GV đứng không che khuất tầm nhìn của HS.
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI :
“NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN HỌC VẦN LỚP
1”
Trang 2A ĐẶT VẤN ĐỀ:
1) Vị trí, tầm quan trọng của phân môn Học vần
Học vần là phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình tiểu học nói chung và trong môn Tiếng Việt nói riêng, vì nó là phần học mở đầu lớp đầu tiên của cấp Tiểu học Có học phần này, học sinh mới chiếm lĩnh được một công cụ giao tiếp quan trọng: chữ viết ghi âm Tiếng Việt Đây chính là phương tiện để các em có điều kiện học tốt các môn khác và học lên các lớp trên
2) Thực trạng của việc dạy – học phân môn Học vần
Xác định tầm quan trọng của vấn đề, trong những năm qua, bộ phận chuyên môn của trường đã có nhiều cố gắng trong công tác chỉ đạo, từng bước nâng dần chất lượng dạy và học phân môn này Cuối mỗi năm học, đa số học sinh lớp 1 nói chung đều đạt được mục tiêu, đặc biệt là 4 kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết) quan trọng mà môn học đề ra Sau giai đoạn học vần, về cơ bản các em đều đã đọc đúng các âm, vần, tiếng của tiếng Việt (trừ các vần khó, ít sử dụng); đọc trơn được các câu ngắn, các đoạn văn có độ dài khoảng 20 tiếng, có nội dung đơn giản phù hợp với lứa tuổi Các em cũng viết đúng khá đúng quy trình, đúng mẫu các chữ cái ghi âm, vần, tiếng, từ ngữ vừa học, viết đúng dấu thanh, chữ viết cỡ vừa rõ ràng, đúng nét, rõ khoảng cách và thẳng hàng Tỷ lệ chất lượng của môn tiếng Việt hàng năm đều tăng
Tuy nhiên, so với mặt bằng chung về chất lượng môn học vẫn còn nhiều hạn chế Nhiều học sinh đến cuối năm vẫn còn tình trạng: đọc chưa thông, viết chưa thạo; việc nhận diện, ghép vần, tiếng, kỹ năng đánh vần, đọc trơn, còn hạn chế
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả này, song yếu tố bất cập trong giảng dạy
của giáo viên là vấn đề đáng quan tâm Một trong những hạn chế nổi bật là kỹ năng
Trang 3vận dụng, phối hợp các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trên lớp Nhiều
giáo viên còn rất lúng túng trong khâu lựa chọn, vận dụng phương pháp, biện pháp dạy học trong từng hoạt động Do đặc thù của đơn vị trường khối 1chỉ có 1 lớp nên hạn chế trong việc học hỏi lẫn nhau Các giáo viên dạy lớp khác còn lúng túng khi được phân công dạy thay lớp 1
Xuất phát từ những bất cập nêu trên, bộ phận chuyên môn khối tiểu học tổ chức
chuyên đề : “Nâng cao chất lượng giảng dạy môn Học vần lớp 1” nhằm thúc đẩy chất
lượng chuyên môn của cấp học trong năm học 2011-2012 và những năm tiếp theo
Trang 4II NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN TRONG VIỆC DẠY VÀ HỌC PHÂN MÔN HỌC VẦN:
1) Thuận lợi:
a) Đối với giáo viên:
+ Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp quản lý, đặc biệt là bộ phận chuyên môn khối Tiểu học, cụ thể:
- Ban giám hiệu trường đặc biệt quan tâm đến chất lượng lớp 1 Thường xuyên tổ chức các tiết thao giảng, dự giờ, thăm lớp hỗ trợ việc nâng cao chất lượng dạy – học
- Hàng năm tổ chức các phong trào dạy và học (hội thi giáo viên dạy giỏi) giúp giáo viên có dịp chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong giảng dạy
- Đảm bảo công tác thông tin hai chiều trong chỉ đạo chuyên môn,…
+ Giáo viên dạy lớp 1 nhiệt tình trong công tác, có tinh thần tự học, tự rèn luyện nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, có nhiều năm giảng dạy lớp 1
+ Cơ sở vật chất từ phòng lớp, bàn ghế, các phương tiện phục vụ dạy học trang bị cho khối 1 từng bước được cải thiện
+ Phụ huynh học sinh đa số đều rất quan tâm đến việc học tập của con em mình
b) Đối với học sinh:
+ Tất cả trẻ em đúng 6 tuổi đều được vào học lớp 1, được xã hội, gia đình quan tâm, thậm chí có nhiều gia đình “cùng học” với trẻ
+ Đa số trẻ đều được qua lớp mẫu giáo, được chuẩn bị các kĩ năng thích ứng với hoạt động học tập giúp các em có tâm thế sẵn sàng học tập khi vào học lớp 1
2) Khó khăn:
Trang 5a) Đối với giáo viên:
+ Đôi lúc chưa chú ý nhiều đến việc đổi mới phương pháp dạy học, chưa có tính sáng tạo trong việc đầu tư cho kế hoạch bài học Đôi khi giáo viên có phần chủ quan trong dạy học vì kiến thức lớp 1 thường đơn giản
+ Chưa biết tận dụng những bài học vần đầu tiên (6 bài đầu) để rèn nề nếp lớp, tìm hiểu khả năng học sinh, chưa chú trọng đúng mức việc dạy phần nền của việc đọc âm-vần-tiếng-từ (28 bài về âm – chữ ghi âm đầu năm) Dẫn đến tình trạng có học sinh không đọc viết được các âm, từ đó mất căn bản là không đọc được vần, tiếng,
+ Còn lúng túng trong việc vận dụng, phối hợp các phương pháp, biện pháp, hình thức tổ chức dạy học
+ Chữ viết trên bảng lớp của giáo viên đôi khi chưa đẹp khi dạy viết cho học sinh, giáo viên ít quan tâm uốn nắn, sửa tư thế ngồi, cách cầm bút, nét chữ học sinh Thời gian dành cho hoạt động này được phân bố rất ít, dẫn đến tình trạng một bộ phận không nhỏ học sinh đến cuối năm viết chữ chưa đúng mẫu các chữ cái ghi âm, vần, tiếng, không đúng cỡ chữ (độ cao, rộng, khoảng cách giữa các con chữ và giữa các chữ thường quá hẹp hoặc quá rộng), ghi dấu thanh không đúng vị trí, đặc biệt là tư thế ngồi và cách cầm bút…
+ Việc đầu tư cho hoạt động luyện nói còn hạn chế
+ Khả năng thiết kế, tổ chức các trò chơi học tập còn hạn chế
+ Các thuật ngữ được dùng chưa đạt độ chính xác về ngôn ngữ trong tình huống sử dụng như âm, chữ, đọc vần, đánh vần,…(ví dụ : không đọc vần am mà đọc là a – mờ -am)
Trang 6+ Đồ dùng dạy học của giáo viên còn hạn chế, việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy còn hạn chế
+ Đôi khi trong tiết học, giáo viên còn nói nhiều, chưa phát huy khả năng tự học, tự phát hiện của HS, chưa phát huy tính ưu việt của hoạt động nhóm, đặc biệt là vai trò của nhóm trưởng, dẫn đến tình trạng tiết học còn nặng nề
b) Đối với học sinh:
+ Cùng vào lớp 1 nhưng mức độ chuẩn bị tâm thế của mọi trẻ đều khác nhau Có trẻ đã qua môi trường mẫu giáo, được làm quen với môi trường học tập Nhưng cũng có trẻ chưa qua mẫu giáo, hoàn toàn xa lạ với trường lớp, với hoạt động học tập
+ Được vào lớp 1, trẻ nhận được sự trợ giúp từ phía gia đình, người thân Có những phụ huynh đã làm thay công việc của trẻ
C MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN HỌC VẦN:
Đổi mới phương pháp dạy học được coi là yếu tố vô cùng quan trọng mà giáo viên phải hết sức quan tâm khi dạy phân môn học vần Cụ thể khi dạy phần này, giáo viên cần chú ý:
1 vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp, nhiều hình thức tổ chức dạy học nhằm
phát huy tính tích cực, chủ động học tập của học sinh là một trong những đặc điểm lớn nhất của phương pháp dạy học nói chung Đổi mới phương pháp dạy phân môn này là ở chỗ biết kết hợp sử dụng đúng lúc, đúng chỗ các hình thức tổ chức lớp học và các PPDH theo hướng tích cực hóa các hoạt động của học sinh
Trang 72 Những phương pháp cần chú ý khi giảng dạy học vần là: phương pháp dùng lời,
hỏi – đáp, quan sát, miêu tả, sử dụng đồ dùng trực quan, bộ chữ rời, bảng cài, luyện tập theo mẫu, thực hành giao tiếp, trò chơi,…
3 Khi vận dụng từng phương pháp, phải chú ý nhiều hơn đến cách thức hoạt động
của học sinh để tiếp nhận các tri thức tiếng Việt, cũng như việc hình thành và phát triển các kỹ năng (đọc, viết, nghe, nói)
4 Việc tổ chức hoạt động có thể dưới nhiều hình thức linh hoạt như: cá nhân, từng
đôi một, nhóm nhỏ, nhóm lớn, cả lớp, đặc biệt chú ý đến hình thức tổ chức dạy học theo nhóm
5 Chú ý sửa lỗi phát âm cho học sinh.
6 Xác định các cơ sở quan trọng khi lựa chọn phương pháp, biện pháp và hình thức
tổ chức dạy học một bài học vần:
- Đối tượng học sinh để có các biện pháp cá thể hóa trong dạy học;
- Mục tiêu bài dạy theo yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng, nhằm đảm bảo yêu cầu cần đạt đối với mọi đối tượng học sinh
- Khả năng của chính giáo viên, để cân nhắc các phương pháp, biện pháp, các hình thức tổ chức dạy học mà mình sẽ chọn nhằm vận dụng, kết hợp có hiệu quả;
- Điều kiện về cơ sở vật chất (phòng học, bàn ghế, các phương tiện hỗ trợ,…) để lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp
7 Gợi ý một số biện pháp tổ chức từng hoạt động trọng tâm của một bài dạy Học
vần:
7.1 Hoạt động nhận dạng, tập phát âm âm hoặc đánh vần vần mới:
Trang 8- Giáo viên viết chữ ghi âm lên bảng lớp, chỉ bảng giới thiệu và đọc mẫu.
- Yêu cầu học sinh dùng bộ chữ rời để cài chữ ghi âm hoặc ghép vần mới trên bảng cài, hỏi HS có bạn nào đọc được âm, vần mới không, nếu đọc được, yêu cầu các em đọc (nếu không đọc được giáo viên hướng dẫn), sau đó yêu cầu học sinh nhìn vào bảng cài của mình đọc cá nhân (phát huy những em khá, giỏi đọc trước, tiếp theo là những học sinh yếu – chú ý học sinh đọc yếu)
Có thể cho học sinh so sánh âm với những đồ vật, sự vật gần gũi trong thực tế; hoặc HS nhận biết vần mới gồm những âm nào? Âm nào đứng trước, âm nào đứng sau? Không nhất thiết phải dùng câu lệnh yêu cầu HS phân tích vần Tuỳ theo đối tượng HS, có thể cho các em so sánh điểm khác và giống nhau của một vần trước đó hoặc vần thứ hai vừa học
- HS đọc trơn và đánh vần vần mới (cho HS đọc cá nhân theo nhóm dưới sự giám sát của HS khá, giỏi hoặc giáo viên ), chú ý chỉnh sửa phát âm của HS
7.2 Hoạt động HDHS ghép, đánh vần, đọc trơn tiếng mới (tiếng khoá), từ mới (từ khoá) và từ ứng dụng:
+ Đối với tiếng khoá: YCHS tìm tiếp một âm trong bộ chữ ghép với vần mới đã tạo
trước đó trên bảng cài để được tiếng khoá, viết tiếng khoá lên bảng và yêu cầu các em phân tích cấu tạo tiếng (tương tự như phần hướng dẫn phần phân tích vần nêu trên) sau đó yêu cầu các em đánh vần, đọc trơn (đối với HS khá, giỏi) nếu không đọc được thì GV hướng dẫn
+ Đối với từ khoá: có thể dùng tranh, vật thật giúp HS nêu được từ mới, ghi bảng,
yêu cầu các em phát hiện tiếng chứa chữ ghi âm hoặc vần mới học, cho HS luyện đọc (có thể kết hợp đánh vần tiếng chứa vần mới học) Sau đó chỉ bảng yêu cầu HS đọc vần-tiếng- từ (đọc xuôi, ngược)
Trang 9+ Đối với từ ứng dụng:
- Gắn các thanh chữ mẫu hoặc viết bảng YCHS đọc thầm, sau đó phát huy những
HS khá giỏi đọc to những từ này;
- Tổ chức cho HS thi đua phát hiện, phân tích nhanh những tiếng chứa vần mới (HS dùng bút chì gạch chân các tiếng này trong SGK)
- HDHS luyện đọc trơn (đọc đồng thanh, cá nhân theo nhóm để tất cả HS đều được đọc và đọc được) các từ ứng dụng, chú ý chính sửa phát âm cho HS
- Kết hợp giải nghĩa một số từ khó thông qua tranh, ảnh, mô hình, vật thật
Chú ý:
+ Khi HS dùng bộ chữ ghép vần, GV cần chú ý theo dõi để phát hiện những trường hợp HS ghép được nhưng không đọc được, đọc được nhưng không ghép được để có biện pháp giúp đỡ kịp thời (có thể yêu cầu HS khá, giỏi trong nhóm hỗ trợ)
+ Cần dành nhiều thời gian cho phần luyện đọc Không đi sâu vào phần phân tích vần, so sánh vần
+ GV phát âm mẫu cần đúng và rõ ràng
+ Việc HDHS luyện đọc có thể tổ chức theo trình tự: Vần – tiếng – từ khoá (trình tự thuận) và Từ khoá – tiếng – vần (trình tự ngược) Cần phát huy việc luyện đọc cá nhân (càng nhiều càng tốt) theo nhóm Trước tiên GV (hoặc HS khá giỏi) đọc mẫu, sau đó yêu cầu HS đọc nối tiếp nhau trong nhóm GV phải chú ý lắng nghe các em đọc để phát hiện năng lực đọc của mỗi em, từ đó có cách rèn luyện thích hợp với từng em Cần có những lời lẽ nhẹ nhàng, động viên, khuyến khích đặc biệt là với đối tượng HS yếu
Trang 10+ Đối với những trường hợp cá biệt (HS có giọng đọc khuyết), GV nên dành nhiều thời gian hơn hoặc phân công HS khá giỏi giúp đỡ (ngay trong tiết học hoặc giờ chơi) để luyện phát âm thêm cho các em
+ Thường xuyên thay đổi không khí lớp học bằng một bài hát, múa, một trò chơi, một câu chuyện, đọc thơ,…có tác dụng giúp tiết học nhẹ nhàng,HS có hứng thú học bài và giúp HS củng cố bài học tốt hơn
7.3 HDHS luyện viết chữ ghi âm, vần mới
* Tiết 1: chủ yếu cho hS viết đúng chữ ghi âm, vần mới trên bảng con:
- Giới thiệu chữ mẫu, gợi ý để HS nhận xét chữ mẫu (độ cao, số nét,…) - bằng những câu đơn giản, ngắn gọn (bước này không yêu cầu HS phân tích quá kĩ)
- Viết mẫu (theo khung ô li đã được phóng to trên bảng lớp), vừa viết vừa nêu ngắn gọn quy trình viết
- Yêu cầu HS quan sát, dùng ngón trỏ viết thử trên không để định hình cách viết, sau đó viết bảng con GV cần chú ý bao quát, tập trung giúp đỡ HS (tư thế ngồi viết, cách đặt bảng con, cách cầm phấn,…)
- Đối chiếu với yêu cầu đề ra để đánh giá chất lượng chữ viết của HS bằng những lời nhận xét nhẹ nhàng, cụ thể, giúp các em thấy rõ thành công và hạn chế của mình
* Tiết 2: Luyện viết vào vở tập viết âm, vần, tiếng, từ
- Yêu cầu HS nêu nội dung viết
- GV viết mẫu, kết hợp nhắc lại quy trình, chú ý HS các nét nối giữa cac chữ cái và cách bỏ dấu thanh (GV đứng không che khuất tầm nhìn của HS)
Trang 11Muốn cho HS sử dụng hiệu quả vở Tập viết, GV cần hướng dẫn tỉ mỉ nội dung và yêu cầu về kỹ năng viết của từng bài viết (chữ mẫu, các dấu chỉ khoảng cách chữ, dấu vị trí đặt bút, thứ tự viết nét,…) giúp các em viết đủ, viết đúng số dòng đầu tiên ở mỗi phần bài viết
Lưu ý: Tuỳ theo trình độ của HS trong lớp, GV có thể yêu cầu HS viết số lượng
âm, vần, tiếng, từ sao cho đạt được chuẩn kiến thức, kỹ năng
7.4 HDHS luyện đọc câu, bài ứng dụng
- Treo tranh minh hoạ câu hoặc bài ứng dụng lên bảng lớp, dùng một vài câu hỏi gợi ý để HS nêu được nội dung tranh (HS có thể nhìn tranh trong SGK) GV ghi câu, bài ứng dụng lên bảng
- YCHS đọc thầm câu, bài ứng dụng, sau đó cho các em phát hiện những tiếng chứa vần mới học, dùng bút chì gạch chân các tiếng này trên bảng lớp và SGK (nhóm trưởng quan sát)
- Tuỳ theo đối tượng HS, có thể cho một em khá giỏi phân tích, đánh vần nhanh các tiếng có chứa vần mới học;
- GV (hoặc HS khá, giỏi) đọc mẫu cả câu, bài ứng dụng, lưu ý cần luyện đọc kỹ một số từ hoặc tiếng khó
- Kết hợp giải nghĩa từ và giúp HS hiểu nội dung câu/bài ứng dụng
-HDHS luyện đọc (cá nhân, nhóm, cả lớp) từ đơn giản đến phức tạp
7.5 HDHS luyện nói
- YCHS đọc chủ đề luyện nói ( vài em)