1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO TRONG tố tụng hình sự

23 1,1K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Địa Vị Pháp Lý Của Bị Can, Bị Cáo Trong Tố Tụng Hình Sự
Tác giả Phạm Thùy Dương
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Tố Tụng Hình Sự
Thể loại Bài Tập Lớn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 201,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO TRONG tố tụng hình sự

Trang 1

CQĐT : Cơ quan điều tra

BLHS: Bộ luật Tố tụng hình sự

Trang 2

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo từ điển luật học, NXB Từ điển bách khoa và NXB Tư pháp thìđịa vị pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối liên hệ với những chủthể khác trên cơ sở quy định của pháp luật, thể hiện thành một tổng thể cácquyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạnkhả năng của chủ thể đối với các hoạt động pháp lý của mình trong phạm vicác quyền và nghĩa vụ đó

Khái niệm địa vị pháp lý của bị can và bị cáo được quy định trong hệthống pháp luật có thể được hiểu như sau:

Địa vị pháp lý của bị can là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của người

đã bị khởi tố về hình sự trong quá trình tham gia tố tụng hình sự Theokhoản 1 Điều 49 BLTTHS 2003 có thể xác định bị can là người đã bị khởi tố

về hình sự và có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với tư cách tham gia tốtụng của mình

Tại Điều 50 BLTTHS 2003 thì “bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử” Nhìn chung địa vị pháp lý của bị cáo là tổng thể quyền

và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho người đã bị Tòa án đưa ra xét xử

Việc xác định rõ địa vị pháp lý của bị can, bị cáo có ý nghĩa quantrọng trong quá trình tiến hành các hoạt động TTHS, nó có ảnh hưởng trựctiếp đến quyền, lợi ích của bị can, bị cáo cũng như giúp cho các hoạt độngcủa CQTHTT, NTHTT được nghiêm minh, công bằng, bảo giúp cho phápluật được thực thi nghiêm minh trên thực tế

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Trang 3

I CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TTHS VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO TRONG TTHS

1 Những quy định của pháp luật TTHS về địa vị pháp lý của bị can 1.1 Những quy định về quyền của bị can.

Quyền của bị can được quy định tại Điều 49 BLTTHS 2003, gồm cácquyền:

(1) Được biết mình bị khởi tố về tội gì;

Đây là quyền quan trọng đầu tiên và quyền ảnh hưởng rất lớn đến việcthực hiện các quyền khác của bị can, vì vậy các nhà làm luật đã đặt quyềnnày lên đầu tiên khi xây dựng các quy định của pháp luật về quyền của bịcan Bị can cần phải biết mình bị khởi tố về tội gì, theo điều nào của Bộ luậthình sự để từ đó có thể chủ động tiến hành việc tự bào chữa hay nhờ NBCcho mình Quyết định khởi tố bị can của cơ quan có thẩm quyền phải có đầy

đủ nội dung theo quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 126 BLTTHS

2003 và phải được tống đạt đến bị can CQĐT có trách nhiệm phải giao ngayquyết định khởi tố bị can và giải thích các quyền và nghĩa vụ của bị can

Quy định này thể hiện sự công bằng, bình đẳng và tiến bộ của phápluật xã hội chủ nghĩa Khi nhà nước trao cho các cơ quan có thẩm quyềnquyền lực trong tay để tiến hành các hoạt động tố tụng với bị can, thì bị cancần phải được biết mình bị khởi tố về tội gì một cách công khai, minh bạch

để có thể thực hiện tốt nhất việc bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng củamình

BLTTHS 1988 quy định: “bị can có quyền biết mình bị khởi tố về tội

gì”, thì đến BLTTHS 2003 có sửa đổi, bổ sung thêm: “bị can có quyền được

biết mình bị khởi tố về tội gì”.

Trang 4

Việc thêm từ “được” đã làm thay đổi hoàn toàn trách nhiệm của các bên chủ

thể trong quan hệ pháp luật này: ở BLTTHS 1988 bị can ở vào thế chủ động,

bị can có thể phải tự mình tìm hiểu xem mình bị khởi tố về tội gì và cácCQTHTT phải tạo điều kiện để họ biết Tuy nhiên BLTTHS 2003 thêm từ

“được” đã đưa bị can vào thế bị động,nhưng thế bị động này có lợi cho bịcan vì cùng với đó là trách nhiệm của CQTHTT cũng theo đó mà tăng lên,CQTHTT bắt buộc phải cho bị can biết mình bị khởi tố về tội gì chứ khôngphải là bị can tự tìm hiểu Sự thay đổi này là một sự tiến bộ hơn, có ý nghĩaquan trọng trong các quy định về quyền của bị can

(2) Được giải thích về quyền và nghĩa vụ.

Việc giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can cũng chính là CQTHTT,NTHTT đã chỉ ra cho bị can hiểu rõ địa vị pháp lý của mình Từ đó họ cóthể biết mình đang trong tình trạng pháp lý nào, đang có quyền và phải cónghĩa vụ gì

Theo quy định tại khoản 6, Điều 126 BLTTHS 2003 thì CQĐT phảiđảm bảo việc giao quyết định khởi tố bị can và giải thích quyền, nghĩa vụcho bị can được thực hiện Bị can có quyền yêu cầu giải thích về các quyền

và nghĩa vụ mà mình chưa nắm rõ cũng như hỏi về cách thức thực hiện cácquyền mà pháp luật đã quy định cho họ để từ đó khi tham gia tố tụng họ cóthể bảo vệ được quyền lợi của mình một cách hợp pháp

Trong thực tế có nhiều trường hợp bị can không hề được giải thích vềnghĩa vụ của mình mà chủ yếu là nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của cơquan có thẩm quyền, dẫn đến tình trạng nhiều trường hợp bị can vi phạmnghĩa vụ này nên đã bị áp giải, bị truy nã trong khi bị can không hề có ý định

bỏ trốn

Đây là một quyền quan trong của bị can nhưng trước đây, BLTTHS

1988 không ghi nhận cho bị can có quyền này Trước nhu cầu của tình hình,

Trang 5

thực trạng nêu trên nên BLTTHS 2003 đã bổ sung, đấy là một sự thay đổitiến bộ hợp lý, tăng cường cho bị can những quyền cần thiết để bảo vệ mìnhtrước sự buộc tội của CQTHTT.

(3) Trình bày lời khai.

Là đối tượng bị buộc tội bị can có quyền bào chữa, gỡ tội Việc trìnhbày lời khai là một trong các cách thức để bào chữa cho mình của bị can Bịcan có quyền trình bày các tình tiết, sự việc có liên quan đến vụ án để đưa rabằng chứng chứng minh cho mình trước sự buộc tội của CQTHTT Việckhai báo, trình bày lời khai là một quyền chứ không phải là một nghĩa vụcủa bị can Do đó bị can có thể khai báo hoặc không khai báo Pháp luậtkhông đặt ra trách nhiệm cho bị can trong trường hợp không khai báo hoặckhai báo không đúng sự thật, nhưng pháp luật khuyến khích bị can khai báothành khẩn, đúng sự thật để có căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bịcan

Khi bị can trình bày lời khai của mình thì NTHTT phải tôn trọng và

có nhiệm vụ ghi chép thu thập những thông tin từ lời khai đó để làm chứng

cứ cho vụ án Lời khai của bị can có thể được ghi lại dưới dạng văn bản hoặchình ảnh, âm thanh, sau đó điều tra viên đều cho bị can đọc lại, hoặc nghe lạirồi ký tên vào biên bản Việc trình bày lời khai chính là việc bị can đangthực hiện quyền bào chữa của mình

Theo luật định thì trình bày lời khai là quyền của bị can nhưng trênthực tế có nhiều trường hợp điều tra viên vi phạm quy định này như đã dùnghình thức hỏi cung, trái pháp luật (bức cung, ép cung bị can…) Cá biệt cónhiều trường hợp bị can không khai báo, điều tra viên còn tra tấn, bức cungdùng nhục hình để lấy được lời khai của bị can theo ý muốn của mình Đây

là một sự vi phạm quyền nghiêm trọng cần được xem xét và xử lý

Trang 6

Quyền trình bày lời khai là một quyền mới của bị can được quy địnhtrong BLTTHS 2003, làm tăng thêm cách thức thực hiện các quyền bào chữacủa bị can.

(4) Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu

Bị can có quyền đưa ra các đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án đểchứng minh cho sự vô tội của mình Những đồ vật này có thể là vật dụng của

bị can, người bị hại, vũ khí hay vật dụng khác hoặc những tài liệu liên quan

Trong BLTTHS 1988 quy định: “bị can có quyền đưa ra chứng cứ và những yêu cầu”, đến BLTTHS 2003 thì: “bị can có quyền đưa ra đồ vật, tài liệu yêu cầu” Đây là một sự thay đổi hợp lý vì những đồ vật, tài liệu mà bị

can đưa ra sẽ được coi là chứng cứ nếu được NTHTT thu thập theo trình tự,thủ tục luật định

Bị can cũng có quyền đưa ra các yêu cầu: yêu cầu có luật sư bào chữa,thay đổi người tiến hành tố tụng… hoặc đưa ra các yêu cầu khác như trưngcầu giám định, giám định lại hoặc điều tra lại nếu thỏa mãn các yêu cầu vềthủ tục mà pháp luật quy định

(5) Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch.

Pháp luật ghi nhận quyền yêu cầu thay đổi NTHTT của bị can tạikhoản 2 Điều 43 BLTTHS 2003 Bị can có quyền này vì họ là đối tượng bịbuộc tội trong vụ án, do vậy hơn ai hết họ là người trước tiên có quyền yêucầu thay đổi NTHTT Tùy theo yêu cầu thay đổi từng NTHTT và chức vụkhác nhau mà căn cứ vào từng điều luật theo quy định từ Điều 44 đến Điều

47 BLTTHS 2003 mà người có thẩm quyền quyết định thay đổi hay khôngthay đổi NTHTT theo yêu cầu của bị can

Người giám định là người có kiến thức cần thiết về lĩnh vực cần giámđịnh theo quy định của pháp luật Kết quả giám định chứng minh cho hành

Trang 7

vi của bị can có cấu thành tội phạm hay không, do đó bị can có quyền yêucầu thay đổi người giám định.

Trong trường hợp có người phiên dịch, nếu người này phiên dịch khôngtrung thực hoặc không có khả năng phiên dịch chính xác thì cũng có thể làmsai lệch vụ án, có thể sẽ ảnh hưởng đến bị can, do đó bị can có quyền yêucầu thay đổi người phiên dịch Người phiên dịch phải từ chối hoặc thay đổinếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 62 BLTTHS2003

(6) Tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa

Quyền bào chữa của bị can là một nguyên tắc được Hiến định (Điều

132 hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung 2001), và luật định Điều 12 BLTTHS

2003 ghi nhận: “bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, CQĐT, VKS và TA có nhiệm vụ bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ”.

Quyền bào chữa của bị can được thể hiện dưới 2 hình thức: tự bàochữa và nhờ người khác bào chữa

Đối với quyền tự bào chữa của bị can được thực hiện trong tất cả cácgiai đoạn mà bị can tham gia Bị can có thể dùng lời khai, đưa ra những đồvật, tài liệu để chứng minh cho sự vô tội của mình

Bên cạnh quyền tự bào chữa, pháp luật cũng quy định cho bị canquyền nhờ người bào chữa cho mình NBC có thể là luật sư, bào chữa viênnhân dân hoặc người đại diện hợp pháp của bị can NBC sử dụng quyềnnăng mà pháp luật cho phép để bảo vệ tốt nhất cho thân chủ của mình

Thông thường, NBC do bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họlựa chọn Nhưng trong trường hợp bị can bị truy tố về tội có mức hình phạtcao nhất là tử hình theo BLHS hoặc bị can là người chưa thành niên, người

có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, mà bị can hoặc người đại diện hợp

Trang 8

pháp của bị can không mời NBC thì pháp luật bắt buộc CQTHTT phải cửNBC cho bị can vì trong trường hợp này bị can bất lợi hơn và khả năng thựchiện được quyền tự bào chữa của bị can là không cao.

(7) Được nhận các quyết định, văn bản tố tụng.

Bị can có quyền được nhận các quyết định khởi tố quyết định ápdụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, bản kết luận điều tra,quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, bản cáo trạng, quyết định truy tố, vàcác quyết định khác theo quy định của pháp luật có liên quan đến quyền vànghĩa vụ của bị can Việc nhận các quyết định tố tụng này giúp vị can nắmđược tình hình giải quyết vụ án cũng như tình trạng pháp lý của mình, để từ

đó có thể chủ động trong các hoạt động tố tụng mà mình tham gia Đây cũng

là một quyền bổ trợ cho bị can thực hiện quyền bào chữa cho mình

(8) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Các quyết định của CQTHTT, NTHTT ban hành trong các giai đoạn

tố tụng có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của bị can, thì bị can cóquyền khiếu nại đối với các quyết định đó Pháp luật chỉ quy định bị can cóquyền khiếu nại đối với các quyết định tố tụng nói chung nên ta có thể hiểutất cả các quyết định tố tụng liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của bị canđều có thể trở thành đối tượng khiếu nại Trình tự thủ tục tiến hành khiếu nại

và người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại ở đây được pháp luật quy định

rõ ràng tại chương XXXV của BLTTHS 2003

Quyền khiếu nại của bị can là sự đảm bảo của pháp luật để bị can cóthể bảo vệ quyền lợi của mình và cũng là căn cứ để đánh giá sự tuân thủđúng pháp luật của các CQTHTT, NTHTT

1.2 Nghĩa vụ của bị can

Trang 9

Pháp luật không quy định nhiều về nghĩa vụ của bị can, trong khitrách nhiệm và nghĩa vụ của NTHTT lại rất lớn Quy định tại khoản 3 Điều

49 BLTTHS 2003 Bị can có nghĩa vụ: “phải có mặt theo giấy triệu tập cảu CQĐT, VKS Trong trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị áp giải, nếu bỏ trốn thì bị truy nã”.

Bị can tại ngoại được triệu tập bằng giấy triệu tập bị can gửi cho cơquan, tổ chức nơi bị can cư trú hoặc làm việc Khi nhận giấy triệu tập, bị canphải ký nhận, có ghi rõ ngày giờ nhận, nếu bị can vắng mặt thì giấy triệu tập

có thể giao cho người đã thành niên trong gia đình để ký xác nhận và chuyểncho bị can Nếu bị can đang bị tạm giam thì được triệu tập thông qua Bangiám thị trại tạm giam

Bị can phải có mặt theo giấy triệu tập Trong trường hợp vắng mặtkhông lý do chính đáng hoặc có biểu hiện trốn tránh thì CQĐT có thể raquyết định áp giải Tuy nhiên không được áp giải bị can vào ban đêm để bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can; trường hợp bỏ trốn thì bị can sẽ bịtruy nã

Xét quy định tại khoản 3 Điều 49 BLTTHS 2003 thì bị can chỉ cónghĩa vụ có mặt khi có giấy triệu tập của CQĐT, VKS mà không hề có nghĩa

vụ phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án Nhưng trong thực tế tiến hành

tố tụng nhiều trường hợp, trong khi Tòa án chuẩn bị xét xử “Tòa án vẫn triệu tập bị can đến để giải quyết vấn đề dân sự hoặc cam đoan trước khi quyết định biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền hoặc tài sản

có giá trị để bảo đảm những không căn cứ” (Nguyễn Mai Bộ-Một số vướng

mắc, bất cập trong các quy định của BLTTHS và hướng hoàn thiện Tạp chínhà nước và pháp luật số 4/2009) Vì vậy cần phải bổ sung nghĩa vụ có mặttheo giấy triệu tập của Tòa án cho bị can

Trang 10

2 Những quy định của pháp luật TTHS về địa vị pháp lý của bị cáo 2.1 Quyền của bị cáo

Theo quy định tại khoản 2 Điều 50 BLTTHS 2003 thì bị cáo có cácquyền sau:

(1) Được nhận các quyết định, văn bản tố tụng;

Bị cáo có quyền được nhận các quyết định tố tụng do CQTHTT,NTHTT ban hành Trong đó quan trọng nhất là quyết định đưa vụ án ra xét

xử, vì từ đó tư cách bị can chuyển thành bị cáo trong quá trình tố tụng, đồngthời quyền và nghĩa vụ của bị cáo được xác định, đây cũng là căn cứ để ápdụng các biện pháp tố tụng đối với bị cáo Quyết định này phải được giaocho bị cáo chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên tòa Kết quả của giaiđoạn xét xử có ý nghĩa quyết định đến quyền lợi và nghĩa vụ của bị cáo Cácquyết định đình chỉ vụ án, quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biệnpháp ngăn chặn cũng cần phải giao cho bị cáo Kết quả xét xử được thể hiệntrong bản án, xác định bị cáo phạm tội hay không phạm tội, phạm tội gì, căn

cứ pháp lý, hình phạt và các biện pháp tư pháp được áp dụng đối với bị cáo.Bản án phải được giao cho bị cáo trong vòng 10 ngày kể từ ngày tuyên án

để bị cáo có điều kiện biết rõ để nếu có thể thì sẽ thực hiện tốt nhất việckháng bảo vệ quyền lợi của mình

Bị cáo cũng có quyền nhận các quyết định tố tụng khác theo quy địnhcủa pháp luật Các quyết định này được giao đến bị cáo dưới nhiều hình thứckhác nhau nhưng phải đảm bảo là bị cáo nhận được quyết định

(2) Được tham gia phiên tòa;

Phiên tòa được mở ra để xét xử bị cáo vì vậy việc bị cáo có mặt tạiphiên tòa là quyền đương nhiên của bị cáo

Trường hợp bị cáo vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do chínhđáng thì sẽ bị áp giải theo thủ tục áp giải Nếu bị cáo vắng mặt có lý do

Trang 11

chính đáng thì phải hoãn phiên tòa; trường hợp bị cáo bị bệnh tâm thần hoặc

bị bệnh hiểm nghèo khác mà không thể tham gia phiên tòa để bào chữa chomình thì HĐXX phải tạm đình chỉ vụ án cho đến khi bị cáo khỏi bệnh; trongtrường hợp bị cáo trốn tránh và việc truy nã không hiệu quả; bị cáo ở nướcngoài và không thể triệu tập đến phiên tòa; hoặc nếu sự vắng mặt của bị cáokhông gây trở ngại đến việc xét xử và bị cáo đã được giao quyết định triệutập một cách hợp lệ thì TA vẫn có thể tiến hành xét xử bị cáo

Tại phiên tòa, bị cáo có thể đưa ra các lý lẽ, đồ vật, tài liệu để gỡ tộicho mình, cho nên bị cáo cần nhận thức rõ về quyền tham gia phiên tòa củamình và nên tích cực tham gia để bảo vệ tốt nhất cho quyền lợi của mình

(3) Được giải thích về quyền và nghĩa vụ;

Ở đây, quyền và nghĩa vụ của bị cáo có sự thay đổi khác với tư cách

bị can trước đó Vì vậy, chủ tọa phiên tòa phải giải thích quyền lợi và nghĩa

vụ cho bị cáo trong thủ tục bắt đầu phiên tòa Điều này có ý nghĩa đặc biệtnhất là với các bị cáo lần đầu tiên tham gia phiên tòa xét xử thì việc giảithích quyền lợi và nghĩa vụ của họ tại phiên tòa sẽ giúp họ ổn định tâm lý,như vậy sẽ giúp họ hợp tác với CQTHTT, NTHTT được tốt nhất

(4) Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của pháp luật;

Bị cáo có quyền yêu cầu thay đổi NTHTT, người phiên dịch, ngườigiám định, trong các trường hợp quy định của pháp luật nếu thấy quyền vàlợi ích hợp pháp của họ có thể bị xâm hại

Tại phiên tòa nếu bị cáo có yêu cầu thay đổi thẩm phán, hội thẩm thìHĐXX sẽ biểu quyết tại phòng nghị án để quyết định việc có thay đổi haykhông, nhưng lưu ý đề nghị này chỉ được phép thực hiện trước khi HĐXX,nếu thay đổi thì phải hoãn phiên tòa

(5) Đưa ra đồ vật, tài liệu yêu cầu

Ngày đăng: 03/04/2013, 15:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w