1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chế định miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt nam

143 1,1K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chế Định Miễn Trách Nhiệm Hình Sự Trong Luật Hình Sự Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 383 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chế định miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt nam

Trang 1

mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý và đợc thểhiện bằng việc ngời phạm tội bị áp dụng một hoặc nhiều các biện pháp cỡngchế hình sự khác nhau của Nhà nớc do luật hình sự quy định Tuy nhiên, trênthực tế không phải tất cả các tội phạm và các trờng hợp phạm tội đều giốngnhau Do đó, để công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm đạt hiệu quảcao, cùng với việc phân loại tội phạm, luật hình sự Việt Nam cũng đồng thờiphân hóa các trờng hợp phạm tội, các đối tợng phạm tội khác nhau để có đờnglối xử lý phù hợp, nhanh chóng, chính xác và công bằng Đặc biệt, sự phânhóa các trờng hợp phạm tội và ngời phạm tội còn thể hiện ở chỗ không phải tấtcả các trờng hợp phạm tội hay tất cả những ngời phạm tội đều bị truy cứutrách nhiệm hình sự Đó là trờng hợp khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những

điều kiện nhất định, thì một ngời đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội

mà luật hình sự quy định là tội phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự,

có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc cũng có thể đợc miễn tráchnhiệm hình sự

Miễn trách nhiệm hình sự là một trong những chế định quan trọng củapháp luật hình sự Việt Nam, thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà n-

ớc ta đối với ngời phạm tội và hành vi do họ thực hiện, đồng thời nhằm độngviên, khuyến khích ngời phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáodục, cải tạo tốt, hòa nhập với cộng đồng và trở thành ngời có ích cho xã hội.Miễn trách nhiệm hình sự cũng có quan hệ mật thiết và chặt chẽ với chế địnhtrách nhiệm hình sự Bởi vì, giải quyết tốt vấn đề trách nhiệm hình sự và ápdụng đúng đắn chế định miễn trách nhiệm hình sự trong thực tiễn sẽ tạo cơ sởpháp lý thuận lợi cho các cơ quan áp dụng pháp luật đấu tranh phòng, chốngtội phạm, bảo vệ có hiệu quả các lợi ích của Nhà nớc, các quyền và lợi ích hợppháp của tổ chức và công dân

Trang 2

ở nớc ta, đến Bộ luật hình sự năm 1985, chế định miễn trách nhiệmhình sự mới đợc nhà làm luật nớc ta ghi nhận chính thức, còn trớc đó tuy cha

đợc ghi nhận với tính chất là một chế định độc lập trong pháp luật hình sự

nh-ng tronh-ng thực tiễn và một số văn bản pháp lý đã thừa nhận và áp dụnh-ng với

nhiều tên gọi khác nhau nh: "xá miễn", "tha miễn trách nhiệm hình sự", "miễn tố", "tha bổng bị cáo", "miễn nghị cho bị cáo", "miễn hết cả tội" Có thể liệt

kê một số văn bản thời kỳ trớc khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 có đềcập đến vấn đề miễn tránh nhiệm hình sự nh: Sắc lệnh số 52/SL ngày20/10/1945 xá miễn cho một số tội phạm trớc ngày 19/08/1945; Thông t số314-TTg ngày 09/11/1954 của Thủ tớng Chính phủ về đại xá; Sắc lệnh số 223/

SL ngày 17/11/1946; Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày30/10/1967; Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ngày21/10/1970; Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dânngày 21/10/1970; Thông t số 03-BTP/TT tháng 4/1976 của Bộ T pháp hớng dẫnthi hành Sắc luật quy định về các tội phạm và hình phạt; Pháp lệnh trừng trị tội

đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép ngày 10/7/1982; Nghịquyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhândân tối cao hớng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự; Nghịquyết số 01/HĐTP ngày 19/04/1989 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhândân tối cao hớng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ luật hìnhsự; Thông t liên ngành số 05/TTLN ngày 02/6/1990 của Bộ Nội vụ, Viện kiểmsát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ T pháp hớng dẫn thi hànhchính sách đối với ngời phạm tội ra tự thú, v.v

Đến lần pháp điển hóa lần thứ hai luật hình sự Việt Nam với việcthông qua Bộ luật hình sự năm 1999, các quy định về miễn trách nhiệm hình

sự cũng đợc sửa đổi, bổ sung và tiếp tục hoàn thiện Tuy nhiên, thực tiễn chothấy, chế định miễn trách nhiệm hình sự vẫn cha đợc quan tâm nghiên cứumột cách sâu sắc và toàn diện Chẳng hạn, Bộ luật hình sự năm 1985, cũng

nh Bộ luật hình sự năm 1999 đều cha ghi nhận định nghĩa pháp lý của khái

Trang 3

niệm miễn trách nhiệm hình sự, hậu quả pháp lý cụ thể của việc miễn tráchnhiệm hình sự là gì? Mặt khác, các trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự lại đ-

ợc quy định rải rác ở các điều luật, các chơng thuộc Phần chung và Phần cáctội phạm Bộ luật hình sự năm 1999 rõ ràng là cha chính xác về mặt khoa học

và cha đạt về mặt kỹ thuật lập pháp Ngoài ra, quá trình áp dụng pháp luậthình sự cho thấy các quy phạm của chế định miễn trách nhiệm hình sự cònnhiều bất cập khi vận dụng vào thực tế, đặc biệt thực tiễn đời sống xã hội nóichung và thực tiễn pháp lý nói riêng đang tồn tại nhiều trờng hợp có thể ápdụng chế định miễn trách nhiệm hình sự, nhng lại cha đợc nhà làm luật nớc taquy định trong Bộ luật hình sự

Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa để làm sáng tỏ về mặtkhoa học các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về miễntrách nhiệm hình sự và vấn đề áp dụng trong thực tiễn, đồng thời đa ra nhữnggiải pháp hoàn thiện các quy định của chế định này, cũng nh nâng cao hiệuquả của việc áp dụng những quy định về miễn trách nhiệm hình sự không

những có ý nghĩa lý luận - thực tiễn và pháp lý quan trọng, mà còn là vấn đề

mang tính cấp thiết Đây chính là lý do luận chứng cho việc chúng tôi quyết

định lựa chọn đề tài "Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự

Việt Nam" làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình.

2 Tình hình nghiên cứu

Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định quan trọng, có liên quanchặt chẽ và mật thiết với chế định trách nhiệm hình sự và nhiều chế định kháctrong luật hình sự

Trớc hết, chế định này đợc ghi nhận trong Bộ luật hình sự của một sốnớc trên thế giới nh: Bộ luật hình sự Liên bang Nga, Bộ luật hình sự Cộng hòadân chủ nhân dân Lào, Bộ luật hình sự Tây Ban Nha, Bộ luật hình sự Thụy

Điển… hoặc trong pháp luật hình sự các n hoặc trong pháp luật hình sự các nớc nh: Anh, Cộng hòa Liên bang

Đức, cũng nh các nớc Hồi giáo… hoặc trong pháp luật hình sự các n Ngoài ra, ở Liên Xô trớc đây cũng đã có

công trình nghiên cứu về chế định này nh: "Những vấn đề lý luận của việc tha

Trang 4

miễn trách nhiệm hình sự", Nxb Khoa học, Maxcơva, 1974 của GS Kelina X.G.; "Miễn trách nhiệm hình sự" trong tuyển tập "Kevin s English law’s English law

glossary: Exemption from criminal liability" của Kevin’s English laws; hoặc "Exemption from criminal liability - General Defences" của tác giả Suzanne Wennberg, trong sách "Swedish Law in the New Millennium" do Michael Bogdan chủ

biên, Elanders Gotab, Stockholm, 2000

ở Việt Nam, cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về vấn

đề này, đáng chú ý là các công trình sau đây của TSKH Lê Cảm: 1) Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam (Trong sách: Nhà nớc

và pháp luật Việt Nam trớc thềm thế kỷ XXI, Tập thể tác giả do TSKH Lê

Cảm chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2002); 2) Về các dạng miễn trách nhiệm hình sự đợc quy định tại Điều 25 Bộ luật hình sự năm 1999 (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1/2001); 3) Về sáu dạng miễn trách nhiệm hình sự khác (ngoài Điều 25) trong Bộ luật hình sự năm 1999 (Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 2/2001); 4) Về bản chất pháp lý của các khái niệm: Miễn trách nhiệm hình sự, truy cứu trách nhiệm hình sự, không phải chịu trách nhiệm hình sự và loại trừ trách nhiệm hình sự (Tạp chí Kiểm sát, số 1/2002); 5) Khái niệm, các đặc điểm (dấu hiệu), phân loại và bản chất pháp lý của các biện pháp tha miễn trong luật hình sự Việt Nam (Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3(10)/2001); 6) Điều 25 - Miễn trách nhiệm hình sự (Trong sách: Bình luận

khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 - Tập I Phần chung, Tập thể tácgiả do TS Uông Chu Lu chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001)

Ngoài ra, vấn đề miễn trách nhiệm hình sự còn đợc đề cập ở các mức

độ khác nhau trong các công trình của một số tác giả khác nh: 1) Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam (Tạp chí Khoa học (KHXH), số 4/1997) của TS Nguyễn Ngọc Chí; 2) Về chế định miễn trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam (Tạp chí Nhà nớc và pháp luật, số 3/1988) và, Về chế định miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm

Trang 5

1999 (Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 12/2001) của PGS.TS Phạm Hồng Hải; 3) Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự (Tạp chí Luật học, số 5/1997) của TS Lê Thị Sơn; 4) Một số ý kiến về miễn trách nhiệm hình sự (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 2/1993) và, Hoàn thiện các quy định của luật tố tụng hình sự về đình chỉ điều tra và đình chỉ vụ án (Tạp chí Kiểm sát, số 5/2002) của tác giả Phạm Mạnh Hùng; 5) Những trờng hợp đợc miễn trách nhiệm hình

sự theo Điều 48 Bộ luật hình sự (Tạp chí Kiểm sát, số chuyên đề về Bộ luật hình sự, số 4/1999) của tác giả Thái Quế Dung; 6) Miễn trách nhiệm hình sự trong trờng hợp "Do sự chuyển biến của tình hình mà ngời phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa" theo quy định của Điều 25 Bộ luật hình sự (Tạp chí Kiểm sát, số 1/2002) của tác giả Nguyễn Hiển Khanh; 7) Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt (Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2004) của TSKH Lê Cảm và Trịnh Tiến Việt; 8) Hoàn thiện các quy định về miễn trách nhiệm hình sự (Tạp chí Kiểm sát, số 5/2004); Về chế định miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 (Tạp chí Khoa

học, chuyên san Kinh tế - Luật, số 1/2004)

Tiếp đến, chế định miễn trách nhiệm hình sự còn đợc đề cập, phân tích

trong một số Giáo trình và sách tham khảo nh: 1) Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997; 2) Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Tập thể tác giả do TSKH Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001 và 2003 (tái bản lần thứ nhất); 3) Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập thể tác giả do PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2002; 4) Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Tập thể tác giả do PGS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên,

Đại học Huế, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000; 5) Trách nhiệm hình sự và hình phạt Tập thể tác giả do PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001; 6) Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 - Phần chung (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000) của ThS Đinh Văn Quế

Trang 6

Tuy nhiên, tất cả những nghiên cứu trên đây của các tác giả mới ở dớidạng là các bài viết đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành, một phần, mụctrong các giáo trình, sách tham khảo hay sách bình luận, hoặc mới chỉ xem xétvấn đề ở cấp độ khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật Có nghĩa là cho đến nay trongkhoa học luật hình sự của Việt Nam cha có công trình nghiên cứu nào đề cập đếnchế định này một cách tơng đối có hệ thống, tơng đối đồng bộ và ở cấp độ mộtluận văn thạc sĩ hay một luận án tiến sĩ luật học Hơn nữa, nhiều vấn đề lý luận-thực tiễn xung quanh chế định miễn trách nhiệm hình sự cũng đòi hỏi cần phải đ-

ợc tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên khảo và sâu sắc hơn

3 Phạm vi và mục đích nghiên cứu

Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định phức tạp có nhiều nội dungliên quan đến các chế định khác trong Bộ luật hình sự nh: trách nhiệm hình sự,miễn hình phạt, các trờng hợp loại trừ trách nhiệm hình sự & không phải chịutrách nhiệm hình sự Bởi vậy, phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ xem xét

và giải quyết một số vấn đề xung quanh chế định miễn trách nhiệm hình sựnh: khái niệm, bản chất pháp lý và các đặc điểm cơ bản của miễn trách nhiệmhình sự; nội dung và điều kiện áp dụng những trờng hợp miễn trách nhiệmhình sự trong Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành, kết hợp với thực tiễn ápdụng và có tham khảo pháp luật hình sự của một số nớc trên thế giới

Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích để làm rõ về mặt khoahọc các quy phạm của chế định miễn trách nhiệm hình sự ở khía cạnh lậppháp và vấn đề áp dụng chúng trong thực tiễn, từ đó đa ra các giải pháp hoànthiện các quy phạm của chế định này trong pháp luật hình sự Việt Nam

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu nêu trên, trong luận văn này tác giả tập trungvào giải quyết những nhiệm vụ chính nh sau:

1) Xây dựng định nghĩa khoa học của khái niệm miễn trách nhiệmhình sự, phân tích các đặc điểm cơ bản và so sánh nó với miễn hình phạt

Trang 7

2) Khái quát sự hình thành và phát triển của các quy phạm về miễntrách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam

3) Phân tích nội dung, điều kiện áp dụng những trờng hợp miễn tráchnhiệm hình sự theo các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành vàthực tiễn áp dụng các quy định này Từ đây phân tích một số tồn tại xung quanhviệc quy định và áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự

4) Luận chứng cho sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của phápluật hình sự Việt Nam về miễn trách nhiệm hình sự, những phơng hớng cơ bảncủa việc hoàn thiện và từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện chế định miễntrách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 1999, đồng thời đa ra mô hình lýluận với sự bổ sung một số trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự cần phải đợc nhàlàm luật ghi nhận trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành

5 Những cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu

Những cơ sở lý luận của luận văn là các thành tựu của các chuyênngành khoa học pháp lý nh: lịch sử pháp luật, lý luận về pháp luật, xã hội họcpháp luật, luật hình sự, tội phạm học, luật tố tụng hình sự và triết học trongcác công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài đăng trên tạp chí củacác nhà khoa học-luật gia Việt Nam và nớc ngoài, cũng nh các văn bản phápluật của Nhà nớc và những giải thích thống nhất có tính chất chỉ đạo của thựctiễn xét xử thuộc lĩnh vực pháp luật hình sự do Tòa án nhân dân tối cao hoặc(và) các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Trung ơng ban hành có liên quan đến chế

định miễn trách nhiệm hình sự

Ngoài ra, luận văn cũng đã sử dụng một số phơng pháp tiếp cận để làmsáng tỏ về mặt khoa học từng vấn đề tơng ứng, đó là các phơng pháp nghiêncứu nh: lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp Đồng thời, việc nghiên cứu đềtài còn dựa vào số liệu thống kê trong các báo cáo của Tòa án nhân dân tốicao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân một số địa phơng

và các vụ án hình sự trong thực tiễn xét xử, cũng nh thông tin trên mạng

Trang 8

Internet để phân tích, tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự và luậnchứng các vấn đề nghiên cứu.

6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

ý nghĩa lý luận - thực tiễn quan trọng của luận văn là ở chỗ tác giả đãlàm rõ khái niệm, bản chất pháp lý và các đặc điểm cơ bản của miễn tráchnhiệm hình sự, nội dung và điều kiện áp dụng của những trờng hợp miễn tráchnhiệm hình sự trên cơ sở xem xét các quy định của pháp luật hình sự hiệnhành, đồng thời đa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy phạm của chế định này

ở khía cạnh lập pháp và việc áp dụng chúng trong thực tiễn

Đặc biệt, để góp phần nhân đạo hóa hơn nữa trong chính sách hình sự

của Nhà nớc ta và để phù hợp với các yêu cầu của thực tiễn xét xử và pháp luậthình sự các nớc, tác giả luận văn kiến nghị bổ sung những trờng hợp có thể ápdụng miễn trách nhiệm hình sự, nhng lại cha đợc nhà làm luật nớc ta quy địnhtrong Bộ luật hình sự Ngoài ra, ở một chừng mực nhất định có thể khẳng địnhrằng, đây là nghiên cứu chuyên khảo đồng bộ đầu tiên ở cấp độ một luận vănthạc sĩ đề cập đến chế định miễn trách nhiệm hình sự trong khoa học luật hình

sự Việt Nam, do đó nó còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cần thiết cho cáccán bộ nghiên cứu khoa học, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu sinh, học viên caohọc và sinh viên thuộc chuyên ngành T pháp hình sự

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụlục, luận văn bao gồm ba chơng với kết cấu nh sau:

Chơng 1: Một số vấn đề lý luận về miễn trách nhiệm hình sự

Chơng 2: Những trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự theo pháp luật

hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng

Chơng 3: Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về

miễn trách nhiệm hình sự

Trang 9

Chơng 1

Một số vấn đề lý luận về miễn trách nhiệm hình sự

1.1 Khái niệm, các đặc điểm cơ bản của miễn trách nhiệm hình sự và phân biệt nó với miễn hình phạt

1.1.1 Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự

Miễn trách nhiệm hình sự là một trong những chế định quan trọng củaluật hình sự Việt Nam, có quan hệ chặt chẽ và gắn liền với chế định tráchnhiệm hình sự Khái niệm, cơ sở và nội dung của miễn trách nhiệm hình sựcũng xuất phát từ khái niệm, cơ sở và nội dung của trách nhiệm hình sự Chonên, để tìm hiểu khái niệm và bản chất pháp lý của miễn trách nhiệm hình sự,thì không thể không xem xét khái niệm trách nhiệm hình sự và những nội dungxung quanh vấn đề này Bởi lẽ, việc nhận thức khoa học đúng đắn về tráchnhiệm hình sự sẽ tạo cơ sở vững chắc cho nhận thức về miễn trách nhiệm hình

sự Do vậy, trớc khi đi vào nghiên cứu khái niệm và bản chất pháp lý của chế

định miễn trách nhiệm hình sự cần phải hiểu khái niệm và một số nội dung cơbản xung quanh chế định trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam

Trách nhiệm hình sự là một thuật ngữ pháp lý và đợc sử dụng đối vớingời có hành vi vi phạm pháp luật hình sự Là một dạng của trách nhiệm pháp lý,

từ trớc đến nay, xung quanh khái niệm "trách nhiệm hình sự" là gì (?) vẫn còn

tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, mà cụ thể là:

Theo TSKH Lê Cảm thì "trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và đợc thể hiện bằng việc áp dụng đối với ngời phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cỡng chế của Nhà nớc do luật hình sự quy định"

[7, tr 122];

Theo GS.TS Đỗ Ngọc Quang thì định nghĩa: "Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của ngời khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đợc quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả

Trang 10

bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà ngời đó đã thực hiện" [54, tr 14];

Còn GS.TSKH Đào Trí úc lại quan niệm "trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ ngời đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trớc Nhà nớc" [75, tr 41];

Và theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa và TS Lê Thị Sơn thì "trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp t pháp) và chịu mang án tích" [37, tr 126]

Nh vậy, tổng kết các quan điểm trên đây, đồng thời căn cứ vào các quy

định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành, theo chúng tôi dới góc độkhoa học luật hình sự khái niệm trách nhiệm hình sự có thể định nghĩa nh sau:

Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và đợc thể hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cỡng chế nghiêm khắc của Nhà nớc do luật hình sự quy định đối với ngời phạm tội Theo đó, trách

nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm, trách nhiệmhình sự chỉ phát sinh (xuất hiện) khi có sự việc phạm tội và chính vì thế, nó làdạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất so với bất kỳ dạng trách nhiệmpháp lý nào khác Trách nhiệm hình sự chỉ đợc thực hiện trong phạm vi củaquan hệ pháp luật hình sự giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có cácquyền và nghĩa vụ nhất định - một bên là Nhà nớc, còn bên kia là ngời phạmtội

Nghiên cứu trách nhiệm hình sự, không thể không đề cập đến vấn đề

cơ sở và những điều kiện của nó Bởi lẽ, việc làm rõ các nội dung này là yêu

cầu quan trọng trong việc đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự,bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cũng nh loại trừ việc ápdụng trách nhiệm hình sự theo nguyên tắc tơng tự đã từng đợc áp dụng trong

Trang 11

thực tiễn t pháp hình sự ở nớc ta trớc đây Hơn nữa, nó còn tạo cơ sở vữngchắc cho nhận thức về nội dung và cơ sở của miễn trách nhiệm hình sự

Do đó, dới góc độ khoa học luật hình sự, TSKH Lê Cảm đã đa ra định

nghĩa của hai khái niệm này: "Cơ sở của trách nhiệm hình sự là việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm" và, "Điều kiện của trách nhiệm hình sự là căn cứ riêng cần và đủ, có tính chất bắt buộc

và do luật hình sự quy định mà chỉ khi nào có tổng hợp tất cả chúng (các căn

cứ riêng đó) thì một ngời mới phải chịu trách nhiệm hình sự" [7, tr 130]

Nh vậy, một ngời chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi ngời đó có đầy

đủ cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự về một tội phạm Song,trên thực tế có một số trờng hợp mặc dù có đầy đủ cơ sở và những điều kiệncủa trách nhiệm hình sự nhng khi có căn cứ và những điều kiện nhất định, thìmột ngời đã phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, có thể khôngphải chịu trách nhiệm hình sự hoặc cũng có thể đợc miễn trách nhiệm hình sự.Cho nên, có thể khẳng định rằng, khái niệm và cơ sở của miễn trách nhiệmhình sự cũng xuất phát từ khái niệm và cơ sở của trách nhiệm hình sự

Là một trong những chế định quan trọng trong luật hình sự Việt Nam,miễn trách nhiệm hình sự thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng

và Nhà nớc ta đối với ngời phạm tội và hành vi do họ thực hiện, đồng thời qua

đó nhằm động viên, khuyến khích ngời phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏkhả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng và giúp họtrở thành ngời có ích cho xã hội Hiện nay, cũng giống nh khái niệm tráchnhiệm hình sự, trong khoa học luật hình sự xung quanh khái niệm miễn tráchnhiệm hình sự vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, cụ thể là:

- "Miễn trách nhiệm hình sự là việc hủy bỏ sự đánh giá tiêu cực đối với ngời đó dới hình thức bản án" [94, tr 31];

- "Miễn trách nhiệm hình sự là một nguyên tắc của luật hình sự dựa trên cơ sở xung đột về lợi ích, dùng để chỉ ra rằng không có tội phạm đợc thực hiện mặc dù trên thực tế hành vi của một ngời nào đó đã thỏa mãn cả yếu tố

Trang 12

chủ quan và yếu tố khách quan đối với một loại tội phạm Nguyên tắc này đợc nhắc đến nh là miễn trách nhiệm hình sự và không phải là miễn hình phạt bởi vì bị cáo không chỉ tránh khỏi hình phạt mà hơn thế nữa hành vi đó không đợc coi là tội phạm trong những điều kiện miễn trừ" [96, tr 184]

- "Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định nhân đạo của luật hình

sự Việt Nam và đợc thể hiện bằng việc xóa bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với ngời bị coi là

có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó" [10, tr 7];

- "Miễn trách nhiệm hình sự có nghĩa là miễn những hậu quả pháp lý

đối với một tội phạm do pháp luật quy định" [75, tr 269];

- "Miễn trách nhiệm hình sự là việc miễn kết tội cũng nh áp dụng hình phạt đối với ngời thực hiện tội phạm và do vậy họ không bị coi là có tội Nói cách khác, miễn trách nhiệm hình sự là miễn những hậu quả pháp lý đối với ngời phạm tội do pháp luật hình sự quy định" [24, tr 14];

- "Miễn trách nhiệm hình sự có nghĩa là miễn những hậu quả pháp lý

về các tội phạm đối với ngời thực hiện tội phạm khi có những điều kiện theo quy định của pháp luật" [20, tr 109];

- "Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc tội một ngời chịu trách nhiệm hình sự về tội mà họ đã thực hiện" [32, tr 321];

- "Miễn trách nhiệm hình sự là không truy cứu trách nhiệm hình sự một ngời về việc đã thực hiện một tội phạm đợc quy định trong luật hình sự, thể hiện trong một văn bản của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền" [64, tr 238];

- "Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc ngời phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà ngời đó đã thực hiện" [89, tr 389];

- "Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc ngời phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mà ngời đó đã phạm" [39, tr 166];

- "Miễn trách nhiệm hình sự đối với ngời phạm tội có nghĩa là miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và đơng nhiên kéo theo cả miễn phải chịu các

Trang 13

hậu quả tiếp theo do việc thực hiện trách nhiệm hình sự từ phía Nhà nớc đem lại nh: miễn bị kết tội, miễn phải chịu biện pháp cỡng chế của trách nhiệm hình sự và miễn bị mang án tích Trên thực tế có thể có trờng hợp ngời phạm tội đợc Tòa án miễn trách nhiệm hình sự trong giai đoạn xét xử Trong trờng hợp này, miễn trách nhiệm hình sự chỉ bao gồm miễn chịu biện pháp cỡng chế của trách nhiệm hình sự và miễn mang án tích" [61, tr 19-20]

Nh vậy, về cơ bản tất cả các quan điểm trên đây về khái niệm miễntrách nhiệm hình sự đều đầy đủ về nội dung, ngắn gọn và điều quan trọng là

thống nhất trong việc khẳng định rõ đợc nội dung và bản chất pháp lý của nó.

Tuy nhiên, để đa ra một khái niệm đầy đủ và chính xác về nội dung, ngắn gọn

và nhất quán về mặt pháp lý, đồng thời phù hợp với thực tiễn và chính sáchnhân đạo của Nhà nớc, theo chúng tôi khái niệm miễn trách nhiệm hình sựphải bao gồm các nội dung nh: a) Bản chất pháp lý của nó (miễn trách nhiệmhình sự) là gì; b) Hình thức thể hiện của nó nh thế nào; c) Cơ quan Nhà nớc cóthẩm quyền nào áp dụng; d) Đối tợng bị áp dụng là ai; và đ) Phải đáp ứng căn

cứ pháp lý và những điều kiện cụ thể nào

Tóm lại, trên cơ sở tổng kết các quan điểm khoa học đã nêu, kết hợp vớiviệc phân tích các quy định của pháp luật hình sự có liên quan, dới góc độ khoahọc luật hình sự, theo chúng tôi khái niệm miễn trách nhiệm hình sự có thể đợc

định nghĩa nh sau: Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam và đợc thể hiện bằng văn bản với nội dung hủy bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm

đối với ngời bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó, do các cơ quan t pháp hình sự có thẩm quyền tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tơng ứng áp dụng khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện luật định

1.1.2 Các đặc điểm cơ bản của miễn trách nhiệm hình sự

Xuất phát từ khái niệm nêu trên và trên cơ sở nghiên cứu các quy địnhcủa pháp luật hình sự hiện hành có liên quan đến miễn trách nhiệm hình sự,chúng tôi có thể chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của nó nh sau:

Trang 14

Thứ nhất, miễn trách nhiệm hình sự là một trong những chế định phản

ánh rõ nét nhất nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự nói chung và phápluật hình sự Việt Nam nói riêng Nói một cách khác, miễn trách nhiệm hình sự

là một biện pháp hữu hiệu của Nhà nớc để thực hiện chính sách phân hóa và

thể hiện phơng châm trong đờng lối xử lý, đó là "nghiêm trị kết hợp với khoan hồng", "trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục, cải tạo".

Thứ hai, miễn trách nhiệm hình có nghĩa là không buộc ngời phạm tội

phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội đó mà lẽ ra nếu không có

đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện do luật định để đợc miễn trách

nhiệm hình sự, thì ngời đó phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của phápluật hình sự Điều đó có nghĩa, trờng hợp xét thấy không cần phải áp dụng tráchnhiệm hình sự đối với ngời phạm tội mà vẫn đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng vàchống tội phạm, có căn cứ chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chónghòa nhập với cộng đồng của ngời phạm tội, đồng thời đáp ứng những điềukiện nhất định thì các cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền quyết định cho họ đợcmiễn trách nhiệm hình sự

Thứ ba, miễn trách nhiệm hình sự chỉ áp dụng đối với ngời mà trong

hành vi của họ thỏa mãn những dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể, nhng đốivới họ lại có căn cứ và những điều kiện nhất định để đợc miễn trách nhiệm hình sựtrong từng trờng hợp mà pháp luật hình sự hiện hành quy định, cũng nh tùy

thuộc vào từng trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự đó là tùy nghi (lựa chọn) hay bắt buộc Nói một cách khác, không thể áp dụng miễn trách nhiệm hình sự

đối với ngời không có hành vi thỏa mãn dấu hiệu pháp lý của một cấu thành tộiphạm cụ thể đợc quy định trong luật hình sự và đối với họ không có căn cứ vànhững điều kiện nhất định

Thứ t, miễn trách nhiệm hình sự do cơ quan nhà nớc có thẩm quyền

quyết định phải đợc thể hiện bằng văn bản Cụ thể, theo quy định của Bộ luật

tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003, cơ quan Điều tra ra quyết định đình chỉ

điều tra (bằng văn bản) khi có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự quy định tại

Trang 15

Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự (Điều 164); Viện kiểm sát

ra quyết định đình chỉ vụ án (bằng văn bản) khi có một trong các căn cứ miễntrách nhiệm hình sự quy định tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình

sự (Điều 169) hoặc rút quyết định truy tố và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án (Điều181), Tòa án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm trong trờng hợp miễntrách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo (điểm a khoản 1 Điều 249)

Thứ năm, phụ thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tơng ứng cụ thể,

miễn trách nhiệm hình sự chỉ đợc thực hiện bởi một cơ quan Nhà nớc có thẩmquyền Cụ thể, đó là cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án (các điều

164, 169, 181 và Điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003) khi có đầy đủcăn cứ pháp lý và những điều kiện do luật định

Thứ sáu, ngời đợc miễn trách nhiệm hình sự đơng nhiên không phải

chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội do mình thực hiện(nh: không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không bị kết tội, không phải chịuhình phạt hoặc biện pháp cỡng chế về hình sự khác, không bị coi là có án tích

và không bị coi là có tội) Tuy nhiên, trong Bộ luật hình sự hiện hành của nớc

ta, nhà làm luật cha quy định ngoài ra họ có phải chịu một hay nhiều biệnpháp cỡng chế về hình sự khác hay không? Về vấn đề này, thực tiễn xét xửcho thấy, ngời đợc miễn trách nhiệm hình sự vẫn có thể phải chịu một hoặcnhiều biện pháp tác động về mặt pháp lý thuộc các ngành luật tơng ứng khác

Cụ thể là: các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật tố tụng hìnhsự; buộc phải phục hồi lại tình trạng ban đầu, buộc bồi thờng thiệt hại theoquy định của pháp luật dân sự; phạt tiền, cảnh cáo hoặc buộc thôi việc theoquy định của pháp luật hành chính; đình chỉ hợp đồng lao động theo quy địnhcủa pháp luật lao động hoặc biện pháp kỷ luật Để minh chứng điều này cóthể dẫn ra văn bản hớng dẫn thống nhất có tính chất chỉ đạo của Hội đồngThẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày05/01/1986 về việc Hớng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự:

"Khi đã miễn trách nhiệm hình sự thì Tòa án không đợc quyết định bất kỳ loại

Trang 16

hình phạt nào nhng vẫn có thể quyết định việc bồi thờng cho ngời bị hại và giải quyết tang vật"

1.1.3 Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với miễn hình phạt

Trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành bên cạnh thuật ngữ "miễn trách nhiệm hình sự", tại một số điều luật cụ thể của Bộ luật hình sự năm 1999 nhà làm luật nớc ta còn sử dụng khái niệm "miễn hình phạt" (Điều 54 và

khoản 3 Điều 314 - Tội không tố giác tội phạm), đồng thời giữa hai khái niệmnày cũng có liên quan chặt chẽ mật thiết với nhau Do đó, việc phân biệt sựgiống và khác nhau giữa chúng là việc làm cần thiết và có ý nghĩa rất quantrọng về mặt lý luận - thực tiễn

Hiện nay, trong Bộ luật hình sự năm 1999 nhà làm luật không ghinhận định nghĩa pháp lý của khái niệm miễn hình phạt và trong khoa học luậthình sự cũng còn nhiều quan điểm khác nhau Tuy nhiên, theo chúng tôi dới

góc độ khoa học luật hình sự miễn hình phạt có nghĩa là không buộc ngời phạm tội phải chịu hình phạt về tội mà ngời đó đã thực hiện Về biện pháp này, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định "Ngời phạm tội có thể đợc miễn hình phạt trong trờng hợp ngời phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy

định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, đáng đợc khoan hồng đặc biệt,

nh-ng cha đến mức đợc miễn trách nhiệm hình sự" Theo đó, điều kiện để nh-ngời

phạm tội đợc miễn hình phạt khi: a) Có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại

Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; b) Đáng đợc khoan hồng đặc biệt và; c)Ngời đó cha đến mức miễn trách nhiệm hình sự

Nh vậy, miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt có một số điểmgiống nhau cơ bản dới đây

Thứ nhất, chúng đều thuộc hệ thống các biện pháp tha miễn trong luật

hình sự nớc ta, thể hiện rõ nguyên tắc nhân đạo trong chính sách hình sự nóichung và của luật hình sự Việt Nam nói riêng

Thứ hai, miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt chỉ có thể áp

dụng đối với ngời nào bị coi là có lỗi trong việc thực hiện chính tội phạm đó

Trang 17

Nói một cách khác, hành vi nguy hiểm cho xã hội do ngời đó thực hiện bịpháp luật hình sự cấm (Bộ luật hình sự quy định là tội phạm).

Thứ ba, miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt chỉ có thể áp

dụng khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện cụ thể do pháp luậthình sự quy định tơng ứng trong từng trờng hợp cụ thể

Thứ t, cũng nh ngời đợc miễn trách nhiệm hình sự, ngời đợc miễn hình phạt không phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội hoặc (và) của việc quyết định hình phạt - án tích

Thứ năm, cũng nh việc miễn trách nhiệm hình sự, bằng các quy phạm

có tính chất nhân đạo của chế định miễn hình phạt, nhà làm luật không phảidùng các biện pháp mang tính trấn áp (trừng trị) về mặt hình sự và do đó, sẽloại trừ đợc việc áp dụng hình phạt trong những trờng hợp mặc dù hình phạt

có đợc Tòa án quyết định đi chăng nữa nhng trên thực tế là bất hợp lý vì cácmục đích của nó không thể đạt đợc, đồng thời Nhà nớc không cách ly khỏi xãhội những ngời bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và nh vậy, sẽ tạo

điều kiện thuận lợi cho họ sớm thích nghi với các yêu cầu của trật tự pháp luật

để trở lại cuộc sống bình thờng trong cộng đồng xã hội, phấn đấu làm ngời

l-ơng thiện, có ích cho gia đình và xã hội

Ngoài ra, giữa miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt cũng cómột số điểm khác nhau cơ bản dới đây

Thứ nhất, nếu Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành của nớc ta có quy

định chín trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự (Điều 19; khoản 1, 2 và 3 Điều25; khoản 2 Điều 69; khoản 3 Điều 80; khoản 6 Điều 289; khoản 6 Điều 290

và khoản 3 Điều 314), thì các trờng hợp miễn hình phạt trong Bộ luật này chỉ

đợc ghi nhận tại hai điều luật mà thôi (Điều 54 và khoản 3 Điều 314)

Thứ hai, trách nhiệm hình sự có thể đợc thực hiện bằng hình phạt (nếu

ngời phạm tội không đợc miễn trách nhiệm hình sự, mà bị Tòa án áp dụnghình phạt), nhng cũng có thể bằng biện pháp có tính cỡng chế về hình sự khác

Trang 18

(nếu ngời phạm tội đợc miễn hình phạt) Còn miễn trách nhiệm hình sự thì

đ-ơng nhiên là không áp dụng hình phạt với ngời phạm tội, tức là không áp dụngbiện pháp cỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nớc đối với họ, nhng miễn hìnhphạt thì không có nghĩa là không có trách nhiệm hình sự Nói một cách khác,ngời đợc miễn hình phạt khi họ cha đến mức đợc miễn trách nhiệm hình sự,còn ngời đợc miễn trách nhiệm hình sự lại đơng nhiên đợc miễn hình phạt

Thứ ba, khác với miễn trách nhiệm hình sự, điều kiện đợc miễn hình

phạt áp dụng đối với từng trờng hợp cụ thể không đợc quy định rõ ràng nh miễntrách nhiệm hình sự Theo quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự năm 1999 thìcác điều kiện để miễn hình phạt không khắt khe (chặt chẽ) bằng các điều kiện

để miễn trách nhiệm hình sự Do đó, dới góc độ pháp luật hình sự thực định và

và thực tiễn áp dụng nó, chúng ta có thể nhận thấy hành vi phạm tội và nhânthân ngời đợc miễn trách nhiệm hình sự thông thờng đều ít nguy hiểm hơn sovới hành vi phạm tội và nhân thân của ngời đợc miễn hình phạt

Thứ t, nếu hình phạt và việc áp dụng miễn hình phạt đối với ngời bị kết

án chỉ có thể và phải do một cơ quan duy nhất áp dụng - Tòa án, thì trong khi

đó miễn trách nhiệm hình sự đối với ngời phạm tội, ngoài Tòa án có thẩmquyền áp dụng ra còn có thể do các cơ quan t pháp hình sự có thẩm quyền (cơquan Điều tra với sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, Viện kiểm sát) áp dụng trớckhi xét xử tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự cụ thể tơng ứng

Và thứ năm, nếu ngời đợc miễn trách nhiệm hình sự đơng nhiên không

phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội do mình thực hiện(nh: không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không phải chịu hình phạt hoặc biệnpháp cỡng chế về hình sự khác, không bị coi là có án tích và không bị coi là cótội), nhng thực tiễn xét xử cho thấy, ngời đợc miễn trách nhiệm hình sự vẫn cóthể phải chịu một hoặc nhiều biện pháp tác động về mặt pháp lý thuộc các ngànhluật tơng ứng khác (nh: pháp luật tố tụng hình sự; pháp luật dân sự; pháp luật hànhchính; pháp luật lao động hoặc biện pháp kỷ luật ) và đã đợc ghi nhận tại Nghịquyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 về việc Hớng dẫn áp dụng một số quy định

Trang 19

của Bộ luật hình sự của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (đã nêu).Trong khi đó, ngời đợc miễn hình phạt tuy đơng nhiên đợc xóa án tích (khoản 1

Điều 64), nhng họ vẫn có thể bị áp dụng các biện pháp t pháp quy định trong Bộluật hình sự năm 1999 (các điều 41-43)

1.1.4 ý nghĩa của việc quy định những trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam

Hiện nay, việc nghiên cứu chế định miễn trách nhiệm hình sự là mộtvấn đề quan trọng và cấp thiết, không những góp phần đấu tranh phòng vàchống tội phạm, mà còn thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nớc ta

đối với những ngời phạm tội và hành vi do họ thực hiện, qua đó nhằm khuyếnkhích, động viên ngời phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục,cải tạo nhanh chóng, hòa nhập với cộng đồng và trở thành ngời có ích cho xãhội Do đó, nó có ý nghĩa quan trọng thể hiện trên các bình diện sau

Thứ nhất, dới góc độ chính trị-xã hội, việc quy định những trờng hợp

miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự giúp cho các cơ quan t pháphình sự có thẩm quyền xác định đợc chính xác và đúng đắn trờng hợp nào ng-

ời phạm tội và hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, hoặckhông cần thiết phải áp dụng trách nhiệm hình sự mà vẫn đảm bảo yêu cầu

đấu tranh phòng và chống tội phạm, hạn chế tới mức thấp nhất sự lạm dụng vàtùy tiện khi áp dụng, qua đó tôn trọng và bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hộichủ nghĩa, nguyên tắc công bằng xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực t pháp hình

sự Đặc biệt, ngoài việc ghi nhận trong pháp luật hình sự thực định thì việc ápdụng miễn trách nhiệm hình sự trong thực tiễn cũng chính là một trong nhữnghình thức xã hội hóa giáo dục để quần chúng nhân dân, cơ quan tổ chức và gia

đình ngời bị kết án tham gia vào việc cải tạo, giáo dục ngời phạm tội, giúp đỡ

đa họ trở lại con đờng lơng thiện, lao động chân chính và có ích cho xã hội

Điều đó có nghĩa, trờng hợp xét thấy không cần phải áp dụng trách nhiệm hình sự

đối với ngời phạm tội mà vẫn đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng và chống tộiphạm, có căn cứ chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng hòa nhập với

Trang 20

cộng đồng của ngời phạm tội, đồng thời đáp ứng những điều kiện nhất định thìcác cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền quyết định cho họ đợc miễn trách nhiệm

hình sự Cho nên, "ngoài ý nghĩa nhân đạo và nguyên tắc mọi hành vi phạm tội đều phải đợc xử lý nghiêm minh, kịp thời, thì việc càng có nhiều căn cứ,

điều kiện pháp lý cho việc miễn trách nhiệm hình sự càng làm tăng thêm các kênh để qua đó nhân dân có thể tham gia vào việc giáo dục ngời phạm tội"

[78, tr 54]

Thứ hai, dới góc độ pháp lý, biện pháp miễn trách nhiệm hình sự chỉ

có thể đợc đặt ra đối với ngời nào thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội màluật hình sự quy định hành vi đó là tội phạm Nói một cách khác, nó chỉ ápdụng (hoặc có thể đợc áp dụng) đối với ngời nào mà trong hành vi của họ thỏamãn những dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể, nhng đối với ngời đó lại cócăn cứ pháp lý và những điều kiện nhất định để đợc miễn trách nhiệm hình sựtrong từng trờng hợp tơng ứng mà pháp luật hình sự hiện hành quy định, cũng

nh tùy thuộc vào từng trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự đó có tính chất tùy nghi (lựa chọn) hay có tính chất bắt buộc

Ngoài ra, cũng dới góc độ pháp lý này, ngời đợc miễn trách nhiệm hình

sự đơng nhiên không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạmtội do mình thực hiện nh: không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không bị kết tội,không phải chịu hình phạt hoặc biện pháp cỡng chế về hình sự khác, không bị coi

là có án tích và không bị coi là có tội Tuy nhiên, họ vẫn có thể phải chịu một haynhiều biện pháp tác động về mặt pháp lý thuộc các ngành luật tơng ứng khác (tốtụng hình sự, hành chính, dân sự, lao động ) tùy theo từng trờng hợp tơng ứng cụthể Vì vậy, việc cân nhắc những trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự để ápdụng đối với ngời thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chính là sự đảm bảocủa nguyên tắc công bằng giữa các công dân nói chung, giữa những ngời phạmtội nói riêng trong pháp luật hình sự Việt Nam

Trang 21

Thứ ba, dới góc độ nhân đạo và bảo vệ quyền con ngời trong lĩnh vực

t pháp hình sự Miễn trách nhiệm hình sự là một trong những chế định phản

ánh rõ nét nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam Miễn trách nhiệm hình

sự là một biện pháp hữu hiệu của Nhà nớc để thực hiện chính sách phân hóa

và thể hiện phơng châm trong đờng lối xử lý, đó là "nghiêm trị kết hợp với khoan hồng", "trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục, cải tạo" Miễn trách

nhiệm hình sự là chế định luôn gắn liền và quan hệ chặt chẽ với chế định tráchnhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam Khái niệm và cơ sở của miễntrách nhiệm hình sự cũng xuất phát từ khái niệm và cơ sở của trách nhiệm

hình sự Cho nên, về điều này đúng nh TS Lê Thị Sơn đã viết: "Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với ngời phạm tội thì miễn trách nhiệm hình sự, miễn hậu quả pháp lý của việc phạm tội cũng chỉ có thể đặt ra

đối với ngời phạm tội Không thể áp dụng miễn trách nhiệm hình sự đối với ngời không có hành vi thỏa mãn dấu hiệu pháp lý của một cấu thành tội phạm

đợc quy định trong luật hình sự" [61, tr 19].

Do đó, dới góc độ này, nhà làm luật đã quy định chặt chẽ cơ sở của

trách nhiệm hình sự tại Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999 đó là "Chỉ ngời nào phạm một tội đã đợc Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự" Khi đã thỏa mãn cơ sở và những điều kiện của trách nhiệm hình sự thì

một ngời mới phải chịu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quảcông tác đấu tranh phòng và chống tội phạm, cùng với việc phân loại tộiphạm, nhà làm luật nớc ta cũng đồng thời phân hóa trong pháp luật hình sựViệt Nam các trờng hợp phạm tội, các đối tợng phạm tội khác nhau để có đ-ờng lối xử lý phù hợp, chính xác và công bằng Nếu trờng hợp một ngời có

đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện nhất định, thì họ có thể không phảichịu trách nhiệm hình sự hoặc cũng có thể đợc miễn trách nhiệm hình sự Nếungời phạm tội đợc miễn trách nhiệm hình sự, điều đó có nghĩa họ đợc hởngchính sách nhân đạo của Nhà nớc ta, khoan hồng để mở rộng cơ hội quay trởlại con đờng lơng thiện, làm ăn chân chính và có ích cho xã hội

Trang 22

Và bốn là, dới góc độ kỹ thuật lập pháp, nếu những trờng hợp miễn

trách nhiệm hình sự đợc nhà làm luật nớc ta quy định trong Bộ luật hình sựmột cách đầy đủ, chặt chẽ, có hệ thống và phù hợp với thực tiễn thì đó cũng làmột trong những cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng và hoàn thiện một sốchế định khác có liên quan đến nó nh: tội phạm, trách nhiệm hình sự, hìnhphạt, miễn hình phạt Hơn nữa, nó còn thể hiện sự tiến bộ về kỹ thuật lậppháp hình sự trong việc xây dựng từng chế định của luật hình sự Việt Namtrong giai đoạn xây dựng Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, dodân và vì dân, qua đó nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng và chốngtội phạm

1.2 Lợc khảo sự hình thành và phát triển của các quy phạm về miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam

1.2.1 Giai đoạn từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến pháp

điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985

ở nớc ta, đến Bộ luật hình sự năm 1985, chế định miễn trách nhiệmhình sự mới đợc nhà làm luật nớc ta ghi nhận chính thức, còn trớc đó cha đợcghi nhận với tính chất là một chế định độc lập trong pháp luật hình sự nhng

trong thực tiễn xét xử và một số văn bản pháp lý đã thừa nhận và áp dụng với nhiều tên gọi khác nhau nh: "xá miễn", "tha miễn trách nhiệm hình sự", "miễn tố", "tha bổng bị cáo", "miễn nghị cho bị cáo", "miễn hết cả tội" Có thể liệt

kê đến một số văn bản thời kỳ trớc khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 có

đề cập đến vấn đề miễn tránh nhiệm hình sự nh: Sắc lệnh số 52/SL ngày20/10/1945 xá miễn cho một số tội phạm trớc ngày 19/08/1945; Thông t số314-TTg ngày 09/11/1954 của Thủ tớng Chính phủ về đại xá; Sắc lệnh số 223/

SL ngày 17/11/1946 quy định tội phạm về chức vụ; Pháp lệnh trừng trị các tộiphản cách mạng ngày 30/10/1967; Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tàisản xã hội chủ nghĩa ngày 21/10/1970; Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tàisản riêng của công dân ngày 21/10/1970; Thông t số 03-BTP/TT tháng 4/1976của Bộ T pháp hớng dẫn thi hành Sắc luật quy định về các tội phạm và hình

Trang 23

phạt; Pháp lệnh trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh tráiphép ngày 10/7/1982; Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồngThẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hớng dẫn áp dụng một số quy định của

Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 19/04/1989 của Hội đồngThẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hớng dẫn bổ sung việc áp dụng một sốquy định của Bộ luật hình sự; Thông t liên ngành số 05/TTLN ngày 2/6/1990của Bộ Nội vụ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ

T pháp hớng dẫn thi hành chính sách đối với ngời phạm tội ra tự thú Đến lầnpháp điển hóa lần thứ hai luật hình sự Việt Nam bằng việc thông qua Bộ luậthình sự năm 1999, các quy định về miễn trách nhiệm hình sự cũng đợc sửa

đổi, bổ sung và tiếp tục hoàn thiện hơn

Nh vậy, sở dĩ trớc đây trong pháp luật hình sự thực định có ghi nhận vàthực tiễn xét xử có áp dụng nó là xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo trong chínhsách hình sự của Nhà nớc nói chung và luật hình sự Việt Nam nói riêng, từquan điểm cho rằng việc truy cứu trách nhiệm hình sự và xử phạt về hình sựmặc dù là rất quan trọng trong việc bảo vệ pháp chế, củng cố trật tự pháp luậtsong không phải là biện pháp duy nhất mà đòi hỏi ngày càng mở rộng cácbiện pháp tác động xã hội khác để đấu tranh phòng và chống tội phạm [38, tr.10] Mặt khác, miễn trách nhiệm hình sự với các tên gọi khác nhau đợc ápdụng trong thời kỳ này chủ yếu để thực hiện phơng châm trong đờng lối xử lý,

đó là "nghiêm trị kết hợp với khoan hồng", "trừng trị kết hợp với giáo dục cải tạo" Tuy nhiên, do yêu cầu bảo vệ nền độc lập và trật tự an toàn xã hội của

Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hòa mới ra đời nên cha quy định cụ thể mà

các điều kiện áp dụng miễn trách nhiệm hình sự đợc xác định tơng tự nh các

điều kiện xử nhẹ hoặc miễn hình phạt đợc quy định trong một số điều tại các

Trang 24

những loại kể sau đây đều đợc hoàn toàn xá miễn: "1 Tội phạm vào luật lệ báo chí; 2 Tội phạm vào luật lệ hội họp; 3 Tội của thợ thuyền bị phạt do luật lao động; 4 Tội phạm trong khi đình công; 5 Tội phạm vào luật lệ về quan thuế và thơng mại, rợu lậu, thuốc phiện lậu, muối lậu và các hàng hóa lậu khác; 6 Tội phạm vào luật lệ kiểm lâm; 7 Tội phạm vào luật lệ kinh tế chỉ huy; 8 Tội vô ý giết ngời hoặc đánh ngời có thơng tích; và 9 Tội vi cảnh" [68,

tr 184] Theo đó, đại xá là một biện pháp khoan hồng của Nhà nớc, có tácdụng tha tội - thờng là hoàn toàn và triệt để - cho hàng loạt những ngời phạmnhững tội nhất định nào đó, có ý nghĩa chính trị rất to lớn, thờng chỉ đợc banhành vào những dịp có những sự kiện đặc biệt quan trọng trong đời sống chínhtrị của đất nớc Nh vậy, miễn trách nhiệm hình sự đợc áp dụng trong trờng hợp

xá miễn Và cũng theo Điều 4 Sắc lệnh số 52/SL này thì "Những tội đợc xá miễn đều coi nh không phạm bao giờ; quyền công tố sẽ tiêu hủy, những chính hình và phụ hình mà Tòa án đã tuyên đều bỏ hết Những tiền phạt hoặc án phí mà công khố đã thu của tội nhân rồi thì không hoàn lại nữa Những của cải đã tịch biên và phát mại rồi cũng không trả lại nữa"

- Mục II trong Thông t số 314-TTg ngày 09/11/1954 của Thủ tớng

Chính phủ về đại xá có nêu "Ngời đang bị giam mà đợc đại xá thì đợc tha ngay Những ngời đã mãn hạn tù hoặc đợc ân xá, ân giảm và đợc tha trớc đây

và những ngời này đợc tha đều đợc hởng quyền công dân nh ứng cử, bầu cử và các quyền tự do, dân chủ " [68, tr 184].

- Điều 2 Sắc lệnh số 223/SL ngày 17/11/1946 quy định tội phạm về

chức vụ ghi nhận "Ngời phạm đa hối lộ cho một công chức mà tự ý cáo giác cho nhà chức trách việc hối lộ ấy và chứng minh rằng đa hối lộ bị công chức cỡng bách ớc hứa, hay là dùng cách trá ngụy thì ngời ấy đợc miễn hết cả tội Trong trờng hợp này, tang vật hối lộ đợc hoàn trả" [68, tr 476] Nh vậy, trong văn bản này, miễn trách nhiệm hình sự đợc sử dụng với tên gọi là miễn hết cả tội

Trang 25

- Điều 20 Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967quy định về những trờng hợp giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn hình phạt nh sau:

"Kẻ nào phạm tội phản cách mạng nêu ở mục 2 mà tội phạm thuộc vào một hoặc nhiều trờng hợp sau đây thì đợc giảm nhẹ hoặc miễn hình phạt.

1 Có âm mu phạm tội, nhng đã tự nguyện không thực hiện tội phạm.

2 Tội phạm cha bị phát giác mà thành thật tự thú, khai rõ những âm

mu và hành động của mình và của đồng bọn.

3 Cố ý không thi hành đầy đủ hoặc khuyên bảo đồng bọn không thi hành đầy đủ những âm mu của bọn cầm đầu phản cách mạng.

4 Có những hành động làm giảm bớt tác hại của tội phạm.

5 Phạm tội vì bị ép buộc, bị lừa phỉnh và việc làm cha gây thiệt hại lớn.

6 Bị bắt, nhng trớc khi bị xét xử đã tỏ ra thành thật hối cải, lập công chuộc tội".

- Điều 23 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủnghĩa ngày 21/10/1970 quy định những trờng hợp xử nhẹ hoặc miễn hình

phạt: "Kẻ nào phạm những tội quy định ở Chơng II mà tội phạm thuộc vào một hoặc nhiều trờng hợp sau đây thì đợc xử nhẹ hoặc miễn hình phạt:

1 Tội phạm cha bị phát giác mà kẻ phạm tội thành thật thú tội với cơ quan chuyên trách khai rõ hành động của mình và đồng bọn.

2 Kẻ phạm tội đã có hành động ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm.

3 Trớc khi bị xét xử kẻ phạm tội tự nguyện bồi thờng hoặc sửa chữa những thiệt hại gây ra.

4 Phạm tội gây thiệt hại không lớn".

- Điều 19 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của côngdân ngày 21/10/1970 quy định những trờng hợp xử nhẹ hoặc miễn hình phạt:

"Kẻ nào phạm những tội quy định ở Chơng II mà tội phạm thuộc vào một hoặc nhiều trờng hợp sau đây thì đợc xử nhẹ hoặc miễn hình phạt

Trang 26

1 Tội phạm cha bị phát giác mà kẻ phạm tội thành thật tự thú với cơ quan chuyên trách, khai rõ hành động của mình và của đồng bọn.

2 Kẻ phạm tội đã có hành động ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm.

3 Trớc khi bị xét xử kẻ phạm tội đã tự nguyện bồi thờng hoặc sửa chữa thiệt hại đã gây ra.

4 Phạm tội gây thiệt hại không lớn".

Thời gian sau, để kiên quyết đập tan mọi âm mu và hành động của bọnphản cách mạng, đồng thời nhằm bảo vệ chánh quyền cách mạng, bảo đảm anninh chánh trị, thì chủ trơng, đờng lối trấn áp phản cách mạng nói chung làphải đồng thời, nghiêm khắc và kiên quyết, song khi xử lý từng vụ án cụ thể

cần phải kết hợp "Nghiêm trị với khoan hồng, trừng trị với cải tạo, giáo dục"

nhằm phân hóa hàng ngũ bọn phản cách mạng, đè bẹp t tởng chống đối và làmtan rã các tổ chức của chúng Do đó, Bộ T pháp đã ban hành Thông t số 03-BTP/TT tháng 04/1976 hớng dẫn thi hành Sắc luật quy định về tội phạm và

hình phạt vẫn nêu rõ nguyên tắc xét xử bọn phản cách mạng là: "Nghiêm trị bọn chủ mu, bọn cầm đầu, bọn có nhiều tội ác, bọn ngoan cố chống lại cách mạng; khoan hồng đối với những kẻ bị ép buộc, bị lừa phỉnh, lầm đờng và những kẻ thật thà hối cải; giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn hình phạt cho những

Cho nên, trớc tình hình đó, ngày 20/05/1981, ủy ban Thờng vụ Quốc hội đãban hành Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ Sự ra đời của Pháp lệnh này là một sựkiện pháp lý quan trọng, góp phần củng cố, giữ vững và tăng cờng pháp chế xãhội chủ nghĩa, động viên và khuyến khích tất cả công dân tích cực tham gia

Trang 27

đấu tranh chống tệ hối lộ và những hiện tợng tiêu cực khác trong xã hội Mộtmặt, Pháp lệnh thể hiện tinh thần đấu tranh rất kiên quyết, triệt để và mạnh mẽ

đối với tội hối lộ dới mọi hình thức nh: nhận hối lộ, đa hối lộ, môi giới hối lộ,

nhng mặt khác cũng thể hiện sự phân hóa rõ ràng trong đờng lối xử lý Cụ thể,

trong Pháp lệnh đã ghi nhận chính thức vấn đề miễn trách nhiệm hình sự và

Điều 8 Pháp lệnh đã quy định cụ thể ba trờng hợp -miễn trách nhiệm hình sự,giảm nhẹ hình phạt và miễn hình phạt, đó là:

"1 Ngời phạm tội hối lộ, trớc khi bị phát giác, chủ động khai rõ sự

việc, giao nộp đầy đủ của hối lộ, thì có thể đợc miễn trách nhiệm hình sự;

nếu là phạm tội nghiêm trọng thì có thể đợc giảm nhẹ hình phạt.

2 Ngời phạm tội hối lộ, sau khi bị phát giác, tỏ ra thành thực hối cải, khai rõ sự việc, giao nộp đầy đủ của hối lộ thì có thể đợc giảm nhẹ hình phạt.

3 Ngời phạm tội lần đầu và không nghiêm trọng, sau khi bị phát giác

tỏ ra thành thực hối cải khai rõ sự việc, giao nộp đầy đủ của hối lộ, thì có thể

đợc miễn hình phạt"

Từ năm 1979-1980, trong nớc ta tình hình tội đầu cơ, buôn lậu, làmhàng giả và kinh doanh trái phép diễn biến đa dạng và phức tạp, làm ảnh hởngtrực tiếp đến kế hoạch của Nhà nớc và đời sống của nhân dân, cũng nh gây rốiloạn thị trờng Tuy nhiên, trong đờng lối xử lý cũng có sự phân hóa - hoặc đểnghiêm trị, hoặc để khoan hồng Để khoan hồng có biện pháp miễn hình phạt

và biện pháp này quy định tại Điều 10 Pháp lệnh trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu,làm hàng giả, kinh doanh trái phép ngày 10/07/1982, theo đó, những trờnghợp giảm nhẹ hoặc miễn hình phạt là:

"1 Tội phạm cha bị phát giác mà ngời phạm tội thành thật thú tội với cơ quan Nhà nớc, khai rõ hành động của mình và đồng bọn thì có thể đợc miễn hình phạt; nếu phạm tội nghiêm trọng thì đợc giảm nhẹ hình phạt.

2 Trớc khi bị xét xử, ngời phạm tội tự nguyện giao nộp cho Nhà nớc

đầy đủ hàng hóa, vật t và phơng tiện phạm pháp thì đợc giảm nhẹ hình phạt".

Trang 28

Nh vậy, trong giai đoạn này xét về mức độ nhân đạo thì miễn trách nhiệm hình sự là biện pháp khoan hồng đặc biệt cùng với các biện pháp tha

miễn trách nhiệm hình sự và hình phạt khác trong luật hình sự Việt Nam.Tuy nhiên, việc lựa chọn biện pháp này hay biện pháp miễn hình phạt, giảmnhẹ hình phạt, tha miễn hình phạt để áp dụng trong tr ờng hợp cụ thể thìngoài việc áp dụng điều kiện quy định trong từng điều luật tơng ứng ra, còn

phải dựa vào các điều kiện khác nữa, chẳng hạn đó là đờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nớc trong từng thời điểm, hoàn cảnh lịch sử, yêu cầu đấu

tranh phòng và chống tội phạm từng nơi, từng lúc và đối với từng vụ án cụthể, đặc biệt là đối với các vụ phản cách mạng, chống phá Nhà nớc Đây

cũng là điều kiện "linh hoạt" của biện pháp miễn trách nhiệm hình sự và còn thể hiện trong luật hình sự nớc ta nội dung "mềm dẻo" của chế định này

[38, tr 11]

Trên cơ sở tổng kết nghiên cứu các văn bản pháp luật hình sự đã banhành trong thời kỳ này cho thấy, những trờng hợp đợc xem xét để áp dụngmiễn trách nhiệm hình sự có thể bao gồm:

Trang 29

1.2.2 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 đến nay

Năm 1985, Bộ luật hình sự đầu tiên của nớc Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam ra đời đã đánh dấu một bớc phát triển mới của pháp luật hình

sự Việt Nam nói chung, các quy định về miễn trách nhiệm hình sự nói riêng.Trong Bộ luật hình sự đầu tiên này, miễn trách nhiệm hình sự đợc chính thứcquy định tại một số điều của Phần chung và Phần các tội phạm Bộ luật hình sựvới các quy định cụ thể về những trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự Cácquy định này ngoài sự ghi nhận thực tiễn áp dụng những trờng hợp miễn tráchnhiệm hình sự còn đợc mở rộng ra đối với một số trờng hợp khác cho phù hợpvới tình hình và điều kiện kinh tế-xã hội trong giai đoạn mới Theo đó, trong

Bộ luật hình sự năm 1985, những trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự baogồm: Miễn trách nhiệm hình sự do tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội(Điều 16); do sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc ngờiphạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa (đoạn 1 khoản 1 Điều 48); chongời phạm tội tự thú, thật thà khai báo, ăn năn hối cải (đoạn 2 khoản 1 Điều48); cho ngời cha thành niên phạm tội (khoản 3 Điều 59); cho ngời phạm tộigián điệp (khoản 3 Điều 74); cho ngời phạm tội đa hối lộ (khoản 5 Điều 227)và; cho ngời phạm tội không tố giác tội phạm (khoản 2 Điều 247)

Việc quy định biện pháp miễn trách nhiệm hình sự trong các điều luậtnày do xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo và chính sách khoan hồng, đồng thờibiện pháp này đợc đặt ra trong các trờng hợp phạm tội nếu xét thấy khôngphải truy cứu trách nhiệm hình sự và buộc ngời phạm tội phải chịu hình phạt

mà vẫn đảm bảo đợc yêu cầu phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng

Sau một thời gian áp dụng Bộ luật hình sự năm 1985, Hội đồng Thẩmphán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02-HĐTP ngày05/01/1986, trong đó có hớng dẫn cụ thể về việc tự ý nửa chừng chấm dứt việcphạm tội của ngời thực hành tội phạm, cụ thể đề cập đến các điều kiện của tự

ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, việc miễn trách nhiệm hình sự trong

Trang 30

tr-ờng hợp ngời tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là ngời tổ chức tội phạm.

Theo đó, mặc dầu họ đã tự nguyện nửa chừng chấm dứt việc phạm tội nhngvẫn để cho đồng bọn thực hiện tội phạm thì ngời đó không đợc coi là tự ý nửachừng chấm dứt việc phạm tội Ngoài ra, cũng trong Nghị quyết này, Hội

đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hớng dẫn cụ thể về miễn tráchnhiệm hình sự quy định tại Bộ luật hình sự năm 1985 (khoản 1 Điều 48) vớicác nội dung sau:

- Phân biệt miễn trách nhiệm hình sự với trờng hợp không có tráchnhiệm hình sự và ngời đợc miễn trách nhiệm hình sự đơng nhiên không bị coi

là ngời can án;

- Thẩm quyền áp dụng: Nếu trong giai đoạn điều tra, truy tố thì Việnkiểm sát nhân dân có quyền miễn trách nhiệm hình sự, trong giai đoạn xét xửthì việc miễn trách nhiệm hình sự do Tòa án quyết định;

- Khi đã miễn trách nhiệm hình sự thì Tòa án không đợc quyết địnhbất cứ loại hình phạt nào nhng vẫn có thể quyết định việc bồi thờng thiệt hại

và giải quyết các tang vật vụ án

Về trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự do tự ý nửa chừng chấm dứtviệc phạm tội tại Điều 19 Bộ luật hình sự năm 1985, nhà làm luật nớc ta mớichỉ quy định việc áp dụng biện pháp này đối với một loại ngời đồng phạm làngời thực hành và ngay cả Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 chỉ mớihớng dẫn về việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của ngời thực hànhtội phạm, cha có hớng dẫn về việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tộitrong các trờng hợp có đồng phạm với ba loại ngời đồng phạm còn lại - ngời

tổ chức, ngời xúi giục và ngời giúp sức Do đó, ngày 19/04/1989, Hội đồngThẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lại ra Nghị quyết Hớng dẫn bổ sung việc

áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự năm 1985, trong đó có hớng dẫn

cụ thể về vấn đề này nh sau:

Trang 31

- Đối với ngời xúi giục, ngời tổ chức phải thuyết phục, khuyên bảo, đedọa để ngời thực hành không thực hiện tội phạm hoặc phải báo cho cơ quanNhà nớc có thẩm quyền, báo cho ngời sẽ là nạn nhân biết về tội phạm đang đ-

ợc chuẩn bị thực hiện để cơ quan Nhà nớc hoặc ngời sẽ là nạn nhân có biệnpháp ngăn chặn tội phạm

- Đối với ngời giúp sức phải chấm dứt việc tạo những điều kiện tinhthần, vật chất cho việc thực hiện tội phạm (nh không cung cấp phơng tiện,công cụ phạm tội; không chỉ điểm, dẫn đờng cho kẻ thực hành… hoặc trong pháp luật hình sự các n) Nếu sựgiúp sức của ngời giúp sức đang đợc những ngời đồng phạm khác sử dụng đểthực hiện tội phạm, thì ngời giúp sức cũng phải có những hành động tích cực

nh đã nêu ở trên đối với ngời xúi giục, ngời tổ chức để ngăn chặn việc thựchiện tội phạm

Ngoài ra, để phù hợp với thực tiễn xét xử và vận dụng linh hoạt chế

định miễn trách nhiệm hình sự cho một số đối tợng cụ thể và phạm một tội cụthể, nếu đáp ứng đầy đủ căn cứ và những điều kiện nhất định, thì họ vẫn đợcxem xét để áp dụng chế định này Cụ thể, ngày 02/06/1990, Bộ Nội vụ (nay là

Bộ Công an), Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tpháp đã ban hành Thông t liên ngành số 05/TTLN hớng dẫn thi hành chínhsách khoan hồng, nhân đạo của Nhà nớc đối với ngời phạm tội ra tự thú đã nêu

rõ căn cứ để miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngời phạm tội trốn

khỏi nơi giam Theo đó, miễn trách nhiệm hình sự đối với tội trốn khỏi nơi

giam đợc dùng với tên gọi miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một tội

Trang 32

- Ngời đang chấp hành hình phạt tù đã trốn khỏi trại cải tạo mà ra tự

thú và trong thời gian trốn tránh không phạm tội mới, có thể đợc miễn truy cứu trách nhiệm về tội trốn khỏi nơi giam đợc quy định tại Điều 245 Bộ luật

hình sự

Về sau, qua bốn lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự thì các quy định

về miễn trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên nh quy định trong Bộ luật hình sựnăm 1985 Đến lần pháp điển hóa thứ hai -Bộ luật hình sự năm 1999 đã khẳng

định chính sách khoan hồng và nhân đạo của Đảng và Nhà nớc ta qua việc mởrộng hơn các quy định về miễn trách nhiệm hình sự Đặc biệt, Bộ luật này cònquy định một điều luật riêng về miễn trách nhiệm hình sự có tính chất chung

áp dụng cho mọi tội phạm tại Điều 25 Ngoài ra, tại Điều luật này ngoài hai ờng hợp miễn trách nhiệm hình sự cũ quy định ở khoản 1 Điều 48 Bộ luậthình sự năm 1985 trớc đây còn quy định thêm trờng hợp miễn trách nhiệm

tr-hình sự khi có quyết định đại xá Những trờng hợp miễn trách nhiệm tr-hình sự

khác trong Phần chung và Phần các tội phạm Bộ luật hình sự vẫn đợc giữnguyên Theo Bộ luật hình sự năm 1999, những trờng hợp miễn trách nhiệmhình sự bao gồm: Miễn trách nhiệm hình sự do tự ý nửa chừng chấm dứt việcphạm tội (Điều 19); do sự thay đổi của tình hình (khoản 1 Điều 25); do sự ănnăn hối cải của ngời phạm tội (khoản 2 Điều 25); khi có quyết định đại xá(khoản 3 Điều 25); cho ngời cha thành niên phạm tội (khoản 2 Điều 69); chongời phạm tội gián điệp (Điều 80); cho ngời phạm tội đa hối lộ (đoạn 2 khoản

6 Điều 269); cho ngời phạm tội làm môi giới hối lộ (khoản 6 Điều 290) và;cho ngời phạm tội không tố giác tội phạm (khoản 3 Điều 314)

Những trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự này đợc nhà làm luật phânchia thành những trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự có tính chất bắt buộchoặc tùy nghi (lựa chọn) Theo đó, đối với những trờng hợp bắt buộc, nếu ngờiphạm tội đáp ứng đầy đủ căn cứ và những điều kiện cụ thể quy định trong điều

luật thì các cơ quan t pháp hình sự có thẩm quyền bắt buộc phải ra quyết định

để miễn trách nhiệm hình sự cho họ Ngoài ra, đối với những trờng hợp có tính

Trang 33

chất lựa chọn (tùy nghi), thì mặc dù ngời phạm tội có đầy đủ căn cứ và những

điều kiện cụ thể quy định trong điều luật, nhng việc có áp dụng hay không ápdụng miễn trách nhiệm hình sự đều do cơ quan t pháp hình sự có thẩm quyềnquyết định, căn cứ vào tình hình thực tế, vào yêu cầu đấu tranh phòng vàchống tội phạm, cũng nh nhân thân ngời phạm tội

Tóm lại, việc quy định chế định miễn trách nhiệm hình sự trong lịch

sử lập pháp hình sự Việt Nam trớc đây với nhiều tên gọi khác nhau và trong

Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành có ý nghĩa quan trọng không chỉ độngviên, khuyến khích ngời phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáodục, cải tạo nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng, mà còn tạo cơ sở pháp lýcho sự kết hợp các biện pháp cỡng chế hình sự của Nhà nớc với các biện pháptác động xã hội trong việc giáo dục, cải tạo ngời phạm tội, qua đó nâng caohiệu quả công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm

1.3 Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự một số nớc trên thế giới

Hiện nay, phần lớn trong pháp luật hình sự các nớc trên thế giới chỉquy định về chế định miễn hình phạt (hoặc miễn giảm hình phạt hay miễn trừhình phạt) cho ngời phạm tội nếu đáp ứng đầy đủ căn cứ pháp lý và những

điều kiện do luật định Các nớc có quy định chế định miễn hình phạt trongpháp luật hình sự nh: Liên bang Nga, Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang

Đức, Nhật Bản, Trung Quốc Trong khi đó, chế định miễn trách nhiệm hình

sự chỉ còn quy định trong pháp luật hình sự ở một số nớc trên thế giới vớinhững quy định cụ thể khác nhau, mà dới đây chúng ta sẽ lần lợt xem xétnhững nét cơ bản về chế định này trong pháp luật hình sự của một số nớc đó

Trong Bộ luật hình sự Liên bang Nga năm 1996, chế định miễn trách

nhiệm hình sự đợc ghi nhận với tính chất là một chế định độc lập trong Bộ luật này tại một chơng riêng biệt (Chơng 11) bao gồm bốn điều luật tơng ứng

là bốn trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự là [63]: 1) Miễn trách nhiệm hình

Trang 34

sự do ngời phạm tội ăn năn hối cải (Điều 75); 2) Miễn trách nhiệm hình sự dongời phạm tội đã hòa giải với ngời bị hại (Điều 76); 3) Miễn trách nhiệm hình

sự do sự thay đổi của tình hình (Điều 77) và; 4) Miễn trách nhiệm hình sự do

đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 78);

Ngoài những trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự chung quy địnhtrong Chơng 11 của Phần chung Bộ luật hình sự, còn có hai trờng hợp miễntrách nhiệm hình sự là: 1) Miễn trách nhiệm hình sự do đại xá (Điều 85) và; 2)Miễn trách nhiệm hình sự cho ngời cha thành niên (Điều 91)

Nh vậy, so với những trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự quy địnhtrong Phần chung Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, thì về cơ bản những tr-ờng hợp miễn trách nhiệm hình sự của hai nớc là giống nhau Tuy nhiên, sovới Bộ luật hình sự năm 1999 của chúng ta, trong Phần chung Bộ luật hình sựLiên bang Nga nhà làm luật còn quy định thêm hai trờng hợp miễn tráchnhiệm hình sự khác, đó là: Miễn trách nhiệm hình sự do ngời phạm tội đã hòagiải với ngời bị hại (Điều 76) và; miễn trách nhiệm hình sự do đã hết thời hiệutruy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 78) Ngoài ra, trong Phần các tội phạm Bộluật hình sự của Liên bang Nga còn quy định hàng loạt những trờng hợp miễntrách nhiệm hình sự khác nữa nh [63]: Miễn trách nhiệm hình sự cho ngời bắtcóc ngời (Điều 127); cho ngời phạm tội khủng bố (Điều 202); cho ngời chiếmcon tin (Điều 203); cho ngời tổ chức đơn vị vũ trang bất hợp pháp (Điều 205);cho ngời sở hữu, tiêu thụ, bảo quản, chuyển giao hay mang trái phép vũ khí,

đạn dợc, chất nổ và thiết bị gây cháy nổ (Điều 219); cho ngời chế tạo vũ khítrái phép (Điều 220); cho ngời đa hối lộ (Điều 286); cho ngời đa ra lời khai,kết luận giám định hay dịch gian dối (Điều 301); cho ngời trốn khỏi nhà tùhoặc nơi tạm giam (Điều 307)

Nh vậy, so với những trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự quy định tạiPhần các tội phạm Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, thì trong Phần riêngcủa Bộ luật hình sự Liên bang Nga quy định rất nhiều trờng hợp miễn tráchnhiệm hình sự (trong đó có một trờng hợp giống với pháp luật hình sự nớc ta -

Trang 35

Miễn trách nhiệm hình sự cho ngời phạm tội đa hối lộ) Tuy nhiên, nói chung

đối với tất cả những trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự này, ngời phạm tộiphải có những hành động chứng tỏ sự thành khẩn, ăn năn, kịp thời ngăn chặnkhông để cho tội phạm xảy ra, hay tự nguyện giao nộp vũ khí hoặc thông báocho cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền Ngoài ra, một số trờng hợp hành vi của

họ phải không cấu thành tội phạm khác Nếu trờng hợp hành vi của họ cấuthành tội phạm khác thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mà hành vi đóthỏa mãn cấu thành tội phạm đó

Do không có Bộ luật hình sự nên để tạo thuận lợi cho việc áp dụng, ởVơng quốc Anh án lệ đã đợc tập hợp thành các tuyển tập và cho xuất bản báocáo tháng về thực tiễn xét xử với tên gọi "Các báo cáo pháp luật" (Law Reports)

Về những trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự, theo pháp luật hình sự Vơngquốc Anh có bốn trờng hợp (dạng) miễn trách nhiệm hình sự [18, tr 77-78] vànhững trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự này không giống với pháp luậthình sự nớc ta Tuy nhiên, trong đó lại có hai trờng hợp miễn trách nhiệm hình

sự giống với pháp luật hình sự Liên bang Nga, đó là: Miễn trách nhiệm hình

sự do ngời bị hại đã hòa giải với ngời phạm tội và miễn trách nhiệm hình sự

do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự Ngoài ra, trong pháp luật hình

sự Vơng quốc Anh còn có hai trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự khác miễn trách nhiệm hình sự do ngời phạm tội đã chết, và miễn trách nhiệm hình

-sự do ngời phạm tội đã đợc ân xá Và trong pháp luật hình -sự nớc này còn quy

định riêng đối với một số loại tội phạm Ví dụ: Tội phạm chống Nhà vua thìkhông áp dụng chế định miễn trách nhiệm hình sự này

Trong pháp luật hình sự một số nớc khác mặc dù đã dành hẳn một

ch-ơng quy định về chế định miễn trách nhiệm hình sự, nhng những trờng hợpmiễn trách nhiệm hình sự trong đó lại mang bản chất pháp lý là các trờng hợp(tình tiết) loại trừ trách nhiệm hình sự Cụ thể, xem xét hệ thống pháp luậthình sự Tây Ban Nha hiện hành cho thấy đó chính là Bộ luật hình sự năm

1995 của nớc này, chế định miễn trách nhiệm hình sự đợc quy định tại Chơng

Trang 36

II "Các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự" (các điều 20-21) Tuy nhiên, mặc dùtên gọi của chơng nh vậy nhng trong nội dung lại đề cập đến các trờng hợpngời thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự "không phải chịu" - loại trừ

trách nhiệm hình sự, chứ không phải là miễn trách nhiệm hình sự (nh tên gọi

của tên Chơng) Theo đó, những ngời không phải chịu trách nhiệm hình sựbao gồm [15, tr 51-52]:

1) Ngời cha đến 18 tuổi;

2) Ngời trong thời gian thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự vì bị

rối loạn nào đó về tâm thần mà không thể nhận thức đợc tính chất trái pháp luật

của hành vi do mình thực hiện hoặc không thể điều khiển đợc hành vi của mình

3) Ngời trong thời gian thực hiện tội phạm vì bị đầu độc bằng rợumạnh, chất độc, chất ma túy hoặc chất hớng thần khác mà không có ý địnhphạm tội hoặc không nhìn thấy trớc hoặc không buộc phải nhìn thấy trớc khảnăng là mình sẽ phạm tội, cũng nh do ảnh hởng của các chất này đã cản trở sựnhận thức đợc của ngời đó tính chất trái pháp luật của hành vi hoặc cản trở sự

điều khiển hành vi đợc thực hiện;

4) Ngời bị rối loạn về tâm thần làm mất năng lực nhận thức hoạt độngcủa mình từ lúc sinh ra hoặc từ lúc còn thơ ấu;

5) Ngời đã hành động trong phòng vệ chính đáng;

6) Ngời đã hành động trong tình thế cấp thiết;

7) Ngời đã hành động trong tình trạng khiếp sợ mãnh liệt;

8) Ngời đã hành động để thực hiện trách nhiệm, quyền hợp pháp, cũng

nh các nghĩa vụ theo chức vụ hoặc nghề nghiệp của mình

Hoặc Bộ luật hình sự của nớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào có quy

định tại Chơng IV - Miễn trừ trách nhiệm hình sự có nêu những ra trờng hợpmiễn trách nhiệm hình sự nh sau [63, tr 17]:

1) Ngời cha đủ 15 tuổi tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thìkhông phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 17) nhng Tòa án phải áp dụng biệnpháp giáo dục, cải tạo quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự;

Trang 37

2) Ngời bị mất trí, không nhận thức đợc hậu quả của hành vi do mìnhgây ra thì không phải chịu trách nhiệm hình sự nhng Tòa án phải buộc họchữa bệnh theo quy định của Bộ luật hình sự (Điều 18);

3) Ngời thực hiện hành vi phạm tội trong trạng thái bị phụ thuộc, bị đedọa, uy hiếp thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Trong trờng hợp tộiphạm nghiêm trọng thì sự đe dọa, uy hiếp chỉ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệmhình sự (Điều 19);

4) Ngời thực hiện hành vi phạm tội trong trờng hợp phòng vệ chính

đáng, thì không bị coi là phạm tội và không phải chịu trách nhiệm hình sự(Điều 20);

5) Ngời thực hiện hành vi phạm tội trong trờng hợp tình thế cấp thiếtthì không bị coi là phạm tội và không phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 21);

Hay theo pháp luật hình sự Thụy Điển đã quy định một chơng riêng vớitên gọi là "Miễn trách nhiệm hình sự" trong Bộ luật hình sự (Chơng 24) và liệt kênhững trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, thực chất đây chính là cáctrờng hợp mang bản chất pháp lý là các trờng hợp (tình tiết) loại trừ trách nhiệmhình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam Cụ thể, theo pháp luật hình sự Thụy

Điển, miễn trách nhiệm hình sự là một nguyên tắc của luật hình sự dựa trên cơ sởxung đột về lợi ích, dùng để chỉ ra rằng không có tội phạm đợc thực hiện mặc dùtrên thực tế hành vi của một ngời nào đó đã thỏa mãn cả yếu tố chủ quan và yếu tốkhách quan đối với một loại tội phạm Nguyên tắc này đợc nhắc đến nh là miễntrách nhiệm hình sự và không phải là miễn hình phạt bởi vì bị cáo không chỉtránh khỏi hình phạt mà hơn thế nữa hành vi đó không đợc coi là tội phạm trongnhững điều kiện miễn trừ Các nhà làm luật nớc này đã sử dụng kỹ thuật mà ở đó

họ tập hợp hầu hết xung đột quyền lợi và những trờng hợp ngoại lệ khác làm chohành vi phạm tội mất đi tính tội phạm Theo đó, có bốn nhóm (trờng hợp) sau

đây đợc coi là miễn trách nhiệm hình sự [96, tr 184-190]:

a) Do sự đồng ý (hòa hoãn) giữa ngời phạm tội và ngời bị hại (quy

định tại mục 7 Chơng 24);

Trang 38

b) Phòng vệ chính đáng (quy định tại mục 1 Chơng 24);

c) Tình thế cấp thiết (quy định tại mục 4 Chơng 24);

d) Thẩm quyền do luật định (quy định tại mục 2 Chơng 24)

Tóm lại, việc nghiên cứu chế định miễn trách nhiệm hình sự trongpháp luật hình sự một số nớc trên thế giới cho phép đa ra một số kết luậnchung dới đây

Một là, hiện nay trong pháp luật hình sự các nớc trên thế giới hầu nh

chỉ quy định về chế định miễn hình phạt hoặc miễn giảm (miễn trừ) hình phạtcho ngời phạm tội nếu đáp ứng đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện dotừng trờng hợp tơng ứng quy định Trong khi đó, chế định miễn trách nhiệmhình sự chỉ còn quy định trong pháp luật hình sự ở một số nớc trên thế giới vớinhững quy định cụ thể khác nhau mà chúng tôi đã phân tích trên

Hai là, về những trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự, pháp luật hình

sự của nớc ta (mà cụ thể là Bộ luật hình sự năm 1999) quy định tơng đối giốngvới pháp luật hình sự Liên bang Nga (mà cụ thể là Bộ luật hình sự năm 1996hiện hành) Tuy nhiên, so với chúng ta, trong Phần chung Bộ luật hình sự Liênbang Nga nhà làm luật còn quy định thêm hai trờng hợp miễn trách nhiệmhình sự khác, đó là: Miễn trách nhiệm hình sự do ngời phạm tội đã hòa giảivới ngời bị hại và miễn trách nhiệm hình sự do đã hết thời hiệu truy cứu tráchnhiệm hình sự Ngoài ra, trong Phần các tội phạm quy định nhiều trờng hợpmiễn trách nhiệm hình sự khác cho ngời phạm một số tội cụ thể tơng ứng màchúng tôi đã đề cập ở trên

Ba là, trong pháp luật hình sự một số nớc khác (nh Tây Ban Nha, Cộng

hòa dân chủ nhân dân Lào, Thụy Điển ), mặc dù đã dành hẳn một chơng quy

định về chế định miễn trách nhiệm hình sự, nhng những trờng hợp miễn tráchnhiệm hình sự trong đó lại mang bản chất pháp lý chính là các trờng hợp (tìnhtiết) loại trừ trách nhiệm hình sự (chứ không đúng nh tên gọi của nó) theopháp luật hình sự Việt Nam

Trang 39

Chơng 2

những trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự

theo pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng

Hiện nay, về cách phân loại và danh mục những trờng hợp miễn tráchnhiệm hình sự cụ thể trong pháp luật hình sự Việt Nam bao gồm những trờnghợp nào cũng còn có các ý kiến khác nhau giữa các nhà hình sự học ở nớc ta

Theo PGS-TS Võ Khánh Vinh, những trờng hợp miễn trách nhiệm hình

sự trong Bộ luật hình sự năm 1999 đợc quy định trong Phần chung và Phầncác tội phạm và phân thành hai loại, một loại mang tính bắt buộc và một loạimang tính tùy nghi (có thể), đồng thời nêu ra trong Phần chung thì những tr-ờng hợp quy định tại Điều 19, khoản 2 Điều 23 và khoản 1 Điều 25 là bắtbuộc, còn các loại còn lại là tùy nghi Tác giả đã liệt kê các trờng hợp miễntrách nhiệm hình sự trong Phần chung bao gồm: 1) Miễn trách nhiệm hình sựcho ngời tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 19); 2) Cho ngời phạmtội do đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (khoản 2 Điều 23); 3) Chongời phạm tội do sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội không cònnguy hiểm cho xã hội nữa (khoản 1 Điều 25); 4) Cho ngời phạm tội do ngờiphạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa (khoản 1 Điều 25); 5) Do cóhành vi tích cực của ngời phạm tội (khoản 2 Điều 25); 6) Khi có quyết định

đại xá (khoản 3 Điều 25); 7) Cho ngời cha thành niên phạm tội (khoản 2 Điều69); Và một số trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự đợc quy định trong Phầncác tội phạm Bộ luật hình sự năm 1999 [89, tr 392-393]

Còn theo TS Nguyễn Ngọc Chí thì những trờng hợp miễn trách nhiệm

hình sự đợc quy định trong Phần chung, áp dụng đối với tất cả các tội phạmhoặc đối với một loại tội phạm hoặc đối với một loại chủ thể nhất định Nhữngtrờng hợp miễn trách nhiệm hình sự ở Phần các tội phạm chỉ đợc áp dụng đốivới ngời phạm vào tội mà luật có quy định Tuy nhiên, tác giả còn chỉ ra

Trang 40

những trờng hợp miễn trách nhiệm hình sự ở Phần chung Bộ luật hình sự lại

có thể phân chia thành hai nhóm nữa:

1) Nhóm thứ nhất là các tình tiết miễn trách nhiệm hình sự đợc ápdụng đối với tất cả các loại tội phạm và bao gồm: a) Nếu khi tiến hành điều trahoặc xét xử, do sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc ngờiphạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; b) Do sự ăn năn hối cải củangời phạm tội; c) Khi có quyết định đại xá hoặc đặc xá; d) Đối với ngời phạmtội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhng trớc khi bị kết án đã mắcbệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi củamình

2) Nhóm thứ hai là nhóm các tình tiết miễn trách trách nhiệm hình sự

đối với một loại tội nhất định và bao gồm: a) Do tự ý nửa chừng chấm dứt việcphạm tội và; b) Cho ngời cha thành niên phạm tội [24, tr 14-17]

Tác giả Phạm Mạnh Hùng lại căn cứ vào các quy định của luật hình sự

và luật tố tụng hình sự Việt Nam lại rút ra những điều kiện (hay những căn cứ)

để có thể đợc miễn trách nhiệm hình sự, trong đó có những trờng hợp miễntrách nhiệm hình sự đợc thực tiễn xét xử áp dụng nhng cha đợc nhà làm luậtghi nhận trong Bộ luật hình sự hay Bộ luật tố tụng hình sự, đó là:

a)

c) Trờng hợp ngời phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại

Điều 38 Bộ luật hình sự (Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999), đáng đợc khoanhồng đặc biệt;

d) Hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

đ) Một số tội luật định chỉ đợc khởi tố khi có yêu cầu của ngời bị hại

mà ngời bị hại không có yêu cầu [40, tr 14-15]

Ngày đăng: 03/04/2013, 14:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chỉ đạo thi hành Bộ luật hình sự (2000), Tài liệu Tập huấn chuyên sâu về Bộ luật hình sự năm 1999, Nhà in Bộ Công an, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Tập huấn chuyên sâu về Bộ luật hình sự năm 1999
Tác giả: Ban chỉ đạo thi hành Bộ luật hình sự
Năm: 2000
2. Nguyễn Mai Bộ (2001), "Một số ý kiến về chính sách hình sự đối với ngời cha thành niên phạm tội trong Bộ luật hình sự năm 1999", Nhà nớc và pháp luật, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về chính sách hình sự đối với ngời cha thành niên phạm tội trong Bộ luật hình sự năm 1999
Tác giả: Nguyễn Mai Bộ
Năm: 2001
3. Bộ luật hình sự của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985 (1998), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985
Tác giả: Bộ luật hình sự của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
4. Bộ luật hình sự của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 (2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999
Tác giả: Bộ luật hình sự của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
5. Bộ luật tố tụng hình sự của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1988 (2001), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1988
Tác giả: Bộ luật tố tụng hình sự của nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1988
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
6. Lê Cảm (1999), Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nớc pháp quyền (Một số vấn đề cơ bản của Phần chung), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nớc pháp quyền (Một số vấn đề cơ bản của Phần chung)
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1999
7. Lê Cảm (2000), Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự (tập III), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2000
8. Lê Cảm (2000), "Chế định trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 1999", Dân chủ và pháp luật, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 1999
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2000
9. Lê Cảm (2000), "Chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành", Dân chủ và pháp luật, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2000
10. Lê Cảm (2001), "Về các dạng miễn trách nhiệm hình sự đợc quy định tại Điều 25 Bộ luật hình sự năm 1999", Tòa án nhân dân, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về các dạng miễn trách nhiệm hình sự đợc quy định tại Điều 25 Bộ luật hình sự năm 1999
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2001
11. Lê Cảm (2001), "Về sáu dạng miễn trách nhiệm hình sự khác (ngoài Điều 25) trong Bộ luật hình sự năm 1999", Dân chủ và pháp luật, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sáu dạng miễn trách nhiệm hình sự khác (ngoài Điều 25) trong Bộ luật hình sự năm 1999
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2001
12. Lê Cảm (2001), "Khái niệm, các đặc điểm (dấu hiệu), phân loại và bản chất pháp lý của các biện pháp tha miễn trong luật hình sự Việt Nam", Khoa học pháp lý, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm, các đặc điểm (dấu hiệu), phân loại và bản chất pháp lý của các biện pháp tha miễn trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2001
13. Lê Cảm (2002), "Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 1999", Nhà nớc và pháp luật Việt Nam trớc thềm thế kỷ XXI, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 1999
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2002
14. Lê Cảm (2002), "Về bản chất pháp lý của các khái niệm: Miễn trách nhiệm hình sự, truy cứu trách nhiệm hình sự, không phải chịu trách nhiệm hình sự và loại trừ trách nhiệm hình sự", Kiểm sát, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bản chất pháp lý của các khái niệm: Miễn trách nhiệm hình sự, truy cứu trách nhiệm hình sự, không phải chịu trách nhiệm hình sự và loại trừ trách nhiệm hình sự
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2002
15. Lê Cảm (2002), "Hệ thống pháp luật hình sự Tây Ban Nha", Nghiên cứu ch©u ¢u, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống pháp luật hình sự Tây Ban Nha
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2002
16. Lê Cảm (2002), "Chế định miễn hình phạt và các chế định về chấp hành hình phạt trong luật hình sự Việt Nam", Nhà nớc và pháp luật, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định miễn hình phạt và các chế định về chấp hành hình phạt trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2002
17. Lê Cảm (2002), Những vấn đề lý luận cơ bản về chế định thời hiệu trong luật hình sự Việt Nam, Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Khoa trực thuộc (Trờng thành viên) năm 2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận cơ bản về chế định thời hiệu trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2002
18. Lê Cảm (Chủ biên) (2002), "Những vấn đề cơ bản về pháp luật hình sự của một số nớc trên thế giới", Thông tin Khoa học pháp lý, Viện Khoa học pháp lý (Bộ T pháp), (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về pháp luật hình sự của một số nớc trên thế giới
Tác giả: Lê Cảm (Chủ biên)
Năm: 2002
19. Lê Cảm (2003), "Hệ thống pháp luật hình sự Liên bang Nga", Nghiên cứu ch©u ¢u, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống pháp luật hình sự Liên bang Nga
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2003
20. Lê Cảm (Chủ biên) (2003), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung)
Tác giả: Lê Cảm (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Số vụ và số bị can bị đình chỉ điều tra do Cơ quan Điều tra - chế định miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt nam
Bảng 1.2 Số vụ và số bị can bị đình chỉ điều tra do Cơ quan Điều tra (Trang 74)
Bảng 1.5: Số vụ và số bị can bị đình chỉ điều tra do miễn trách nhiệm hình sự - chế định miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt nam
Bảng 1.5 Số vụ và số bị can bị đình chỉ điều tra do miễn trách nhiệm hình sự (Trang 77)
Bảng 1.3: Tỷ lệ tổng số bị can bị đình chỉ điều tra do miễn trách nhiệm hình sự - chế định miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt nam
Bảng 1.3 Tỷ lệ tổng số bị can bị đình chỉ điều tra do miễn trách nhiệm hình sự (Trang 77)
Bảng 1.4: Số vụ và số bị can bị đình chỉ điều tra do miễn trách nhiệm hình sự - chế định miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt nam
Bảng 1.4 Số vụ và số bị can bị đình chỉ điều tra do miễn trách nhiệm hình sự (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w