hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện đất nước trong đó có bộ máy nhànước do đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đặt ra, nhất là từ sau Đại hội Đảnglần thứ VII thực hiện triển khai nghị quyết ban chấp hành trung ương 8 khóa VII
và Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001- 2010của Chính phủ Tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong hệ thống hànhchính từ Chính phủ, các bộ đến UBND các cấp đã có nhiều thay đổi, từng bướcđược hoàn thiện
Là cấp trung gian giữa trung ương và địa phương, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
có vai trò quan trọng trong hoạt động của bộ máy nhà nước, góp phần đảm bảohoạt động được thống nhất Trong những năm qua cùng với những thay đổi củanền kinh tế - xã hội, hệ thống văn bản pháp luật quy định về tổ chức và hoạtđộng của Uỷ ban nhân cấp tỉnh cũng không ngừng được hoàn thiện
Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới khi nước ta đang chuyển dần sang nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đang hội nhập khu vực và quốc
tế đặc biệt khi nước ta đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới,
…thì tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đã bộc lộ nhiều hạnchế cần được khắc phục bởi vậy đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy chínhquyền địa phương trong đó có Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là một trong nhữngnhiệm vụ nằm trong chương trình tổng thể cải cách hành chính Vì thế em đãchọn đề tài “ Tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân tỉnh theo pháp luậthiện hành ”
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X Ban chấp hành Trung ươngĐảng xác định một trong những đặc trưng cơ bản của xã hội XHCN hiện nay là
“ Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản” Bởi vậy, trong những năm
Trang 2qua tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân nói chung, Uỷ ban nhân dân tỉnhnói riêng đang từng bước được đổi mới.Và đã có nhiều công trình khoa họcnghiên cứu về UBND như: Sự cần thiết phải tăng cường hiệu quả hoạt động củaUBND, đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND,…
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những quy định của pháp luật hiệnhành về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân cấp tỉnh Đề tài được thực hiệndựa trên các quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa Qua việc tìm hiểu, để thấy được những kết quả cũngnhư những hạn chế, bất cập cần được khắc phục trong tổ chức và hoạt động của
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh qua đó đưa ra các giải pháp để góp phần hoàn thiện
tổ chức và hoạt động của UBND cấp tỉnh
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn được dựa trên cơ sở phươngpháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp duy vật biện chứng kết hợpvới phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, đánh giá,…
KẾT CẤU CỦA KHÓA LUẬN:
Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo thì kết cấu củakhóa luận gồm ba chương:
Chương I Uỷ ban nhân dân trong cơ cấu, tổ chức bộ máy nhà nước ở nước ta
Chương II Thực trạng về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân cấptỉnh theo pháp luật hiện hành
Chương III Giải pháp hoàn thiện về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhâncấp tỉnh
Trang 3Chương I
UỶ BAN NHÂN DÂN TRONG CƠ CẤU, TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ
NƯỚC Ở NƯỚC TA
1.1.Vị trí, tính chất, chức năng của Uỷ ban nhân dân.
Bộ máy nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hệ thống các cơquan nhà nước từ trung ương đến địa phương được tổ chức theo những nguyêntắc chung thống nhất như: nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhândân, nguyên tắc Đảng lãnh đạo đối với nhà nước, nguyên tắc tập trung dân chủ,
… tạo thành một thể thống nhất để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhànước Trong đó Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh là một mắt xích quan trọngtrong cơ cấu, tổ chức bộ máy nhà nước(BMNN)
Ở nước ta, ngay từ thời Văn Lang – Âu Lạc đơn vị hành chính cấp tỉnh đãbắt đầu được manh nha với hình thức các bộ Đơn vị hành chính tỉnh thực sự rađời cùng với nền hành chính nhà nước ở địa phương bắt đầu được triển khai saukhi nước ta giành được quyền tự chủ Thời nhà Khúc (đầu TK 10), đó là lộ, dưới
đó là phủ, châu, giáp, xã Thời nhà Đinh (từ năm 944), đó là đạo… Trải qua thờigian đơn vị hành chính cấp tính đã có nhiều thay đổi để phù hợp với mỗi giaiđoạn lịch sử
Nhà nước Việt Nam là một quốc gia có cấu trúc lãnh thổ theo mô hình nhànước đơn nhất Lãnh thổ được phân chia thành các đơn vị hành chính Việc phânchia giúp cho việc quản lý được thống nhất, cũng như để nắm bắt tình hình ởmỗi địa phương
Điều 118 Hiến pháp 1992 quy định: “Các đơn vị hành chính của nước cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau:
- Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trựcthuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã
Trang 4- Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thànhphường và xã; quân chia thành phường”.
Bộ máy chính quyền của nước ta gồm bốn cấp: Trung ương; tỉnh và thànhphố trực thuộc trung ương; huyện, quận và tương đương; xã, phường và tươngđương Bộ máy chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân (HĐND) là
cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương và Ủy ban nhân dân do HĐND bầu
ra, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địaphương
Như vậy, UBND cấp tỉnh là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, làmột bộ phận trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, là cấp trung giangiữa trung ương với địa phương Đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiệnchủ trương, chính sách của nhà nước, thực hiện, triển khai quyền lực của trungương xuống lãnh thổ Điều 123 Hiến pháp 1992 và Điều 2 Luật tổ chức Hộiđồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 quy định: “UBND do HĐND bầu
là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương,chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan nhànước cấp trên và nghị quyết của HĐND”
Với quy định này, Uỷ ban nhân dân nói chung, UBND cấp tỉnh nói riêngđược xác định là cơ quan chấp hành của HĐND đồng thời là cơ quan hành chínhnhà nước ở địa phương
Theo Hiến pháp 1946, Uỷ ban hành chính (UBHC) mặc dù do HĐND bầu
ra và có trách nhiệm thi hành các nghị quyết của HĐND địa phương mình saukhi được cấp trên chuẩn y, tuy nhiên lại chưa quy định một cách rõ ràng là cơquan chấp hành của HĐND Từ Hiến pháp 1959 UBHC (nay là UBND) đượcquy định rõ là cơ quan chấp hành của HĐND tại Điều 87, Điều 121 Hiến pháp
1980, Điều 123 Hiến pháp 1992 Qua đây có thể thấy, về cơ bản vị trí, tính chất,chức năng của UBND qua các bản Hiến pháp không có sự thay đổi lớn mà đangdần được hoàn thiện để phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội mới nhằm nângcao hiệu quả hoạt động của UBND
Trang 5Thứ nhất, UBND với tư cách là cơ quan chấp hành của HĐND (cơ quan
quyền lực của nhà nước ở địa phương)
+ UBND do HĐND cùng cấp bầu ra gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các
ủy viên dưới hình thức bỏ phiếu kín Pháp luật hiện hành quy định Chủ tịchUBND là đại biểu HĐND Còn các thành viên khác của UBND không nhất thiếtphải là đại biểu HĐND Đây là một quy định mới so với các văn bản luật trước.Bởi trước đây “thành viên của UBND phải là đại biểu HĐND” Quy định nàygóp phần đáp ứng nguồn nhân sự khi Uỷ ban nhân dân có sự thay đổi về thànhviên, cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trong phạm vilãnh thổ mỗi địa phương Trong nhiệm kỳ nếu khuyết Chủ tịch UBND thì Chủtịch HĐND cùng cấp giới thiệu người ứng cử Chủ tịch UBND để HĐND bầu.+ Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm chủ yếu trong việc tổ chức, triển khai
và thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, đưa những quy định trongcác nghị quyết vào đời sống, biến các nghị quyết đó thành hiện thực Uỷ bannhân dân chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp và UBNDcấp trên trực tiếp, Uỷ ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm và báo cáo công táctrước Hội đồng nhân dân cùng cấp và Chính phủ
+ Uỷ ban nhân dân chịu sự giám sát của HĐND trong việc thực hiện cácnghị quyết của Hội đồng nhân dân, giám sát việc tuân theo pháp luật của cácthành viên UBND, các cơ quan chuyên môn của UBND, của cán bộ, công chức.Hội đồng nhân dân có quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên của UBND,
có quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dânbầu Đồng thời có quyền bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định, chỉ thị tráipháp luật của UBND cùng cấp Vì thế văn bản do Uỷ ban nhân dân ban hànhkhông được trái với nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp
+ Nhiệm kỳ của UBND theo nhiệm kỳ của HĐND cùng cấp Theo quy địnhhiện hành là 5 năm Khi Hội đồng nhân dân hết nhiệm kỳ, UBND tiếp tục làmviệc cho đến khi HĐND khóa mới bầu ra Uỷ ban nhân dân khóa mới Chủ tịch
Trang 6Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân ở mỗi đơn vị hành chính khônggiữ chức vụ đó quá hai nhiệm kỳ liên tục.
Trước đây, nhiệm vụ, quyền hạn của UBHC (nay là UBND) không chỉ cóthi hành các mệnh lệnh của cấp trên, các nghị quyết của Hội đồng nhân dân,kiểm soát các HĐND và UBHC cấp dưới… mà Uỷ ban hành chính còn cóquyền triệu tập Hội đồng nhân dân như là cơ quan thường trực của HĐND Quyđịnh này làm giảm tính quyền lực của Hội đồng nhân dân Tuy nhiên kể từ khiLuật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 1989 quy định việcthành lập thường trực HĐND thì vị trí, tính chất của Uỷ ban nhân dân trong mốiquan hệ với Hội đồng nhân dân được xác định một cách phù hợp hơn
Thứ hai, Uỷ ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
Uỷ ban nhân dân là cơ quan trực thuộc hai chiều Đối với cơ quan này, quan hệtrực thuộc theo chiều dọc của nó cũng có “sức nặng” không kém gì quan hệ theochiều ngang với HĐND cùng cấp, nếu không nói là hơn trong một số trườnghợp
+ Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương,góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất bộ máy hành chính nhà nước
từ trung ương tới cơ sở Chức năng của UBND có những đặc trưng riêng so vớichức năng của các cơ quan nhà nước khác như: Tòa án nhân dân, viện kiểm sátnhân dân (VKSND),…
- Nếu như chức năng cơ bản của Tòa án là xét xử, của VKSND là thực hànhquyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp thì quản lý hành chính đượccoi là chức năng cơ bản của UBND, là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhấtcủa UBND Các cơ quan nhà nước khác như Tòa án, VKSND trong hoạt độngcủa mình cũng phải thực hiện quản lý hành chính nhưng chỉ mang tính nội bộ vàcũng không phải là hoạt động chủ yếu
- Hoạt động quản lý của UBND mang tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vựccủa đời sống: kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh, quốc phòng… Và mang tínhthống nhất, bởi hoạt động quản lý của UBND được thực hiện trên cơ sở chấp
Trang 7hành những quyết định của các cơ quan hành chính nhà nước cấp trên, dưới sựquản lý thống nhất của Chính phủ.
- Là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương UBND thực hiện hoạtđộng quản lý trong phạm vi địa phương mình Cùng phối hợp với các cơ quannhà nước, các tổ chức khác để thực hiện chức năng, nhiệm vụ một cách có hiệuquả
+ Theo quy định của pháp luật hiện hành kết quả bầu cử thành viên UBNDcấp dưới trực tiếp phải được nguời đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cấptrên phê chuẩn, kết quả bầu các thành viên của UBND cấp tỉnh phải được Thủtướng Chính phủ phê chuẩn Chủ tịch UBND cấp trên có quyền điều động, đìnhchỉ công tác, miễn nhiệm, cách chức Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND cấp dướitrực tiếp, phê chuẩn việc miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên của Uỷ ban nhândân cấp dưới trực tiếp
+ Đối với các văn bản trái pháp luật của UBND, người đứng đầu cơ quanhành chính nhà nước cấp trên trực tiếp có quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi
bỏ Theo Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980 UBHC (UBND) cấp trên còn cóquyền sửa đổi đối với quyết định của UBND cấp dưới trực tiếp
+ Uỷ ban nhân dân chịu sự chỉ đạo của UBND cấp trên, UBND cấp tỉnhchịu sự chỉ đạo của Chính phủ Quy định này nhằm bảo đảm tính thống nhất củaquản lý hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở UBND chịu trách nhiệm
và báo cáo công tác trước UBND cấp trên trực tiếp, trong phạm vi nhiệm vụ,quyền hạn của mình UBND ra quyết định, chỉ thị đồng thời tổ chức thực hiện,kiểm tra việc thi hành các văn bản đó
UBND là cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ở địaphương, chức năng của UBND cơ bản là giống chức năng của Chính phủ chỉkhác nhau ở vị trí, thẩm quyền, cũng như về phạm vi lãnh thổ UBND nóichung, UBND tỉnh nói riêng có vị trí, vai trò quan trọng trong cơ cấu, tổ chứcBMNN ở Việt Nam
Trang 8Qua hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới kể từ Đại hội Đảng VI năm
1986, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam đang từng bước được hoàn thiện, tuy nhiên trong giai đoạncách mạng mới đòi hỏi cần phải củng cố, kiện toàn hơn nữa BMNN trong đó có
hệ thống các cơ quan hành chính Vì thế đổi mới tổ chức và hoạt động của Uỷban nhân dân cấp tỉnh là một điều cần thiết, nó cũng phù hợp Nghị quyết củaĐại hội Đảng IX đã đề ra
1.2 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Uỷ ban nhân dân trong lịch sử lập hiến Việt Nam.
Sự hình thành và phát triển của UBND gắn liền với quá trình hình thành vàphát triển của BMNN qua mỗi giai đoạn Tùy theo từng thời kỳ phù hợp vớiđiều kiện kinh tế - xã hội cũng như yêu cầu lịch sử mà tổ chức và hoạt động củaUBND có sự thay đổi
1.2.1 Uỷ ban nhân dân theo Hiến pháp 1946.
Ngay từ thời xa xưa, để thuận tiện cho việc quản lý các đơn vị hành chínhvới nhiều tên gọi khác nhau đã được thành lập như: các bộ, các châu, lộ, phủ…Vào năm 1832 ở miền Nam và 1831 ở miền Bắc với cuộc cải cách hành chínhMinh Mạng lần thứ hai cả nước chia thành 29 tỉnh, dưới tỉnh là phủ, huyện, tổng
và xã Dưới thời Pháp thuộc để thuận lợi cho chính sách cai trị nước ta bị chialàm 3 kỳ: Bắc Kỳ – Nam Kỳ - Trung Kỳ, mỗi Kỳ với một chế độ khác nhau.Ngày 22/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh 63 – SL về tổchức HĐND và UBHC các cấp ở nông thôn UBND thời kỳ này có tên gọi làUBHC được thành lập ở các cấp kỳ, tỉnh, huyện, xã Tuy nhiên HĐND chỉ đượcthành lập ở cấp xã và cấp tỉnh, còn cấp huyện và kỳ không thành lập Ngày22/12/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh số 77/SL về tổ chứcchính quyền ở thị xã, thành phố Theo đó UBHC do các HĐND bầu ra là cơquan hành chính vừa thay mặt cho dân vừa đại diện cho chính phủ Đối với cấphuyện và kỳ không có HĐND thì: UBHC cấp huyện do hội viên các HĐND xãtrong huyện bầu ra, UBHC kỳ do hội viên các HĐND tỉnh trong kỳ bầu ra Thể
Trang 9lệ bầu cử HĐND và UBHC được quy định tại Nghị định số 164 ngày29/12/1945 của Bộ trưởng Bộ nội vụ và Nghị định số 31 ngày 28/1/1946 của Bộtrưởng Bộ nội vụ.
UBHC gồm có 5 ủy viên: 3 ủy viên chính thức (1 Chủ tịch, 1 phó Chủ tịch,
1 thư ký) và 2 ủy viên dự khuyết UBHC thời kỳ này được xác định là cơ quanhoạt động thường xuyên của HĐND Mặc dù UBHC do HĐND cùng cấp bầu ra
có trách nhiệm thi hành các nghị quyết của HĐND nhưng chưa được xác định rõ
là cơ quan chấp hành của HĐND Nhiệm kỳ của UBHC các cấp theo nhiệm kỳcủa HĐND là hai năm
Tùy thuộc vào UBHC mỗi cấp mà nhiệm vụ, quyền hạn có điểm riêngnhưng nhìn chung thì UBHC có quyền hạn: thi hành các mệnh lệnh của các cấptrên, nghị quyết của HĐND cùng cấp, triệu tập HĐND cùng cấp, cũng như kiểmsoát các cơ quan chuyên môn
Cách mạng tháng tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời,Chính phủ lâm thời đã tiến hành ban bố các văn bản pháp luật làm cơ sở choviệc xây dựng BMNN kiểu mới Vì thế, ngày 09/11/1946, Quốc hội đã thôngqua bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta
Theo Hiến pháp 1946, Bộ máy nhà nước được phân thành năm cấp: trungương; cấp bộ; cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương; cấp huyện; cấp xã vàcấp tương đương Bộ máy chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBHC.UBHC được thành lập ở tất cả các cấp, là cơ quan chấp hành của cơ quan quyềnlực nhà nước ở địa phương
UBHC do HĐND cùng cấp bầu ra, ở bộ và huyện không có HĐND chỉ cóUBHC UBHC bộ do Hội đồng các tỉnh và thành phố bầu ra, UBHC huyện doHội đồng các xã bầu ra UBHC chịu trách nhiệm đối với cấp trên và đối vớiHĐND địa phương mình, có trách nhiệm thi hành các mệnh lệnh của cấp trên,các nghị quyết của HĐND địa phương mình sau khi được cấp trên chuẩn y.Đến 1958 khi miền Bắc đang trong công cuộc xây dựng CNXH, miền Namvẫn còn nằm dưới ách thống trị của đế quốc và tay sai, tình hình có nhiều thay
Trang 10đổi, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng chính quyền nhân dân Quốc hội khóa I
đã thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 29/4/1958 Theo đó hệthống tổ chức chính quyền địa phương gồm có: các khu tự trị, các thành phố trựcthuộc trung ương, tỉnh, châu, thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, xã, thị trấn cóHĐND và UBHC; các huyện có UBHC Như vậy, UBHC theo Luật Tổ chứcchính quyền địa phương được thành lập ở các cấp Riêng ở huyện là không cóHĐND Nhiệm vụ của UBHC cũng được quy định rõ ràng hơn Các cơ quanchuyên môn ở địa phương và quan hệ giữa UBHC với các cơ quan đó được quyđịnh một cách cụ thể UBHC được xác định là cơ quan chấp hành của HĐNDcùng cấp, là cơ quan hành chính của nhà nước ở cấp ấy
Như vậy, Hiến pháp 1946 đặt nền tảng cho việc xây dựng BMNN, trong đó
có hệ thống các UBHC
1.2.2 Uỷ ban nhân dân theo Hiến pháp 1959.
Ở miền Bắc, sau khi kháng chiến chống Pháp kết thúc cuộc cách mạng dântộc dân chủ nhân dân căn bản đã hoàn thành và chuyển sang làm cách mạngXHCN Trong khi đó ở miền Nam vẫn dưới ách thống trị của đế quốc và tay sai
vì thế trong giai đoạn mới, đứng trước nhiệm vụ lịch sử mới Ngày 31/12/1959Quốc hội đã nhất trí thông qua bản Hiến pháp mới Ngày 01/01/1960 Chủ tịch
Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố Hiến pháp
So với Hiến pháp 1946, BMNN Việt Nam dân chủ cộng hòa đã có nhiềuthay đổi: hệ thống các cơ quan đại diện được thành lập ở các cấp; Nghị việnnhân dân được đổi tên thành Quốc Hội; Chính phủ được đổi tên thành Hội đồngChính phủ,… Các đơn vị hành chính địa phương được chia thành 3 cấp: Tỉnh,khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương; tỉnh chia thành huyện, thành phố, thịxã; xã, thị trấn Cấp bộ đã bị xóa bỏ UBHC được thành lập ở các cấp, doHĐND cùng cấp bầu ra, là cơ quan chấp hành của HĐND địa phương và là cơquan hành chính nhà nước ở địa phương
UBHC chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND cấp mình vàtrước cơ quan hành chính nhà nước cấp trên trực tiếp Nhiệm vụ, quyền hạn củaUBHC các cấp được bổ sung UBHC các cấp lãnh đạo công tác của các ngànhthuộc quyền mình và của UBHC cấp dưới; có quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ những
Trang 11quyết định không thích đáng của các ngành công tác, có quyền đình chỉ việc thihành những nghị quyết sai trái của HĐND cấp dưới trực tiếp và đề nghị HĐNDcấp mình sửa đổi hoặc bãi bỏ những nghị quyết ấy.
Uỷ ban hành chính gồm có Chủ tịch, một hoặc nhiều Phó chủ tịch, ủy viênthư ký và các ủy viên Theo Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhândân 1962 thì UBHC cấp tỉnh có từ 9 đến 15 người, còn khu tự trị có từ 7 đến 9người Nhiệm kỳ của UBHC theo nhiệm kỳ của HĐND đã bầu ra mình
1.2.3 Uỷ ban nhân dân theo Hiến pháp 1980.
Đại thắng mùa Xuân 1975, cùng với việc khắc phục hậu quả sau chiếntranh, khôi phục và phát triển kinh tế, ổn định tình hình chính trị miền Nam thìnhiệm vụ quan trọng là hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước Kỳhọp thứ I Quốc hội khóa VI đã hoàn thành công việc thống nhất đất nước về mặtnhà nước Ngày 18/12/1980 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam được Quốc hội thông qua Đây là bản Hiến pháp đầu tiên của thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước
Hiến pháp 1980 đã kế thừa và phát triển Hiến pháp 1946 và 1959 Đồngthời có nhiều điểm mới Về phương diện hành chính Bộ máy nhà nước ta vẫngồm bốn cấp: Trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hànhchính tương đương, khu tự trị theo hiến pháp 1959 đã xóa bỏ; cấp huyện, thànhphố thuộc tỉnh và tương đương; cấp xã, thị trấn và tương đương
Hệ thống các cơ quan chấp hành có sự thay đổi: Hội đồng Chính phủ đượcđổi tên thành Hội đồng bộ trưởng, UBHC trước đây được đổi tên thành UBNDnhằm nhấn mạnh tính dân chủ
Trên cơ sở Hiến pháp 1980, tổ chức và hoạt động của UBND trong thời kỳnày còn dựa trên Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1983, sau
đó là Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1989 Vị trí, tính chấtcủa UBND không có gì thay đổi Uỷ ban nhân dân vẫn được xác định là cơ quanchấp hành của HĐND, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương UBNDchịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND cùng cấp và trước UBNDcấp trên trực tiếp Mỗi thành viên UBND chịu trách nhiệm cá nhân về phần côngtác của mình trước HĐND, UBND và cùng chịu trách nhiệm tập thể về hoạt
Trang 12động của UBND trước HĐND Chính chế độ làm việc tập trung và tập thể chịutrách nhiệm nên vai trò và trách nhiệm cá nhân của Chủ tịch UBND các cấp bịhạn chế, hoạt động của UBND kém hiệu quả.
Theo Hiến pháp 1980, thì UBND có quyền triệu tập hội nghị HĐND cùngcấp Bên cạnh đó “giữa hai kỳ họp HĐND, UBND được xét và giải quyết cácvấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cùng cấp” (Điều 47 Luật tổ chứcHĐND và UBND 1983) Có thể thấy hoạt động của Uỷ ban nhân dân thời kỳnày đã vượt ra ngoài phạm vi với tính chất là cơ quan chấp hành của HĐND.Điều đó đã làm giảm tính “quyền lực” của HĐND Vì thế đến Luật tổ chức Hộiđồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1989 Thường trực HĐND đã được thànhlập, một số nhiệm vụ, quyền hạn của UBND được chuyển giao cho thường trựcHội đồng nhân dân
Một quy định mới trong Luật tổ chức HĐND và UBND 1989 là về thànhviên UBND gồm có Chủ tịch, một hoặc nhiều Phó chủ tịch và các ủy viên khác.Trong đó Chủ tịch UBND là đại biểu HĐND, còn các thành viên khác khôngnhất thiết phải là đại biểu HĐND cùng cấp Số lượng thành viên UBND tùy theotừng cấp: UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương có
từ 11 đến 17 người; UBND huyện và tương đương có từ 9 đến 13 người; UBND
xã, phương, thị trấn có từ 7 đến 9 người
Những quy định về tổ chức và hoạt động của UBND ngày càng được hoànthiện hơn, góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới toàn diện đất nước
1.2.4 Uỷ ban nhân dân theo Hiến pháp1992 đến nay.
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp từ 15 – 18/12/1986 tại Hà Nội
là mốc quan trọng đánh dấu bước chuyển sang thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh sựnghiệp cách mạng XHCN tiến lên Nhiệm vụ chiến lược mà Đảng và Nhà nướcđưa ra không thay đổi nhưng trong điều kiện đất nước có nhiều thay đổi, trên thếgiới hội nhập đang là một xu thế tất yếu Chúng ta cần có những bước đi phùhợp, một trong đó là thực hiện cải cách bộ máy nhà nước Hiến pháp 1980 ra đờitrước đó một thập kỷ đã không còn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội củađất nước Cần phải có một bản Hiến pháp mới, ngày 15/4/1992 Quốc hội đã nhấttrí thông qua Hiến pháp 1992, trên cơ sở đó tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XI
Trang 13ngày 21/6/1994 đã thông qua Luật tổ chức HĐND và UBND 1994, tiếp đó làPháp lệnh về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của HĐND và UBND 1996 đã được
Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 25/6/1996 và Luật tổ chức HĐND
và UBND năm 2003 được thông qua tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XI ngày26/11/2003 Đây là những văn bản pháp luật quan trọng để hoàn thiện tổ chức
và hoạt động của UBND
Theo Hiến pháp 1992, các đơn vị hành chính được tổ chức thành bốn cấpnhư Hiến pháp 1980 Tuy nhiên hệ thống các cơ quan trong BMNN có sự thayđổi: Uỷ ban thường vụ quốc hội được thành lập, là cơ quan hoạt động thườngxuyên của Quốc hội; Hội đồng bộ trưởng đổi tên thành Chính phủ,… Hệ thốngcác cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương cũng trong xu thế đó theohướng: nhiệm vụ, quyền hạn của UBND và Chủ tịch UBND được phân định rõràng hơn trước, vai trò của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân được đề cao hơn thôngqua việc bổ sung nhiều quyền hạn như Chủ tịch UBND có quyền điều động,miễn nhiệm, cách chức đối với Chủ tịch, Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp dướitrực tiếp,… cùng với đó trách nhiệm cũng được quy định cụ thể hơn, tổ chức Uỷban nhân dân cũng gọn nhẹ hơn Vị trí, tính chất, chức năng của UBND về cơbản không có sự thay đổi mà đang dần được hoàn thiện về tổ chức và hoạt động.Như vậy, kể từ khi sắc lệnh đầu tiên thiết lập bộ máy chính quyền địaphương-Sắc lệnh số 63-SL ngày 23/11/1945 và Sắc lệnh số 77-SL ngày21/12/1945, tiếp đó là một hệ thống các văn bản pháp luật quy định về tổ chức
và hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương, gần đây nhất là Luật tổ chứcHĐND và UBND 2003, trải qua hơn 65 năm hệ thống các cơ quan hành chínhnhà nước ở địa phương trong đó có UBND cấp tỉnh đang có nhửng thay đổi gópphần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước
Trang 14Chương II THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA UỶ BAN NHÂN
DÂN TỈNH THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
2.1 Thực trạng về tổ chức của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
2.1.1 Cơ cấu tổ chức của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
Bất kì một cơ quan nào cũng đều thực hiện việc sắp xếp, bố trí nhân sự.Tùy thuộc vị trí, chức năng, nhiệm vụ mà mỗi cơ quan có cách thức tổ chức saocho phù hợp
Cơ cấu, tổ chức của UBND do Quốc hội quy định trong Hiến pháp, Luật tổchức HĐND và UBND và văn bản hướng dẫn khác Và cũng tùy thuộc vào mỗigiai đoạn mà cơ cấu, tổ chức của UBND có sự thay đổi Hiện nay cơ cấu tổ chứccủa UBND tỉnh được thực hiện theo Luật tổ chức HĐND và UBND 2003, Nghịđịnh 107/NĐ-CP ngày 1/4/2004 quy định số lượng Phó Chủ tịch và cơ cấuUBND các cấp; Nghị định 82/2008 ngày 30/7/2008, Nghị định 27 ngày19/3/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 107 ngày 1/4/2004, Nghị định
13 ngày 04/2/2008 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh.Theo quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND hiện hành, UBND gồm:
có Chủ tịch, Phó Chủ tịch và ủy viên Nước ta với 63 tỉnh và thành phố trựcthuộc trung ương, mỗi địa phương với những đặc điểm riêng vì thế mà số lượngPhó chủ tịch, các thành viên khác của UBND tỉnh là không giống nhau
Điều 119 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định: “ UBND doHĐND cùng cấp bầu ra gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các ủy viên” kết quảbầu các thành viên của UBND phải được Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp phêchuẩn; kết quả bầu các thành viên của UBND cấp tỉnh phải được Thủ tướngChính phủ phê chuẩn.Thủ tướng chính phủ miễn nhiệm, điều động, cách chứcChủ tịch, các Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trungương; phê chuẩn việc miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên khác của Uỷ bannhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Điều 122 Luật tổ chức HĐND
Trang 15và UBND năm 2003 quy định số lượng thành viên UBND các cấp trong đóUBND cấp tỉnh có từ 9 đến 11 thành viên quy định này không có gì thay đổi sovới Luật tổ chức HĐND và UBND 1994 Đối với UBND thành phố Hà Nội vàUBND thành phố Hồ Chí Minh không quá 13 thành viên Như vậy số lượngthành viên UBND cấp tỉnh hiện nay đã giảm so với số lượng thành viên UBNDtỉnh theo Luật tổ chức HĐND và UBND 1983, Luật tổ chức HĐND và UBND
1989 trước đây có từ 11 đến 17 người Đây là một sự tinh giản cần thiết qua đó
cơ cấu UBND tỉnh gọn nhẹ hơn
Nghị định 107 ngày 01/4/2004 của Chính phủ quy định cụ thể về số PhóChủ tịch và cơ cấu thành viên UBND các cấp Theo đó:
- UBND thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có 13 thành viêngồm 1 Chủ tịch, 5 Phó Chủ tịch và 7 ủy viên
Tuy nhiên đối với thành phố Hà Nội có một sự thay đổi Do năm 2008 tỉnh
Hà Tây sáp nhập vào Thành phố Hà Nội nên tạm thời số lượng thành viênUBND thành phố Hà Nội theo Nghị định 82 ngày 30/7/2008 gồm: 01 Chủ tịch,không quá 08 Phó Chủ tịch và các ủy viên ( UBND thành phố Hà Nội có 13thành viên)
Sự gia tăng số Phó Chủ tịch nhằm đáp ứng yêu cầu giải quyết công việctrong giai đoạn thành phố mở rộng
- UBND các tỉnh có dân số từ 2.000.000 trở lên hoặc có diện tích từ10.000km2 trở lên và thành phố trực thuộc trung ương là đô thị loại I( trừ Hà Nội
Trang 16Bên cạnh đó trong nhiệm kỳ HĐND cấp tỉnh có thể ấn định thêm số lượngthành viên UBND cấp mình, nhưng tổng số không quá 11 thành viên và phảiđược Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn Quy định này có thể giúp UBND bổ sungthêm thành viên xuất phát yêu cầu của hoạt động quản lý, tuy nhiên có thể làmcho bộ máy UBND thêm cồng kềnh.
UBND là cơ quan có thẩm quyền chung, thực hiện hoạt động quản lý mộtcách toàn diện, trên hầu hết các lĩnh vực làm việc theo nguyên tắc tập thể lãnhđạo, cá nhân phụ trách kết hợp với chế độ thủ trưởng
- Chủ tịch UBND do HĐND cùng cấp bầu ra theo sự giới thiệu của Chủtịch HĐND, từ trong số các đại biểu HĐND bằng con đường bỏ phiếu kín
Tuy nhiên nếu trong nhiệm kỳ mà khuyết Chủ tịch UBND thì người đượcbầu giữ chức vụ Chủ tịch UBND đó không nhất thiết là đại biểu HĐND cùngcấp Theo quy định Chủ tịch UBND ở mỗi đơn vị hành chính không giữ chức vụ
đó quá hai nhiệm kỳ
Chủ tịch UBND phụ trách chung, nội chính, kế hoạch phát triển kinh tế-xãhội, quy hoạch, xây dựng Chủ tịch UBND là người lãnh đạo và điều hành côngviệc của UBND, chịu trách nhiệm điều hành công việc của UBND, chịu tráchnhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cùng với tậpthể UBND chịu trách nhiệm về hoạt động của UBND trước HĐND cùng cấp vàtrước cơ quan nhà nước cấp trên Chủ tịch UBND có vai trò quan trọng trongviệc tổ chức, thực hiện nhiệm vụ cuả UBND
- Phó Chủ tịch UBND cấp tỉnh do HĐND cùng cấp bầu ra theo sự giớithiệu của Chủ tịch UBND, không nhất thiết phải là đại biểu HĐND Là ngườigiúp việc cho Chủ tịch được Chủ tịch phân công phụ trách thực hiện những côngviệc nhất định và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND về phần công việcđược giao Thông qua các Phó Chủ tịch, Chủ tịch UBND có thể nắm được toàn
bộ hoạt động của UBND Theo quy định hiện hành số lượng Phó Chủ tịch ởUBND cấp tỉnh là từ 3-4 người phụ trách các lĩnh vực:
Trang 17+ Một Phó Chủ tịch phụ trách kinh tế, thương mại, du lịch, doanhnghiệp,kinh tế đối ngoại.
+ Một Phó Chủ tịch phụ trách nông nghiệp, phát triển nông thôn, lâmngiệp, thủy sản và thủy lợi, nhà đất và tài nguyên-môi trường
+ Một Phó Chủ tịch phụ trách công nghiệp, giao thông, xây dựng bưuchính viễn thông, khoa học công nghê
+ Một Phó Chủ tịch phụ trách văn hóa-xã hội và các lĩnh vực khác như: y
tế, giáo dục-đào tạo,…
Đây chỉ là những quy định chung mang tính chất định hướng còn tùy thuộcvào từng địa phương có cách triển khai riêng Như hiện tại tỉnh Bình Dương có
4 Phó chủ tịch trong đó: 1 Phó Chủ tịch phụ trách khối văn xã; 1 Phó chủ tịchphụ trách khối kinh tế; 1 Phó chủ tịch phụ trách khối xây dựng công thương; 1Phó chủ tịch phụ trách khối sản xuất Trong nhiệm kỳ hoạt động của UBND tỉnhvẫn có thể bổ sung thêm thành viên như nhiệm kỳ 2004-2009 UBND tỉnh ĐồngNai đã bổ sung thành viên UBND, hiện tại UBND tỉnh Đồng Nai có 5 Phó Chủtịch và 5 ủy viên
- Các ủy viên UBND tỉnh được Chủ tịch phân công phụ trách quản lýnhững ngành, lĩnh vực chuyên môn nhất định Các thành viên khác UBND tỉnhthực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do Chủ tịch giao và phải chịu trách nhiệm trướcChủ tịch UBND về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó Các ủy viên UBNDcấp tỉnh thường có từ 5-6 ủy viên được phân công phụ trách các lĩnh vực:
+ Một ủy viên phụ trách công an
+ Một ủy viên phụ trách quân sự
+ Một ủy viên phụ trách nội vụ
+ Một ủy viên phụ trách văn phòng
+ Một ủy viên phụ trách tài chính
+ Một ủy viên phụ trách kế hoạch
Hiện UBND tỉnh Thái Bình bên cạnh 3 Phó chủ tịch còn có 7 ủy viên,UBND thành phố Hà Nội có 8 phó chủ tịch và 4 ủy viên, UBND thành phố Hồ
Trang 18Chí Minh có 5 phó chủ tịch và 7 ủy viên, UBND tỉnh Lào Cai có 3 phó chủ tịch
và 5 ủy viên,… Do xuất phát từ đặc thù mỗi địa phương mà cơ cấu số Phó Chủtịch và UBND cấp tỉnh có sự khác nhau Số lượng thành viên UBND cấp tỉnhhiện nay được xác định dựa trên yêu cầu hoạt động, việc phân công nhiệm vụđối với mỗi thành viên một cách rõ ràng qua đó nâng cao trách nhiệm của mỗithành viên Bộ máy làm việc của UBND cấp tỉnh cũng đã giảm nhiều dựa trênnhững mục tiêu của Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn (2001-2010) Tuy nhiên, đứng trên quan điểm tăng cường trách nhiệm cá nhân và chế
độ thủ trưởng với những đòi hỏi nhanh nhạy, hiệu quả mà chúng ta đang cố gắngxây dựng thì số lượng thành viên UBND hiện tại vẫn là đông, nếu không muốnnói là thừa Bên cạnh đó là sự tham gia của các ủy viên đồng thời là thủ trưởngcác sở, ban, nghành chuyên môn còn ít hiệu quả, chưa phát huy được tính chủđộng, sáng tạo trong tổ chức và thực hiện công việc Hiện tại, các ủy viên củaUBND cấp tỉnh thường là người đứng đầu các sở, ban, ngành chuyên môn, điềunày có thể dẫn tới:
+ Đối với lĩnh vực mà thủ trưởng các cơ quan chuyên môn đồng thời làthành viên UBND thì vấn đề kiểm tra của UBND thường bị buông lỏng hoặcgiảm hiệu lực
+ Còn đối với những thành viên không phải là người là đứng đầu các sở,ban, ngành sẽ rất khó phối hợp với người đứng đầu trong các lĩnh vực mà mìnhđược phân công phụ trách
Như vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động UBND cấp tỉnh hơn nữa, trên cơ
sở Luật tổ chức HĐND và UBND cần phải hoàn thiện cơ cấu, tổ chức củaUBND cấp tỉnh
2.1.2 Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh.
Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh là cơ quan tham mưu, giúpUBND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương; thực hiệnmột số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cùng cấp và theo quy
Trang 19định của pháp luật, góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặclĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở.
Trước khi có Nghị định 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008, thì tổ chức các
cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đượcthực hiện theo nghị định 171/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 Do sự sắp xếp lạicủa các bộ chủ quản (hiện nay tổng số bộ và cơ quan ngang bộ là 22, trong đó có
18 bộ và 04 cơ quan ngang bộ) mà các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cũng
có thay đổi Theo Nghị định 13/2008 ngày 04/02/2008 các cơ quan chuyên mônthuộc UBND cấp tỉnh được tổ chức thống nhất bao gồm: Sở Nội vụ; Sở Tưpháp; Sở Tài chính; Sở Kế hoạch và Đầu tư; Sở Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn; Sở Công thương; Sở Xây dựng; Sở giao thông vận tải; Sở Tài nguyên vàmôi trường; Sở Thông tin và truyền thông; Sở Lao động thương binh và xã hội;
Sở văn hóa- thể thao-du lịch;Sở Khoa học công nghệ; Sở Giáo dục và Đào tạo;
Sở Y tế; Thanh tra tỉnh; Văn phòng Uỷ ban nhân dân
Bên cạnh đó các cơ quan chuyên môn còn được tổ chức theo đặc thù riêngcủa từng địa phương như: Sở Ngoại vụ, Ban dân tộc, Sở Quy hoạch kiếntrúc( được thành lập ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh)
Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh gồm có sở và cơ quantương đương ( gọi chung là sở) chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế vàcông tác của UBND cùng cấp, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụcủa cơ quan chuyên môn cấp trên Chủ tịch UBND tỉnh bổ nhiệm Giám đốc,Phó Giám đốc sở theo tiêu chuẩn chức danh do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quanngang bộ quy định và thủ tục do pháp luật quy định, đồng thời Chủ tịch UBNDtỉnh cũng quy định cho Giám đốc sở bổ nhiệm, miễn nhiệm trưởng, phó các cơquan, đơn vị trực thuộc theo tiêu chuẩn, chức danh do UBND cấp tỉnh ban hành.Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn vừa phải chịu trách nhiệm và báo cáo côngtác trước UBND tỉnh, HĐND cùng cấp vừa phải chịu trách nhiệm và báo cáocông tác trước cơ quan chuyên môn cấp trên
Trang 20Phù hợp với đặc điểm riêng của địa phương, UBND cấp tỉnh có thể trìnhHĐND tỉnh quyết định thành lập mới hoặc sáp nhập một số cơ quan chuyênmôn Việc tổ chức các cơ quan chuyên môn phải tính gọn, hợp lý, hiệu lực, hiệuquả, tổ chức quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, không nhất thiết ở trung ương có bộ,
cơ quan ngang bộ nào thì cấp tỉnh phải sở có tương ứng
Trong những năm qua thực hiện chủ trương cải cách hành chính bộ máynhà nước, thì các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh cũng đang được sắpxếp, kiện toàn bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nướccủa UBND cấp tỉnh và sự thống nhất, thông suốt quản lý ngành, lĩnh vực côngtác từ trung ương đến địa phương Tỉnh Quảng Ninh là một ví dụ: Căn cứ Nghịđịnh số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các
cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương, Sở Nội vụ đã tham mưu, trình Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành các Quyếtđịnh về sắp xếp, quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhândân tỉnh, trong đó hợp nhất, sáp nhập, thành lập mới, giải thể, đổi tên một sốphòng, ban, Trung tâm, Chi cục trực thuộc các Sở, ban, ngành, đặc biệt làthành lập mới Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Quảng Ninh, Chi cụcDân số- Kế hoạch hoá gia đình tỉnh Quảng Ninh Đến nay trực thuộc UBND tỉnh
có 19 cơ quan chuyên môn, như vậy sau khi thực hiện việc sắp xếp lại, các cơquan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh đã giảm được 6 cơ quan Các lĩnhvực công việc, chức năng, nhiệm vụ mới vừa được giao và bổ sung thêm đượccác cơ quan, tập trung giải quyết và kịp thời tham mưu, đề xuất với tỉnh, gópphần quan trọng vào việc ổn định, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giaocủa cơ quan nói riêng và của tỉnh Quảng Ninh nói chung
Trước năm 2001, một số cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh nơi ítnhất là 17 cơ quan ( tỉnh Bắn Kạn), nơi nhiều nhất là 27 cơ quan ( Hà Nội, thànhphố Hồ Chí Minh), sau đó rà soát và theo chỉ đạo của Chính phủ, các tỉnh, thànhphố điều chỉnh có giảm xuống tính ra trung bình là 23 cơ quan ( năm 2003).Theo Nghị định 171/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 thì cơ quan chuyên môn
Trang 21thuộc UBND cấp tỉnh được quy định có 19 sở và tương đương được quy định
“cứng” thống nhất trên toàn quốc và 8 đầu mối “ mềm” được thành lập tùy theođặc thù của từng địa phương như Sở Du lịch, Sở Thủy sản, Sở Ngoại vụ, Tuynhiên khung cơ cấu này cũng bị phá vỡ bởi Nghị định 122/2005/NĐ-CP ngày04/10/2005 đã cho phép thành lập Ban thi đua khen thưởng là cơ quan chuyênmôn trực thuộc UBND cấp tỉnh [14, tr 60 ]
Còn theo Nghị định 13/2008 ngày 04/02/2008 có 17 sở và có ba cơ quanđược thành lập theo đặc thù riêng của mỗi tỉnh là Sở Ngoại vụ; Ban dân tộc; Sởquy hoạch kiến trúc
Hiện nay, việc tổ chức số lượng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh
là không giống nhau mà phù hợp với điều kiên tự nhiên, dân số, tình hình pháttriển kinh tế-xã hội của từng địa phương và yêu cầu cải cách hành chính nhànước Một số tỉnh, thành phố có số lượng cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ bannhân dân tỉnh cao như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, UBND một số tỉnh nhưĐồng Nai, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng có 23 cơ quan chuyên môn Bên cạnh đó một sốtỉnh còn thành lập Ban quản lý các khu công nghiệp- khu chế xuất, Ban quản lýkhu đô thị, Ban quản lý khu kinh tế là cơ quan có chức năng quản lý hành chínhthuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh tuy nhiên việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và có cơ cấu tổ chức theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ Theothống kê năm 2001, số cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh của
61 tỉnh, thành phố là 1.374 cơ quan, đến tháng 8/2005 với 64 tỉnh, thành phố con
số này lên tới 1.536 cơ quan, tăng 162 cơ quan (tính trung bình mỗi tỉnh, thànhphố tăng thêm 1,4 đầu mối cơ quan chuyên môn) [14, tr60 ]
Có thể thấy cơ cấu, tổ chức của các cơ quan vẫn mang nặng dấu ấn của cơchế cũ tập trung, quan liêu, việc hình thành cơ cấu tổ chức vẫn theo kiểu cơ họctheo kiểu chức năng, nhiệm vụ, khối lượng công việc đến đâu thì thành lập cơcấu tổ chức đến đó Đúng ra thay vì mở rộng quy mô cơ cấu, tổ chức bộ máy đểđối phó với tính chất phức tạp và khối lượng công việc quản lý tăng lên thì phải
Trang 22nâng cao chất lượng của tổ chức thông qua ứng dụng khoa học, đổi mới phươngthức hoạt động, chế độ làm việc.
Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh làm việc theo chế độ thủtrưởng, với người đứng đầu cơ quan chuyên môn là Giám đốc sở, Phó giám đốc
sở là người giúp giám đốc sở chỉ đạo một số mặt công tác và chịu trách nhiệmtrước Giám đốc sở và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công Số lượngphó giám đốc sở không quá ba người, riêng ở UBND thành phố Hà Nội; UBNDthành phố Hồ Chí Minh không quá bốn người
Pháp luật hiện hành đã quy định một khuôn khổ thể chế thống nhất về tổchức và hoạt động của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh theo hướngtinh gọn, hợp lý Cũng như xác định rõ nguyên tắc thành lập, tính chất, vị trí,chức năng, cơ cấu tổ chức, chế độ làm việc, mối quan hệ công tác của các cơquan chuyên môn thuộc UBND, đặc biệt là quy định về việc ủy quyền và đề caotrách nhiệm của thủ trưởng cơ quan chuyên môn trong việc giúp UBND thựchiện quản lý nhà nước ở địa phương Tuy nhiên các tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương thường có số lượng sở, ngành giống nhau trong khi lại có đặc điểm,quy mô khác nhau Bên cạnh đó, sự thay đổi các bộ ở trung ương cũng dẫn tới
sự thay đổi các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh Trong khi đó tổchức cơ quan hành chính giữa nông thôn và đô thị chưa có sự phân biệt cũngảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của các cơ quan này
Với vị trí của mình trong những năm qua các cơ quan chuyên môn thuộcUBND tỉnh đã tổ chức, cải tiến phương thức quản lý, lề lối làm việc, bộ máygọn nhẹ hơn Nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế: số lượng các sở
và tương đương vẫn còn nhiều, cơ cấu tổ chức còn cồng kềnh, còn chồng chéochức năng nhiệm vụ, quyền hạn với các tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ đặttại địa phương Vì thế một trong những mục tiêu của chương trình tổng thể cảicách hành chính nhà nước là cải cách tổ chức bộ máy chính quyền địa phươngtrong đó có các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh
Trang 232.2 Thực trạng về hoạt động của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
Theo quy định của pháp luật hiện hành hiệu quả hoạt động của UBND cấptỉnh được đảm bảo bằng hiệu quả hoạt động của tập thể UBND, Chủ tịch UBND
và các thành viên khác của UBND và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND.UBND thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình thông qua các hình thức hoạtđộng chủ yếu sau
2.2.1 Phiên họp của Uỷ ban nhân dân.
Trong tổ chức và hoạt động của UBND từ trước đến nay luôn quán triệtnguyên tắc tập thể lãng đạo cá nhân phụ trách kết hợp với chế độ thủ trưởng.Nguyên tắc này có sự vận động qua mỗi giai đoạn tuy nhiên vai trò tập thể củaUBND luôn được đề cao
Các phiên họp của UBND là hình thức hoạt động tập thể, có ý nghĩa quyếtđịnh đến toàn bộ hoạt động của UBND cấp tỉnh Theo quy định của pháp luậthiện hành UBND họp mỗi tháng ít nhất một lần ngoài ra còn có các cuộc họpbất thường để giải quyết các công việc cấp bách trên địa phương mình theo yêucầu của Chủ tịch UBND hoặc theo đề nghị của ít nhất 1/3 tổng số thành viênUBND cấp tỉnh Chủ tịch UBND là người chủ tọa các phiên họp, trong một sốtrường gợp Chủ tịch có thể giao cho Phó Chủ tịch chủ tọa các cuộc họp Cácthành viên UBND phải mặt đầy đủ trong trường hợp vắng mặt phải được sựđồng ý của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
Phiên họp của UBND cấp tỉnh thể hiện trí tuệ của cả tập thể, thảo luận dânchủ, quyết định những vấn đề quan trọng đồng thời phiên họp còn thể hiện sựtham gia của người dân đối với các vấn đề ở địa phương thông qua việc: Chủtịch ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể nhândân ở địa phương được mời tham dự các phiên họp của UBND tỉnh khi bàn cácvấn đề có liên quan; trưởng ban, phó trưởng ban các ban của Hội đồng nhân dân;thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND nhưng không phải là thànhviên của UBND tham dự các phiên họp khi bàn các vấn đề có liên quan Trongviệc tham gia các phiên họp của UBND có thể thấy Chủ tịch ủy ban mặt trận tổ
Trang 24quốc là người được mời tham các phiên họp thường kỳ của UBND Còn nhữngngười đứng đầu các đoàn thể nhân dân ở địa phương như: chủ tịch Hội nôngdân, chủ tịch Hội cựu chiến binh, chủ tịch Công đoàn,…thì tùy thuộc nội dungcủa phiên họp mà được mời Những người được mời tham dự có thể được phátbiểu ý kiến nhưng không có quyền được biểu quyết những vấn đề nằm trongchương trình cuộc họp, tuy vậy nó cũng giúp UBND nắm được tình hình thực tế
để ra quyết định, chỉ thị phù hợp Như vậy chính sự tham gia của các đoạn thểnhân dân đã góp phần nâng cao chất lượng phiên họp của UBND cấp tỉnh
Theo điều 124 Luật tổ HĐND và UBND năm 2003 UBND thảo luận tậpthể và quyết định theo đa số các vấn đề sau đây:
“ - Chương trình làm việc của Uỷ ban nhân dân;
- Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, dự toán ngân sách, quyết toán ngânsách hang năm và quỹ dự trữ của địa phương trình Hội đồng nhân dân quyếtđịnh;
- Kế hoạch đầu tư, xây dựng các công trình trọng điểm ở địa phương trìnhHội đồng nhân dân quyết định;
- Kế hoạch huy động nhân lực, tài chính để giải quyết các vấn đề cấp báchcủa địa phương trình Hội đồng nhân dân quyết định;
- Các biện pháp thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân về kinh tế -xãhội; thông qua báo cáo của Uỷ ban nhân dân trước khi trình Hội đồng nhân dân;
- Đề án thành lập mới, sáp nhập, giải thể các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷban nhân dân và việc thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính ởđịa phương”
Các quyết định của UBND phải được quá nửa tổng số thành viên củaUBND biểu quyết tán thành nó biểu hiện tính đồng thuận của tập thể UBNDcũng như đảm bảo quyết định có tính khả thi cao nhất khi đưa vào cuộc sống
Có thể thấy phiên họp của UBND là hình thức hoạt động chủ yếu và quan trọngnhất bởi:
Trang 25+ Phiên họp với sự tham gia của tất cả các thành viên của UBND cấp tỉnhcũng như sự tham dự của các tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể.
+ Tại phiên họp phần lớn nhiệm vụ quyền hạn của UBND cấp tỉnh đượcthực hiện Theo Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 Nhiệm vụ quyền hạncủa UBND cấp tỉnh được quy định từ Điều 82 đến Điều 96 bao trùm lên các lĩnhvực: xây dựng, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội; phát triển ngành,phát triển đô thị và nông thôn trong phạn vị quản lý; tham gia với các bộ ngànhtrung ương trong việc phân vùng kinh tế; lập dự toán thu ngân sách nhà nướctrêng địa bàn; chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triểnnông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, kế hoạch sử dụng đất; xây dựng quyhoạch kế hoạch phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của tỉnh, xây dựng
và thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới giao thông của tỉnh cũngnhư tổ chực quản lý công trình giao thông; thực hiện quản lý nhà nước ở địaphương đối với các lĩnh vực giáo dục đào tạo, văn hóa thông tinh, thể dục thểthao, y tế xã hội, khoa học và công nghệ, đảm bảo giữ vững quốc phòng an ninh
và trật tự an toàn xã hội; thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo đảmbảo thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc và thực hiện các nhiệm vụquyền hạn của mình trong lĩnh vực thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền vàquản lý địa giới hành chính
Bên cạnh đó đối với các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,Cần Thơ,… thì tại các phiên họp của UBND các vấn đề như giao thông đô thị, ônhiễm môi trường, sử dụng đất đai, phát triển hạ tầng đô thị…là những vấn đềluôn được quan tâm thảo luận
Tuy nhiên trên thực tế hiện nay phiên họp của UBND vẫn còn mang tínhhình thức, nhiều phiên họp chỉ mang tính chất báo cáo, hiệu quả phiên họp chưacao Trước tình hình đó, ngày 25/5/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định114/2006/QĐ-TTg ban hành chế độ hội họp trong hoạt động của các cơ quanquản lý nhà nước với mục đích làm giảm bớt số lượng, nâng cao chất lượng cáccuộc họp Có thể thấy rằng UBND là cơ quan chấp hành của HĐND là cơ quan
Trang 26hằng ngày tiếp xúc với người dân, vừa trực thuộc chiều “ngang”, chiều “dọc” vìthế có một thực tế là khi thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước trongnhiều phiên họp của UBND cấp tỉnh chỉ chú trọng vào việc tổ chức thực hiệncác văn bản pháp luật, mệnh lệnh của cơ quan hành chính cấp trên mà chưa chútrọng đến việc thực hiện nghị quyết của HĐND cùng cấp Uỷ ban nhân dân cáccấp khác cũng rơi vào tình trạng đó.
Trong phạm vi, nhiệm vụ của mình UBND cấp tỉnh ra quyết định, chỉ thị và
tổ chức thực hiện chúng
Quyết định được dùng để ban hành các chủ trương, biện pháp cụ thể đểthực hiện pháp luật, các chủ trương chính sách của Chính phủ, Thủ tướng Chínhphủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Nghịquyết của HĐND cùng cấp, quyết định về tổ chức và nhân sự thuộc thẩm quyềncủa UBND, để tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra đối với các cơ quan tổchức trong việc chấp hành pháp luật của nhà nước và những vấn đề khác thuộcthẩm quyền của UBND
Chỉ thị để truyền đạt và chỉ đạo thực hiện các chủ trương chính sách củacấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, giao nhiệm vụ cho cơ quan hànhchính cấp dưới,
Là cơ quan quản lý có thẩm quyền chung, UBND cấp tỉnh có thẩm quyềnban hành các quyết định tuy nhiên có thể thấy thời gian qua một số quyết địnhcủa UBND cấp tỉnh đã không đem lại hiệu quả, ngay từ khâu đầu tiên của quátrình áp dụng đã bộc lộ nhiều bất cập, không phù hợp với thực tế; một số nơiUBND tỉnh ban hành quyết định vượt quá thẩm quyền Qua đợt kiểm tra vănbản quy phạm pháp luật (QPPL) trong công tác tổ chức nhà nước tại một số tỉnhphía Nam ( Đắc Lắc, Khánh Hòa, Trà Vinh, An Giang, Tây Ninh) khi xem xét
252 văn bản có nội dung thuộc lĩnh vực tổ chức nhà nước do HĐND, UBNDtỉnh ban hành trong đó có 133 văn bản QPPL gồm: 31 Nghị quyết của HĐND,
91 Quyết định của UBND, 11 Chỉ thị của UBND thì thấy mắc phải một số hạnchế như: việc ban hành văn bản QPPL còn có nội dung không đúng với quy định
Trang 27hiện hành (34/133 văn bản), 42/133 văn bản ban hành thiếu căn cứ, sử dụng căn
cứ ban hành văn bản QPPL không phải là căn cứ pháp lý [19, tr 29]
Trong thời gian qua chúng ta đang dần thực hiện việc phân cấp quản lý chođịa phương tuy nhiên đã thấy thấp thoáng những ý định quyết định không phùhợp của một số địa phương với những quy định pháp luật chung và với lợi ích
và sự phát triển của các địa phương lân cận, liên quan như: việc đóng cửa rừng
và cấm xuất gỗ ra ngoại tỉnh của Tuyên Quang, ý định cấm xe máy ngoại tỉnhvào thành phố của Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,….Như vậy bên cạnh việccho phép các địa phương chủ động linh hoạt trong điều hành, chỉ đạo thì cũngcần bảo đảm cho việc điều hành quản lý hành chính trong cả nước thống nhất,thông suốt, nhất là khi có những hiện tượng bất thường thì có thể kịp thời xửlý.Vì vậy có thể nói phiên họp của UBND tỉnh có ý nghĩa rất quan trọng trongviệc đưa ra các quyết định Một quyết định phù hợp sẽ có tác định tích cực đốivới hoạt động quản lý và ngược lại Sau mỗi phiên họp thường có nhiều quyếtđịnh quản lý quan trọng được ban hành Vì thế để phiên họp của Uỷ ban nhândân tỉnh thực sự hiệu quả thì cần thiết phải nâng cao chất lượng của các quyếtđịnh được ban hành
2.2.2 Hoạt động của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân.
Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003 đã cónhững thay đổi căn bản, tương đối toàn diện và mạnh mẽ với nhiều nội dungmới, tạo thành hành lang pháp lý cho việc đổi mới và tổ chức hoạt động củaUBND nói chung, UBND cấp tỉnh nói riêng đó là việc thực hiện chủ trươngtừng bước phân cấp mạnh hơn cho các cấp chính quyền địa phương, đặc biệt làviệc phân định khá cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn cũng như trách nhiệm giữaUBND và cá nhân Chủ tịch UBND
Hoạt động của Chủ tịch UBND tỉnh được xác định là hình thức hoạt độngthường xuyên Đây là một hình thức hoạt động mới của UBND so với quy địnhtrong Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1989 Chủ tịchUBND đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của UBND cấp tỉnh, là người
Trang 28lãnh đạo và điều hành công việc của Uỷ ban nhân dân, chịu trách nhiệm cá nhân
về việc thực hiện nhiệm vụ của mình, cùng với tập thể UBND chịu trách nhiệm
về hoạt động của UBND trước HĐND cùng cấp và trước cơ quan nhà nước cấptrên So với trước đây nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch được bổ sung thêm vàđược quy định tại Điều 127 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhândân năm 2003:
- Với vai trò là người đứng đầu, Chủ tịch UBND lãnh đạo công tác của Uỷban nhân dân cấp tỉnh, các thành viên của Uỷ ban nhân dân, các cơ quan chuyênmôn thuộc UBND thông qua việc đôn đốc, kiểm tra công tác của các cơ quanchuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp mình và UBND cấp dưới trong việcthực hiện Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghịquyết của HĐND và quyết định, chỉ thị của UBND cùng cấp;
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chủ tịch Uỷ bannhân dân thực hiện các biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động: áp dụng cácbiện pháp nhằm cải tiến lề lối làm việc, quản lý và điều hành bộ máy hành chínhhoạt động có hiệu quả; ngăn ngừa và đấu tranh các biểu hiện quan liêu, thiếutrách nhiệm, cửa quyền, tham nhũng,… của cán bộ, công chức và trong bộ máychính quyền địa phương
- Triệu tập và chủ tọa các phiên họp của UBND Trong phiên họp Chủ tịchUBND cấp tỉnh trực tiếp điều hành để giải quyết, tháo gỡ công việc quản lý trênđịa bàn tỉnh Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào năng lực cán bộ vàthực tế ở địa phương mà quyết định phân công công tác cụ thể cho từng phó chủtịch UBND tỉnh
- Với vị trí là người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước cấp trên, Chủtịch UBND tỉnh: phê chuẩn kết quả bầu cử các thành viên UBND cấp dưới trựctiếp, điều động, đình chỉ công tác, miễn nhiệm, cách chức chủ tịch, phó chủ tịchUBND cấp dưới trực tiếp; phê chuẩn việc miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viênUBND cấp dưới trực tiếp; bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, cách chức, khenthưởng, kỷ luật cán bộ, công chức nhà nước theo sự phân cấp quản lý
Trang 29- Để tạo sự chủ động của Chủ tịch UBND trong điều hành công việc, đảmbảo các quy định pháp luật được thực hiện một cách đúng đắn, Chủ tịch UBNDcấp tỉnh có quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản trái phápluật của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp mình, văn bản trái pháp luật củaUBND, Chủ tịch UBND cấp dưới trực tiếp; đình chỉ thi hành nghị quyết tráipháp luật của HĐND cấp dưới trực tiếp và đề nghị HĐND cấp mình bãi bỏ.
- Chủ tịch UBND chỉ đạo và áp dụng các biện pháp để giải quyết công việcđột xuất, khẩn cấp trong phòng chống thiên tai, cháy nổ, dịch bệnh, an ninh trật
tự và báo cáo Uỷ ban nhân dân trong phiên họp gần nhất Đây là một quy địnhmới so với Luật tổ chức Hộ đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 1994 Bên cạnh
đó Chủ tịch UBND tỉnh có thể được mời tham dự phiên họp của chính phủ khibàn vấn đề có liên quan
Theo quy định của pháp luật hiện hành, Chủ tịch UBND ra quyết định, chỉthị để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình
Như vậy có thể thấy vai trò thủ trưởng của Chủ tịch UBND cấp tỉnh đượcHiến pháp 1992 và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định khá nổibật với tư cách là người lãnh đạo, điều hành hoạt động của UBND Chính việclàm rõ vai trò, trách nhiệm cá nhân không chỉ tạo cho người được giao nhiệm vụlinh hoạt, chủ động trong công việc mà còn làm cho họ có trách nhiệm hơn trongviệc thực hiện các quyết định, hoạt động của mình, cũng có nghĩa là làm chohoạt động của tổ chức, cơ quan tự chủ hơn, sáng tạo hơn Việc xác định rõ ràngtrách nhiệm tập thể và trách nhiệm cá nhân người đứng đầu, đảm bảo để nhữngcông việc quan trọng vẫn phải được tập thể xem xét quyết định đồng thời làmcho người đứng đầu UBND tỉnh phát huy tính năng động
2.2.3 Hoạt động của các phó chủ tịch, các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân, thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh
Hoạt động của các phó chủ tịch, các thành viên khác của UBND, thủ trưởngcác cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh là hình thức hoạt động thườngxuyên và hàng ngày trực tiếp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao để giải