Ngoài ra, các ngân hàng có thể dựa vào phân tích xác suất để đưa ra cáctrạng thái thanh khoản có thể xảy ra, từ đó xác định yêu cầu thanh khoản chotừng kịch bản

1.2.7.3 Phương pháp tiếp cận các chỉ số tài chính

Trong phương pháp này, ngân hàng không ước lượng một mức thâmhụt hay thặng dư thanh khoản cụ thể mà sẽ duy trì các chỉ số thanh khoản ởmức bằng hoặc an toàn hơn các ngân hàng khác trong ngành Các chỉ số thanhkhoản bao gồm:

Chỉ số trạng thái tiền mặt:

Trạng thái tiền mặt = Tiền mặt + Tiền gửi tại các TCTD khác

Tổng tài sảnChỉ số này dùng để đánh giá tỷ trọng tài sản có tính thanh khoản caonhất trong tổng tài sản của ngân hàng Tiền mặt là tái sản có tính lỏng caonhất của ngân hàng Chỉ số này càng cao chứng tỏ ngân hàng có khả năng xử

lý các tình huống thanh khoản tức thời

Trang 24

 Trạng thái ngân quỹ:

Trạng thái ngân quỹ = Ngân quỹ

Tổng tài sảnChỉ số này dùng để đánh giá tỷ trọng tài sản có tính thanh khoản caotrong tổng tài sản của ngân hàng Nếu ngân hàng có chỉ số trạng thái ngân quỹcàng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng tốt

Chỉ số chứng khoán thanh khoản :

Chứng khoánthanh khoản =

Chứng khoán chính phủ

Tổng tài sảnChứng khoán chính phủ có tính thanh khoản cao vì khi ngân hàng thiếuhụt thanh khoản thì có thể đem chiết khấu tại ngân hàng trung ương Cácchứng khoán chính phủ bao gồm các trái phiếu và tín phiếu kho bạc Nếu chỉ

số “ chứng khoán thanh khoản ” càng cao thì ngân hàng được xem là có trạngthái thanh khoản càng tốt

Chỉ số năng lực cho vay:

Chỉ số này phản ánh phần tài sản được phân bổ vào những tài sản kémtính thanh khoản nhất

Năng lực cho vay = Dư nợ cho vay + cho thuê

Tổng tài sản

Vì cho vay và cho thuê là những tài sản ít thanh khoản nhất, do đó nếuchỉ số này càng lớn thì ngân hàng càng bộc lộ kém thanh khoản

 Chỉ số tiền nóng:

Chỉ số tiền nóng = Tiền nóng bên tài sản có

Tiền nóng bên tài sản nợ

Trang 25

Tiền nóng là các loại tài sàn nhạy cảm với lãi suất, thường bao gồm:tiền mặt, tiền gửi không kỳ hạn, chứng khoán chính phủ ngắn hạn và các tàisản khác có thể chuyển hóa thành tiền trong ngắn hạn Nếu chỉ tiêu tiền nóngcao thì ngân hàng được xem là có thanh khoản cao.

 Tỷ số đầu tư ngắn hạn trên vốn nhạy cảm:

Tỷ số đầu tư ngắn hạntrên vốn nhạy cảm =

Đầu tư ngắn hạnVốn nhạy cảm

Hệ số này càng cao thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng cao.Thông thường hệ số này bằng 0.7 là đủ đáp ứng khả năng thanh khoản củangân hàng

 Chỉ số cấu trúc tiền gửi:

Chỉ số cấu trúc tiền gửi = Tiền gửi giao dịch

Tiền gửi kỳ hạnChỉ số cấu trúc tiền gửi đo lường tính ổn định của cơ sở tiền gửi củangân hàng Nếu chỉ số này giảm thì tính ổn định của vốn tiền gửi sẽ cao hơn

và do đó yêu cầu thanh khoản sẽ giảm

Đố với phương pháp tiếp cận các chỉ số tài chính này, các ngân hàngrất dễ dàng thực hiện, phản ánh được bai quát tình hình thanh khoản của ngânhàng Tuy nhiên, phương pháp này không lượng hóa được nhu cầu thanhkhoản và cách thức tìm kiếm nguồn vốn bổ sung cho ngân hàng

1.2.7.4 Phương pháp thang đáo hạn

Vào tháng 2 năm 2000, Ngân hàng thanh toán quốc tế ( BIS ) đã xâydựng phương pháp thang đáo hạn để đo lường thanh khoản của các ngânhàng Phương pháp thanh đáo hạn cho phép so sánh các luồng tiền vào vớicác luồng tiền ra trong mỗi ngày hay cho một thời kỳ nhất định, qua đó xácđịnh được các trạng thái thanh khoản ròng ( nhu cầu tài trợ ròng ) mỗi ngày

và trạng thái thanh khoản tích lũy cho một thời kỳ

Trang 26

Để xây dựng thang đáo hạn, ngân hàng xác định các luồng tiền vào và

ra cho những kỳ hạn khác nhau Các luồng tiền ra có thể được xếp thứ tự theongày mà các tài sản Nợ đáo hạn, ngày sớm nhất mà người gửi tiền tiết kiệmthực hiện quyền được rút tiền gửi trước hạn, hoặc ngày sớm nhất mà các nhucầu về vốn phát sinh một cách đột xuất Các luồng tiền vào có thể được xếpthứ tự theo ngày mà các tài sản Có đáo hạn hoặc căn cứ vào ước tính của ngânhàng về luồng tiền vào Mức chênh lệch giữa tổng luồng tiền vào và tổngluồng tiền ra trong mỗi thời kỳ trở thành cơ sở để đo lường mức dư thừa haythiếu hụt thanh khoản tại các thời điểm khác nhau

BIS cũng xây dựng phương pháp dự báo các luồng tiền có thể phát sinhcho các kịch bản khác nhau trong các điều kiện bình thường, điều kiện bảnthân ngân hàng gặp khó khăn và điều kiện thị trường gặp khó khăn Điều kiệnbình thường giả định rằng tất cả các hoạt động của ngân hàng cũng như củanền kinh tế diễn ra bình thường theo đúng dự kiến Điều kiện bản thân ngânhàng gặp khó khăn giả định rằng ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ thanhtoán đúng hạn, thậm chí là có nhiều khoản tiền gửi rút trước hạn… Điều kiệnnền kinh tế gặp khó khăn giả định rằng chất lượng tín dụng tổng thể giảm, cácngân hàng đều gặp phải khó khăn trong việc huy động mới

1.2.8 Các biện pháp quản trị rủi ro thanh khoản

Để xử lý vấn đề về thanh khoản, ngân hàng có thể tiếp cận theo bahướng sau đây:

- Tạo ra nguồn cung thanh khoản từ bên trong ( dựa vào tài sản “ có ” )

- Vay mượn từ bên ngoài ( dựa vào tài sản “ nợ ” ) để đáp ứng nhu cầuthanh khoản

- Phối hợp cân bằng cả hai hướng trên

1.2.8.1 Biện pháp quản trị thanh khoản có

Biện pháp này đòi hỏi ngân hàng phải dự trữ thanh khoản đủ lớn dưới

Trang 27

hình thức nắm giữ những tài sản có tính thanh khoản cao, chủ yếu là tiền mặt

và các chứng khoán dễ bán Khi xuất hiện nhu cầu thanh khoản, ngân hàng sẽ

sử dụng tiền mặt và chuyển hóa dần các tài sản thành tiền mặt cho đến khinhu cầu thanh khoản được đáp ứng Khi sử dụngh biện pháp này, quy môbảng cân đối tài sản và kết cấu tài sản có của ngân hàng sẽ bị thay đổi

Những tài sản có tính thanh khoản phổ biến là: trái phiếu kho bạc,thương phiếu, hối phiếu …Như vậy, trong biện pháp quản trị thanh khoản có,một ngân hàng được coi là quản trị thanh khoản tốt nếu ngân hàng này có thểtiếp cận nguồn cung thanh khoản một cách kịp thời với chi phí hợp lý

Biện pháp này có ưu điểm là ngân hàng hoàn toàn chủ động trong việc

tự đáp ứng nhu cầu thanh khoản cho mình mà không bị lệ thuộc vào các chủthể khác Tuy nhiên, biện pháp này cũng có một số nhược điểm sau:

- Khi bán tài sản để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, ngân hàng sẽ mất đikhoản thu nhập mà tài sản đó mang lại Như vậy, ngân hàng đã phải chịu chiphí cơ hội khi bán đi các tài sản đã đầu tư

- Tổn thất càng lớn cho ngân hàng nếu các tài sản đem bán bị giảm giátrên thị trường hoặc bị người mua ép giá do ngân hàng phải bán gấp để đápứng nhu cầu thanh khoản

- Ngân hàng phải đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản cao, lại làcác tài sản có khả năng sinh lời thấp, do đó sẽ sảnh hưởng đến hiệu quả sửdụng vốn của ngân hàng

1.2.8.2 Biện pháp quản trị thanh khoản nợ

Thay vì sử dụng các khoản mục bên Có của bảng cân đối, biện phápquản trị thanh khoản nợ sử dụng các khoản mục bên Nợ của bảng cân đối tàisản Ngân hàng sẽ thực hiện mua thanh khoản trên thị trường tiền tệ để đápứng các yêu cầu về thanh khoản phát sinh Nguồn tài trợ cho biện pháp này

Trang 28

thường bao gồm: vay qua đêm, vay Ngân hàng Trung ương, phát hàng cácchứng chỉ tiền gửi … Biện pháp này không làm thay đổi quy mô bảng cân đốitài sản và kết cấu tài sản có nhưng làm thay đổi kết cấu tài sản nợ Như vậy,nếu ngân hàng quản lý tài sản nợ một cách hiệu quả thì chiến lược kinh doanhbên tài sản có sẽ không bị ảnh hưởng bởi sự rút tiền quá mức thông thườngcủa khách hàng.

Ưu điểm của biện pháp này là vấn đề thanh khoản của ngân hàng đượcgiải quyết một cách linh hoạt, hoạt động đầu tư vào các tài sản sinh lời trở nênlinh hoạt hơn Tuy nhiên, nhược điểm của biện pháp này là ngân hàng bị phụthuộc vào thị trường tiền tệ khi đáp ứng nhu cầu thanh khoản do sự biến động

về khả năng cho vay và lãi suất trên thị trường tiền tệ Hơn nữa, một ngânhàng vay mượn quá nhiều thường bị đánh giá là có khó khăn về tài chính, khithông tin này lan rộng, các khách hàng gửi tiền sẽ rút vốn hàng loạt hoặc ngânhàng phải huy động vốn với chi phí cao hơn so với các ngân hàng khác Cùnglúc đó, các định chế tài chính cũng thận trọng và dè dặt hơn trong việc tài trợvốn cho ngân hàng này để giải quyết khó khăn về thanh khoản

1.2.8.3 Biện pháp quản trị thanh khoản phối hợp

Như đã nêu ở trên, cả hai biện pháp quản trị thanh khoản có và quản trịthanh khoản nợ đều có hạn chế là: chịu chi phí cơ hội cao khi bán các tài sản

dự trữ hoặc bị phụ thuộc vào thị trường tiền tệ Do đó, phần lớn các ngânhàng thường kết hợp cả hai biện pháp trên để tạo ra biện pháp quản trị thanhkhoản phối hợp

Đối với biện pháp này, ngân hàng sử dụng cả việc dự trữ thanh khoản và

đi mua thanh khoản trên thị trường tiền tệ để đáp ứng nhu cầu thanh khoản Đốivới những nhu cầu thanh khoản thường xuyên, ngân hàng sẽ sử dụng tài sản dựtrữ để đáp ứng, đối với những nhu cầu thanh khoản không thường xuyên sẽ đượcđáp ứng bằng mua thanh khoản hay vay nợ trên thị trường tiền tệ

Trang 29

Khi sử dụng biện pháp này, các ngân hàng có thể giảm thấp phần dự trữthanh khoản để tăng cho vay và đầu tư Bên cạnh đó cũng làm giảm chi phíthanh khoản xuống mức hợp lý mà không làm mất tính chủ động của ngânhàng trong việc đáp ứng các nhu cầu thanh khoản.

Ngoài các biện pháp quản trị thanh khoản nêu trên, khi tiến hành hoạtđộng quản trị rủi ro thanh khoản, các ngân hàng có thể tham khảo các quy tắctrong việc quản trị thanh khoản mà BIS đề ra sau đây:

Xây dựng một chương trình quản lý rủi ro thanh khoản

Quy tắc 1: Các ngân hàng phải có một chiến lược thống nhất về quảntrị thanh khoản

Quy tắc 2: Ban giám đốc ngân hàng cần thông qua các chiến lược vàchính sách quản trị thanh khoản cần thiết

Quy tắc 3: Mỗi ngân hàng phải có bộ phận quản trị chịu trách nhiệmthực hiện chiến lược quản trị thanh khoản

Quy tắc 4: Ngân hàng phải có các hệ thống thông tin đầy đủ để đolường, giám sát, kiểm soát và báo cáo rủi ro thanh khoản

Đo lường và giám sát trạng thái thanh khoản

Quy tắc 5: Mỗi ngân hàng cần xây dựng một quy trình đo lường vàgiám sát thường xuyên trạng thái thanh khoản

Quy tắc 6: Mỗi ngân hàng cần phân tích trạng thái thanh khoản theocác kịch bản khác nhau có thể xảy ra

Quy tắc 7: Mỗi ngân hàng cần thường xuyên xem xét lại các giả địnhđưa ra khi xác định trạng thái thanh khoản: Các giả định về tài sản có, tài sản

nợ, cam kết ngoại bảng

Quản trị khả năng tiếp cận các nguồn vốn

Quy tắc 8: Mỗi ngân hàng cần thường xuyên xem xét về mối quan hệ

Trang 30

với các nhà cung cấp vốn, mức độ tập trung của nhà cung cấp vốn (liabilitiesholder ).

Lập kế hoạch dự phòng

Quy tắc 9: Mỗi ngân hàng cần phải xây dựng các kế hoạch đối phó vớicác khủng hoảng thanh khoản

Quản trị thanh khoản đối với ngoại tệ

Quy tắc 10: Mỗi ngân hàng cần có hệ thống đo lường, giám sát và kiểmsoát trạng thái thanh khoản đối với các loại ngoại tệ mà ngân hàng có giaodịch nhiều

Quy tắc 11: Mỗi ngân hàng cần đưa ra các hạn mức cho phép vàthường xuyên xem xét các hạn mức

Kiểm soát nội bộ trong quản trị rủi ro thanh khoản

Quy tắc 12: Mỗi ngân hàng cần các thủ tục kiểm soát nội bộ cần thiếtcài đặt trong quá trình quản trị rủi ro thanh khoản Thủ tục kiểm soát nộibộquan trọng nhất là cần có cuộc kiểm tra, đánh giá độc lập để đánh giá hiệuquả của quản trị rủi ro thanh khoản Kết quả kiểm soát nội bộ cần báo cáo vớiBan kiểm soát của ngân hàng

Công bố thông tin ra ngoài

Quy tắc 13: Mỗi ngân hàng cần có một cơ chế đảm bảo rằng thông tin

về hoạt động của ngân hàng được công bố ra ngoài để đảm bảo uy tín và tìnhhình hoạt động của ngân hàng là lành mạnh

Vai trò của Ban kiểm soát

Quy tắc 14: Ban kiểm soát phải thực hiện các cuộc kiểm tra, đánh giáđộc lập về chiến lược, chính sách, thủ tục và biện pháp ngân hàng thực hiệnquản trị rủi ro thanh khoản Ban kiểm soát cũng phải nhận được các thông tinkịp thời để đánh giá rủi ro thanh khoản và đảm bảo rằng ngân hàng có kế

Trang 31

hoạch quản trị thanh khoản cần thiết.

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO THANH KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

2.1 Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

2.1.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam ( gọi tắt là VietinBank )được thành lập từ năm 1988 sau khi tách ra từ Ngân hàng Nhà nước ViệtNam Ban đầu Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam lấy thương hiệu làIncomBank, ngày 15/04/2008 đổi tên sang thương hiệu mới là VietinBank.VietinBank là một ngân hàng thương mại lớn, giữ vai trò quan trọng, trụ cộtcủa ngành Ngân hàng Việt Nam

VietinBank có hệ thống mạng lưới trải rộng toàn quốc với 150 Sở Giaodịch, chi nhánh và trên 900 phòng giao dịch/ Quỹ tiết kiệm VietinBank có 6công ty hạch toán độc lập là: Công ty Cho thuê tài chính; Công ty Chứngkhoán Công thương; Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản; Công ty TNHHMTV Bảo hiểm; Công ty TNHH MTV Quản lý quỹ; Công ty TNHH MTVVàng bạc đá quý và 3 đơn vị sự nghiệp là: Trung tâm Công nghệ thông tin;Trung tâm thẻ; Trường đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

VietinBank còn là sáng lập viên và đối tác liên doanh của Ngân hàngINDOVINA, có quan hệ đạ lý với trên 850 ngân hàng và định chế tài chínhlớn trên toàn thế giới Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam là một ngânhàng đầu tiên của Việt Nam được cấp chứng chỉ ISO 9001: 2000(31/07/2008) Là thành viên của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, Hiệp hội cácngân hàng Châu Á, Hiệp hội Tài chính viễn thông Liên ngân hàng toàn cầu( SWIFT), Tổ chức phát hành và thanh toán thẻ VISA, MASTER quốc tế

Trang 33

VietinBank còn là ngân hàng tiên phong trong việc ứng dụng côngnghệ hiện đại thương mại điện tử tại Việt Nam, không ngừng nghiên cứu, cảitiến sản phẩm, dịch vụ hiện có và phát triển các sản phẩm mới nhằm đáp ứngcao nhất nhu cầu của khách hàng.

Với mạng lưới rộng khắp của mình, VietinBank mang trong mình sứmệnh là trở thành Tập đoàn tài chính ngân hàng hàng đầu Việt Nam, hoạtđộng đa năng, cung cấp sản phẩm và dịch vụ theo chuẩn mực quốc tế, nhằmnâng cao giá trị cuộc sống

Đến với Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, các khách hàng sẽhài lòng về chất lượng sản phẩm, dịch vụ và phong cách phục vụ chuyênnghiệp, nhiệt tình với phương châm: “ Tin cậy, Hiệu quả, Hiện đại ”

2.1.2 Cơ cấu tổ chức

Sơ đồ 1: Hệ thống tổ chức của Ngân hàng Công thương

Trang 34

Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức bộ máy và điều hành của Trụ sở chính

Sơ đồ 3: Cơ cấu tổ chức bộ máy và điều hành của Sở giao dịch, Chi nhánh

cấp 1 và Chi nhánh cấp 2

Trang 35

2.1.3 Các hoạt động chính của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

Nhận tiền gửi tiết kiệm với nhiều hình thức phong phú và hấp dẫn.Các khách hàng là doanh nghiệp có thể lựa chọn hình thức tiền gửi đầu tư –lãi suất thả nổi hay tiền gửi đầu tư rút gốc linh hoạt Các khách hàng cá nhâncũng có rất nhiều lựa chọn như: tiết kiệm không kỳ hạn thông thường, tiếtkiệm không kỳ hạn lãi suất bậc thang theo số dư, tiết kiệm có kỳ hạn thôngthường, tiết kiệm có kỳ hạn lãi suất bậc thang theo số dư, tiết kiệm thôngminh, tiết kiệm kỳ hạn linh hoạt, tiết kiệm tích lũy, tiết kiệm, tiết kiệm có kỳhạn lãi suất siêu thả nổi …

Ngoài ra, để huy động vốn, ngân hàng còn phát hành các giấy tờ cógiá như: phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi

2.1.3.2 Hoạt động sử dụng vốn

Ngân hàng chủ yếu sử dụng vốn để cho vay và đầu tư Ngân hàng đưa

ra rất nhiều sản phẩm cho vay phù hợp với từng mục đích sử dụng vốn củatừng đối tượng vay

Đối với cho vay khách hàng là cá nhân, ngân hàng có các sản phẩm chovay như: cho vay tiêu dùng ( cho vay tiêu dùng thông thường; cho vay cán bộcông nhân viên; cho vay đảm bảo bằng số dư tiền gửi, sổ/ thẻ tiết kiệm, giấy

Trang 36

tờ có giá ); cho vay mua ô tô; cho vay để mua bất động sản ( mua nhà dự án;mua nhà dự án do Vietinbank tài trợ vốn, mua nhà ở, cho vây xây dựng và sửachữa nhà ở ); cho vay du học, xuất khẩu lao động; cho vay để sản xuất kinhdoanh …

Đối với các doanh nghiệp, ngân hàng có các hình thức cho vay như:cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay theo dự án đầu tư,cho vay trả góp, cho vay hợp vốn, cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vaythông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng …

Ngoài thực hiện nghiệp vụ cho vay, VietinBank còn sử dụng vốn đểhùn vốn liên doanh, liên kết với các tổ chức tín dụng và các định chế tài chínhtrong nước và quốc tế; đầu tư trên thị trường vốn, thị trường tiền tệ trongnước và quốc tế

Ngoài hai hoạt động chính là huy động vốn và cho vay, đầu tư, Ngânhàng TMCP Công thương Việt Nam còn thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh, táibảo lãnh ( trong nước và quốc tế ); nghiệp vụ thanh toán và tài trợ thươngmại; khai thác bảo hiểm nhân thọ; tư vấn đầu tư và tài chính; cho thuê tàichính …

Để hoàn thiện các dịch vụ liên quan hiện có nhằm đáp ứng nhu cầungày càng cao của khách hàng, đồng thời tạo đà cho sự phát triển và hội nhậpvới các nước trong khu vực và quốc tế, Ngân hàng Công thương Việt Namluôn có tầm nhìn chiến lược trong đầu tư và phát triển, tập trung ở 3 lĩnh vực:

- Phát triển nguồn nhân lực

- Phát triển công nghệ

- Phát triển kênh phân phối

Trang 37

2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2010

2.1.4.1 Tình hình huy động vốn

Năm 2008, trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàngthương mại về tiền gửi từ khách hàng để đảm bảo nguồn vốn và thanh khoản,Ngân hàng Công thương Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng tốt về nguồn vốn.Tổng nguồn vốn huy động đạt 174.905 tỷ đồng, tăng 15,6% Tiền gửi củakhách hàng đạt 121.634 tỷ đồng, chiếm 69,5% tổng vốn huy động Cơ cấutiền gửi của tổ chức kinh tế bao gồm tiền gửi của doanh nghiệp quốc doanhđạt 35.528 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 75,8% tổng tiển gửi của tổ chức kinh tế;tiền gửi của doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các đối tượng khác chiếm tỷtrọng 17% tổng tiền gửi của tổ chức kinh tế; tiền gửi của các doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài tăng 20,2% so với năm trước nhưng chiếm tỷ trọngnhỏ nhất trong tổng tiền gửi tổ chức kinh tế ( 7,2% ) Với lợi thế là một ngânhàng quốc doanh có mạng lưới rộng lớn và thương hiệu mạnh, trong tình hìnhhuy động vốn khó khăn thì nguồn tiền gửi của dân cư vào Ngân hàng Côngthương Việt Nam vẫn luôn ổn định và đạt 67.670 tỷ đồng, tăng 24% so vớinăm trước

Trong năm 2009, trong bối cảnh chính sách hỗ trợ lãi suất để tạo đà chotăng trưởng kinh tế của NHNN đã tạo cú hích cho tăng trưởng tín dụng đồngthời cũng dẫn đến tình trạng cạnh tranh căng thẳng trong huy động vốn nhằmđáp ứng nhu cầu cho vay của các ngân hàng thương mại, số dư huy động vốncủa VietinBank vẫn đạt được kết quả rất khả quan Cụ thể là nguồn vốn huyđộng đến cuối năm đạt trên 220.000 tỷ đồng, tăng trên 26% so với năm trước.Nguồn vốn tiền gửi của khách hàng đạt trên 148.374 tỷ đồng

Tính đến cuối năm 2010, tổng nguồn vốn huy động của VietinBank đạt339.000 tỷ đồng, tăng 54% so với năm 2009 và vượt 28% so với chỉ tiêu đặt

Trang 38

ra của Đại hội đồng cổ đông Trong đó nguồn vốn từ dân cư chiếm 33% tổngnguồn vốn và huy động từ doanh nghiệp chiếm 31% tổng nguồn vốn Ngoài

ra, Ngân hàng Công thương Việt Nam đã phát hành thành công 5.350 tỷ đồngtrái phiếu kỳ hạn 2 năm nhằm cơ cấu lại nguồn vốn theo hướng bền vững hơn

Biểu đồ 2.1: Nguồn vốn tiền gửi của khách hàng

121,634

148,374

205,918

0 50,000 100,000

Trang 39

đồng so với năm 2007 tương đương với tỷ lệ tăng 18,2% Trong đó, tỷ lệ chovay trung và dài hạn chiếm 41,9% tổng dư nợ; tỷ lệ cho vay doanh nghiệp nhànước chiếm 19,9% tổng dư nợ Tỷ lệ cho vay không có đảm bảo bằng tài sản

có xu hướng giảm dần trong các năm gần đây, năm 2008 chiếm 22,7% tổng

dư nợ, giảm 3% so với đầu năm Ngân hàng Công thương Việt Nam đã hạnchế được rất nhiều rủi ro trong cho vay lĩnh vực bất động sản và chứng khoán

do có sự kiểm soát chặt chẽ từ đầu năm Cơ cấu dư nợ cho vay theo quy môgiữa doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ và cá nhân tương ứng là45,4%; 36%; 18,6%

Năm 2009, tổng dư nợ cho vay của ngân hàng đạt 163.170 tỷ đồng,tăng 42.418 tỷ đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 35,1% Đồng thời với việc tăngtrưởng tín dụng, năm 2009 cũng là một năm thành công của VietinBank trongviệc tiếp tục đẩy mạnh hoạt động phân loại, cơ cấu lại cơ sở khách hàng theochiến lược của Hội đồng quản trị Kết quả là chất lượng tín dụng đã đượcnâng cao rõ rệt Tỷ lệ nợ nhóm 2 đến cuối năm 2009 là 1,02% (năm 2008 là3,29% ), nợ xấu ở mức 0,61% ( năm 2008 là 1,81% ), thấp nhất trong hệthống các ngân hàng thương mại Tỷ trọng cho vay ngắn hạn đạt 57% tổng dư

nợ, cho vay trung hạn chiếm 14% tổng dư nợ và cho vay dài hạn chiếm 29%tổng dư nợ

Với vai trò là một ngân hàng thương mại nhà nước chủ lực, năm 2010VietinBank đã tài trợ nhiều dự án lớn trọng điểm của Chính phủ, ngành, địaphương góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tiếptục cho vay hỗ trợ lãi suất 2% theo chỉ đạo của Chính phủ Tổng dư nợ chovay đến 31/12/2010 đạt 234.204 tỷ đồng, tăng 43,5% so với đầu năm, trong

đó dư nợ cho vay theo Nghị quyết 18 và 41, Chỉ thị 02 đạt trên 40.000 tỷđồng Tổng dư nợ cho vay đối với các khách hàng mới có quan hệ tín dụngtrong năm 2010 đạt 34,2 nghìn tỷ đồng

Trang 40

Biểu đồ 2.2: Tăng trưởng tín dụng

120,752

163,170

234,204

0 50,000

Năm 2009

Năm 2010

2.1.4.3 Kết quả kinh doanh

Với sự quết tâm nỗ lực phấn đấu của Ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ nhânviên hệ thống, VietinBank đã đạt được những kết quả kinh doanh rất khả quan

Năm 2008, tổng tài sản đạt trên 193 nghìn tỷ đồng, tổng vốn chủ sởhữu trên 12 nghìn tỷ đồng, tổng lợi nhuận trước thuế đạt 2.436 tỷ đồng, tỷ lệ

nợ xấu là 1,81%

Sang năm 2009, các chỉ tiêu tài chính của ngân hàng cao hơn so vớinăm trước, cụ thể: tổng tài sản đạt 243.785 tỷ đồng; tổng vốn chủ sở hữu là12.572 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế đạt 3.373 tỷ đồng; tỷ lệ ROE đạt 20,6%;

tỷ lệ ROA đạt 1,54%; hệ số an toàn vốn CAR là 8,06%; tỷ lệ nợ xấu chỉchiếm 0,61%

Năm 2010 cũng là một năm có nhiều khó khăn và thách thức đối với nềnkinh tế và hệ thống ngân hàng Tuy nhiên, VietinBank vẫn đạt được các chỉ tiêu

Ngày đăng: 09/04/2015, 08:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Hệ thống tổ chức của Ngân hàng Công thương - Quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Sơ đồ 1 Hệ thống tổ chức của Ngân hàng Công thương (Trang 33)
Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức bộ máy và điều hành của Trụ sở chính - Quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Sơ đồ 2 Cơ cấu tổ chức bộ máy và điều hành của Trụ sở chính (Trang 34)
Sơ đồ 3: Cơ cấu tổ chức bộ máy và điều hành của Sở giao dịch, Chi nhánh - Quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Sơ đồ 3 Cơ cấu tổ chức bộ máy và điều hành của Sở giao dịch, Chi nhánh (Trang 34)
Bảng 2.1: Trạng thái tiền mặt - Quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.1 Trạng thái tiền mặt (Trang 43)
Bảng 2.2: Trạng thái ngân quỹ - Quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.2 Trạng thái ngân quỹ (Trang 45)
Bảng 2.3: Chỉ số chứng khoán thanh khoản - Quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.3 Chỉ số chứng khoán thanh khoản (Trang 46)
Bảng 2.4: Chỉ số năng lực cho vay - Quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.4 Chỉ số năng lực cho vay (Trang 49)
Bảng 2.5: Chỉ số cấu trúc tiền gửi - Quản trị rủi ro thanh khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Bảng 2.5 Chỉ số cấu trúc tiền gửi (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w