1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Thẩm định giá trị doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

60 622 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 298,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc tiếnhành cổ phần hoá cũng gặp không ít khó khăn như: khó khăn trong việc xácđịnh giá trị của doanh nghiệp, muốn xác định đúng thì phải lựa chọn nhữngphương pháp phù hợp đối với từng

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam còn là một nước nghèo, điểm xuất phát thấp, để không bị tụthậu, chúng ta không còn con đường nào khác là phải tăng cường đầu tư để đẩynhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, tạo điều kiện phát triển kinh

tế xã hội Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng nguồn vốn chưa cao, phương phápquản lý còn lỏng lẻo, còn rất nhiều doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) làm ănkhông hiệu quả nên thường xuyên xảy ra tình trạng lãi giả, lỗ thật Để có thểgiải quyết được các vấn đề trên phải có những biện pháp lâu dài, hiệu quảnhằm nâng cao trình độ quản lý của các cấp chính quyền, tiến hành cổ phầnhoá các DNNN mới tránh được tình trạng cha chung không ai khóc Việc tiếnhành cổ phần hoá cũng gặp không ít khó khăn như: khó khăn trong việc xácđịnh giá trị của doanh nghiệp, muốn xác định đúng thì phải lựa chọn nhữngphương pháp phù hợp đối với từng loại hình doanh nghiệp, từng doanh nghiệp

cụ thể, trong một thời gian nhất định; khó khăn trong việc xác định nguyên giácũng như giá trị hao mòn của tài sản, kiểm kê và phân loại tài sản Tất cảnhững khó khăn này khiến cho việc công tác thẩm định giá tại doanh nghiệpkhông được tiến hành một cách nhanh chóng, kết quả xác định giá trị doanhnghiệp chưa có độ tin cậy cao.Vì vậy, thẩm định giá trị doanh nghiệp là mộttrong những vấn đề rất quan trọng trong khi tiến hành cổ phần hoá DNNN Việc tiến hành định giá doanh nghiệp là đi xác định giá trị thực tế củadoanh nghiệp trong đó có tính đến khả năng sinh lời của các tài sản thuộc sởhữu của doanh nghiệp trong tương lai Thẩm định giá trị doanh nghiệp có vaitrò hết sức quan trọng, nó là công cụ quản lý giá cần thiết tồn tại khách quantrong đời sống kinh tế xã hội của mọi nền kinh tế sản xuất hàng hoá, đặc biệtđối với các nước phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường Đây là một hoạtđộng không thể thiếu được trong việc hình thành nên giá của doanh nghiệp; nóđược rất nhiều đối tượng, chủ thể cùng quan tâm Bởi việc thẩm định giá có

Trang 2

chính xác hay không sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các quyết định và hành độngtrong tương lai của các đối tượng quan tâm.

Như vậy thẩm định giá trị doanh nghiệp không thể thiếu được trong nềnkinh tế thị trường và đặc biệt nước ta đang tiến hành cải cách DNNN bằng

hình thức cổ phần hoá Chính vì vậy khi về thực tập tại: Trung tâm thông tin,

tư vấn, dịch vụ về tài sản và bất động sản trực thuộc Cục quản lý Công sản

– Bộ Tài Chính; với mong muốn tìm hiểu về phương thức thẩm định giá trịdoanh nghiệp và tác dụng của công tác thẩm định giá trị doanh nghiệp trongquá trình cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam, em đã chọn chuyên đề thực tập là:

“Thẩm định giá trị doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hoá doanh

nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay”

2

Trang 3

CHƯƠNG 1 THẨM ĐỊNH GIÁ TRỊ DNNN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1.1.Giá trị doanh nghiệp

Như chúng ta đã biết hàng hoá là sản phẩm của lao động, có thể thoảmãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi mua bán Hàng hoá cóhai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị

Giá trị sử dụng của hàng hoá là công dụng của hàng hoá để thoả mãnnhu cầu nào đó của con người và nó là giá trị sử dụng xã hội Còn giá trị củahàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hànghoá, hay nói cách khác một sản phẩm đã là hàng hoá thì đều có một giá trịnhất định Doanh nghiệp cũng là một loại hàng hoá, và nó cũng có giá trị nhấtđịnh bởi cũng phải mất rất nhiều hao phí sức lao động thì mới có thể tạo dựngđược nên một doanh nghiệp

Doanh nghiệp là một cơ cấu phức tạp của nhiều yếu tố và mối liên hệgiữa chúng Hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc vào các mối liên hệ bêntrong, bên ngoài và môi trường Tất cả trong một thể thống nhất tạo nên giá trịdoanh nghiệp Giá trị doanh nghiệp được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhaunhư giá trị về đặt vốn, về tài sản và về khả năng sinh lời…

Trong cơ chế thị trường giá trị doanh nghiệp được xem là khả năng sảnxuất kinh doanh, sức cạnh tranh, triển vọng đem lại thu nhập của nó trênthương trường trong tương lai, là giá trị vô hình phi hiện vật của nó tại thờiđiểm hiện tại chi phối bởi quan hệ cung cầu trên cơ sở quy luật giá trị

Tóm lại, giá trị thực tế của doanh nghiệp là tổng giá trị thực tế tài sản(bao gồm tài sản hữu hình, vô hình và lợi thế của doanh nghiệp) tính theo giáthị trường tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp

Trang 4

Theo lý thuyết kinh tế hiện đại, mục tiêu bao trùm của doanh nghiệp làtăng giá trị Giá trị của doanh nghiệp là mối quan tâm hàng đầu của các nhàquản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư Trong sản xuất kinh doanh, hoạt độngtài chính, mọi chiến lược, mọi quyết lược được đưa ra đều phải chú ý đặc biệtđến điều này Thẩm định giá trị doanh nghiệp hay việc xác định giá trị doanhnghiệp đã trở thành vấn đề thường nhật của kinh tế thị trường Giá trị này là

cơ sở để đánh giá chất lượng quản lý để thương lượng trong mua bán sát nhậpdoanh nghiệp Như vậy, thẩm định giá trị doanh nghiệp là đánh giá giá trịthực sự của doanh nghiệp trên cơ sở hiểu biết sâu sắc về nó trong một môitrường nhất định

1.2.Phương pháp định giá doanh nghiệp

1.2.1.Phương pháp tài sản

Khái niệm phương pháp: Là phương pháp xác định giá trị doanh nghiệptrên cơ sở đánh giá giá trị thực tế toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tạithời điểm xác định giá trị doanh nghiệp

Đối tượng áp dụng là các doanh nghiệp cổ phần hoá, trừ những doanhnghiệp thuộc diện áp dụng theo phương pháp dòng tiền chiết khấu theo quyđịnh của pháp luật

Quy trình thực hiện

Khi doanh nghiệp tiến hành cổ phần hoá thì trước tiên phải kiểm kê,phân loại tài sản của doanh nghiệp mình sử dụng và xử lý các vấn đề tài chínhtại thời điểm thẩm định giá trị doanh nghiêp

 Trước tiên là kiểm kê và phân loại tài sản, công nợ

- Đối với tài sản: kiểm kê xác định đúng số lượng và chấtlượng của tài sản thực tế doanh nghiệp hiện có đang quản lý và sử dụng; bêncạnh đó phải kiểm tra quỹ tiền mặt, đối chiếu số dư tiền gửi của doanh

4

Trang 5

nghiệp tại ngân hàng tại thời điểm thẩm định; xem xét đối chiếu tài sản thực tế

so với sổ sách kế toán

Doanh nghiệp phân loại tài sản đã kiểm kê theo các nhóm sau:

+ Tài sản doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng

+ Tài sản doanh nghiệp không cần dùng, tài sản chờ thanh lý, tồn đọng… + Tài sản thuê ngoài, hàng hoá - vật tư giữ hộ, nhận đại lý

+ Tài sản hình thành từ quỹ khen thưởng, phúc lợi (nếu có)

- Doanh nghiệp tiến hành đối chiếu, xác nhận và phân loạicác khoản công nợ, lập bảng kê chi tiết đối với từng loại công nợ theo quyđịnh của pháp luật hiện hành

 Xử lý tài chính: Sau khi đã tiến hành xong các bước ở trên thì doanhnghiệp sẽ tiến hành xử lý các vấn đề về tài chính trước khi tiến hành thẩmđịnh giá trị doanh nghiệp Căn cứ vào kết quả của việc kiểm kê, phân loại và

xử lý các vấn đề tài chính thì tiếp theo sẽ tiến hành các bước xác định giá trịcủa doanh nghiệp

Một là, xác định giá trị doanh nghiệp theo sổ kế toán là tổng giá trị tài

sản thể hiện trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp

Ví dụ: Hãy tính giá trị thực tế vốn Nhà nước của công ty B để cổ phần hoátheo phương pháp tài sản, với các số liệu sau ( đến ngày 31/12/2005)

1/ Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn: 10.500 triệu đồng

Trong đó:

- Vật tư, hàng hoá tồn kho: 2.500 triệu đồng

Trang 6

- Các khoản phải thu : 4.000 triệu đồng

2/ Tài sản cố định : 20.000 triệu đồng

Trong đó:

- Nhà xưởng : 8.000 triệu đồng

- Máy và thiết bị : 10.000 triệu đồng

- Phương tiện vận tải : 2.000 triệu đồng

Tính lại theo giá thị trường thì

- Vật tư, hàng tồn kho 2.200 triệu đồng

- Phương tiện vận tải 1.600 triệu đồng

- Nợ không có khả năng thu hồi 200 triệu đồng

Lãi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm của chính phủ 8,4%/năm

GiảiVốn Nhà nước tại công ty B tính theo phương pháp tài sản

 chênh lệch giá trị tài sản

ĐVT: triệu đồng

6

Trang 7

 Giá trị lợi thế kinh doanh của công ty

- Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế so vốn Nhà nước bình quân 3 năm liền kề

Trang 8

I Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn

8.000 50022.000

10.000

20.900 1.45232.352

8.000 50023.852

- 500

+ 900+ 1.452+ 1.852

0 0+ 1.852

Vậy giá trị vốn Nhà nước tại công ty B 12/2004 là 23.852 triệu đồng

Giá trị thực tế của doanh nghiệp không bao gồm:

8

Trang 9

- Giá trị các tài sản do doanh nghiệp thuê, mượn, nhận vốn góp liêndoanh, liên kết.

- Giá trị các tài sản của doanh nghiệp không cần dùng, ứ đọng, chờthanh lý

- Các khoản nợ phải thu khó đòi

- Tài sản thuộc công trình phúc lợi (bệnh xá, nhà trường…) được đầu

tư bằng nguồn quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi của doanh nghiệp và nhà ở củacán bộ nhân viên

- Chi phí xây dựng dở dang của công trình đã bị đình hoãn trước thờiđiểm xác định giá trị doanh nghiệp

Các khoản đầu tư dài hạn vào các doanh nghiệp khác được chuyển giaocho đối tác khác theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền

Hai là, xác định giá trị tài sản thực tế:

- Đối với tài sản là hiện vật: chỉ đánh giá lại những tài sản mà công ty

cổ phần tiếp tục sử dụng

Giá trị thực tế của

Nguyên giá tínhtheo giá thịtrường

X

Chất lượng còn lạicủa tài sản tại thờiđiểm định giá

Trong đó, giá thị trường là giá tài sản mới đang mua bán trên thị trường baogồm cả chi phí vận chuyển, lắp đặt (nếu có) Nếu là tài sản đặc thù không cótrên thị trường thì tính theo giá mua mới của tài sản cùng loại, cùng nước sảnxuất có tính năng như nhau Nếu không có tài sản tương đương thì tính theogiá tài sản ghi sổ kế toán

Đối với công trình xây dựng cơ bản , suất đầu tư do cơ quan có thẩmquyền quy định đối với tài sản là sản phẩm xây dựng cơ bản trường hợp chưa

Trang 10

có quy định thì tính theo giá trị quyết toán công trình đựơc cơ quan có thẩmquyền phê duyệt.

Chất lượng của tài sản được xác định bằng tỉ lệ phần trăm so với chấtlượng tài sản cùng loại mua sắm mới hoặc đầu tư xây dựng mới, phù hợp vớicác quy định của Nhà nước, nếu chưa có quy định thì chất lượng tài sản đượcđánh giá không thấp hơn 20%

- Đối với tài sản bằng tiền bao gồm: tiền mặt, tiền gửi và các giấy tờ cógiá của doanh nghiệp được xác định Tiền mặt được xác định theo biên bảnkiểm quỹ, tiền gửi được xác định theo số dư đã đối chiếu xác nhận với ngânhàng; các giấy tờ có giá thì xác định theo giá giao dịch tren thị trường

Bên cạnh việc xác định giá trị của tài sản hữu hình thì việc xác định giátrị tài sản vô hình là rất khó khăn Có tài sản vô hình có thể đưa ra giá xácđịnh được, bên cạnh đó cũng có những tài sản không thể đưa ra một mức giá

cụ thể được, bởi tài sản vô hình là những tài sản được thể hiện bằng lợi íchkinh tế Nó được xác định theo giá còn lại đang hạch toán trên sổ kế toán

1.3 Phương pháp dòng tiền chiết khấu

Phương pháp dòng tiền chiết khấu là phương pháp xác định giá trị doanhnghiệp trên khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong tương lai

Đối tượng áp dụng: Là các doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh chủyếu trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, thương mại, tư vấn, thiết kế xâydựng, tin học và chuyển giao công nghệ, có tỷ suất lợi nhuân sau thuế trên vốnNhà nước bình quân 5 năm liền kề trước khi cổ phần hoá cao hơn lãi suất trảtrước của trái phiếu chính phủ có kỳ hạn 10 năm trở lên tại thời điểm gần nhấtvới thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp

 Căn cứ để xác định giá trị doanh nghiệp

- Báo cáo tài chính của doanh nghiệp trong 5 năm liền kềtrứơc khi xác định giá trị doanh nghiệp

10

Trang 11

- Phương án hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

cổ phần hoá từ 3 đến 5 năm sau khi chuyển thành công ty cổ phần

- Lãi suất trả trước của trái phiếu chính phủ có kỳ hạn từ 10năm trở lên ở thời điểm gần nhất với thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp

và hệ số chiết khấu dòng tiền của doanh nghiệp

- Giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất được giao

 Giá trị phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp được xác định như sau:

i

K

P K

D

) 1 ( ) 1 (

Trong đó

i: thứ tự các năm kế tiếp từ khi xác định giá trị doanh nghiệp

(i: 1-> n )

Di: khoản lợi nhuận sau thuế dùng chia cổ tức năm thứ i

N: số năm tương lai được chọn (3 -5)

Pn:: Giá trị phần vốn Nhà nước năm thứ n

P n  KDn-g1

Dn+1: Khoản lợi nhuận sau thuế dùng để chia cổ tức dự kiến của năm thứ n+1

Trang 12

K: Tỷ lệ chiết khấu hay tỉ lệ hoàn vốn cần thiết của các nhà đầu tư khi mua cổphần

K = Rf + Rp

Rf: Tỷ suất lợi nhuận thu được từ các khoản đầu tư không rủi ro, được tínhbằng lãi suất trả trước của trái phiếu chính phủ có kì hạn 10 năm trở lên ở thờiđiểm gần nhất với thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp

Rp: Tỷ lệ phụ phí rủi ro khi đầu tư mua cổ phần của các công ty ở VN, đượcxác định theo bảng chỉ số phụ phí rủi ro chứng khoán quốc tế tại niên giámđịnh giá hoặc do các công ty định giá xác định cho từng doanh nghiệp, nhưngkhông vượt quá tỷ suất lợi nhuận thu được từ các khoản đầu tư không rủi ro

g: tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của cổ tức, được xác định như sau

g = b * R

Với b: Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế để lại bổ sung vốn

R: Tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân của các nămtương lai

Còn phần chênh lệch về giá trị quyền sử dụng đất được xác định nhưsau: doanh nghiệp phải xác định lại giá trị quyền sử dụng đất theo giá do Uỷban nhân dân tỉnh quy định Khoản chênh lệch giữa giá trị quyền sử dụng đấtxác định lại với giá trị hạch toán trên sổ kế toán được tính vào giá trị thực tếphần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp

Giá trị

thực tế

Giá trị thực tế phần vốn Nhà +

12

Trang 13

-Giá trị cáckhoản nợkhôngphảithanhtoán

+

thưởng

Giá trịquyền sửdụng đấtcủa dt đấtmới đượcgiao

sự nghiệp

1.4Các phương pháp khác

 Phương pháp lợi nhuận

Phương pháp này cũng tính đến khả năng sinh lời của doanh nghiệptrong tương lai giống như phương pháp dòng tiền chiết khấu Chúng ta cóthể xác định được giá trị của doanh nghiệp nhờ vào những dự đoán về lợinhuận sau thuế của doanh nghiệp có thể thu được trong tương lai

 Phương pháp hiện tại hoá các dòng thu nhập của doanh nghiệp trongtương lai

Phương pháp này được sử dụng khi doanh nghiệp dự đoán được thunhập của mình trong tương lai Vì gía trị thực tế của doanh nghiệp tính theophương pháp này dựa trên cơ sở các luòng thu nhập trong tương lai

Trang 14

1.5.Thẩm định giá trị DNNN

1.5.1 Khái niệm thẩm định giá trị doanh nghiệp

Thẩm định giá trị doanh nghiệp: Là quá trình ước tính giá trị của doanhnghiệp hay lợi ích của nó Mặc dù những nguyên tắc, phương pháp và kỹthuật thẩm định giá trị doanh nghiệp tương tự so với những lĩnh vực kháctrong ngành thẩm định giá, nhưng thẩm định giá trị doanh nghiệp vẫn đòi hỏi

có sự đào tạo, có những kỹ năng và kinh nghiệp chuyên môn riêng

1.5.2 Mục đích thẩm định giá trị doanh nghiệp

Thẩm định giá trị doanh nghiệp trong những trường hợp khác nhau đềunhằm những mục đích khác nhau nhưng phải đảm bảo là có hiệu quả Trongcác hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp, có nhiều lúc các chủ doanhnghiệp cũng như nhiều đối tượng cần quan tâm đến giá trị của một doanhnghiệp cụ thể nào đó; họ quan tâm đến giá trị doanh nghiệp để có phương ánkinh doanh trong những năm tới hay có phương án đầu tư cho doanh nghiệp

để thu lợi nhuận… chính vì vậy mà công tác thẩm định giá doanh nghiệp là rấtcần thiết trong hoạt động của nền kinh tế thị trường

Doanh nghiệp ở mỗi thời điểm khác nhau thì có một giá trị khác nhau, do

đó kết quả của mỗi lần thẩm định giá trị của doanh nghiệp là không giốngnhau Hoạt động thẩm định giá trị doanh nghiệp là rất cần thiết bởi nó nhằmmục đích:

- Kết quả thẩm định giá trị doanh nghiệp là cơ sở cho các hoạt độngsát nhập, mua lại, hợp nhất, giải thể, thanh lý tài sản hay thành lập các liêndoanh, cổ phần hoá

- Kết quả thẩm định giá sẽ giúp cho ông chủ doanh nghiệp nắm được tìnhhình hoạt động của doanh nghiệp mình tại thời điểm đó như thế nào trên cơ sở

so sánh với giá trị của doanh nghiệp ở thời điểm trước, để từ đó có những giải

14

Trang 15

pháp cải tiến quản lý cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanhhơn nữa Trong trường hợp doanh nghiệp tiến hành cổ phần hoá, thì định giádoanh nghiệp là cơ sở để xác định giá trị phần vốn Nhà nước và cũng là cơ sở

để xác định quy mô vốn điều lệ, cơ cấu cổ phần bán lần đầu, thực hiện chínhsách ưu đãi với người lao động của doanh nghiệp

- Kết quả thẩm định giá cũng là cơ sở cho các tổ chức, các cá nhân

và công chúng đầu tư ra quyết định đầu tư vào các loại chứng khoán do doanhnghiệp phát hành trên thị trường tài chính Ngoài ra hoạt động thẩm định giátrị doanh nghiệp còn đem lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế, các doanh nghiệp

và các tổ chức, cá nhân có quyền lợi trong doanh nghiệp

- Thẩm định giá trị doanh nghiệp là công cụ cho phép doanh nghiệpđánh giá khả năng cạnh tranh của chính nó với các đối thủ cạnh tranh Trên cơ

sở đó, có thể đưa ra những quyết định thích hợp

1.5.3.Vai trò của thẩm định giá trị doanh nghiệp

Ngày nay các doanh nghiệp đang hoạt động trong một môi trường kinhdoanh luôn luôn biến động và sự biến động này diễn ra rất nhanh chóng vàphức tạp Xu thế toàn cầu hoá trong kinh doanh đang từng ngày từng giờ tạo

ra những áp lực cạnh tranh hết sức gay gắt, đòi hỏi doanh nghiệp phải liên tụcđổi mới và cải tiến không ngừng để có thể tồn tại và phát triển bền vững Cùngvới sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của thị trường tài chính, các hoạtđộng hợp nhất, sát nhập, thôn tính hay thành lập các liên doanh…diễn ra mộtcách thường xuyên nhất hay thành lập các liên doanh diễn ra một cáchthường xuyên Cơ sở nền tảng của các hoạt động này đều dựa trên kết quảđánh giá và thẩm định giá trị doanh nghiệp điều này đã làm cho thẩm định giátrị doanh nghiệp ngày càng giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Nó là

cơ sở để các đối tượng trong nền kinh tế đưa ra các quyết định nên hay không

Trang 16

nên đầu tư vào một doanh nghiệp nào đấy thông qua các hoạt động tín dụng,đứng trên phương diện là các nhà đầu tư; còn đối với người bán doanh nghiệphay với những người chủ doanh nghiệp thì họ quan tâm tới kết quả thẩm định

để đưa ra giá ban đầu là bao nhiêu? Để họ hình thành nên một khung giá hợp

lý đối với họ và họ có phương hướng hoạt động trong thời gian sắp tới Tuynhiên, trong mỗi lĩnh vực khác nhau thì thẩm định giá có những vai trò khácnhau và cũng có những phương pháp tiếp cận khác nhau

1.5.Những nội dung cần xem xét khi thẩm định giá trị doanh nghiệp

Muốn định giá doanh nghiệp một cách chính xác và hiệu quả thì trướctiên phải khảo sát thực tế tại doanh nghiệp: kiểm kê tài sản, khảo sát tình hìnhsản xuất kinh doanh thực tế

Thu thập thông tin trước hết là các thông tin, tư liệu từ nội bộ doanhnghiệp: tư liệu về tình hình sản xuất kinh doanh, các báo cáo tài chính – kếtoán – kiểm toán, hệ thống đơn vị sản xuất và đại lý, đặc điểm của đội ngũquản lý điều hành, nhân viên và công nhân… Ngoài ra còn phải chú ý thu thậpthêm thông tin bên ngoài doanh nghiệp như thị trường tiêu thụ sản phẩm củadoanh nghiệp, môi trường kinh doanh, các đối thủ cạnh tranh, chủ trương củaNhà nước … Thẩm định viên cần phải tiến hành các bước để đảm bảo rằngcác thông tin đều đang tin cậy và phù hợp cho quá trình thẩm định giá

Đánh giá điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp trên các mặt: sảnxuất kinh doanh, máy móc thiết bị, đội ngũ công nhân viên…

1.5.Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả thẩm định giá trị DNNN

Thành tích và triển vọng của một doanh nghiệp bất kỳ nào đó được hình thành từ rất nhiều yếu tố, cả những yếu tố khách quan bên ngoài lẫn các yếu tốchủ quan bên trong của doanh nghiệp Những yếu tố này có những tác độngtrực tiếp hoặc gián tiếp đối với doanh nghiệp và mức độ ảnh hưởng của chúng

16

Trang 17

có thể diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau, ở trong lĩnh vưc ngành hay chỉ trongphạm vi doanh nghiệp Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệpnhư:

- Môi trường kinh tế (yếu tố lạm phát, tăng trưởng kinh tế, tỷ giá hối đoái,lãi suất…): Khi nền kinh t ế phát triển tốt thì doanh nghiệp có xu hướng đi lên

và ngược lại, như vậy nếu dự báo được xu hướng phát triển của nền kinh tế,thì có thể dự báo được xu thế phát triển chung của doanh nghiệp

- Các yếu tố về công nghệ: Những tiến bộ về công nghệ có tác độngrất mạnh mẽ và có thể đem lại nhiều nguy cơ và thách thức cho doanh nghiệp

Vì vậy, khi định giá một doanh nghiệp cần xem xét tác động của yếu tố côngnghệ tới sự phát triển của doanh nghiệp, bên cạnh đó cũng cần xem xét nhữnghoạt động của doanh nghiệp và những giải pháp đối phó với sự thay đổi côngnghệ mà doanh nghiệp đang hoạt động

- Môi trường chính trị pháp luật: Các yếu tố về chính trị và pháp luậtcũng có những ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của doanh nghiệp Do đócần xem xét những tác động của yếu tố này tới đối tượng đánh giá ở thời điểmhiện tại và khuynh hướng thay đổi trong tương lai

- Môi trương xã hội:

- Môi trường ngành: chu kỳ kinh doanh, triển vọng tăng trưởng củangành, cạnh tranh trong ngành, các nguồn cung ứng trong ngành

- Sản phẩm của doanh nghiệp, địa bàn hoạt động của doanh nghiệp,

cơ cấu tài sản và cân đối nợ

Tất cả các yếu tố trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và có tác độngtrực tiếp tới hoạt động của doanh nghiệp Vì vậy, khi thẩm định giá trị củadoanh nghiệp cần phải quan tâm xem xét tới các yếu tố này

Trang 19

CHƯƠNG 2 CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Ở VIỆT NAM 2.1.Tiến trình cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam

Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là một chủ trương lớn của Đảng vàNhà nước nó có ảnh hưởng đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị,

xã hội Đối với Nhà nước nó là một chiến lược lâu dài, còn đối với doanhnghiệp nó là một cơ hội tốt

Nhìn nhận và nắm bắt cơ hội kịp thời sẽ làm nên thành công trong bất cứcông việc nào cho dù là nhỏ hay cổ phần hoá thể hiện sự năng động Xét vềquản lý thì tính năng động là việc sắp xếp bộ máy sản xuất kinh doanh đượchợp lý, không chịu sức ép của bất kỳ cấp nào Bộ máy quản lý làm việc cóhiệu quả sẽ giảm được chi phí quản lý, giảm tiêu cực trong cách nghĩ và làmviệc Xét về hoạt động sản xuất kinh doanh thì tính năng động thể hiện trongviệc nghiên cứu tìm tòi phương hướng chiến lược và kế hoạch phát triển công

ty riêng phù hợp với công ty và phù hợp với nhu cầu thị trường Sản xuất linhhoạt, tư duy sáng tạo, thể hiện hết mình của các thành viên trong công ty.Sau gần 20 năm triển khai thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước

về việc đổi mới, sắp xếp và phát triển DNNN, mặc dù có những thăng trầmnhưng đã đem lại những kết quả đáng tự hào Có rất nhiều giải pháp sắp xếpDNNN như sáp nhập, hợp nhất, cổ phần hoá, bán cho thuê doanh nghiệp,giao, khoán, tổ chức lại tổng công ty và t hành lập tập đoàn kinh tế Trong cácgiải pháp trên thì cổ phần hoá DNNN được xem là một giải pháp cơ bản vàquan trọng nhất để cải cách DNNN Đây là một trong những chủ trương rấtquan trọng trong quá trình nhằm đổi mới tư duy kinh tế, là một trong nhữnggiải pháp nhằm đa dạng hoá hình thức sở hữu trong các DNNN, xác định chủ

Trang 20

sở hữu đích thực của doanh nghiệp, huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội

để đầu tư đổi mới công nghệ máy móc, phát triển doanh nghiệp tạo thêm độnglực cho doanh nghiệp phát triển, sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tăng sứccạnh tranh với các doanh nghiệp trong và ngoài nước tạo bước đệm cho quátrình hội nhập kinh tế quốc tế được dễ dàng và thuận lợi

Thực hiện chủ trương này, ngay từ đầu năm 1990 Đảng và Nhà nước đã

ra các văn bản pháp luật để hướng dẫn chỉ đạo thực hiện cổ phần hoá DNNN.Đầu tiên là quyết định số 143 – HĐBT của chủ tịch hội đồng bộ trưởng chophép thí điểm chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần Hai năm sau ngày08/6/1992 là quyết định số 202/CT của chủ tịch hội đồng bộ trưởng và chỉ thị

số 84/TTg ngày 04/8/1993 của thủ tướng chính phủ, đã có 5 DNNN có quy

mô vừa và nhỏ tự nguyện thực hiện thí điểm cổ phần hoá với tổng vốn điều lệ

là 38,393 tỉ đồng Quá trình cồ phần hóa DNNN từ khi bắt đầu cho tới nay đãtrải qua một số giai đoạn:

 Giai đoạn từ năm 1992 đến 6/1998 (trước khi có Nghị định44/1998/NĐ-CP)

Trong giai đoạn này, cả nước đã cổ phần hoá được 30 DNNN Trong đó 5doanh nghiệp được cổ phần hoá theo cơ chế, chính sách thí điểm quy định tạiquyết định số 202/CT của chủ tịch hội đồng bộ trưởng, 25 doanh nghiệp đượcthực hiện th eo cơ chế chính sách quy định tại Nghị định 28/CP của chính phủ.Các DNNN cổ phần hoá trong giai đoạn này nhìn chung đều có những tiến bộvới mức độ khác nhau về năng suất, chất lượng hiệu quả Việc thực hiện cổphần hoá đã giúp doanh nghiệp thu hút được một nguồn vốn nhất định trongcán bộ công nhân viên tại doanh nghiệp và nhân dân đầu tư vào sản xuất kinhdoanh Tạo được động lực trong quản lý và phát huy tốt tính tích cực, sáng tạocủa người lao động, tạo cho DNNN có cơ cấu thích hợp, quy mô lớn, tập trungvào những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, cơ chế quản lý năng

20

Trang 21

động hiệu quả thích nghi với nền kinh tế thị trường tạo điều kiện về mặt pháp

lý và vật chất cho người lao động nâng cao vai trò làm chủ doanh nghiệp.Doanh thu, lợi nhuận, các khoản nộp ngân sách, tích luỹ vốn của doanh nghiệp

và thu nhập của người lao động đều tăng dẫn tới việc làm của người lao độngđược đảm bảo tốt hơn, tiêu cực trong DNNN cũng vì thế mà giảm đi

Theo đánh giá của các nhà quản lý doanh nghiệp, ở thời điểm năm đầu cổphần hoá, việc chuyển sang mô hình mới chưa có tác dụng đột biến tức thờitới các yếu tố liên quan trực tiếp đến doanh thu như: tăng sức sản xuất, khảnăng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp

 Giai đoạn từ tháng 6/1998 đến 31/12/1999

Trong giai đoạn này có thêm 340 DNNN và bộ phận DNNN được chuyểnthành công ty cổ phần, riêng năm 1999 có 250 doanh nghiệp, tăng nhiều hơn

so với các năm trước Như vậy, về mặt số lượng, tốc độ cổ phần hoá sau khi

có Nghị định 44/1998/NĐ-CP được đẩy mạnh Nhiều ngành, bộ và các địaphương, tổng công ty Nhà nước đã có những kết quả bước đầu đáng khích lệnhư thành phố Hà Nội, tp Hồ Chí Minh, tỉnh Nam Định, Thanh Hoá, bộ xâydựng, tổng công ty cà phê, tổng công ty than… bên cạnh đó còn một số ngànhđịa phương chưa đạt được kết quả mong muốn trong công tác cổ phần hoá, tốc

độ cổ phần hoá còn chậm

Đến hết năm 199 vẫn còn 6/13 bộ, 7/17 tổng công ty 91 và 21/61 tỉnhthành chưa có DNNN nào đựơc chuyển đổi sang công ty cổ phần

Nhìn chung sau khi có nghị định 44/1998/NĐ-CP của chính phủ, cổ phầnhoá DNNN đã đạt được những tiến bộ đáng kể Các DNNN, các bộ, ngành vàđịa phương đã có những nhận thức đúng đắn hơn về việc cổ phần hoá doanhnghiệp Bởi Nghị định đã thể hiện sự quan tâm đúng mức của Đảng và Nhànước tới những người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hoá một cách rõ

Trang 22

ràng hơn, cụ thể hơn, quyền lợi của họ được đảm bảo hơn Điều đó đã khiếncho chủ trương cổ phần hoá trở nên hấp dẫn hơn đối với doanh nghiệp

Qua đó ta có thể thấy nhiều đơn vị đã thực hiện tốt lộ trình cổ phần hoá

đã được thủ tướng chính phủ phê duyệt như bộ xây dựng, bộ công nghiệp,tổng công ty dệt may… có thể nói quá trình cổ phần hoá trong giai đoạn vừaqua đã đạt được các mục tiêu đề ra: cổ phần hoá đã tạo ra loại hình doanhnghiệp có nhiều chủ sở hữu bao gồm: Nhà nước, người lao động trong doanhnghiệp, các cổ đông ngoài doanh nghiểp trở thành người chủ thực sự của công

ty đã tạo ra động lực mở rộng thị trường, tăng thêm tiềm lực tài chính cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần Tính đến cuối năm 2004 chúng

ta đã cổ phần gần 2500 doanh nghiệp, trong cơ cấu vốn điều lệ thì chủ sở hữuNhà nước nắm giữ 46.5%, người lao động trong doanh nghiệp chiếm 38.1%,

cổ đông ngoài doanh nghiệp là 18.4%

22

Trang 23

Trong số các doanh nghiệp đã cổ phần hoá, ngành công nghiệp giao thông vậntải và xây dựng chiếm tỷ trọng 65.5%, thương mại - dịch vụ chiếm 28.7% vàngành nông lâm- ngu nghiệp chiếm 5.8% Năm 2005 đã xuất hiện một điếmsáng mới cần được nhấn mạnh đó là trong số các doanh nghiệp cổ phần hoá đã

có nhiều doanh nghiệp làm ăn tốt, quy mô lớn, hấp dẫn các nhà đầu tư, tạocông ăn việc làm ổn định cho người lao động, điển hình là thuỷ điện Thác Bà,công ty vận tải xăng dầu đường thuỷ 1, công ty Kinh Đô, công ty sữaVinamilk, giá trị của Vinamilk lên tới 2500 tỷ đồng trong đó vốn là 1500 tỷđồng

Sau 15 năm cổ phần hoá DNNN, có thể nhận thấy các chuyển biến sau:Một là, sự chuyển hướng từ cổ phần hoá các DNNN trong một số lĩnhvực sang cổ phần hoá DNNN ở hầu hết ngành, lĩnh vực, trong cả kinh tế, dịch

vụ và văn hoá, kể cả ngân hàng thương mại, chỉ trừ loại DNNN trong lĩnh vựcdầu khí và an ninh quỗc phòng

Hai là, chuyển biến từ việc chỉ cổ phần hoá các DNNN quy mô nhỏ vàvừa về vốn và lao động, làm ăn thua lỗ, nay sang cả những doanh nghiệp làm

ăn có lãi với quy mô lớn trong các ngành trọng yếu của nền kinh tế như điện,

xi măng, viễn thông… với kết quả hoạt động sau cổ phần hoá ngày một tiếnbộ

Ba là, việc cổ phần hoá không chỉ nhằm thu hút vôn của các nhà đầu tư,của người lao động doanh nghiệp mà còn thu hút cả vốn của những nông dâncung câp nguyên liệu sản xuất công nghiệp, chuyển họ thành những cổ đông,gắn bó họ với sự phát triển của doanh nghiệp Ví dụ như công ty mía đườngLam Sơn, công ty mía đường La Ngà đã thực hiện cổ phần hóa theo hướng đó

ở công ty cổ phần mía đường Lam Sơn, Nhà nước giữ 465, nông dân trồngmía và cổ đông ngoài doanh nghiệp mua 26%, người trong doanh nghiệp mua

Trang 24

24% cổ phần, công ty cổ phần mía đường Lam Sơn là một doanh nghiệp làm

ăn rất hiệu quả Sau 5 năm cổ phần hoá từ năm 2000 đến 2005 nộp ngân sáchtăng từ 10 tỷ lên 38 tỷ đồng và lợi nhuận đạt tới 77.5 tỷ đồng và cổ tức là20%/ năm

Tác động của cổ phần hoá đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp cổ phần: Bên cạnh những kết quả về mặt số lượng đã đề cập ở trên thì

cổ phần hoá cũng đem lại những hiệu quả quan trọng về mặt kinh tế xã hội

- Tác động đến hiệu qủa sản xuất kinh doanh: Theo kết quả điều tracủa viện quản lý kinh tế trung ương cho biết, ngay sau khi cổ phần hoá năngsuất lao động của doanh nghiệp tăng bình quân 26%, tiền lương tăng bìnhquân trên 20% và đầu tư tài sản cố định tăng khoảng 23.1% so với trước khi

cổ phần hoá Trong số các các chỉ tiêu đạt được trên thì tăng năng suất laođộng là yếu tô ảnh hưởng tích cực nhất tới hiệu quả sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp cổ phần hoá Đó là do sự gắn bó về lợi ích của toàn bộ cán bộquản lý và người lao động với doanh nghiệp và động lực Trách nhiệm củangười quản lý doanh nghiệp và người lao động đã được nâng cao và gắn bóchặt chẽ với nhau hơn

Nhờ hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, các DNNN thực hiện cổphần hoá là những công ty cổ phần đầu tiên được niêm yết trên thị trườngchứng khoán ở Việt Nam Điều này không những nâng cao uy tín và vị thế củacác doanh nghiệp được cổ phần hoá trên thương trường mà còn minh chứngcho tính đúng đắn chủ trương cổ phần hoá DNNN như một biện pháp quantrọng để thực hiện sắp xếp lại các DNNN ở nước ta

- Về việc làm và thu nhập cho người lao động:

Hầu hết trong các DNNN được cổ phần hoá, việc làm và thu nhập củangười lao động đều được đảm bảo ổn định và có xu hướng tăng, với cơ chế

24

Trang 25

quản lý mới, người lao động được coi là chủ nhân thực sự trong công ty cổphần Nhờ đó, họ đã nâng cao tính chủ động, tinh thần tự giác, ý thức kỷ luậttrong lao động vì thế tiết kiệm được chi phí sản xuất, nhằm tránh lãng phítrong hoạt động sản xuất góp phần làm cho hiệu quả sản xuất của doanhnghiệp ngày một nâng cao, mang lại lợi ích cho bản thân họ, cho công ty vàcho đất nước.

- Về huy động vón:

Sau khi cổ phần hóa các doanh nghiệp đã thu hút được một lượng vốnđầu tư khá lớn từ các cổ đông ngoài doanh nghiệp, lalàm cho lượng vốn củaNhà nước trong doanh nghiệp được giảm bớt tạo điều kiện cho nguồn vốn củaNhà nước được sử dụng vào các mục đích khác Mặc dù các doanh nghiệp saukhi cổ phần hóa có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế, giảiquyết công ăn việc làm cho người lao động, huy động nguồn vốn nhàn rỗitrong xã hội vào sản xuất kinh doanh

Nhưng trong hoạt động của các doanh nghiệp cổ phần vẫn còn một sốmặt hạn chế, những bất cập trong việc khai thác tiềm năng về vốn, công nghệ,lao động của các doanh nghiệp, quá trình cổ phần hoá diễn ra còn chậm…

- Tốc độ tiến hành cổ phần hoá còn chậm: Hiện nay tiến độ cổ phầnhoá DNNN con chậm, tốc độ và quy mô tiến hành cổ phần hoá không đồngđều giữa các ngành, địa phương Các mục tiêu của cổ phần hoá chưa đạt đượcnhư mong muốn, năm 2003 chỉ đạt được 63% kế hoạch cổ phần ho, 6 thángđầu năm 2004 chỉ đạt 20% mục tiêu đề ra…Mục tiêu huy động vốn của toànthể xã hội để phát triển doanh nghiệp, nhưng vẫn chưa thu hút được đông đảocác nhà đầu tư Một phần không nhỏ là do lâu nay các doanh nghiệp vẫn còn engại là sau khi cổ phần hộáh sẽ mất quyền được “bảo hộ”, sẽ phải bước vào

Trang 26

sân chơi thiếu bình đẳng giữa các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài…

- Việc giải quyết lao động dôi dư sau khi cổ phần hoá cũng là mộtbài toán nan giải cần tháo gỡ, đây là vấn đề tế nhị làm sao vẫn đáp ứng đượcyêu cầu phát triển doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo được cho cán bộ nghỉ hưusớm cũng là vấn đề cần quan tâm

- Tình hình doanh nghiệp sau cổ phần hoá còn gặp nhiều vướng mắc

về tư cách pháp nhân trong vấn đề vay vốn, cơ chế quản lý đối với doanhnghiệp vẫn không thực sự được cải thiện, cơ chế phân phối lợi ích còn tuỳthuộc vào quyết định của mỗi công ty cổ phần, vai trò của Nhà nước và các tổchức đoàn thể còn lỏng lẻo Nhiều doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa chưaniêm yết được cổ phiếu trên thị trường chứng khoán

- Việc cổ phần hoá chưa thực hiện đều trong tất cả các lĩnh vực, một

số doanh nghiệp cổ phần hoá mới chỉ tập trung vào tiết kiệm chi phí, giảm giáthành để tăng lợi nhuận, trong khi chưa chú trọng đến những vấn đề có ảnhhưởng đến hoạt động lâu dài của doanh nghiệp là phát triển sản xuất kinhdoanh, đâu tư vốn vào trang thiết bị, đổi mới công nghệ, nâng cao tay nghềcho người lao động

- Thủ tục xác định giá trị doanh nghiệp còn rườm rà, thường phảikéo dài từ 1- 3 tháng, những văn bản pháp luật của chính phủ, các cơ quanchuyên môn chỉ đạo quá trình cổ phần hóa chưa kịp sửa đổi, bổ sung cho phùhợp với thực tế, cải cách hành chính không theo kịp cải cách doanh nghiệp…

- Xử lý nợ của DNNN trước cổ phần hoá đang là khó khăn lớn, hạnchế quá trình cổ phần hoá Quy trình cổ phần hoá còn nhiều phiền hà, phứctạp, nhất là việc xử lý các vấn đề tài chính, việc quản lý phần vốn Nhà nướccòn trong doanh nghiệp sau cổ phần hoá chưa rõ ràng; nhận thức của cán bộ,

26

Trang 27

công nhân về cổ phần hoá chưa được nhất quán trong các cấp, các ngành vàcác doanh nghiệp.

2.2.Thực trạng công tác định giá doanh nghiệp ở Việt Nam

Trong quá trình hội nhập, việc nghiên cứu vận dụng phương pháp thẩmđịnh và một số chỉ tiêu thẩm định theo cơ chế thị trường (theo thông lệ quốctế) bước đầu được áp dụng theo Nghị định 187/2004/NĐ-CP đã đạt được một

số thành tựu áp dụng công nghệ thông tin trong thẩm định và xử lý thông tinkhông những làm giảm thiểu lao động, tiết kiệm thời gian mà lại đem lại đảmbảo chính xác, tránh sai xót chủ quan trong tính toán thủ công của cán bộ thẩmđịnh Bên cạnh đó cũng có những hạn chế, đó là việc phân tích tình hình tàichính doanh nghiệp luôn gặp khó khăn đôi khi do tính chủ quan của người làmbáo cáo tài chính nên có thể kết quả của việc phân tích tài chính không đem lạikết quả chính xác Do đó cần xác định đúng mục đích của việc phân tích báocáo tài chính; bởi phân tích tình hình tài chính luôn là một nội dung quantrọng của hoạt động thẩm định giá trị doanh nghiệp, các chỉ tiêu phân tíchkhông chỉ dừng lại ở mục đích phản ánh định lượng mà còn phản ánh đựơctình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Có thể nêu ra một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng thẩm định doanhnghiệp ở nước ta còn chưa hiệu quả cao đó là:

- Nguồn thông tin chưa đầy đủ, chất lượng thông tin còn thấp

- Việc tổ chức công tác thẩm định chưa thực sự hợp lý Do còn nhiềucán bộ thẩm định chưa có chuyên môn cao, chưa có sự chuyên môn hoá trongcông việc, làm cho chất lượng thẩm định giá trị doanh nghiệp giảm đi Điều

đó đòi hỏi cán bộ thẩm định không những là người có trình độ hiểu biết cao vềnghiệp vụ thẩm định mà còn là người am hiểu về các ngành kinh tế và cácngành kỹ thuật khác

Trang 28

- Số lượng và chất lượng cán bộ thẩm định là không đồng đều, chưađáp ứng được yêu cầu của công tác thẩm định Số lượng cán bộ thẩm định còn

ít so với yêu cầu của khách hàng, dẫn tới tình trạng quá tải kéo dài đối vớinhững người làm công tác thẩm định, còn thiếu kinh nghiệm thực tế gây ảnhhưởng đến hiệu quả thẩm định

- Các tổ chức giám định, tư vấn của các ngành tại Việt Nam chưaphát triển và cũng chưa có hành lang pháp lý chặt chẽ cho việc mua bán thôngtin Cơ sở vật chất còn lạc hậu

2.3.Thực trạng thẩm định giá trị DNNN ở Việt Nam

2.3.1 Yêu cầu đối với việc thẩm định giá trị DNNN ở Việt Nam

Việc xác định tài sản DNNN trước khi cổ phần hoá là một vấn đề hếtsức khó khăn, chính vì vậy công tác chuẩn bị trước khi thẩm định là rất quantrọng

 Đảm bảo tính chính xác

Trong cuộc sống nói chung và trong sản xuất kinh doanh nói riêng đềucần có sự chính xác, nhất là trong hoạt động sản xuất kinh doanh sự chính xáctrong công tác thẩm định giá có thể quyết định tới các hoạt động trong tươnglai của doanh nghiệp, dựa vào kết quả thẩm định doanh nghiệp mà các doanhnghiệp có thể kịp thời phát hiện ra những điểm yếu và có những biện pháp cảitiến nâng cao hiệu quả kinh doanh Do đó, có thể hạn chế những thiệt hại vàlàm giảm mức độ bất ổn định, mức độ rủi ro trong môi trường kinh doanh Cóthể nói, đây là yêu cầu cần thiết nhất, mục tiêu quan trọng nhất của công tácthẩm định giá doanh nghiệp Vì vậy, những đối tượng quan tâm đến kết quảđịnh giá sẽ mong muốn thu được một kết quả chính xác nhất để phục vụ chomục đích của mình Để thực hiện được yêu cầu này đòi hỏi phải có nhiều yếu

tố nữa mới có thể đảm bảo được yêu cầu này

28

Trang 29

 Đảm bảo tính nhanh chóng và đúng thời điểm

Hiện nay công tác định giá doanh nghiệp ở nước ta còn diễn ra rất chậmchạp, còn nhiều thủ tục phiền hà làm cho tiến độ định giá kéo dài thời giangây ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp Vì vậy, định giá cần phảinhanh chóng và kịp thời đúng thời điểm mà mọi đối tượng cần quan tâm;nhưng bên cạnh đó phải đảm bảo tính chính xác Bởi lẽ, khi một người bắt đầu

có nhu cầu muốn biết giá trị doanh nghiệp, tức là họ đã có một kế hoạch trướccho việc sử dụng kết quả định giá rồi Do vậy, định giá phải nhanh chóng đểđảm bảo cho kế hoạch được thực hiện kịp thời và kịp lúc

 Đảm bảo tính khách quan và trung thực

Mỗi một công việc đều cần có tính khách quan và trung thực mới đem lạikết quả đáng tin cậy Để có một kết quả thẩm định chính xác thì trước tiêncán bộ thẩm định cũng như người quản lý doanh nghiệp phải làm việc trungthực, mang tính khách quan thì sẽ thu được kết quả chính xác nhất

 Lựa chọn phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp phải phùhợp

Xác định giá trị doanh nghiệp là một trong những vấn đề rất quan trọngkhi tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước Lựa chọn được mộtphương pháp xác định giá trị doanh nghiệp phù hợp với từng doanh nghiệp sẽgiúp doanh nghiệp xác định giá trị thực của mình, sẽ quyết định thành cônghay thất bại cuả công tác định giá doanh nghiệp

2.3.2 Mối quan hệ giữa giá trị xác định và giá trị thực tế của doanh nghiệp

Giá trị thực tế của doanh nghiệp là giá trị thực tế toàn bộ tài sản hiện cócủa doanh nghiệp tại thời điểm xác định giá trị có tính đến khả năng sinh lời

Trang 30

của doanh nghiệp Căn cứ xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp tại thờiđiểm xác định giá trị doanh nghiệp:

- Số liệu trên sổ kế toán của doanh nghiệp

- Số lượng và chất lượng tài sản theo kiểm kê phân loại thực tế

- Tính năng kỹ thuật của tài sản, nhu cầu sử dụng và giá trị thịtrường

- Giá trị sử dụng quyền sử dụng đất, khả năng sinh lời của doanhnghiệp (vị trí địa lý, uy tín của doanh nghiệp, mẫu mã, thương hiệu )

Sau khi xác định giá trị doanh nghiệp thì giá ban đầu được lấy làm cơ sởcho việc định giá bán doanh nghiệp nghĩa là phải xác định được giá cả trao đổitrên thị trường Việc trao đổi trên thị trường phụ thuộc vào quy luật cung cầu,quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ và đặc biệt làquy luật lợi nhuận do đó giá trao đổi có thể khác với giá xác định Trên thực

tế, quan hệ giữa giá trị doanh nghiệp được xác định và giá bán doanh nghiệptrên thị trường có thể xảy ra các trường hợp sau:

+ Giá của doanh nghiệp trên thị trường bằng giá trị xác định Đây là điều

lý tưởng nhất nó phản ánh mức độ đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp về nhiềumặt trên thị trường và được người đầu tư chấp nhận nhưng trường hợp này rất ítxảy ra

+ Giá của doanh nghiệp trên thị trường lớn hơn giá xác định được.Trường hợp này cho thấy doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao, triển vọngtương lai tốt, do vậy doanh nghiệp là nơi đầu tư tốt đối với các nhà đầu tư, tạo

ra sự cạnh tranh giữa các nhà đầu tư làm đẩy giá lên cao hơn so với giá trịthực tế của nó Ở nước ta trường hợp này không có nhiều

30

Ngày đăng: 08/04/2015, 20:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Kết quả xác định giá trị doanh nghiệp - Luận Văn Thẩm định giá trị doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay
Bảng 1 Kết quả xác định giá trị doanh nghiệp (Trang 32)
BẢNG KIỂM KÊ VÀ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ TÀI SẢN CÔNG TY XÂY DỰNG HOÀ BÌNH (NHÀ MÁY GẠCH TUYNEL LƯƠNG SƠN) - Luận Văn Thẩm định giá trị doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay
BẢNG KIỂM KÊ VÀ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ TÀI SẢN CÔNG TY XÂY DỰNG HOÀ BÌNH (NHÀ MÁY GẠCH TUYNEL LƯƠNG SƠN) (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w