Tín dụng trung – dài hạn của Ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Trang 1Chương I:
Tín dụng trung – dài hạn của Ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp
ngoài quốc doanh
I lý luận chung về tín dụng trung - dài hạn của Ngân hàng thương mại
1.1 Khái niệm tín dụng Ngân hàng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa haichủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia được sửdụng trong thời gian nhất định, đồng thời nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàntrả theo thời gian đã thoả thuận
1.2 Phân loại tín dụng Ngân hàng
Tín dụng Ngân hàng có thể phân chia thành nhiều loại theo những tiêuthức khác nhau
1.2.1 Theo thời hạn sử dụng:
Cho vay có kỳ hạn là khoản vay mà thời hạn hoàn trả và thời điểm hoàntrả được xác định một cách cụ thể ngay từ khi ký hợp đồng tín dụng Có ba loại:
Cho vay ngắn hạn là loại tín dụng có thời hạn không quá một năm, dùng để
bổ sung cho phần vốn lưu động còn thiếu phát sinh trong quá trình kinhdoanh của doanh nghiệp hay phục vụ tiêu dùng đối với nhu cầu cá nhân
Cho vay trung hạn là loại tín dụng có thời hạn từ 12 đến 60 tháng
Cho vay dài hạn là loại tín dụng có thời hạn từ 5 năm đến thời hạn đượcphép tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp đi vay
Trang 2Cho vay không kỳ hạn là khoản cho vay không quy định thời điểm hoàntrả cụ thể khi ký hợp đồng vay mà thay vào đó là những điều kiện cụ thể về trả
nợ của người vay và việc thu hồi tiền cho vay của NH Điều kiện ở đây là người
đi vay sẽ hoàn trả khi không có nhu cầu sử dụng hay khi có nguồn khác bù đắp.Còn Ngân hàng phải báo trước để người vay tìm nguồn khác trả nợ cho ngânhàng Loại hình cho vay này sẽ góp phần tạo điều kiện chủ động cho kháchhàng trong việc sử dụng tiền vay, giảm chi phí còn đối với Ngân hàng sẽ có kếhoạch điều chỉnh khả năng cho vay, đồng thời tiết kiệm chi phí trong quá trìnhxét duyệt
1.2.2 Theo phương thức bảo đảm
Cho vay có bảo đảm là các khoản vay mà Ngân hàng sẽ nắm giữ các tài sảnthuộc sở hữu trực tiếp của người đi vay, thuộc tài sản sở hữu người bảo lãnh vớimục đích xử lý các tài sản đó để thu hồi tiền cho vay khi người vay vi phạmHĐTD Các loại tài sản nói trên thường là bất động sản và động sản, ngoài racòn phụ thuộc vào quy định của cho vay
Cho vay không có bảo đảm (tín chấp) Ngân hàng không nắm giữ một loạitài sản nào của người vay để thanh lý tài sản nhằm thu hồi khoản vay, mà thayvào đó những điều kiện khắt khe:
- Khách hàng không được thiết lập mối quan hệ với bất kỳ một Ngân hàngkhác nhằm giúp Ngân hàng quản lý được mọi biến động trong hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp
- NH đã hoặc đang góp một phần vốn với hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp
Trang 3- Phương án kinh doanh của DN được NH đánh giá có tính khả thi cao, khảnăng đem lại lợi nhuận cao.
1.2.3 Theo ngành kinh tế
Tín dụng được phân cấp thành tín dụng cấp cho ngành công nghiệp, nôngnghiệp, thương nghiệp dịch vụ Vì hướng cho vay khác nhau nên điều kiện vàphương thức cho vay rất khác nhau, tuỳ theo đặc điểm của từng ngành mà cóquy định riêng
1.2.4 Theo thành phần kinh tế
Tín dụng phân cấp cho thành phần kinh tế quốc doanh
Tín dụng phân cấp cho thành phần kinh tế ngoài quốc doanh
1.2.5 Theo phương thức trả góp:
Cho vay trả góp cho tiêu dùng
Cho vay hoàn trả một lần khi đến hạn thường áp dụng đối với những khoảncho vay nhỏ hay ngắn hạn
Cho vay từng món được phát sinh khi doanh nghiệp bán hàng nhưng chưathu được tiền không có giấy tờ để chiết khấu hay thấu chi, khi mở rộng chu kỳkinh doanh có tính chất nhất thời không vĩnh viễn, có thể xác định được lượngtiền cần vay và thời hạn sử dụng
Cho vay theo hạn mức tín dụng là hình thức cho vay mà khách hàng vàNgân hàng thoả thuận xác định lượng tín dụng tối đa theo đó trong một khoảngthời gian nhất định thì khách hàng có thể toàn quyền được vay trong điều kiệntổng dư nợ tại thời điểm đó không vượt quá số quy định
Trang 4 Cho vay hợp vốn là hình thức nhiều tổ chức tín dụng khác nhau đồng tàitrợ cho một đối tượng đi vay Có ưu điểm là san sẻ rủi ro, song nhược điểm làlơi lỏng trong việc kiểm soát tiền vay của khách hàng.
1.2.6 Theo nguồn gốc hình thành các khoản cho vay.
Cho vay trực tiếp là những cơ sở hình thành trực tiếp giữa Ngân hàng vànguời vay diễn ra ở Ngân hàng hoặc doanh nghiệp Hiện nay, phần lớn cáckhoản cho vay của Ngân hàng là cho vay trực tiếp
Cho vay gián tiếp được thực hiện thông qua mua lại những khoản cho vaycủa Ngân hàng khác hoặc thông qua mua lại những khoản cho vay của Ngânhàng khác hoặc thông qua trái phiếu của công ty, chính phủ
1.2.7 Theo kỹ thuật cung cấp tín dụng được phân thành:
Bảo lãnh là hình thức Ngân hàng dùng uy tín của mình đứng ra bảo lãnhcho người mua trước người bán Hình thức bảo lãnh rất đa dạng và phong phúnhư bảo lãnh ký quỹ dự thầu, bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnhđối ứng…
Tín dụng thuê mua là hình thức mà người thuê sau một thời gian sử dụngtài sản thuê có thể mua lại tài sản đó với mức giá thoả thuận
Tín dụng chiết khấu là nghiệp vụ mà theo đó Ngân hàng cấp cho kháchhàng một số tiền bằng mệnh giá chứng từ chiết khấu trừ đi một khoản lệ phíchiết khấu Khi chứng từ chiết khấu đến hạn Ngân hàng nhận lại toàn bộ số tiềnbằng mệnh giá chứng từ chiết khấu, chứng từ chiết khấu có thể là kỳ phiếuthương mại, hối phiếu đã được chấp nhận
II Tín dụng trung – dài hạn đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Trang 51.1 Tín dụng trung – dài hạn
1.1.1 Khái niệm
Tín dụng Ngân hàng (cho vay) trung- dài hạn là các khoản cho vay củaNgân hàng có thời hạn trên một năm nhưng không dài hơn thời gian khấu haocần thiết của tài sản hình thành bằng vốn vay
Tín dụng trung – dài hạn còn góp phần đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất được liên tục, đồng thời góp phần đầu tư phát triển nền kinh
tế Trong điều kiện kinh tế phát triển cao như hiện nay, thừa thiếu vốn tạm thờithường xuyên xảy ra tại các doanh nghiệp Việc phân phối tín dụng trung – dàihạn đã góp phần điều hoà vốn cho nền kinh tế tạo điều kiện cho quá trình sảnxuất được diễn ra liên tục, ngoài ra nó còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tưđồng thời là phương tiện đáp ứng vốn cho nhu cầu phát triển
Tín dụng trung – dài hạn còn thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất: Hoạt động của Ngân hàng là tập trung vốn tiền tệ tạm thời chưa sử
dụng hiện đang nằm phân tán trong nền kinh tế, trên cơ sở đó cho doanh nghiệpvay Tuy nhiên quá trình đầu tư không phải rải đều cho mọi chủ thể mà đượcthực hiện một cách tập trung cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả Vì vậyđây là cách thức buộc các doanh nghiệp phải cố gắng hoạt động sản xuất kinhdoanh một cách hiệu quả để được Ngân hàng xem xét cho vay vốn
Tín dụng trung dài hạn góp phần tạo thị trường sử dụng vốn ngắn hạn: Tín
dụng trung dài hạn đầu tư vào máy móc thiết bị và xây dựng cơ bản của doanhnghiệp làm kích thích sản xuất phát triển Khi đó các doanh nghiệp cần nhiềuvốn lưu động hơn để đáp ứng sự phát triển sản xuất, điều đó tạo ra thị trường sửdụng vốn ngắn hạn Tốc độ phát triển sản xuất càng cao nhu cầu vốn lưu động
Trang 6càng lớn và tín dụng trung dài hạn đã tạo điều kiện cho tín dụng ngắn hạn pháttriển.
Tín dụng trung dài hạn góp phần thúc đẩy chuyển dịch kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá: Thông qua nghiệp vụ tín dụng trung dài hạn,
Ngân hàng có thể cho vay đáp ứng với sự phát triển của ngành này, cũng có thểhạn chế đối với một số ngành kinh tế khác Công nghiệp hoá không chỉ đơngiản là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế mà
là cả quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới cơ bản về công nghệ tạo nềntảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và lâu bền của toàn bộ nền kinh tếquốc dân
Nhờ có vốn đầu tư tín dụng trung dài hạn mà các doanh nghiệp có thểnhập khẩu máy móc trang thiết bị công nghệ Đối với những nước đang pháttriển như Việt Nam thì việc mở rộng kim ngạch xuất nhập khẩu là một điều tốt,đây là con đường ngắn nhất để chúng ta đuổi kịp các nước về mặt công nghệ.Ngoài ra nhờ việc nhập máy móc thiết bị, năng lực sản xuất của doanh nghiệpđược tăng lên, sản phẩm sản xuất ra có chất lượng cao, mẫu mã đẹp đáp ứngyêu cầu của thị trường nước ngoài, để có thể tăng khả năng cạnh tranh và xuấtkhẩu
Tín dụng trung – dài hạn góp phần tiết kiệm được lượng tiền mặt trong lưu thông, tạo điều kiện cho việc quản lý và điều hoà lưu thông tiền tệ, góp phần
kiểm soát các hoạt động trong nền kinh tế, thúc đẩy việc nâng cao chất lượng sửdụng vốn trong hoạt động kinh tế xã hội, thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiệntốt chế độ hạch toán kinh doanh
Tín dụng trung dài hạn góp phần tạo nguồn thu vững chắc cho ngân sách.
Tín dụng trung dài hạn đầu tư cho phát triển kinh tế theo chiều sâu, do đó khi
Trang 7sản xuất phát triển sẽ tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá để tiêu thụ trong nướccũng như xuất khẩu, thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, do đótrong trường hợp sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ với khối lượng lớn, ổnđịnh sẽ tạo ra nguồn thu cho ngân sách từ thuế GTGT, thuế xuất khẩu, thuế sửdụng tài nguyên Ngoài ra, khi các doanh nghiệp làm ăn có lãi thì nhà nước còn
có khoản thu từ thuế thu nhập Trong trường hợp sản phẩm sản xuất ra đượcxuất khẩu sang các nước thì chúng ta sẽ thu được ngoại tệ đảm bảo duy trì chonhu cầu nhập khẩu, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế
Tín dụng trung – dài hạn là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành kinh tế mũi nhọn: Thông qua hệ thống Ngân hàng, Nhà nước sẽ
tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển bằng việc cho vay ưu đãi với lãisuất thấp, thời gian dài, mức hồi vốn lớn Bên cạnh đó, Nhà nước còn tập trungvốn để tài trợ cho các ngành mũi nhọn, các ngành này phát triển sẽ tạo cơ sở vàlôi cuốn thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo
Tín dụng trung – dài hạn tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế với nước ngoài: Trong điều kiện hiện nay, phát triển kinh tế một nước luôn gắn liền
với kinh tế thế giới, kinh tế “đóng” nhường bước cho kinh tế “mở” vì vậy tíndụng trung – dài hạn đã trở thành một phương tiện nối liền các nền kinh tế vớinhau
Trong thời gian qua tín dụng trung – dài hạn của Ngân hàng đã có nhữngđổi mới tích cực, cơ chế lãi suất tín dụng đã bắt đầu chuyển sang cơ chế thịtrường, từ lãi suất thực âm trước đây sang lãi suất thực dương và đang thực hiện
tự do hoá lãi suất, xoá bỏ được sự phân biệt đối với các hình thức sở hữu Quátrình đổi mới đó đã chuyển hoạt động của các Ngân hàng thương mại sang chế
độ hạch toán kinh doanh, góp phần quan trọng để kiềm chế và đẩy lùi làm phát,
Trang 8thúc đẩy các doanh nghiệp củng cố lại chế độ hạch toán kinh doanh, sử dụngvốn có hiệu quả khai thác tối đa tiềm năng về vốn trong nền kinh tế quốc dân.
Trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, bên cạnh các nguồn vốn vật tư,
kỹ thuật, đất đai, lao động, tri thức khoa học, tín dụng trung – dài hạn là mộtkênh vốn quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH –HĐH Trước hết đó là công cụ đòn bẩy thúc đẩy mạnh mẽ phát triển kinh tếhàng hoá, hình thành góp phần giữ ổn định nền kinh tế thị trường
1.2 Tín dụng trung – dài hạn đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD)
1.2.1 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
1.2.1.1 Khái niệm:
Xét về hình thức sở hữu thì doanh nghiệp nước ta chia thành 2 loại:Doanh nghiệp quốc doanh thuộc sở hữu của Nhà nước, còn doanh nghiệp ngoàiquốc doanh mang hình thức sở hữu phi nhà nước Trước năm 1986 kinh tếngoài quốc doanh ở nước ta chỉ là kinh tế tập thể với hình thức sở hữu tập thể
về tư liệu sản xuất Từ sau năm 1986 nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường,khu vực kinh tế ngoài quốc doanh được khuyến khích mở rộng các doanhnghiệp có tính chất tư hữu bao gồm: Doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần,công ty trách nhiệm hữu hạn và hợp tác xã
1.2.1.2 Phân loại:
- Doanh nghiệp tư nhân:
- Công ty cổ phần là doanh nghiệp
- Công ty trách nhiệm hữu hạn
Trang 9- Công ty hợp danh
- Hợp tác xã
1.2.1.3 Đ ặc đ iểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh:
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động rất đa dạng và phong phúvới nhiều ngành nghề khác nhau Tuy nhiên, dưới góc độ là một Ngân hàng,chúng ta nhìn nhận đặc điểm của loại hình doanh nghiệp này trên một số giác
độ sau:
Hình thức sở hữu:
Hình thức sở hữu của các DNNQD là sở hữu tư nhân, sở hữu hỗn hợp.Song chủ yếu là sở hữu hỗn hợp với các loại hình chủ yếu sau: Công ty cổ phần,công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty tư nhân, hợp tác xã, kinh tế cá thể tiểuchủ, công ty hợp danh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Từ đó, tư cáchpháp lý của loại hình doanh nghiệp này là:
Đối với các doanh nghiệp: Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữuhạn, hợp tác xã, doanh nghiệp FDI chịu trách nhiệm trên phần vốn góp vàocông ty, tức là chịu trách nhiệm hữu hạn
Đối với các doanh nghiệp: Công ty tư nhân, kinh tế cá thể tiểu chủ, công
ty hợp danh thì phải chịu trách nhiệm đối với hoạt động kinh doanh của công tybằng toàn bộ tài sản của mình, tức là chịu trách nhiệm vô hạn
Ngành nghề kinh doanh:
Các DNNQD phần lớn tập trung ở các thành phố lớn và các trung tâmkinh tế xã hội Phần nhiều các doanh nghiệp được thành lập mang tính tự phát,
Trang 10không có sự chỉ định của chính quyền Đa số họ hoạt động trong lĩnh vựcthương mại dịch vụ, khách sạn; lĩnh vực công nghiệp thường chiếm tỷ trọngnhỏ hơn; lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, khai thác và phân phối điện, tài chínhNgân hàng … chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ.
Sở dĩ có sự mất cân đối trong lĩnh vực đầu tư của các doanh nghiệp nàyđối với nền kinh tế là họ thượng ưa thích đầu tư vào nhứng ngành nghề có khảnăng quay vòng vốn nhanh, vốn đầu tư ít như thương mại, dịch vụ… Bởi vì nhưthế là phù hợp với khả năng tài chính và năng lực quản lý của họ Các lĩnh vựckhác như xây dựng, tài chính, Ngân hàng … yêu cầu về vốn và trình độ quản lýrất cao, trong khi đó, việc quay vòng vốn lại lâu gây khó khăn cho họ, chỉnhững doanh nghiệp có tiềm lực mạnh về kinh tế thì mới có đủ điều kiện đầu tư
Môi trường kinh doanh
Trước hết là về thông tin thị trường Đây là khối kinh tế năng động, phảnứng nhanh nhạy với sự thay đổi của thị trường, nhưng đối với những nướcđang phát triển còn thiếu nhiều yếu tố của một nền kinh tế thị trường hoànchỉnh Chính vì vậy, họ thường gặp nhiều khó khăn trong vấn đề nắm bắt thôngtin thị trường về giá cả, sản phẩm đối thủ cạnh tranh … Đây là những khó khănchung mà doanh nghiệp phải gánh chịu trong nền kinh tế chưa hoàn chỉnh.Những thông tin như vậy chỉ có thể có một cách đầy đủ tại nhứng nước pháttriển
Vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Đây là một vấn đề đang được các DNNQD rất quan tâm Trước hết làvốn chủ sở hữu Phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, quy mô sản xuất nhỏhẹp Nguồn vốn này lại được tập trung chủ yếu vào đầu tư cơ sở hạ tầng và
Trang 11trang thiết bị, bao gồm cả mặt bằng kinh doanh Từ đó, khả năng thanh toánngắn hạn của vốn chủ sở hữu còn nhiều hạn chế.
Nguồn vốn này có khả năng tăng lên trong quá trình kinh doanh từ việctrích một phần lợi nhuận hoặc huy động thông qua phát hành cổ phiếu Songviệc tăng quy mô vốn chủ sở hữu từ việc trích lợi nhuận để lại phải mất mộtthời gian tương đối dài mới hình thành lượng vốn lớn Với vốn sở hữu nhỏ nhưvậy, sẽ gây nhiều khó khăn trong quá trình kinh doanh vì ít có khả năng cạnhtranh
Ngoài vốn chủ sở hữu, các doanh nghiệp có thể huy động từ nhiều nguồnkhác nhau Đối với huy động thông qua vay mượn bạn bè, người thân hoặcthông qua tín dụng thương mại, đây là những khoản vay hoặc là nhỏ hoặc làngắn hạn không đủ đáp ứng về quy mô, thời gian và các mục tiêu dài hạn củadoanh nghiệp Nguồn vốn Ngân hàng được coi là nguồn vốn chủ yếu của cácdoanh nghiệp Nhưng do quy mô vốn chủ sở hữu thường nhỏ, các DNNQD khótiếp cận được với nguồn vốn lớn của các NHTM và các tổ chức tài chính khácbởi các tổ chức này thường có quy định về tỷ lệ vốn chủ sở hữu nhất định trongcác dự án, phương án sản xuất kinh doanh Thực tế cho thấy đang tồn tại sự bấtbình đẳng giữa các DNNN và DNNQD trong việc tiếp cận nguốn vốn tín dụngNgân hàng Đây chính là nhân tố dẫn đến họ thường bị thiệt thòi khi trực tiếpphải cạnh tranh với các DNNN
Nhiều doanh nghiệp thành lập cũng có nghĩa là số vốn doanh nghiệp cần
để đầu tư sản xuất, do đó nhu cầu tín dụng của những doanh nghiệp này cũngtăng lên, tuy nhiên do một số hạn chế của mình khiến nhiều Ngân hàng vẫn còn
e ngại trong việc cho những doanh nghiệp ngoài quốc doanh vay Những hạnchế và ưu điểm gồm những điểm như sau:
Trang 121.2.2 ưu thế và hạn chế của doanh nghiệp ngoài quốc doanh:
1.2.2.1 Ư u thế:
Có khả năng hướng tới lợi nhuận cao nhất: Đây là điều dễ nhận thấy do
các DNNQD có tính tư hữu cao Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp luôn gắnvới lợi ích của người lao động và quyền lợi của chủ sở hữu mặt khác, họ phảitrực tiếp cạnh tranh với DNNN vốn có thế mạnh do được Nhà nước bảo trợ.Chính vì vậy, họ luôn phải tập trung, tìm cách tận dụng tối đa những thế mạnh,nhất là yếu tố nguồn lực để đẩy mạnh sản xuất nhằm đạt ưu thế nhất định vềthương hiệu như tài chính
Hiệu quả sử dụng vốn của các DNNQD cao: Do các doanh nghiệp này
thường đầu tư vào những ngành nghề có vốn đầu tư ít, khả năng thu hồi vốnnhanh, có lợi nhuận tương đối cao như ngành thương mại du lịch … có vốn đầu
tư ban đầu là rất ít Cũng chính vì quy mô nhỏ nên cũng có thể coi đây là mộtlợi thế vì nó dễ dang thay đổi chiến lược kinh doanh thích ứng với sự thay đổicủa thị trường, cơ chế chính sách của Nhà nước
DNNQD có khả năng tận dụng triệt để lợi thế để kinh doanh: Xuất phát từ
mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, các thành phần này lại không được sự hỗ trợ vềtài chính của Nhà nước hoặc tổ chức khác Nguồn lao động là nguồn được khaithác triệt để nhất vì đây là nguồn lực dồi dào, họ lại áp dụng cách thức quản lýrất chặt chẽ theo khu vực, địa phương, gia đình Nguồn khoa học công nghệcũng được tận rất cao Dù rằng trình độ khoa học công nghệ không được đánhgiá cao như DNNN, song họ biết tận dụng một cách tối đa khả năng của các loạithiết bị máy móc hiện có để phát triển sản xuất
Trang 13 Các DNNQD thường có bộ máy quản lý, tổ chức kinh doanh gọn nhẹ: Xuất
phát từ ngành nghề kinh doanh thường là những ngành đơn giản, dễ quản lý, cóchu kỳ kinh doanh ngắn Mặt khác, nguồn vốn kinh doanh bắt đầu thường thấtđiều đó dẫn tới bộ máy quản lý gọn nhẹ Vì vậy, các quyết định về quản lý hoặckinh doanh được thực hiện nhanh chóng Công tác kiểm tra được thực hiện trựctiếp đã góp phần đáng kể trong việc giảm chi phí quản lý doanh nghiệp
Các DNNQD có tính linh động cao, có khả năng chuyển hướng kinh doanh
nhanh chóng, dễ dàng Đó là vì họ có cơ cấu vốn thấp và thường chủ yếu là vốn
tự có, lại kinh doanh chủ yếu trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ Họ có thể
dễ dàng chuyển hướng kinh doanh sang mặt hàng khác khi thấy cần thiết và cólợi Ngoài ra, các DNNQD cũng có thể dễ dàng và nhanh chóng tiếp thu đượcnhững tiến bộ khoa học, kỹ thuật mới giúp họ có thể tiến nhanh trong quá trìnhphát triển, đón đầu những công nghệ mới
1.2.2.2 Hạn chế:
Tuy có nhiều ưu thế như đã trình bày ở trên Song các DNNQD cũng cònnhiều hạn chế khó tránh khỏi sau:
Về quy mô vốn đầu tư thường là nhỏ, tuy đây cũng là một ưu thế song đây
cũng là một hạn chế lớn cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh Mặtkhác, việc tìm nguồn tài trợ của các doanh nghiệp này thường là khó khăn hơn
so với các DNNN bởi uy tín của họ dường như chưa có gì hơn nữa do vốn bétrong khi dự án đầu tư lại yêu cầu vốn phải đủ lớn nên không đáp ứng được yêucầu về tỷ lệ tài trợ vốn tối thiểu của Ngân hàng khi vay Tiếp cận được nguồnvốn Ngân hàng đã khó để có được nguồn vốn đủ cho phương án sản xuất kinhdoanh thì lại càng khó hơn Đây cũng chính là vấn đề nan giải nhất hiện nay mà
Trang 14 Một hạn chế dễ nhận thấy là thiết bị công nghệ cho sản xuất kinh doanh
của một bộ phận doanh nghiệp còn yếu và lạc hậu Xuất phát từ nguyên nhân là
vốn kinh doanh ít, lại tập trung chủ yếu vào những ngành nghề đòi hỏi ít vốn,khả năng thu hồi vốn nhanh, không đòi hỏi công nghệ phức tạp Do đó, nhiềudoanh nghiệp đã cố gắng tận dụng những thiết bị máy móc cũ để sản xuất nhằmgiảm chi phí đầu tư vào công nghệ mới đắt tiền
Có nhiều doanh nghiệp có chất lượng lao động còn thấp, trình độ tay nghề
của các lao động chưa cao, đặc biệt là trình độ quản lý nói chung còn hạn chế
do ít được đào tạo căn bản Vì thế, nó chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển củanền kinh tế Điều này cũng lý giải vì sao một số doanh nghiệp trong thị trườngkhi làm ăn nhỏ thì có hiểu quả và rất phát đạt, nhưng khi chuyển sang kinhdoanh lớn, mở rộng sản xuất thì lại thua lỗ, thậm chí dẫn đến hậu quả phá sản.Bởi khi đã chuyển sang làm ăn lớn thì đòi hỏi về trình độ quản lý rất cao và chặtchẽ, không thể áp dụng như cũ, trình độ quản lý phải tương đương với trình độphát triển của doanh nghiệp thì mới tồn tại được
Từ hàng loạt những hạn chế trên dẫn đến một hạn chế tất yếu nữa là khả
năng cạnh tranh của nhiểu DNNQD thấp, bị nhiều hạn chế, thường bị động
trong các quan hệ thị trường Đặc biệt là khi phải trực tiếp cạnh tranh với cácDNNN có vốn lớn, trình độ quản lý tương đối hiện đại Mặt khác, khả năng tiếpthị của doanh nghiệp này lại yếu do trình độ chưa đạt yêu cầu và thiếu kinh phíđầu tư, nguy cơ phá sản cao
Hiện tượng các DNNQD vi phạm pháp luật như trốn thuế, lậu thuế, lừa đảo
… còn diễn ra phổ biến Bởi đây là các doanh nghiệp này thành lập chủ yếu là
tự phát và thiếu sự điểu chỉnh của các cấp quản lý Ngoài ra, đa số các doanh
Trang 15nghiệp còn chưa được thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về an toànlao động và đóng bảo hiểm cho người lao động.
Qua phân tích trên, ta có thể nhìn một cách tổng thể về bức tranh của cácDNNQD Nó còn rất nhiều ưu điểm, song cũng bộc lộ nhiều hạn chế Đó là cáchạn chế của bản thân doanh nghiệp Mặt khác, các doanh nghiệp này lại đangphải hoạt động kinh doanh trong một môi truờng kinh tế bất bình đẳng trên cảgiác độ chính sách, pháp luật của Nhà nước và quan niệm cũng như cách đối xửcủa các thành phần kinh tế khác Vậy thì khó khăn đó có thể giải quyết đượchay không còn xem xét từ nhiều phía Song sự cần thiết đầu tiên là phải có sự
hỗ trợ của Nhà nước thông qua các cơ chế chính sách về thuế, công nghệ và đặcbiệt là vốn Có thể thấy, với những đặc điểm và hạn chế như đã phân tích trên,việc tự thu hút các nguồn vốn bên ngoài của các doanh nghiệp này là rất khókhăn Việc tự thu hút các nguồn vốn bên ngoài thông qua phát hành cổ phiếuhay trái phiếu này lại càng khó, trừ những doanh nghiệp cổ phần mà có nguồngốc từ các DNNN, vì cần phải đáp ứng các điều kiện gắt gao về quy mô vốn,trình độ quản lý … Do đó, nguồn vốn chính mà các DNNQD luôn mong đợi lànguồn vốn vay từ Ngân hàng thương mại
1.2.3 Lý do hình thành và phát triển hoạt động tín dụng trung – dài hạn đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh:
Hoạt động cho vay của NHTM và DNNQD được hình thành từ 2 phía:Doanh nghiệp và Ngân hàng Chính vì thế, lý do hình thành và phát triển hoạtđộng này là từ 2 phía: từ nhu cầu của Ngân hàng và nhu cầu của doanh nghiệp
Xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, vốn là yếu tố không thể thiếu được
Trang 16nghiệp cần có một số vốn nhất định để mua máy móc thiết bị, nguyên vật liệu,thuê lao động Khi tiến hành sản xuất, doanh nghiệp cần vốn để duy trì hoạtđộng sản xuất kinh doanh một cách liên tục.
Tuy nhiên nhu cầu vốn của doanh nghiệp thay đổi trong các thời kỳ khácnhau Những thay đổi của môi trường kinh doanh cũng như chính sách tàichính, chu kỳ kinh tế, thay đổi thời vụ … cũng ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầuvốn của doanh nghiệp Hơn nữa trong điều kiện kinh tế ngày nay, trước nhữngthách thức của thị trường, doanh nghiệp cần có những bước táo bạo trong kinhdoanh, do đó nhu cầu vốn đầu tư rất lớn
Thực tế cho thấy, để huy động vốn, doanh nghiệp có thể sử dụng nhiềuhình thức khác nhau như: tín dụng thương mại, huy động vốn từ dân cư (quacon đường phát hành chứng khoán), hay từ các trung gian tài chính mà điểnhình là Ngân hàng thương mại Ngày nay, ở nước ta con đường tín dụng Ngânhàng là sự lựa chọn của khá nhiều doanh nghiệp vì con đường này linh hoạt vànhiều trường hợp vay vốn tại Ngân hàng là sự lựa chọn tốt nhất của doanhnghiệp
Trong xu thế mở rộng và phát triển DNNQD, số lượng các doanh nghiệpvừa và nhỏ không ngừng tăng lên, Nhà nước khuyến khích kinh tế ngoài quốcdoanh phát triển và tạo điều kiện cho các DNNQD có môi trương kinh doanhbình đẳng với DNNN Hơn nữa chủ trương cổ phần hoá DNNN, chuyển một bộphận các DNNN sang DNNQD Chính vì thế nhu cầu vốn để mở rộng sản xuấtcủa doanh nghiệp này không ngừng tăng lên, tạo điều kiện để phát triển hoạtđộng cho vay của Ngân hàng đối với doanh nghiệp này
Xuất phát từ nhu cầu của Ngân hàng
Trang 17Mở rộng hoạt động kinh doanh là yêu cầu tất yếu của bất cứ Ngân hàngnao để đáp ứng nhu cầu thay đổi của môi trường kinh doanh Trong môi trườngcạnh tranh ngày càng gay gắt, các Ngân hàng không ngừng mở rộng các khoảnvay về đối tượng khách hàng và loại hình cho vay Trong đó, DNNQD chính làđối tượng khách hàng quan trọng cần phải chú ý đến.
Hơn nữa bản chất của Ngân hàng là nhận tiền gửi để cho vay Ngân hàngsau khi huy động vốn cần thực hiện hoạt động cho vay để tạo thu nhập, bù đắpchi phí trả lãi và chi phí khác phát sinh trong quá trình huy động vốn Do đó,cho vay đối với DNNQD để thực hiện mục tiêu sinh lợi của Ngân hàng
Tóm lại, việc hình thành và phát triển các khoản vay của NHTM đối vớinhu cầu của cả hai bên, Ngân hàng cần đặt ra các điều kiện nhất định đối vớiđối tượng này trên nguyên tắc cả hai bên cùng có lợi
1.2.4 Các hình thức tín dụng trung – dài hạn đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh:
Tín dụng trung dài hạn là một trong nhứng nghiệp vụ của các NHTM.Thực chất tín dụng trung dài hạn là khoản vốn đầu tư mà đối tượng chủ yếu lànhững chi phí cho việc xây dựng mới, đầu tư vào tài sản ccó định Nghiệp vụtín dụng trung dài hạn của NHTM trong những năm gần đây được triển khaitheo các hình thức sau:
1.2.4.1 Cho vay trực tiếp theo dự án:
Đây là hình thức cấp tín dụng dựa trên cơ sở dự án sau khi thẩm địnhkhẳng định tính hiệu quả, khả thi của dự án Khi khách hàng có nhu cầu vay,khách hàng được hướng dẫn để lập hồ sơ vay thông qua những yêu cầu về tìnhhình tài chính của đơn vị, ngành nghề kinh doanh … thông qua đó Ngân hàng
Trang 18sẽ thẩm định, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, đánh giá khả năng sửdụng vốn vay có hiệu quả hay không để từ đó quyết định cấp hay không cấp tíndụng cho doanh nghiệp.
1.2.4.2 Cho thuê tài chính:
Cho thuê tài chính thực chất là hoạt động tín dụng trung dài hạn thôngqua việc thuê máy móc thiết bị và các động sản khác để sử dụng theo hợp đồng
ở Việt nam mới được công nhận từ năm 1995, bằng thể lệ tín dụng thuê muađược ban hành kèm theo quyết định số 149/ QĐ - NH5 ngày 27/ 05/ 1995 củaThống đốc Ngân hàng Nhà nước Đến ngày 29 tháng 10 năm 1996 công ty thuêmua tài chính quốc tế Việt nam (VILC) ra đời Đây là công ty liên doanh đầutiên ở Việt nam bao gồm các thành viên: Ngân hàng Công thương Việt nam,công ty Tài chính quốc tế, Ngân hàng tín dụng Nhật bản, Ngân hàng Ngoạithương Pháp, công ty cho thuê Chi nhánh Hàn Quốc Đến cuối năm 1996 VILCchính thức đi vào hoạt động Hiện nay bốn Ngân hàng thương mại Nhà nước ta
là Ngân hàng Công thương Việt nam, Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt nam,Ngân hàng Ngoại thương Việt nam, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nôngthôn Việt nam đều có công ty cho thuê tài chính Điều đó đã tạo một kênh dẫnvốn trung – dài hạn cho nền kinh tế, giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ,nâng cao năng lực sản xuất và góp phần thực hiện chiến lược công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước
1.2.5 Đặc điểm tín dụng trung – dài hạn đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh:
Về thời hạn tín dụng: tín dụng trung – dài hạn đối với doanh nghiệp ngoài
quốc doanh có thời hạn tương đối dài, từ một năm trở lên, được xác định căn cứvào yêu cầu của dự án, khả năng trả nợ của người vay và tính chất nguồn vốn
Trang 19của Ngân hàng Thời hạn vay tính từ khi bên đi vay nhận được khoản vốn đầutiên cho đến khi họ hoàn trả khoản nợ cuối cùng Thông thường Ngân hàng căn
cứ vào thời gian khấu hao để xác định thời hạn cho vay, thời hạn cho vay ngắnhoặc dài hơn thời gian khấu hao đều ảnh hưởng tới quá trình trả nợ của kháchhàng, vì nguồn vốn khấu hao là một trong những nguồn chủ yếu để trả nợ choNgân hàng
Về mục đí ch sử dụng vốn: Khác với tín dụng ngắn hạn là loại hình tín
dụng được sử dụng chủ yếu bổ sung vốn lưu động cho doanh nghiệp Tín dụngtrung – dài hạn của doanh nghiệp nói chung và DNNQD nói riêng có mục đíchđầu tư vào các dự án có thời gian tương đối dài như các dự án xây dựng nhàxưởng, cơ sở vật chất kỹ thuật, mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới kỹ thuật vàứng dụng khoa học công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển trong tương lai củađơn vị Với mục đích này, đối tượng cho vay của tín dụng trung – dài hạn chodoanh nghiệp nói chung và đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng làchi phí cấu thành trong tổng mức đầu tư của dự án bao gồm giá trị vật tư, máymóc thiết bị, công nghệ, chi phí nhân công, giá thuế và chuyển nhượng đất đai,chi phí mua bảo hiểm, giá thuê mua các tài sản và chi phí khác Mức cho vaycủa một dự án đầu tư bằng tổng mức vốn đầu tư trừ đi vốn tự có đầu tư cho dự
án của bên đi vay, nhưng mức tối đa chỉ bằng 70% giá trì tài sản thế chấp, cầm
cố
Về mức đ ộ rủi ro và tài sản đ ảm bảo : nguồn vốn cho vay lớn, thời hạn
cho vay dài, nên cho vay trung dài hạn thường tiểm ẩn rủi ro cao, nhất là khicấp tín dụng trung – dài hạn cho DNNQD, với đặc điểm của DNNQD như đãtrình bày ở trên nên nhiều Ngân hàng rất lo ngại khi cho DNNQD vay màkhông có tài sản đảm bảo Hơn thế nữa do nhiều yếu tố tác động đến trong
Trang 20bị tác động, từ đó mà ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của Ngân hàng Chính
vì thế mà tín dụng trung – dài hạn thường đòi hỏi tài sản đảm bảo Thời hạn chovay càng dài thì xác suất xảy ra các biến động càng lớn và do đó rủi ro tiềm ẩncàng cao
Lãi suất cho vay: Lãi suất trong tín dụng trung- dài hạn: Một hệ quả nữa
của tính chất rủi ro cao đó là lãi suất cho vay trung – dài hạn cao hơn lãi suấtcho vay ngắn hạn Điều này là hợp lý bởi một khoản cho vay tiềm ẩn nhiều rủi
ro thì cần phải trả lãi cao hơn để có thể bù đắp rủi ro nếu xảy ra Đó là chưa kểđến việc Ngân hàng sẽ mất cơ hội sử dụng khoản cho vay một cách linh hoạttrong khoảng thời gian dài Hiện nay nhiều Ngân hàng đang có chính sách thuhút cho vay đối với DNNQD cho nên chính sách cho vay với DNNQD thôngqua lãi suất cũng rất linh hoạt
III Chất lượng tín dụng trung dài hạn đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
1.1 Chất lượng tín dụng:
1.1.1 Khái niệm chất lượng tín dụng
Chất lượng tín dụng được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như kết quảkinh doanh, tỷ trọng nợ quá hạn Mặt khác, chất lượng hoạt động tín dụng đượcđánh giá thông qua khả năng thu hút khách hàng trong nền kinh tế, uy tín củaNgân hàng trong khu vực Chất lượng hoạt động tín dụng có quan hệ đến cácnhân tố chủ quan như: Năng lực quản lí, trình độ của cán bộ, chính sách tíndụng, kiểm soát nội bộ Và các nhân tố khách quan như sự thay đổi của chínhsách nhà nước, xu thế phát triển của nền kinh tế sự thay đổi của giá cả thịtrường, môi trường pháp lý
Trang 21Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, thể hiện năng lực của Ngânhàng trong quá trình hoạt động của nền kinh tế thị trường, để phản ánh trình độ,năng lực của một Ngân hàng, chất lượng hoạt động tín dụng được xem xét quanhiều mặt: Đầu tư tín dụng có hiệu quả, thủ tục đơn giản, thuận tiện, nhanhchóng, mức độ an toàn vốn tín dụng
Chất lượng tín dụng là kết quả của một sự kết hợp hài hoà giữa con ngườitrong một tổ chức, giữa những tổ chức với nhau vì một mục đích chung Vì vậy,muốn có chất lượng tín dụng phải có một sự quản lý chặt chẽ phù hợp với sựphát triển của nền kinh tế
1.1.2 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng:
1.1.2.1 C ơ cấu cho vay:
Hoạt động cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của các NHTM ởViệt nam hiện nay, mang lại tới 70% - 80% nguồn thu nhập của các NHTM
Trong thực tế hiện nay khối lượng cho vay của các NHTM ngày càngtăng nhanh với các loại hình, phương thức cho vay đa dạng Hiện nay ở nước tacho vay ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng cao hơn cho vay trung - dài hạn Một cơcấu cho vay phù hợp là cơ cấu cho vay mà ở đó tỷ trọng giữa các khoản nợngắn hạn phù hợp với các khoản nợ trung, dài hạn Cơ cấu này thay đổi theotừng giai đoạn mà nhân tố ảnh hưởng lớn nhất là cơ cấu, nhịp độ phát triển nềnkinh tế và khả năng huy động nguồn vốn của từng NHTM
Hiện nay, NHNN đã cho phép các NHTM được chuyển tối đa 40%nguồn huy động ngắn hạn để cho vay dài hạn, thay vì tỷ lệ 30% và 20% theo
QĐ 381/ 2003/ QĐ - NHNN trước đây Điều này đã cho phép các NHTM cho
Trang 22vay trung – dài hạn cao hơn, cải thiện cơ cấu cho vay ngắn hạn quá cao nhưhiện nay.
1.1.2.2 D ư nợ cho vay tín dụng trung – dài hạn đ ối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh:
Đây là chỉ tiêu mang tính chất thời điểm phản ánh số tiền trung – dài hạnđối với DNNQD mà Ngân hàng giải ngân nhưng chưa thu hồi do khoản vaychưa đến hạn thanh toán hoặc khoản vay đang bị nợ quá hạn
Mặc dù bao gồm cả những khoản vay quá hạn nhưng chỉ tiêu dư nợ nóichung và dư nợ tín dụng trung – dài hạn đối với DNNQD nói riêng được cácNHTM rất quan tâm Chỉ tiêu này cho biết quy mô tín dụng trung – dài hạn đốivới DNNQD của một Ngân hàng và thông qua việc so sánh giữa các thời kỳkhác nhau Ngân hàng sẽ đánh giá được tốc độ phát triển Trên cơ sở quy trìnhtín dụng trung – dài hạn có tính ổn định cao thì sự tăng lên hay giảm đi của dư
nợ tín dụng trung – dài hạn phần nào cho biết chất lượng tín dụng của Ngânhàng đang có chiều hướng đi lên hay đi xuống
Từ chỉ tiêu dư nợ tín dụng trung – dài hạn đối với DNNQD, ta có thể tínhtoán đánh giá chất lượng tín dụng trung – dài hạn của Ngân hàng thông qua chỉ tiêu khác là
Tỷ trọng dư nợ tín dụng trung – dài hạn đối với DNNQD =
* 100%
Chỉ tiêu này cho biết vị trí và vai trò của tín dụng trung – dài hạn trongtổng thể hoạt động tín dụng của Ngân hàng Chỉ tiêu này càng cao cho biết tíndụng trung – dài hạn chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong hoạt động của
Trang 23Ngân hàng, và để được điều đó thì chưa chắc hẳn chất lượng tín dụng trung –dài hạn của Ngân hàng ngày càng cao
1.1.2.3 Đó ng góp của tín dụng trung – dài hạn đ ối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hoạt động tín dụng trung – dài hạn đối vớiDNNQD phát triển tốt Chất lượng tín dụng trung – dài hạn của Ngân hàng sẽ tỷ
lệ thuận với chỉ tiêu này Cũng từ chỉ tiêu này cho phép tính toán thêm một chỉtiêu khác, đó là:
Đóng góp của tín dụng trung – dài hạn đối với DNNQD = *100%
Rõ ràng khi chất lượng tín dụng và quy mô tăng trưởng tín dụng trung –dài hạn đối với DNNQD ngày càng cao thì lợi nhuận thu được càng lớn
1.1.2.4.D ư nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn
Bản chất tín dụng là một sự hoàn trả, do đó tính an toàn (khả năng hoàntrả của người vay) là một yếu tố quan trọng nhất để cấu thành chất lượng tíndụng Khi một khoản vay không được hoàn trả đúng hạn như đã cam kết màkhông có lý do chính đáng thì nó được chuyển sang nợ quá hạn (NQH), với lãisuất cao hơn lãi suất bình thường (hiện nay ở Việt nam lãi suất nợ quá hạnbằng 150 % lãi suất trong hạn theo quy định của NHNN)
Phần lớn các khoản nợ quá hạn là những khoản nợ kém an toàn Rủi rotrong cơ chế thị trường là khách quan do đó nợ quá hạn của các NHTM là tấtyếu không thể tránh khỏi
Để đánh giá chất lượng tín dụng của một NHTM người ta thường dùng tỷ
Trang 24Tỷ lệ nợ quá hạn = *100%
Theo Quyết định 493/QĐ - NHNN ngày 22/04/2005 về phân loại, tríchlập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàngcủa tổ chức tín dụng có quy định về các loại nợ quá hạn theo thời gian :
Nợ cần chú ý: bao gồm các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày
Nợ dưới tiêu chuẩn: bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 90- 180 ngày
Nợ nghi ngờ: bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 181 – 360 ngày
Nợ có khả năng mất vốn: bao gồm các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày
Và những khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trong hạn, dưới 90 ngày, từ 90 ngày đến
180 ngày, từ 180 ngày đến 360 ngày đã được cơ cấu lại
1.1.2.5 Nợ sử dụng sai mục đí ch, nợ không thu đư ợc lãi đú ng hạn:
Tỷ lệ nợ sử dụng sai mục đích =
* 100%
Có thể xem phần dư nợ này là cả dư nợ mà Ngân hàng không thu đượclãi hàng tháng đầy đủ kịp thời, phải hạch toán lãi không thu được trên tài khoảnngoại bảng Thông thường chỉ tiêu này được tính chung với tỷ lệ NQH bởi vìnhững khoản nợ này tuy còn trong hạn nhưng nó rất gần với việc khách hàngvay không trả được đúng hạn, ví dụ như cho vay đảo nợ thực chất là nợ đã đếnhạn nhưng Ngân hàng đã tiếp tục cho thêm một kỳ hạn vay mới bằng hình thứccho vay mới , thu hồi nợ cũ nên chưa quá hạn Như vậy, tính toán chỉ tiêu nàychúng ta sẽ dự đoán được chất lượng tín dụng của NHTM và cần có biện phápngăn ngừa phát sinh nợ quá hạn
Trang 251.1.2.6 Chỉ tiêu đá nh giá n ă ng lực khách hàng vay:
Tuy nhiên để mà đánh giá chất lượng tín dụng trung – dài hạn của doanhnghiệp chỉ thông qua những chỉ tiêu dư nợ tín dụng trung – dài hạn đối vớidoanh nghiệp ngoài quốc doanh, hay chỉ tiêu nợ quá hạn thôi thì chưa đủ phảnánh được chất lượng của khoản nợ xấu mà khách hàng đang sử dụng, tức làkhoản nợ đó đang được sử dụng không hiệu quả, hoặc thậm chí là còn được sửdụng sai mục đích Do đó chỉ tiêu về năng lực của khách hàng vay là chỉ tiêuquan trọng để đánh giá chất lượng khoản tín dụng cấp cho khách hàng
Khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn tín dụng của các doanh nghiệp thể hiện
ở các mặt sau:
Về năng lực tài chính của DNNQD xin vay: Chỉ tiêu này được thể hiện
thông qua tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp Điều
kiện tín dụng thường quy định một tỷ lệ cụ thể, tối thiểu của vốn tự có trongtổng nguồn vốn hoạt động hay tỷ lệ vốn đầu tư tự có tương ứng với khối lượngvốn vay, tỷ lệ vốn tự có tham gia dự án vay vốn
Năng lực tài chính của doanh nghiệp càng cao, khả năng đáp ứng điềukiện tín dụng của Ngân hàng càng lớn
Năng lực sản xuất của doanh nghiệp: Nghiên cứu năng lực sản xuất của
doanh nghiệp cho biết quy mô sản xuất của doanh nghiệp, sự đáp ứng quy mô
ấy với thị trường, cơ cấu và việc làm chủ giá thành của sản phẩm Qua đó Ngânhàng thấy được tính cấp thiết của việc đầu tư đổi mới đối với quy mô sản xuất.Biểu hiện cụ thể và rõ nhất của năng lực sản xuất là doanh nghiệp phải sản xuất
ổn định và có lãi Điều này được quy định cụ thể trong điều kiện tín dụng củaNgân hàng
Trang 26Năng lực thị trường của các doanh nghiệp: Năng lực này thể hiện ở khối
lượng sản phẩm tiêu thụ của doanh nghiệp, vị trí của doanh nghiệp trong nềnkinh tế, vị trí trên thị trường trong nước hay quốc tế, vị trí và tương lai pháttriển của ngành kinh tế mà doanh nghiệp đang hoạt động Năng lực thị trườngcho biết khả năng thích ứng của doanh nghiệp với thị trường, thể hiện mức độchấp nhận của thị trường đối với những sản phẩm của doanh nghiệp Do vậy,doanh nghiệp có năng lực thị trường càng cao thì rủi ro càng thấp và Ngân hàngcàng có điều kiện mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trung - dài hạn
Năng lực quản lý của doanh nghiệp: Sự thành bại của doanh nghiệp phụ
thuộc phần lớn vào năng lực quản lý của doanh nghiệp đó Do vậy, việc thẩmđịnh khả năng của bộ máy quản lý doanh nghiệp nhằm đánh giá những ngườiquản lý này có khả năng xoay sở trong các trường hợp doanh nghiệp gặp khókhăn hay không Việc thẩm định đó sẽ làm cho đồng vốn đầu tư của Ngân hàng
ít chịu rủi ro hơn
Tài sản đảm bảo: Việc đòi hỏi biện pháp đảm bảo bằng các hình thức thế
chấp, cầm cố, bảo lãnh của người thứ ba có mục tiêu là tạo quyền chủ động củaNgân hàng Ngân hàng sẽ được ưu tiên thanh toán từ tài sản khi có rủi ro Dovậy, doanh nghiệp có tài sản đảm bảo càng có giá trị, dễ phát mại thì Ngân hàngcàng mong muốn mở rộng tín dụng nói chung và tín dụng trung- dài hạn nóiriêng
Tính khả thi của dự án : Trong điều kiện hiện nay, tính khả thi của dự
án đã được coi là một điều kiện tín dụng mà các Ngân hàng rất quan tâm xemxét Nếu doanh nghiệp có thể thuyết trình và chứng minh được dự án xin đượcvay vốn là có tính khả thi thì Ngân hàng sẽ có cơ sở mở rộng và nâng cao chấtlượng tín dụng trung- dài hạn
Trang 271.2 Nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung – dài hạn đối với DNNQD
1.2.1 Khả năng tài chính của DNNQD xin vay:
Là khả năng về vốn, tài sản của khách hàng để đảm bảo hoạt độngthường xuyên và thực hiện nghĩa vụ thanh toán
Khi cho vay Ngân hàng luôn quan tâm đến điều này mà trước hết lànguồn vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh Bởi vì, đây
là nguồn quan trọng để nâng cao ý thức của người sử dụng vốn và là một trongnhững nguồn để trả nợ cho Ngân hàng Trong phương án vay vốn, Ngân hàngquy định cụ thể tỷ lệ tối thiểu vốn chủ sở hữu tham gia trực tiếp vào dự án,phương án kinh doanh Như vậy, DNNQD phải đáp ứng được yêu cầu này khivay vốn Ngân hàng
Về tình hình tài chính của DNNQD, các doanh nghiệp phải đảm bảo tìnhhình tài chính lành mạnh thì mới được vay vốn Ngân hàng Những quy địnhtrên là nhằm đảm bảo an toàn đối với các khoản vay vốn Ngân hàng Song,Ngân hàng cũng cần hỗ trợ, về mặt thủ tục, các doanh nghiệp để họ có điều kiệntham gia vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh Đối với các DNNQD, có nhiềudoanh nghiệp mới thành lập, một số doanh nghiệp có tình hình tài chính rấtphức tạp, gây khó khăn cho cán bộ tín dụng trong việc thẩm định dự án nên đâycũng là khó khăn cho Ngân hàng khi mở rộng cho vay với các DNNN, một sốdoanh nghiệp có tình hình tài chính rất phức tạp, gây khó khăn cho cán bộ tíndụng trong việc thẩm định dự án nên đây cũng là khó khăn cho Ngân hàng khi
mở rộng cho vay với các DNNQD
1.2.2 Chính sách, quy định của Ngân hàng
Trang 281.2.2.1 Chính sách lãi suất
Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới, cơ chế điều hành lãi suất đãchuyển sang cơ chế lãi suất thoả thuận Như vậy, khách hàng và Ngân hàng cóthể tự do thoả thuận lựa chọn lãi suất sao cho phù hợp với mục tiêu của mình vàthị trường tiền tệ đã chuyển sang cạnh tranh bằng giá (lãi suất), không còn cơchế điều hành lãi suất cơ bản Lãi suất có tác động trực tiếp đến lợi ích củakhách hàng và Ngân hàng Chỉ cần một sự thay đổi nhỏ của lãi suất của mộtNgân hàng nào đó, lập tức Ngân hàng sẽ chuyển sang tổ chức tín dụng khác đểvay vốn Với thực trạng các DNNQD hiện nay, vốn chủ sở hữu thường nhỏ vàđang có chung một “căn bệnh” thiếu vốn Việc duy trì lãi suất cao sẽ khiến chocác doanh nghiệp này khó có điều kiện tiếp xúc với nguồn vốn, và như vậy thìviệc mở rộng cho vay trong thị trường này của các NHTM sẽ gặp khó khăntrong khi đây là khách hàng tiềm năng đối với bất kỳ một tổ chức tín dụng nào.Song, nếu hạ lãi suất thấp quá sẽ gây thiệt hại cho Ngân hàng vì lợi nhuận bịgiảm sút, trong khi đây là nguồn mang lại thu nhập lớn nhất cho Ngân hàng.Việc thực thi chính sách lãi suất thoả thuận phải dựa trên nguyên tắc khuyếnkhích người vay vốn làm ăn có hiệu quả, vì các phương án, dự án sản xuất kinhdoanh được Ngân hàng xác định là nguồn trả nợ chính, đồng thời nó cũng đemlại lợi ích thiết thực cho khách hàng Vậy nên, chiến lược kinh doanh của Ngânhàng trong từng thời kỳ và chính sách lãi suất cần phải có sự phối hợp nhịpnhàng, linh hoạt trong từng giai đoạn phát triển của mình
1.2.2.2 Quy trình cho vay
Thị trường tiền tệ là một thị trường cạnh tranh khốc liệt và tương đốiphức tạp Chính vì thế, các Ngân hàng thương mại luôn cố gắng thoả mãnkhách hàng của mình một cách tốt nhất trong tất cả các khâu Đối với quy trình
Trang 29cho vay, các Ngân hàng cũng luôn quan tâm đến việc đơn giản hoá thủ tục trongquá trình cấp tín dụng Đây là vấn đề mà các khách hàng rất quan tâm vì quytrình nhanh hay chậm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ dự án hoặc phương ánkinh doanh của mình Trong quy trình cho vay hiện nay, nếu các Ngân hàng yêucầu nhiều giấy tờ không cần thiết, điều kiện vay ngặt nghèo, đặc biệt là nhữngđơn vị kinh doanh mới thì sẽ dễ mất khách hàng trong khi các đối thủ cạnhtranh luôn luôn cố gắng để đơn giản thủ tục.
Song, việc đơn giản hoá quy trình cho vay không có nghĩa là buông lỏngcho vay, các Ngân hàng phải nghiên cứu làm sao để vừa tạo điều kiện tốt nhấtcho khách hàng để có thể tiếp cận được với nguồn vốn, vừa đảm bảo an toànkhoản vay và khả năng thu hồi nợ Đây là việc làm không hề dễ dàng đòi hỏiphải nghiên cứu thị trường một cách cẩn thận, cần phân loại khách hàng trongquá trình cho vay Việc phân loại khách hàng dựa trên tiêu chí hiệu quả sử dụngvốn chứ không phải dựa trên loại hình doanh nghiệp
1.2.3 Rủi ro tín dụng
NHTM là một doanh nghiệp, bởi vậy trong cơ chế thị trường cũng nhưcác doanh nghiệp khác Ngân hàng cũng phải tính toán sao cho hoạt động kinhdoanh có hiệu quả kinh tế cao nhất Tuy nhiên, khác với các doanh nghiệp làNgân hàng kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng theo pháp luật cung ứngvốn cho nền kinh tế nhằm mục tiêu sinh lợi Hoạt động tín dụng trung – dài hạn
là đầu tư cho tương lai, do đó không thể dự báo được hết những yếu tố có thểlàm ảnh hưởng xấu đến quá trình thực hiện của dự án Tín dụng trung – dài hạn
có khả năng rủi ro rất cao, nhất là đối với tín dụng cho các DNNQD bởi nguồnvốn đầu tư trong một thời gian dài, khả năng rủi ro của các dự án là rất lớn, thuhồi vốn Ngân hàng chậm …
Trang 30Để hạn chế mức thấp nhất của rủi ro trong cho vay trung – dài hạn.Ngân hàng phải thẩm định kỹ dự án xin vay và thực hiện đúng quy trình của tíndụng Trong hoạt động tín dụng trung – dài hạn, Ngân hàng có thể gặp các rủi
ro sau:
Từ phía khách hàng
Loại 1: Chất lượng dự án, phương án vay vốn: đây là yêu cầu bắt buộc
của Ngân hàng đối với khách hàng khi quyết định có cho vay hay không, cácDNNQD hầu hết là những doanh nghiệp mới thành lập và có tuổi đời còn tươngđối trẻ, song họ lại nắm bắt nhanh những phương pháp quản lý và kinh doanhmới, hiện đại, phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế Nhưng đâycũng là đối tưọng thường có những dự án đầu tư mạo hiểm, tính rủi ro caonhằm thu được những khoản siêu lợi nhuận Như vậy chất lượng của dự án,phương án vay vốn còn phụ thuộc vào đạo đức của người đi vay Đây là rủi ro
mà Ngân hàng phải đối mặt
Bên cạnh đó, các yếu tố ảnh hưởng tới thị trường cung cấp hay tiêu thụcủa quá trình thực hiện và khai thác của dự án không đạt yêu cầu như tính toánban đầu Do đó ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của doanh nghiệp cho Ngânhàng
Loại 2: Do khả năng quản lý và điều hành của ban lãnh đạo doanh nghiệp
còn yếu, làm ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp vay vốn, đòihỏi Ngân hàng phải xem xét cân nhắc trước khi ra quyết định
Loại 3: Mỗi thời điểm cho vay gắn với môi trường xã hội và chiến lược
phát triển kinh tế của Nhà nước đưa đến thay đổi cơ cấu giữa các ngành kinh tế
Trang 31Do vậy Ngân hàng cần phải khảo sát xu hướng phát triển của ngành trong nềnkinh tế.
Loại 4: Khách hàng có ý định sử dụng vốn vay sai mục đích, trong
trường hợp này Ngân hàng cần phải tăng cường kiểm tra trước trong và sau khicho vay Đặc biệt là kiểm tra khi vay vốn để có biện pháp xử lý kịp thời tránhrủi ro cho Ngân hàng
Từ phía Ngân hàng
Rủi ro nghiệp vụ tín dụng (Rủi ro nguồn vốn): Vì lý do nào đó mà Ngân
hàng không cho vay hoặc bị ứ đọng vốn không sử dụng hết Đến kỳ hạn Ngânhàng phải trả lãi tiền gửi, tiền vay dẫn đến Ngân hàng bị thua lỗ trong kinhdoanh Ngược lại Ngân hàng sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn vượtquá mức cho phép, không đáp ứng nhu cầu chi trả khi nguồn vốn đến hạn, thậmchí khi nền kinh tế có những biến động lớn dẫn đến khách hàng rút vốn ồ ạtbuộc Ngân hàng phải bù đắp bằng lãi suất cao Nếu không huy động được,Ngân hàng có thể mất khả năng thanh toán
Rủi ro lãi suất: Trong cơ chế thị trường, lãi suất luôn biến động Ngân hàng
phải gánh chịu những biến động của lãi suất dẫn đến sự thay đổi bất lợi về thunhập của Ngân hàng Tín dụng trung – dài hạn do đặc điểm thời gian cho vaydài nên khả năng rủi ro lãi suất cao nên sự biến đổi lãi suất trong kỳ có lợi chokhách hàng
Rủi ro nợ quá hạn: Hiện tượng này rủi ro khi mà đến hạn trả của các doanh
nghiệp vì những lý do của mình mà chưa trả nợ cho Ngân hàng, phải chuyểnsang nợ quá hạn Chính vì vậy mà trong nợ quá hạn Ngân hàng phải phân ra
Trang 32nhiều loại để có biện pháp xử lý thích hợp, tạo cơ sở cho Ngân hàng tiếp tụccho vay trung dài hạn.
Khả năng chuyên môn, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng: Tín dụng trung –
dài hạn là một trong các nghiệp vụ phức tạp nhất trong các khâu nghiệp vụ củaNgân hàng, đòi hỏi người cán bộ tín dụng không những có kỹ thuật nghiệp vụcủa Ngân hàng mà còn phải nắm bắt được những đặc thù của mỗi ngành sảnxuất kinh doanh, am hiểu về luật pháp, nắm được thông tin của thị trường vàđiều quan trọng nhất là phải có kỹ năng thẩm định dự án Vì lẽ đó mà Ngânhàng gặp nhiều khó khăn bởi mỗi ngành sản xuất kinh doanh đều có chỉ tiêuđịnh mức về kinh tế kỹ thuật riêng và những yếu tố tạo nên giá thành sản phẩm
là khác nhau
1.2.4 Môi trường kinh tế
Là một tế bào trong nền kinh tế, sự tồn tại và phát triển của Ngân hàngcũng như doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất nhiều của môi trường này Sự biếnđộng của nền kinh tế theo chiều hướng tốt hay xấu sẽ làm cho hiệu quả hoạtđộng của Ngân hàng và doanh nghiệp biến động theo chiều hướng tương tự.Đặc biệt, trong điều kiện quốc tế hoá mạnh mẽ như ngày nay, hoạt động của cácNgân hàng và các doanh nghiệp không chỉ chịu ảnh hưởng của môi trường kinh
tế trong nước mà cả môi trường kinh tế quốc tế Những tác động do môi trườngkinh tế gây ra có thể là trực tiếp đối với Ngân hàng hoặc tác động xấu đến hiệuquả kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó gián tiếp ảnh hưởng tới chất lượng tíndụng Ngân hàng
1.2.5 Môi trường chính trị xã hội:
Sự ổn định của môi trường chính trị, xã hội là một căn cứ quan trọng để
ra quyết định của các nhà đầu tư Nếu môi trường này ổn định thì các nhà đầu
Trang 33tư sẽ yên tâm thực hiện việc mở rộng đầu tư và do đó nhu cầu vốn tín dụngtrung- dài hạn đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh sẽ tăng nên Ngược lại,nếu môi trường bất ổn thì họ sẽ tìm cách thu hẹp sản suất để bảo toàn vốn, hạnchế rủi ro, khi đó nhu cầu vốn tín dụng trung – dài hạn đối với doanh nghiệpngoài quốc doanh cũng giảm sút theo
1.2.6 Môi trường pháp lý:
Một môi trường pháp lý không chặt chẽ, nhiều khe hở và bất cập sẽ tạo
cơ hội cho các doanh nghiệp làm ăn bất chính, lừa đảo lẫn nhau và lừa đảoNgân hàng Môi trường pháp lý không chặt chẽ, không ổn định cũng khiến cácnhà đầu tư trung thực e dè, không dám mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất kinhdoanh, do đó hạn chế nhu cầu về vốn tín dụng trung – dài hạn đối với doanhnghiệp nói chung và doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng
1.2.7 Chính sách của Chính phủ, cơ quan hữu quan:
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là loại hình doanh nghiệp rất nhạy cảmvới sự thay đổi của các yếu tố bên ngoài, trong đó có các chính sách của Chínhphủ và cơ quan hữu quan, khi mà chính sách khuyến khích doanh nghiệp thựchiện đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh ví dụ như chính sách khuyến khích vềthuế … khiến cho doanh nghiệp thực hiện đầu tư nhiều hơn, từ đó gia tăng nhucầu tín dụng Ngân hàng Ngược lại, khi mà chính sách đó lại hạn chế đối vớihoạt động của doanh nghiệp nói chung và DNNQD nói riêng thì các DNNQDtìm cách thu hẹp đầu tư, từ đó mà giảm nhu cầu tín dụng Ngân hàng
Chương II Thực trạng hoạt động tín dụng trung dài hạn đối với Doanh nghiệp ngoài
quốc doanh tại Ngân hàng công thương Chi nhánh cầu giấy
Trang 34I Tổng quan Ngân hàng Công thương Cầu Giấy
Chi nhánh NHCT Cầu Giấy là Ngân hàng cấp I, mới thành lập được hơn 5năm, là một Ngân hàng có tiến độ phát triển nhanh và toàn diện Chi nhánhNHCT Cầu Giấy với chức năng chủ yếu của mình là trung tâm tiền tệ – tín dụngthanh toán với các thành phần trong nền kinh tế, huy động mọi nguồn vốn trongdân cư thúc đẩy sản xuất có hiệu quả Cho đến nay chức năng và nhiệm chủ yếucủa Chi nhánh NHCT Cầu Giấy vẫn là huy động vốn và cho vay Ngoài raNgân hàng còn thanh toán liên hàng cho các đơn vị kinh tế đóng trên địa bànquận cầu Giấy và các dịch vụ chuyển tiền nhanh qua mạng điện tử, làm tư vấnxây dựng dự án cho khách hàng
Theo quyết định số 066/QĐ-HĐBT-NHCT ban hành ngày 30/03/2004của Hội đồng quản trị Ngân hàng Công thương Việt Nam, thì bộ máy tổ chức
Trang 35của Ngân hàng Công thương Chi nhánh Cầu Giấy được tổ chức theo cơ cấu trựctuyến, gồm ban Giám đốc và các phòng ban.
2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy:
Ngân hàng hoạt động dưới sự được hành của ban lãnh đạo gồm 1 giámđốc và 2 phó giám đốc phụ trách
- Giám đốc : Bùi Doãn Thuyết
- Hai phó giám đốc : Trịnh Xuân Trứ và Võ Bích Hồng
Bộ máy hành chính của NHCT được tổ chức thành 8 phòng ban và 7 quỹtiết kiệm nằm rải rác trên địa bàn quận Tính đến tháng 1/2006 số cán bộ côngnhân viên tại Chi nhánh là 166 người
Giám đốc
Phòng Kiểm traKiểm soát nội bộ
Phòngtiền tệKhoquỹ
Phòngkinhdoanhđối nội
PhòngTổchứchànhchính
PhòngKếtoán –tàichính
PhòngKHtổnghợp -nguồnvốn và
Trang 36Sơ đồ tổ chức bộ máy Chi nhánh NHCTCG
2.3 Những kết quả đạt được của Chi nhánh NHCT Cầu Giấy
Năm 2005 đánh dấu sự thành công trong điều hành của Chính phủ, đưanền kinh tế Việt nam đạt mức tăng trưởng GDP 8,4% cao nhất trong vòng 8năm trở lại đây, đồng thời đạt mục tiêu của giai đoạn phát triển 2001-2005 bìnhquân 7,5%/năm Đặc biệt, tháng 10/2005 lần đầu tiên Chính Phủ phát hành tráiphiếu ra thị trường quốc tế rất thành công thể hiện sự quan tâm ngày càng lớncủa các nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường và triển vọng phát triển kinh
tế Việt Nam Tuy nhiên, chỉ số kinh tế vĩ mô cũng cho thấy sự phát triển chưathực sự vững chắc của nền kinh tế, đó là lạm phát cao trong hai năm liên tiếp
2004 và 2005 vượt ngưỡng Chính Phủ dự kiến, riêng 2005 chỉ số giá cả 8,4%,nhập siêu chiếm tỷ trọng lớn trong GDP Trong bối cảnh như vậy, ngành Ngânhàng năm qua đã thực hiện điều hành chính sách tiền tệ theo hướng thận trọng
và linh hoạt nhằm đạt mục tiêu kiềm chế lạm phát đồng thời hỗ trợ tăng trưởngkinh tế Cải tiến đáng kể trong chính sách quản lí của Ngân hàng Nhà nướctrong năm 2005 là sự ra đời quyết định mới về tỷ lệ an toàn trong hoạt động các
tổ chức tín dụng, quyết định về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, hướnghoạt động các Ngân hàng thương mại theo chuẩn mực tiên tiến và minh bạch
Với sự quyết tâm cao của toàn thể cán bộ nhân viên Chi nhánh cũng nhưđược sự quan tâm hỗ trợ, chỉ đạo sát sao của NHCT Việt Nam, NHNN thànhphố, các cấp uỷ chính quyền địa phương quận Cầu Giấy, huyện Từ Liêm, Chinhánh NHCT Cầu Giấy đã đạt được một số kết quả nhất định
Quỹ TK
Trang 372.3.1 Về công tác huy động vốn:
Đối với một Ngân hàng tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyênquan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của Ngân hàng Nếuthu hút được nguồn vốn đầu vào sẽ tạo thuận lợi cho các hoạt động sử dụng vốntín dụng tăng thêm lợi nhuận cho Ngân hàng
Phân theo đối tượng huy động vốn
Đơn vị : Triệu đồng
Bảng 2.1: Kết quả huy đ ng v n t i Chi nhánh NHCT C u Gi yộng vốn tại Chi nhánh NHCT Cầu Giấy ốn tại Chi nhánh NHCT Cầu Giấy ại Chi nhánh NHCT Cầu Giấy ầu Giấy ấy
Có KH < 12 tháng 344.032 60,50 309.823 54,76 314.070 51,68
Có KH > 12 tháng 213.716 37,58 251.002 44,36 292.488 48,13Phát hành công cụ nợ 122.263 17,70 155.802 21,59 138.833 18,60
( Nguồn : Báo cáo tổng kết hàng năm của Chi nhánh NHCT Cầu Giấy)
Tính đến 31/12/2005, tổng nguồn vốn huy động của Chi nhánh NHCTCầu Giấy là : 1741,8 tỷ đồng, tăng 341,8 tỷ đồng so với 31/12/2004, tốc độ tăng
Trang 38trưởng 24,4%, đạt 117,7% kế hoạch năm 2005 Trong đó, vốn huy động từnghiệp vụ tiền gửi là 1631,8 tỷ đồng, vốn tài trợ uỷ thác đầu tư là 110 tỷ đồng.Nếu tính bình quân năm 2005 thì tổng nguồn vốn huy động của Chi nhánh là1422,6 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân so với năm 2004 là 4,3%.
Các bảng số liệu đã miêu tả kết quả huy động vốn của Chi nhánh NHCTCầu Giấy từ năm 2003 đến năm 2005 Tổng nguồn vốn mà Ngân hàng huyđộng được tăng trưởng mạnh qua các năm : năm 2004 tăng so với năm 2003 là49,410 triệu đồng tương ứng tăng 3,96%; năm 2005 tăng so với 2004 là 324,267triệu đồng tương ứng tăng 24,37% Đây là một tốc độ tăng trưởng khá lý tưởngtrong toàn bộ hệ thống NHCT Việt Nam
Nếu xét theo cơ cấu tiền gửi thì: Tiền gửi bằng VND chiếm tỷ trọng lớnhơn tiền gửi bằng ngoại tệ.Vốn huy động bằng VND đạt hơn 900 tỷ đồng, tănghơn 80 tỷ đồng so với năm 2004, đạt 96.9% kế hoạch NHCT giao.Vốn ngoại tệquy VND đạt 760 tỷ đồng tăng gần 260 tỷ đồng so với năm 2004, đạt 158,4%
kế hoạch NHCT giao
Kết quả trên là do Chi nhánh đã không ngừng nỗ lực tìm nhiều biện phápnhằm khai thác nguồn vốn trên địa bàn Trong nguồn tiền huy động được thì bộphận tiền gửi doanh nghiệp và tiền gửi dân cư là chủ yếu, chiếm gần như toàn
bộ tổng nguồn vốn huy động.Tiền gửi dân cư chiếm tới hơn 54%
Trang 39Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
Số tiền % Số tiền % Số tiền %Tổng dư nợ cho vay
Thành phần kinh tế 1.206.110 1.214.302 1.263.000
DNNQD 762.788 67 680.620 56 664.000 53DNNQD 443.322 36 533.682 44 599.000 47
Phân theo cơ cấu cho vay
Đơn vị : Triệu đồng
Bảng 2.3: Kết quả sử dụng vốn phân theo cơ cấu cho vay
Dư nợ đầu tư và
Số tiền % Số tiền % Số tiền %
Dư nợ đầu tư 1.968 0,16 2.460 0,20 2.059 0,09
Dư nợ nền kinh tế 1.206.111 99,84 1.214.302 99,80 1.260.941 99,91
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hằng năm của NHCT Chi nhánh Cầu Giấy)
Phân theo kỳ hạn vay
Đơn vị : Triệu đồng
Bảng 2.4: Kết quả sử dụng vốn phân theo kỳ hạn cho vay
Trang 40Số tiền % Số tiền % Số tiền %
Cho vay ngắn hạn 881.661 73 878.292 72,3
VND 722.962 82 702.633 80 492.9 62Ngoại tệ 158.699 18 175.659 20 302.1 38
Cho vay trung
VND 82.840 96,51 67.744 96,61 73 97,49Ngoại tệ 2.993 3,49 2.397 3,39 1.88 2,51
Cho vay dài hạn 238.617 19,7
8 265.888 21,9 393.12 31,66
VND 190.195 79,71 173.593 65,29 133.975 34,08Ngoại tệ 48.422 20,29 92.295 34,71 259.144 65,92
Các bảng biểu trên cho ta thấy : Tỷ lệ cho vay ngắn hạn là chủ yếu quacác năm, hướng cho vay dài hạn được tăng lên nhưng chưa đáng kể Cho vaydoanh nghiệp Nhà nước năm 2005 là hơn 636 tỷ đồng chiếm 53% tổng dư nợcho vay nền kinh tế, cho vay các thành phần kinh tế khác chiếm 47% Dư nợcho vay nền kinh tế giảm là do trong năm 2005 Chi nhánh xử lý rủi ro hơn 110
tỷ đồng: Tổng công ty Điện lực Việt Nam (Dự án Điện Phú Mỹ) xin gia hạnthời gian rút vốn 2,8 triệu USD; đồng thời Chi nhánh giảm dần dư nợ của cácđơn vị có tình hình tài chính yếu kém và hoạt động kinh doanh không hiệu quảnhư Công ty Cầu 12, công ty Cổ phần Giao thông 118,
Bên cạnh đó, Chi nhánh tiếp tục tập trung vốn đầu tư cho một số đơn vị
có tình hình hoạt động kinh doanh hiệu quả, có tín nhiệm trên thị trường như :