Cơ sở xây dựng và nội dung cơ bản của luật việc làm ở Việt Nam
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Việc làm và thất nghiệp là vấn đề vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hộisâu sắc Vấn đề việc làm và thất nghiệp là một trong những thước đo quan trọng cho
sự phát triển của một quốc gia, vì vậy hai vấn đề này luôn được mỗi quốc gia nóiriêng và toàn thế giới nói chung quan tâm, coi trọng Việc làm không chỉ mang lạicho con người cơ hội kiếm sống mà còn mang lại cho con người cơ hội để khẳngđịnh bản thân, tìm kiếm địa vị trong xã hội
Việc làm và thất nghiệp trong những năm qua đã trở thành vấn đề được nhiềungành nhiều cấp quan tâm, nghiên cứu từ những vấn đề vĩ mô đến các vấn đề vi mônhất Việt Nam là một quốc gia có nguồn nhân lực dồi dào, và NLĐ cần cù, thôngminh, chăm chỉ là một yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên hiệnnay, khi nước ta đang bước vào quá trình hội nhập toàn cầu hóa, khu vực hóa, dướisức ép của thị trường thì vấn nạn thất nghiệp luôn là mối quan tâm hàng đầu trongcuộc sống mà trong thực tiễn giải quyết việc làm cho người dân vẫn là một khó khăn,đòi hỏi sự hỗ trợ của toàn xã hội, Nhà nước va mỗi người
Việc làm cũng là một chế định quan trọng của luật Lao động, tuy nhiên chưa cómột văn bản pháp lý riêng đủ lớn danh cho lĩnh vực này Vì vậy, pháp luật về việclàm trên thực tế còn nhiều hạn chế và tính thực thi chưa cao Yêu cầu đặt ra là làmsao tạo nên tính thống nhất, đồng bộ trong pháp luật về việc làm để đáp ứng tốt hơnnhững đòi hỏi của xã hội
2 Tình hình nghiên cứu:
Xuất phát từ tính quan trọng của vấn đề nghiên cứu mà vấn đề việc làm và giảiquyết việc làm đã được nghiên cứu khá nhiều từ cấp nhà nước đến những bài viết trêntạp chí Các công trình nghiên cứu tiếp cận ở những góc độ khác nhau như kinh tế -
xã hội, luật học, tuy nhiên mỗi cách nghiên cứu lại tập trung vào mỗi góc độ khácnhau và phần lớn phục vụ cho lĩnh vực kinh tế xã hội
3 Phương pháp nghiên cứu:
Bài khóa luận được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng,duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin Ngoài ra bài viết còn được nghiên cứu dưới
Trang 2nhiều phương pháp cụ thể như: phân tích, tổng hợp, chứng minh, quy nạp, so sánh,thống kê .v v.
4 Mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:
Bài khóa luận góp phần xây dựng quan điểm lý luận pháp lý chuyên ngành vềviệc làm và giải quyết việc làm trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa Nghiên cứu và đánh giá các thông tin về việc làm và giải quyết việc làm trongthời kỳ hội nhập kinh tế thế giới Với đề tài "Cơ sở xây dựng và nội dung cơ bản củaluật việc làm ở Việt Nam" bài viết tập trung nghiên cứu trong phạm vi đường lối,chính sách, pháp luật, thực tiễn áp dụng và giải quyết vấn đề về việc làm ở Việt Nam
Về lý luận bài viết tập trung vào hai vấn đề lớn là cơ sở xây dựng và nội dung củapháp luật về việc làm hiện nay Về phương diện thực tiễn, bài viết là rõ các vấn đề vềthực tiễn pháp luật việc làm cũng như thực tiễn áp dụng, thực tiễn giải quyết vấn đềviệc làm trong các giai đoạn lịch sử phát triển
5 Đóng góp của đề tài:
Về mặt lý luận, đề tài nghiên cứu, làm rõ các khác niệm về việc làm và các vấn
đề liên quan như thất nghiệp, tầm quan trọng của việc làm, giải quyết việc làm Đềtài cũng đóng góp thêm trong việc hệ thống các kiến thức khoa học về việc làm Vềthực tiễn: đề tài cũng nghiên cứu và cung cấp những số liệu và các thông tin liên quan
về việc làm, lực lượng lao động trong những năm qua
6 Kết cấu của bài viết:
Với đề tài "Cơ sở xây dựng và nội dung cơ bản của luật việc làm ở Việt Nam",ngoài phần lời nói đầu, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận, bài viết kết cầu gồm 3chương:
Lời nói đầu
Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về việc làm và pháp luật về việc làm.Chương II: Thực trạng pháp luật việc làm ở Việt Nam
Chương III: Hoàn thiện pháp luật việc làm ở Việt Nam
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 3CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VIỆC LÀM VÀ
PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM 1.1 Khái quát chung về việc làm:
1.1.1 Khái niệm việc làm:
Lao động và việc làm là những phạm trù dù nhìn ở góc độ nào: kinh tế, xã hội,khoa học cũng là một vấn đề lớn cần quan tâm và nghiên cứu Dưới những góc độkhác nhau thì vấn đề lao động nói chung và việc làm nói riêng được tiếp cận ở nhữngmức độ và khía cạnh khác nhau
1.1.1.1 Dưới góc độ kinh tế-xã hội học:
Dưới góc độ kinh tế học, lao động là hình thức mà qua đó con người tác độnglên tự nhiên và thế giới xung quanh nhằm duy trì sự tồn tại cho bản thân Hiện nay,quá trình lao động của con người - được thể hiện cụ thể thông qua các hình thức việclàm của từng người - chính là phương thức, công cụ để con người không chỉ đáp ứngnhu cầu bản thân mà còn là cơ hội để khẳng định chính mình, góp phần phát triểnkinh tế-xã hội Về quan niệm việc làm có rất nhiều học giả cố gắng đưa ra khái niệmdưới những góc độ khác nhau như:
Theo H.A.Gô-rê-lốp thì: “Việc làm là một quan hệ sản xuất nảy sinh do có sựkết hợp giữa cá nhân người lao động với các phương tiện sản xuất” Cách nhìn nàydựa trên sự xem xét mối quan hệ giữa người lao động với tư liệu sản xuất
Đánh giá tích cực, có ích của con người vào hoạt động xã hội, không phân biếtloại hình hoạt động, Giáo sư Sô-nin và Phó tiến sĩ E.Jit-nôp (Liên Xô cũ) cho rằng:
“Việc làm là sự tham gia của người có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội
có ích trong khu vực xã hội hóa sản xuất, trong học tập, trong công việc nội trợ, trongkinh tế phụ của nông trang viên.”
Theo Guy Hân-tơ, Viện phát triển hải ngoại Luân-Đôn (Anh): “Việc làm theonghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả những gìquan hệ đến cách thức kiếm sống của con người, kể cả các quan hệ xã hội và các tiêuchuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế” Cách nhìn này dựa vàomục đích mưu sinh trong các hoạt động của con người để xác dịnh một việc làm.Theo Phó cố vấn kinh tế Giăng Mu-tê, Văn phòng lao động quốc tế: “Việc làm
Trang 4hiện vật, trong đó có sự tham gia tích cực, có tính chất cá nhân và trực tiếp sản xuất”.Theo cách định nghĩa này, Giăng Mu-tê đã lấy biểu hiện trả công trong quan hệ làmviệc để xác định một việc làm
Nhìn chung, với những cách nhìn khác nhau, người ta sẽ có quan điểm khácnhau về việc làm Song về cơ bản các khái niệm trên đã đưa ra được bản chất củaviệc làm, đó là: việc làm là những dạng thức hoạt động nhằm kiếm sống của conngười mà qua những dạng thức hoạt động đó con người bỏ sức lao động để đem lạithu nhập, thỏa mãn nhu cầu bản thân Việc làm luôn gắn liền với khái niệm "thunhập" Có thể nói, thu nhập là mục đích chính của việc làm hướng đến cho dù trongnhững hoàn cảnh cụ con người không thể hình dung ra đucọ thực tế sự trả công đang,
đã, hoặc sẽ diễn ra
Việc làm với tư cách là dạng thức lao động, luôn gắn liền với con người màkhông gắn liền với bất cứ loài động vật nào khác Bởi lẽ, để tiến hành được việc làmmột thì cần được thực hiện bởi ý chí, lý trí và tình cảm, mà lý trí, ý chí, tìnhnh cảmlại chỉ có ở con người, một đối tượng có nguồn gốc xã hội, mang dấu ấn xã hội sâusắc Để việc làm có thể biểu hiện ra thế giới xung quanh thì cần phải thông qua dưới
"sự làm việc" của con người Nếu nhìn nhận rộng hơn về phương diện xã hội, việclàm chính là những dạng hoạt động xã hội có sự liên quan, liên kết của các cá nhântrong xã hội Việc thực hiện một việc làm của người này thường liên quan đến ngườikia, và ngược lại Hơn nữa, có thể việc thực hiện việc làm này sẽ là điều kiện của việclàm khác, mà cũng có thể là hệ quả tiếp theo của việc làm trước đó
Như vậy, xét về phương diện kinh tê-xã hội, có thể hiểu việc làm là các dạng hoạt động đem lại lợi ích, thu nhập cho người lao động và với tư cách là các hoạt động của mỗi cá nhân nhưng lại luôn gắn liền với xã hội và được xã hội thừa nhận 1.1.1.2 Dưới góc độ Luật học:
Trong BLLĐ Việt Nam, khái niệm việc làm được ghi nhận là: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm ” Định nghĩa này vừa kế thừa vừa phát triển những quan điểm trước đây về
việc làm Theo pháp luật, việc làm được thừa nhận với hai điều kiện sau: một là, đó làhoạt động có ích của con người tạo ra nguồn thu nhập, hai là, không bị pháp luật cấm.Hoạt động lao động được pháp luật thừa nhận là: các công việc đem lại lợi nhuận cho
Trang 5bản thân; các công việc nhằm nhận tiền công, thù lao bằng tiền hoặc hiện vật; cáchoạt động cho bản thân và gia đình mà không đem lại những lợi nhuận bằng tiền hayhiện vật trực tiếp Quan điểm về việc làm hiện nay đã đáp ứng nhu cầu của bản thânngười lao động và đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế, xã hội Trước đây, trong nền kinh
tế tập trung, bao cấp thì việc làm chỉ được thừa nhận khi việc làm đó do nhà nước tạo
ra và người lao động phải nằm trong biên chế nhà nước Quan niệm này không có tácdụng khuyến khích người lao động chủ động, sáng tạo trong công việc của mình, tựtìm việc làm, kích thích nền kinh tế nhiều thành phần phát triển Hiện nay, thị trườngviệc làm đươc mở rộng trên rất nhiều thành phần kinh tế với duới nhiều quy mô khácnhau
Mặc dù được quy định cụ thể hay không, việc lam, về mặt pháp lý, chính lànhững dạng hoạt động có mục đích tích cực, được pháp luật của nhà nước thừa nhậnnhư là một bộ phận của quan hệ lao động trong xã hội Nó có thể hợp thành một chếđịnh pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội về việc làm
1.1.1.3 Việc làm theo quan điểm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO):
Theo quan niệm của ILO: “Người có việc làm là những người làm một việc gì
đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật, hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật” Có thể ghi nhận rằng, Tổ
chức Lao động quốc tế luôn chú trọng đến vấn đề việc làm và tình trạng thất nghiệptrên toàn thế giới cũng như với từng quốc gia nói riêng ILO luôn khuyến khích tạoviệc làm là mục tiêu quan trọng trong tôn chỉ hoạt động của mình Điều đó được thểhiện trong Điều lệ của cương lĩnh “chống nạn thất nghiệp, bảo đảm tiền công đủsống” 1919 và Tuyên ngôn Philadenphia 1944 “toàn dụng lao động và nâng cao mứcsống” Kế thừa và phát huy tinh thần của Cương lĩnh năm 1919, những năm sau này,ILO đã đề ra hàng loạt các trương trình, các chính sách, tổ chức thực hiện trên cácquốc gia nhằm đem lại hiệu quả việc làm cho người lao động như: Chương trình việclàm thế giới năm 1969 với mục tiêu tạo việc làm hiệu quả cho một số lượng lớnngười lao động, năm 1976, ILO tổ chức Hội nghị việc làm thế giới và trong hội nghị
đã thông qua Tuyên bố về các nguyên tắc và các chương trình hành động loại trừ
Trang 6của người lao động Ngoài ra, ILO còn ban hành nhiều công ước quan trọng về vấn
đề việc làm và chống thất nghiệp như: Công ước số 88 năm 1948 về tổ chức dịch vụviệc làm, Công ước số 122 năm 1964 về chính sách việc làm: Công ước số 159 năm
1983 về tái thích ứng nghề nghiệp và việc làm của người thất nghiệp Có thể nóirằng, những chính sách của ILO đã tạo tiền đề pháp lý cho việc đảm bảo quyền tự doviệc làm Trong những năm qua, chính sách việc làm của ILO có những bước pháttriển tích cực và hiện nay, mục tiêu của chính sách việc làm của tổ chức này là tạo cơhội cho phụ nữ tìm được việc làm phù hợp và đảm bảo bình đẳng với nam giới Với
xu hướng phát triển của nền kinh tế thị trường và sự phát triển của xã hội loài ngườingày càng tiến bộ văn minh hơn đã hình thành nên một khái niệm rất mới đó là “việclàm nhân văn” (Deccent Work) Khái niệm này ra đời là chính là mục tiêu lớn củacác quốc gia trên thế giới và của ILO Đây là một khái niệm đánh dấu bước phát triểnvượt bậc của nhận thức con người về việc làm Việc làm nhân văn là việc làm đápứng các điều kiện sau: chắc chắn hữu ích; tôn trọng các quyền lao động; với mức thùlao hợp lý tương xứng; bảo vệ các quyền xã hội; bảo đảm sự tham gia và thươnglượng tập thể, quyền tự do công đoàn và đối thoại xã hội; Gần đây, ILO đã khuyếncáo về việc làm xanh (Green Jobs) nhằm định hướng các quốc gia về việc làm gắnliền không chỉ với chất lượng sống như việc làm nhân văn, mà còn phải đảm bảo tính
an toàn về mặt môi trường cho người lao động cũng như với xung quanh
1.1.2 Việc làm và thất nghiệp:
Việc làm là phương thức để con người tồn tại, nếu không làm việc con người tồntại Hiện nay, khi nền kinh tế ngày càng được tự động hóa, kết hợp với sự gia tăngquá nhanh về dân số đã khiến cho một bộ phận không nhỏ người lao động thiếu việclàm Hiện tượng thiếu việc làm bao gồm thiếu việc là toàn bộ và thiếu việc làm mộtphần Thiếu việc làm có thể dẫn đến thất nghiệp
Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế xã hội phản ánh một trạng thái tồn tại khingười trong độ tuổi lao động mong muốn và có khả năng làm việc, rất tích cực tìmkiếm nhưng không tìm được việc làm vì lý do không có chỗ làm việc trống hoặc trình
độ chuyên môn không phù hợp Còn “người thất nghiệp” là người trong độ tuổi laođộng, có nhu cầu và khả năng lao động, đang không có việc làm, đang tìm việc làm,
Trang 7sẵn sàng đi làm việc ngay nếu có cơ hội, nhưng chưa được giải quyết việc làm tại mộtthời điểm nhất định
Thất nghiệp là một hiện tượng khách quan tồn tại dưới ba hình thức chính: thấtnghiệp tạm thời, thất nghiệp theo chu kỳ và thất nghiệp theo cơ cấu Thất nghiệp tạmthời xuất hiện do sự di chuyển của người lao động giữa các vùng, các khu kinh tế, cáccông việc, các giai đoạn khác nhau của cuộc sống Thất nghiệp có tính cơ cấu xảy rakhi mất cân đối giữa cung và cầu đối với người lao động Hiện tượng này có thể xảy
ra trong cơ cấu phân bố nguồn lao động của cả một quốc gia và cũng có thể Xảy ravới từng ngành nghề nhất định Thất nghiệp theo chu kỳ thể hiện qua việc người laođộng không tìm được một công việc trong một khoảng thời gian nhất định Hiệntượng này rất phổ biến và lặp lại có tinh chất “theo mùa”
Đối với người thất nghiệp, theo ILO thì những người sau đây nếu trong mộtkhoảng thời gian nhất định mà không có việc làm thì được coi là người thất nghiệp: Thứ nhất, là người không có việc làm: là những người không đi tìm việc làm,không có việc làm phù hợp, không có khả năng lao động, không có nghề
Thứ hai, người không có việc làm nhưng có khả năng làm việc, tích cực tìmkiếm việc làm nhưng trong một khoảng thời gian nhất định không tìm được việc hoặcđăng ký làm việc nhưng chưa có kết quả
Như vậy, việc làm và thất nghiệp là hai vấn đề của một chỉnh thể Không thể cóthất nghiệp khi con người đang chiếm hưu một việc làm, cho dù chỉ là chiếm hữu màkhông vận động Ở một khía cạnh nào đó, có thể nói, việc làm là điều kiện quan trọngquyết định tình trạng thất nghiệp trong xã hội
1.1.3 Phân loại việc làm:
Có nhiều cách phân loại việc làm khác nhau tùy theo những góc độ nghiên cứukhác nhau
Nếu căn cứ vào tính chất nguy hiểm, độc hại của việc làm thì có thể chia việc làm thành việc làm bình thường và việc làm khó khăn, độc hại, nguy hiểm Việc làm
bình thường là việc làm mà không có hoặc có nhưng chứa đựng rất ít những yếu tốkhó khăn, độc hại , nguy hiểm được thể hiện qua quá trình làm việc và hậu quả lâudài của công việc đó Chính vì vậy mà người lao động có thể trực tiếp làm hoặc tuy
Trang 8không để lại những hậu quả xấu cho tương lai Công việc khó khăn, nặng nhọc, độchại là các công việc chứa đựng những yếu tố như hóa học, vật lý, sinh học có hại vớingười lao động Người lao động khi phải trực tiếp làm công việc đó hoặc làm việctrong môi trường độc hại thì có thể ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe, tinh thần,làm ảnh hưởng đến khả năng lao động và để lại những di chứng cho tương lai Vì vậykhi muốn làm nhưng công việc đó người lao động cần có nhưng phương tiện bảo hộhoặc nhưng phương tiện có thể giúp người lao động không phải trực tiếp làm.
Căn cứ vào tình trạng của người lao động và yêu cầu đối với việc làm thì có thể chia công việc thành công việc dành cho người bình thường và công việc dành cho người đặc thù Tình trạng đặc thù của người lao động được thể hiện qua việc giới hạn
những công việc và giới hạn chịu được những công việc do nguyên nhân xuất phát từtình trạng cơ thể Người lao động có sự phát triển không bình thường hoặc khiếmkhuyết về cơ thể hoặc không phù hợp với tình trạng cơ thể khiến họ không có nhiều
cơ hội để thực hiện tất cả công việc Ví dụ như những công việc khó khăn, nặng nhọcđộc hại thường không phải là đối tượng của người lao động là phụ nữ, trẻ em, ngườitàn tật, người cao tuổi lựa chọn Những công việc đó đôi khi còn là đối tượng bị hạnchế với những người sử dụng lao động, không được phép sử dụng người lao động đặcthù
Căn cứ vào cách thức thực hiện công việc thì có thể chia việc làm thành hai loại
là việc làm chân tay và việc làm trí óc Đây là cách phân loại dựa trên cách phân loại
lao động chân tay và lao động trí óc Việc làm chân tay về cơ bản sử dụng nhiều sứckhỏe cơ thể, việc tư duy sâu thường sử dụng ở mức bình thường, không nhiều Tuynhiên, cách phân loại cổ điển này chỉ nói lên một tình trạng phân biệt có tính tươngđối Bởi vì, khi làm việc bằng trí óc, người ta phải sử dụng chân tay để hành động Vàngược lại, khi đang làm việc chân tay thì người lao động vẫn phải tư duy chứ khôngchỉ làm theo vô thức
Căn cứ vào tính thời gian của việc làm có thể chia việc làm thành hai loại là việc làm trọn ngày và việc làm không trọn ngày(từng phần) Việc làm trọn ngày hay
thường gọi đầy đủ thời gian ("full time"), đây là hình thức việc làm trong đó ngườilao động dành trọn ngày làm việc để thực hiện một loại công việc nhất định Việclàm từng phần hay thường gọi là việc làm bán thời gian ("part time"), việc làm theo
Trang 9ca giờ, đây là hình thức làm việc trong đó người lao động chỉ sử dụng một phần thờigian của một ngày làm việc để giải quyết một công việc nhất định Điều này có thểxuất phát từ tính chất công việc đòi hỏi không cần nhiều thời gian trong một ngàyhoặc xuất phát từ khả năng làm việc của người lao động không thể dành hết thời gianmột ngày làm việc cho công việc đó.
1.1.4 Đặc điểm của việc làm:
Thứ nhất, việc làm có tính xã hội: việc làm là sáng tạo của xã hội loài người và
đồng thời là cơ sở của mọi sinh họat xã hội của con người Thực chất đời sống sinhhoạt xã hội của mọi thời đại đều gắn với việc làm, qua các trao đổi việc làm Bêncạnh tính chất kinh tế thì việc làm còn mang tính xã hội rất cao Điều đó được thểhiện thông qua các khía cạnh sau:
Thứ nhất, việc làm có lịch sử xã hội lâu dài, từ việc con người chỉ biết săn bắn,hát lượm trái cây có sẵn trong tự nhiên đến việc cải tạo tự nhiên để đáp ứng nhu cầubản thân và xã hội Con người tác động vào tự nhiên từ việc phụ thuộc hoàn toàn vào
tự nhiên đến việc bắt tự nhiên phục vụ con người Trong quá trình phát triển đó, việclàm như một yếu tố quyết định đến nền văn minh của con người Việc làm càng phứctạp thì con người càng phát triển, nền văn minh của con người càng cao, con ngườicàng trở nên thông minh, xã hội càng phát triển
Thứ hai, mỗi con người là một cá thể độc lập, việc làm của mỗi người cũng cótính độc lập tương đối Tuy nhiên, con người là một cá thể nằm trong tổng hòa cácmối quan hệ với thế giới và việc làm của mỗi con người cũng phải nằm trong mốiquan hệ với các yếu tố khác Như vậy, việc làm con mang tính xã hội thể hiện ở việclàm của mỗi người luôn gắn liền với các hoạt động hoạt động sản xuất của xã hội.Việc làm của mỗi cá nhân không chỉ nuôi sống cá nhân đó mà còn có thể nuôi sốnggia đình họ và góp phần vào sự phát triển của xã hội
Thứ hai, việc làm có tính kinh tế: khi tiến hành bất kỳ một công việc nào, người
ta đều tạo ra những giá trị sử dụng nhất định Những giá trị đó có thể vô hình (sảnphẩm trí tuệ) hoặc hữu hình (các đồ vật) đều là thành quả của sự lao động thông quamột việc làm Dưới góc độ kinh tế, việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhânngười lao động, xuất phát từ nhu cầu mưu sinh cơ bản nhất của con người
Trang 10sống con người, chính lao động đã tạo ra chính bản thân con người Hiện nay, sức laođộng được coi là một loại hàng hóa đặc biệt, bởi lẽ nó không chỉ nuôi sống bản thânngười lao động mà còn tạo ra lợi nhuận rất lớn cho người lao động Người lao độngtham gia vào công việc nào đó để được trả công, hoặc tự tạo ra các việc làm để tiếnhành sản xuất, tạo ra của cải vật chất Mức tiền công cho người lao động phụ thuộcvào nhiều yếu tố nhưng quan trọng nhất là giá trị việc làm, việc làm càng có giá trịcao thì mức trả công càng lớn.
Thứ ba, việc làm là một phạm trù mang tính đạo lý: Việc làm, sự tiến hành một
công việc trong bất cứ phạm vi rộng, hẹp nào đều liên quan và thể hiện tính đạo lýsâu sắc Một việc làm được coi là vô lương luôn luôn bị xã hội lên án, bài xích vàkhông thừa nhận Một việc làm, dù đơn giản nhưng có tính nhân văn, vì con người,đều được tôn trọng Người làm việc tốt sẽ được xã hội tôn trọng, ca ngợi, và ngượclại, sẽ bị lên án
Trong xã hội có nhà nước, việc làm được luật pháp quan tâm quy định và bảo
vệ Việc làm phát triển từ chỗ quy định những việc mà người ta sống trong cộng đồngđược làm, ngày nay đã phát triển thành quy tắc rộng rãi: người ta có quyền làmnhững gì mà pháp luật không cấm
Thứ tư,việc làm có tính hệ thống: mỗi việc làm đều gắn với một hệ thống ngành
nghề kinh tế quốc dân Việc phân chia đó nhằm tạo ra những cơ sở để nghiên cứu,phân tích, xác định, thực hiện việc làm một cách khoa học Đồng thời để đảm bảo choviệc trả công lao động, thực hiện các chính sách đối với người lao động
1.1.5 Mối quan hệ về việc làm với quan hệ pháp luật lao động:
Việc làm là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ pháp luật lao động Lao
động là phương thức tác động lên thế giới xung quanh để con người duy trì sự tồn tạicủa bản thân, lao động được biểu hiện thông qua việc làm và sự làm việc của conngười Trong quá trình làm việc đó con người không chỉ tác động lên thế giới tựnhiên mà còn tạo ra những mối quan hệ giữa con người với con người Đó là quan hệgiữa người lao động với người lao động, và hiểu theo một nghĩa hẹp hơn trong nềnkinh tế thị trường là quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động Xuấtphát từ nhu cầu của hai bên, người sử dụng có nhu cầu làm việc, còn người sử dụnglao động lại muốn sử dụng sức lao động của người lao động , hai bên thương lượng
Trang 11và thỏa thuận với nhau Kết quả của việc thương lượng, thỏa thuận thành công là cơ
sở tạo nên quan hệ lao động Hiện nay, nhà nước điều chỉnh mối quan hệ này bằngpháp luật, vì vậy quan hệ này gọi là quan hệ pháp luật lao động Như vây, có thể nóirằng, quan hệ pháp luật lao động được hình thành dựa trên việc làm, việc làm là cơ sở
để thiết lập mối quan hệ giữa người sử dụng lao động
Việc làm là nội dung chủ yếu của quan hệ pháp luật lao động Xuất phát từ ý
nghĩa việc làm là điều kiện tiên quyết để hình thành mối quan hệ pháp luật lao độngthì việc làm cũng chính là nội dung chủ yếu thể hiện trong quan hệ pháp luật laođộng Trong nội dung của quan hệ pháp luật lao động tồn tại quyền và nghĩa vụ củangười lao động và người sử dụng lao động Sở dĩ tồn tại quyền và nghĩa vụ của haibên là do nhu cầu việc làm của người lao động và nhu cầu sử dụng sức lao động củangười sử dụng lao động, khiến hai bên buộc phải ký kết hợp đồng lao động Tronghợp đồng lao động đó, cả hai bên đều muốn bảo đảm nhu cầu của mình liên quan đếnviệc làm nên các điều thỏa thuận trong đó phần lớn lớn liên quan đến việc làm như:làm việc gì?, tiền lương khi làm việc đó, thời gian làm việc
Việc làm là cơ sở để duy trì quan hệ pháp lao động Vì việc làm là điều kiện
hình thành và là nội dung chủ yếu của quan hệ pháp luật nên việc làm cũng chính làyếu tố tồn tại của quan hệ pháp luật lao động Sự tồn tại của việc làm chính là sự tồntại của mối quan hệ giữa người lao động với người sử dụng lao động Đây là yếu tốduy trì quan hệ này, không có việc làm thì không còn cầu nối giữa hai loại chủ thểnày và việc thỏa thuận giữa hai bên cung khó có thể tồn tại Khi công việc kết thúcthì họp đồng giữa hai bên cũng kết thúc, quyền và nghĩa vụ cũng chấm dứt, khi côngviệc thay đổi thì nội dung hợp đồng thay đổi và mối quan hệ cũng thay đổi theo
1.1.6 Vai trò của việc làm và giải quyết việc làm:
Việc làm và giải quyết việc làm là vấn đề rất quan trọng của đời sống kinh tế,
xã hội, pháp luật Hiện nay, việc làm luôn được các quốc gia đặc biệt quan tâm, không chỉ trên phạm vi một nước mà còn có sự liên kết giữa các quốc gia để giải quyết những vấn đề liên quan.
Tầm quan trọng của việc làm thể hiện trước hết đối với bản thân người lao động,việc làm là phương tiện để con người tồn tại, là cơ hội để con người được làm việc và
Trang 12khẳng định bản thân Có việc làm thì con người mới đáp ứng được những nhu cầucủa cá nhân và gia đình.
Việc làm thể hiện sự phát triển của một quốc gia, thể hiện văn minh của quốcgia đó Một quốc gia phát triển được đánh giá một mặt trên cơ sở việc làm: nội dungviệc làm như thế nào? Được thực hiện ra sao? Tính chất việc làm là gì? Việc làm làyếu tố thúc đẩy sự pháp triển bền vững: một quốc gia có một lượng việc làm ổn định,đáp ứng nhu cầu người lao động, thất nghiệp được giải quyết, tận dụng tối đa nguồnnhân lực vốn có thì quốc gia đó sẽ trở thành một quốc gia phát triển vững mạnh.Việc làm còn là yếu tố bảo đảm an toàn của xã hội Khi xảy ra tình trạng thấtnghiệp sẽ kéo theo rất nhiều những vấn nạn của xã hội như: thiếu nhà ở, nghèo đói,lạc hậu, các bệnh dịch, tệ nạn xã hội cũng từ đó mà tăng theo Giải quyết được thấtnghiệp cũng là giải quyết được rất nhiều những mối nguy hiểm cho xã hội Sự antoàn kinh tế, sự an toàn xã hội, an ninh cá nhân, an ninh quốc gia phụ thuộc rất lớnvào việc người lao động có việc làm hay không
Như vây, trên phương diện cá nhân người lao động và xã hội thì việc làm đóngmột vai trò đặc biệt quan trọng, còn trên bình diện kinh tế, việc làm và kinh tế mộtquốc gia luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Bởi lẽ, đối với một nền kinh tế thịtrường, điều quan trọng là làm sao có một nguồn nhân lực dồi dào và tận dụng đượcnguồn nhân lực một cách hiệu quả Nguồn nhân lực đó hiểu theo một nghĩa hẹp chính
là người lao động, người lao động làm việc và tạo ra của cải vật chất, thúc đẩy nềnkinh tế phát triển Vậy, để một quốc gia phát triển nhanh chóng, bền vững thì vấn đềviệc làm phải được đặt lên hàng đầu
Việc làm vừa có ý nghĩa kinh tế-xã hội, vừa mang ý nghĩa chính trị Xuất phát từvai trò quan trọng mà vấn đề việc làm luôn được Đảng và Nhà nươc quan tâm Việclàm là một vấn đề được đề cập thường xuyên nhưng rất nhạy cảm, đó không chỉ làvấn đề của mỗi cá nhân mà là vấn đề của toàn xã hội, mang nặng tính xã hội, nó cóthể thúc đẩy một xã hội phát triển cũng có thể khiến cả một xã hội lâm vào trạng tháibất ổn nếu không được giải quyết một cách kịp thời, đúng đắn Chính vì vậy, nhànước ta luôn có những chính sách về việc làm cho từng năm, từng thời kỳ để có thểgiải quyết vấn đề việc làm chi người lao động, giữ vững bình ổn quốc gia, an ninhquốc phòng
Trang 13Như đã phân tích về mối quan hệ giữa việc làm và quan hệ pháp luật lao động,việc làm còn có ý nghĩa rất lớn trên phương diện pháp lý Pháp luật và xã hội đềuthừa nhận lao động là quyền cơ bản của con người, do đó việc làm là vấn đề thuộcphạm trù cơ bản này Mọi người đều có quyền có việc làm và tiến hành lao động mộtcách hợp pháp để tạo ra của cải vật chất và đáp ứng nhu cầu tinh thần Trong nềnkinh tế tập trung, bao cấp trước đây luôn thừa nhận việc người lao động ai cũng cóviệc làm Vì vậy, Nhà nước luôn cố gắng xếp người lao động vào một công việc nào
đó, thậm chí không phù hợp với họ Nhà nước và xã hội không chấp nhận thất nghiệp
và lao động dư thừa, không có việc làm Đây là quan điểm rất tiền bộ, tuy nhiên vàothời gian lịch sử đó, thì quan điểm này chỉ giúp lao động có việc làm ở một giới hạnnhất định, khi đất nước phát triển, nền kinh tế phát triển theo hướng thị trường thìphương pháp này chưa phù hợp nữa Bởi lẽ, nếu Nhà nước luôn chịu trách nhiệm bốtrí công việc cho từng người thì vừa tạo nên trách nhiệm nặng nề cho Nhà nước vừakhiến người lao động kém chủ động, tích cực, sáng tạo trong lao đông, khiến laođộng trở nên trì trệ, kìm hãm sự phát triển của đất nước Chính sự không phù hợp đó
đã buộc Nhà nước ta lúc đó tiến hành cải cách, chuyển hướng sang nền kinh tế thịtrường đướng hướng xã hội chủ nghĩa Lúc này, lao động không chỉ được công nhận
là quyền mà còn được ghi nhận như một nghĩa vụ cho người lao động Sự thay đổinày đã tạo nên nhiều cơ hội cho người lao động tự mình tìm kiếm việc làm, pháp huykhả năng của bản thân, sáng tạo trong công việc Ngoài ra, quan điểm này đã giảm điphần nào áp lực trách nhiệm của Nhà nước trong việc phải thu xếp việc làm chongười lao động Nhà nước chỉ tham gia vào quá trình quản lý, chỉ đạo, tổ chức cáchoạt động phát triển kinh tế xã hội nhằm tạo ra ngày càng nhiều việc làm và Nhànước tạo điều kiện, hỗ trợ cho người lao động tự tạo ra việc làm hoặc tìm kiếm việclàm Tính chất pháp lý của việc làm được thể hiện qua sự ghi nhận của Hiến Pháp, sựghi nhận này có mang một ý nghĩa rất lớn, đó là:
Thứ nhất, pháp luật ghi nhận nội dung, mục đích chủ yếu của việc làm là tạo rathu nhập, đáp ứng nhu cầu cá nhân, gia đình và xã hội
Thứ hai, việc làm là những hoạt động nằm trong khuân khổ của pháp luật, mọingười đều có quyền lao động tuy nhiên nhưng công việc của người lao động thực
Trang 14của pháp luật, mọi hoạt động trái với pháp luật đều không được công nhận Đâychính là chính là đặc điểm pháp lý rõ nét nhất của việc làm trong pháp luật lao động Đối với mỗi quốc gia, giải quyết việc làm là lĩnh vực có vị trí quan trọng đặcbiệt trong tổng thể các vấn đề phát triển kinh tế xã hội Bởi lẽ, với mỗi quốc gia, nhânlực là vấn đề trọng yếu để phát triển bền vững, vì vậy để tận dụng nhân tài quốc giathì phải tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội phát huy thực lực thông qua việclàm Ngày nay, khi xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa càng ngày càng trở nênmạnh mẽ thì vấn đề việc làm và giải quyết việc làm đã trở thành vấn đề được toàn thếgiới quan tâm Các quốc gia cùng nhau hợp tác để giải quyết các vấn đề việc làm mộtcách nhanh chóng, hiệu quả trên một bình diện rộng và triệt để.
1.2 Pháp luật về việc làm:
1.2.1 Khái niệm pháp luật về việc làm:
Pháp luật việc làm là hệ thống các quy định pháp luật hình thành như là một chếđịnh của luật lao động, có chức năng điều chỉnh quan hệ xã hội về việc làm, bao gồmquan hệ xã hội trong lĩnh vực tạo việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động.Việc làm là một trong những nội dung quan trọng quy định tại chương II Bộ luậtlao động (BLLĐ) với 7 điều thể hiện rất rõ những quan điểm, những chính sách củaĐảng và Nhà nước về vấn đề việc làm và giải quyết việc làm Thông qua pháp luật,Nhà nước quản lý, tổ chức, chỉ đạo các hoạt động liên quan đến việc làm nhằm đápứng tốt nhất vấn đề việc làm cho người lao đông và giải quyết các tranh chấp liênquan
1.2.2 Đối tượng điều chỉnh của pháp luật việc làm:
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật việc làm chính là quan hệ việc làm Đâycũng chính là mối quan hệ chủ đạo mà BLLĐ Việt Nam điều chỉnh Quan hệ việclàm là quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực giải quyết, bảo đảm việc làm chongười lao động trong xã hội Trong quan hệ việc làm bao gồm các nhóm quan hệ sau:Quan hệ việc làm giữa người lao động với người sử dụng lao động, quan hệ việc làmgiữa nhà nước với công dân, quan hệ việc làm giữa nhà nước với các đơn vị sử dụnglao động, quan hệ việc làm giữa người lao động với các doanh nghiệp, tổ chức
Trang 151.2.2.1 Quan hệ việc làm giữa người lao động với người sử dụng lao động:
Quan hệ việc làm giữa người lao động với người sử dụng lao động là đối tượngđiều chỉnh quan trọng nhất, chủ đạo nhất trong quan hệ pháp luật việc làm Quan hệnày được xác lập, duy trì, chấm dứt trên cơ sở của luật lao động Trong mối quan hệgiữa người sử dụng lao động và người lao động, người lao động phải tự mình thựchiện công việc Tự mình thực hiện công việc là tự mình thực hiện các hành vi cầnthiết để hoàn thành công việc Theo Khoản 4 Điều 30 BLLĐ thì: “Công việc theo hợpđồng lao động phải do người giao kết thực hiện, không được giao cho người khác nếukhông có sự đồng ý của người sử dụng lao động Điều này thể hiện việc người laođộng phải bằng chính hành vi của mình, bằng thao tác của mình thực hiện công việc
mà không được chuyển giao nghĩa vụ đó cho người khác nếu không có sự đồng ý củangười lao động Nguyên nhân dẫn đến điều này là do: người lao động và người sửdung lao động đã ký kết với nhau hợp đồng lao động, trong đó người lao động bánsức lao động cho người sử dụng lao động mà sức lao động đó chỉ tồn tại trong bảnthân người lao động, không thể dịch chuyển cho người khác
Ngoài ra, trong mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động,người sử dụng lao động có quyền quản lý đối với người lao động Người sử dụng laođộng có quyền quản lý với người lao động xuất phát từ vị thế giữa hai đối tượng này
là khác nhau: người sử dụng lao động nắm trong tay tài sản và tư liệu sản xuất nên họ
có quyền thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản của mình; họ là người mua sức laođộng của người lao động nên họ có quyền quản lý người lao động trong phạm vi phápluật cho phép đặc biệt là người lao động phải quản lý chính cơ sở của mình, giám sátquá trình sản xuất để có thể đem lại lợi nhuận cao nhất Có thể nói rằng trong quan hệviệc làm, người sử dụng lao động có vị thế mạnh hơn người lao động, đây là nguyênnhân mà nhà nước phải có những chính sách cụ thể nhằm đảm bảo công bằng và bảo
vệ lợi ích cho cả hai bên, tránh tình trạng lạm dụng sức lao động của người lao động.Trong quan hệ việc làm, việc xác lập, duy trì, chấm dứt, quan hệ pháp luật giữangười lao động và người sử dụng lao động, có sự tham gia của đại diện lao động Đâychính là đặc điểm đặc thù của quan hệ pháp luật việc làm với các quan hệ pháp luật
Trang 16quan trọng, vì yếu tố tập thể trong hoạt động của đại diện lao động là một trongnhững bảo đảm tốt nhất cho người lao động có nhiều khả năng đạt được sự bình đẳngthực tế với người sử dụng lao động.
1.2.2.2 Quan hệ việc làm giữa nhà nước với người lao động:
Trong quan hệ pháp luât việc làm, nhóm quan hệ giữa người lao động với nhànước cũng là một quan hệ cần quan tâm Nhà nước là một chủ thể đặc biệt, Nhà nướcthông qua hệ thống các cơ quan chức năng, trong việc xác lập và thực hiện các chínhxác việc làm, với các công dân, tổ chức được hưởng các chính sách việc làm đó.Trong mối quan hệ này, thực hiện chức năng quản lý hành chính, tham gia giải quyếtviệc làm trực tiếp cho các công dân
1.2.2.3 Quan hệ việc làm giữa nhà nước với các trung tâm giới thiệu việc làm, các cơ sở dịch vụ việc làm với khách hàng:
Đây là quan hệ đặc trưng trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khi người laođộng gặp khó khăn khi tìm được việc làm hoặc người sử dụng lao động gặp khó khăntrong việc tuyển dụng, lúc này hình thành nên các trung tâm giới thiệu việc làm đểgiải quyết các khó khăn đó Trong phạm vi luật lao động, mối quan hệ được điềuchỉnh là mối quan hệ giữa trung tâm giới thiệu việc làm của nhà nước, các tổ chức xãhội với người lao động, người sử dụng lao động và các tổ chức, cá nhân khác có nhucầu
1.2.3 Nguyên tắc áp dụng của pháp luật việc làm:
Việc làm là vấn đề được quy định cụ thể qua pháp luật lao động, trong Bộ luậtlao động của Việt Nam có quy định rất rõ nét những nguyên tắc điều chỉnh quan hệpháp luật việc làm
Pháp luật lao động tuy là một ngành luật có tính độc lập tuy nhiên nó vẫn nằmtrong hệ thống luật pháp của một quốc gia vì vậy pháp luật về việc làm nói riêng vàpháp luật lao động nói chung vẫn là những công cụ để nhà nước quản lý, điều hành
xã hội Chính vì vậy mà pháp luật về việc làm cũng mang những nguyên tắc điềuchỉnh chung nhất cho một hệ thống các ngành luật Ngoài ra, pháp luật về việc làmcũng tồn tạo những nguyên tác đặc thù sau:
Thứ nhất, nguyên tắc bảo đảm quyền và nghĩa vụ lao động cho công dân Việc
làm là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta Vì vậy, trong các kỳ đại hội,
Trang 17Đảng luôn nhấn mạnh vấn đề phải làm sao để có thể bảo đảm công việc ổn định chongười lao động Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lấn thứ XI, Đảng khẳng định: “Giảiquyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy yếu tố con người, ổn định và pháttriển kinh tế, lành mạnh xã hội” Nguyên tắc này cũng được BLLĐ thừa nhận nhưsau: “ Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, họcnghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dântộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo.”(Điều 5) Nguyên tắc này còn thể hiện làmột trong những nguyên tắc hiến định rất tiến bộ được quy định tại Điều 5 Hiếnpháp: “Lao động là quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, điều này cũng hoàntoàn phù hợp với nguyên tắc tự do việc làm của pháp luật lao động quốc tế Bảo vệngười lao động trước hết là bảo vệ việc làm cho người lao động Vấn đề chính yếukhi Nhà nước quy định ra vấn đề pháp lý này là làm sao cho người lao động đượcthực hiện quyền lao động của mình và làm việc sao cho đúng công việc đã thỏa thuậntrong hợp đồng lao động.
Thứ hai, nguyên tắc cấm cưỡng bức, ngược đãi người lao Khoản 2 Điều 5
BLLĐ quy định: “Cấm ngược đãi người lao động, cấm cưỡng bức người lao độngdưới bất cứ hình thức nào” Nguyên tắc này nhằm bảo đảm quyền lợi cho người laođộng không bị ép buộc làm những công việc trái ý muốn của người lao động hoặcxâm phạm đến người lao động Nhà nước đưa ra các chế tài áp dụng cho các trườnghợp vi phạm pháp luật lao động nhằm dành cho người lao động một môi trường làmviệc tốt nhất, an toàn nhất
Thứ ba, nguyên tắc mọi công dân đều có quyền bình đẳng trong lĩnh vực việc làm Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc Hiến định: “ Mọi công dân đều bình
đẳng trước pháp luật”, và được thể hiện thông qua Điều 5, 7,13 của BLLĐ Nguyêntắc này ghi nhận mọi công dân đều có quyền lựa chọn công việc theo nhu cầu vànăng lực của bản thân trong khuân khổ pháp luật cho phép Theo đó, mọi công dânđều có quyền bình đẳng về cơ hội có việc làm, được đối xử bình đẳng, không phânbiệt giới tính, tuổi tác, lĩnh vực nghề nghiệp đều được tự do lựa chọn việc làm vàlàm ở những điều kiện giống nhau thì hưởng chế độ đãi ngộ như nhau Ngoài ra,nguyên tắc này còn thể hiện thông qua sự bình đẳng trong việc ký kết hợp đồng lao
Trang 18động giữa người sử dụng lao động và người lao động Bình đẳng trong việc thỏathuận, chấm dứt thay đổi hợp đồng lao động
Thứ tư, nguyên tắc ưu đãi đối với một số đối tượng đặc thù Nguyên tắc này thể
hiện tính nhân đạo của nhà nước đối với một số đối tượng người lao động nhất định
Đó là những đối tượng không có cơ hội làm tất cả các công việc như những người laođộng khác do những nguyên nhân khách quan Đó là những người có sự khác biệt vớinhững người lao động khác về giới tính, tuổi tác, tình trạng sức khỏe, hoàn cảnh đặcbiệt như: phụ nữ, trẻ em, người tàn tật, Đây là những đối tượng cần được Nhà nướcđặc biệt quan tâm nhằm tạo điều kiện cho họ những công việc phù hợp nhất, khắcphục những yếu thế của họ để họ có cơ hội làm việc và hòa nhập với xã hội
Thứ năm, nguyên tắc khuyên khích mọi hoạt động tạo ra việc làm và hỗ trợ tạo việc làm Khoản 3 Điều 5 BLLĐ quy định: “Mọi hoạt động tạo ra việc làm, tự tạo
việc làm, dạy nghề và học nghề để có việc làm, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanhthu hút nhiều lao động đều được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi hoặcgiúp đỡ.” Nhà nước tạo ra việc làm và khuyến khích các hoạt động tạo ra việc làm.Nhà nước có các biện pháp bảo đảm việc làm, đạo tạo người lao động, phát triển các
dự án, các khu kinh tế nhằm bảo vệ, giúp đỡ, khai thác tiềm năng nhân lực quốcgia
1.2.4 Vai trò của pháp luật việc làm:
Việc làm là vấn đề rất quan trọng trong đời sống xã hội vì vậy những quy địnhđiều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực việc làm cũng là bộ phận quan trọng trong hệthống pháp luật quốc gia
Thứ nhất, pháp luật về việc làm đảm nhận vai trò chung của pháp luật, đó là sự
thể chế hóa đường lối lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực lao động xã hội, là công cụpháp lý điều chỉnh quan hệ xã hội trong lĩnh vực tạo việc làm và giải quyết việc làm.Pháp luật việc làm là công cụ để nhà nước quản lý và điều tiết thị trường lao độngthông qua các quy định về mức lương tối thiểu, về đào tạo nghề, về điều kiện ngườilao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
Thứ hai, pháp luật về việc làm là cơ sở pháp lý góp phần xác định quyền lợi của
các chủ thể tham gia vào lĩnh vực việc làm và trong quan hệ lao động Pháp luật vềviệc làm là khung pháp lý để mọi cá nhân, mọi tổ chức, mọi thành phần kinh tế đều
Trang 19được bình đẳng trong lĩnh vực lao động Mọi người lao động đều bình đẳng về cơ hộilàm việc, không bị phân biệt về dân tộc, giới tính, tôn giáo hay bất cứ tiêu chí nghềnghiệp nào khác Đối với người sử dụng lao động có quyền tự do tuyển dụng laođộng, không bị hạn chế, không bị phân biêt đối xử đơn vị sử dụng lao động Luật laođộng cũng điều chình lợi ích để đảm bảo hợp lý giữa lợi ích xã hội, lợi ích người laođộng và lợi ích người sử dụng lao động thông qua các quy định về vấn đề giải quyếtviệc làm, hạn chế thất nghiệp, bảo vệ người lao động, nhất là lao động nữ, trẻ em,người lao động tàn tât Việc bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong luật lao động tạođiều kiện thuận lợi cho quan hệ pháp luật việc làm, tạo ra sự phát triển bền vững, ổnđịnh chính trị xã hội, giảm thiểu những tác động tiêu cực của nền kinh tế
Thứ ba, pháp luật về việc làm là cơ sở pháp lý góp phần vào việc hợp quốc tế về
việc làm, giải quyết việc làm Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khi nước ta đang
mở cửa nền kinh tế thì vấn đề việc làm càng trở nên cấp bách Pháp luật về việc làmkhông chỉ có vai trò điều tiết thị trường việc làm trong nước mà còn có vai trò quantrọng trong việc hợp tác quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề về thất nghiệp và các tácđộng tiêu cực lên nền kinh tế chung toàn cầu Một hệ thống pháp luật vững chắc sẽtạo điều kiện cho việc tham gia vào các tổ chức lao động quốc tế trở nên dễ dàng hơn
Thứ tư, pháp luật về việc làm là cơ sở pháp lý để xử lý các vi phạm và giải quyết
các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực việc làm Luật về việc làm là căn cứ pháp lý đểđảm bảo quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ pháp luật việc làm, là căn cứ đểgiải quyết các tranh chấp lao động và đình công nếu có
Trang 20CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM
2.1 Pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm trước khi có BLLĐ năm 1994:
58 ngày 10/11/1945 quy định về quyền được nghỉ không lương trong những trườnghợp cần thiết; Sắc lệnh số 54 ngày 31/11/1945 quy định về quyền nghỉ hưu của côngchức nhà nước; Sắc lệnh số 74 ngày 17/12/1945 quy định về quyền được nghỉ dài hạn
do mắc bệnh nan y Nhưng văn bản pháp luật quan trọng nhất trong thời kỳ nàychính là Hiến pháp 1946 với các Điều 7, 9,13 liên quan đến vấn đề lao động nhưquyền bình đẳng man nữ, quyền bình đẳng của công dân tham gia công cuộc kiếnquốc, quyền lợi của giới cần lao Trên cơ sở Hiến pháp, nhiều văn bản pháp luật liênquan đến việc làm ra đời như: Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947; Sắc lệnh số 76/ SLngày 20/5/1950; Sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 Trong các văn bản trên, một sốvấn đề về việc làm đã được quy định như quy định về việc học nghề để tạo việc làm,duy trì sự ổn định việc làm của người lao động
Có thể nói, sau Hiến pháp 1946, văn bản pháp lý quan trọng nhất về vấn đề việclàm trong giai đoạn này là Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 Điều 1 Sắc lệnh quyđịnh: “ Trong toàn cõi Việt Nam những sự giao dịch về việc làm công, giữa các chủnhân, người Việt Nam hay người ngoại quốc và công nhân Việt Nam làm tại cácxưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và các nhà làm nghề tự do” Với 10 chương,
187 điều, Sắc lệnh số 29/ SL đã đặt nền móng cho việc xây dựng pháp luật lao động
Trang 21sau này Sắc lệnh đã có đầy đủ các quy định về: tuổi lao động, khế ước làm công, thờigian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, tiền công, nghỉ ốm đau, thai sản, phạt vi phạm, Sắc lệnh còn quy định việc người lao động đến tuổi lao động phải đi đăng ký laođộng, ghi tên vào sổ lao động để căn cứ vào tình hình lao động, Ủy ban có tráchnhiệm sắp xếp việc làm cho người lao động
Sau Sắc lệnh 29/SL năm 1947, hệ thống các văn bản điều chỉnh chế độ lao độngcủa công chức nhà nước rất được quan tâm, rất nhiều văn bản pháp luật quy định vềquy chế tuyển dụng, quản lý và cho thôi việc công chức; chế độ lương và phụcấp được ban hành như: Sắc lệnh số 188/SL, số 261/SL năm 1948: Sắc lệnh số 76,
số 81, số 98 năm 1950
Trong pháp luật thời kỳ này đã có nhiều tư tưởng tiến bộ về nền kinh tế nhiềuthành phần như: vấn đề học nghề, dịch vụ viêc làm, hoạt động công đoàn, thỏa ướctập thể, mức lương tối thiểu, việc chia lãi mà đáng chú ý nhất là việc tổ chức cácphòng giới thiệu công nhân tại Bộ lao động và các liên khu (Nghị định số 21 ngày15/5/1948 của Bộ lao động, Thông tư số 02 ngày 18/5/1848 của Bộ lao động) Mụcđích thành lập của các phòng giới thiệu này là huy động nhân công cung cấp cho cácngành sản xuất, vận tải, tiếp tế; tìm và giới thiệu việc làm cho thợ thuyền không công
ăn, việc làm; tổ chức các đoàn thợ cày, thợ cấy, thợ giặt, để đưa đến những vùngkhan hiếm nhân công công nghiệp Một điểm tiến bộ trong giai đoạn này là việc cácvăn bản pháp luật lao động đã có sự phân biệt hợp lý giữa công nhân giúp việc choChính phủ và công nhân trong các xí nghiệp quốc gia (Sắc lệnh số 77/SL, số 98/SLnăm 1950; số 128/SL năm 1952)
Nhận xét:Giai đoạn 1945-1954 là giai đoạn pháp luật lao động mới dần được hình thành, với cấp độ hiệu lực của văn bản pháp luật lao động chủ yếu là sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ hoặc Chủ tịch nước Có thể nói, các văn bản pháp luật về việc làm đã chứa đựng nhiều nội dung tiến bộ, mặc dù với hoàn cảnh của đất nước lúc bấy giờ chưa thể thực hiện một cách triệt để và còn mang nặng tư tưởng, chính sách tập trung bao cấp, quy định trách nhiệm thuộc về Nhà nước trong việc sắp xếp việc làm và nghĩa vụ của người lao động khai báo khi đến tuổi lao động.
Trang 22tế tập trung, bao cấp vì vậy, pháp luật về việc làm chủ yếu điều chỉnh quan hệ laođộng trong khu vực nhà nước, phục vụ cho công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước
và xây dựng xã hội chủ nghĩa Khác với giai đoạn trước (văn bản pháp luật chủ yếu
do Chủ tịch Chính Phủ hoặc Chủ tịch nước ban hành) thì ở giai đoạn này đã có vănbản pháp luật về lao động do Quốc hội ban hành như Luật Công đoàn năm 1957 Đặcbiệt, Hiến pháp 1950 ra đời là văn bản pháp lý quan trọng nhất giai đoạn này, lần đầutiên ghi nhận về quyền có việc là của công dân và quyền này được bảo vệ bởi tráchnhiệm tạo việc làm của nhà nước Hiến pháp đã dành nhiều điều quy định về cácnguyên tắc chung trong lĩnh vực lao động như quyền lao động của công dân, lao độngriêng lẻ, công nhân viên chức nhà nước, vấn đề mở rộng việc làm, cải thiện điều kiệnlao động, tiền lương (điều 15, 21, 30, 31, 32, 39 ) Trên cơ sở Hiến pháp, pháp luậtthời kỳ này có nhiều bước tiến, số lượng các văn bản pháp luật về vấn đề việc làmtăng đáng kể với nhiều nội dung khác nhau Các văn bản này được các cơ quan hànhpháp ban hành, chủ yếu dưới dạng Nghị định, thông tư như: Nghị định số 182/CPngày 18/12/1960 quy định về bảo hộ lao động, Nghị định sô 218/CP ngày 27/12/1961quy định về bảo hiểm xã hội, Nghị định số 24/CP ngày 13/3/1963 về việc tuyển dụng
và cho thôi việc đối với công nhân viên chức nhà nước, Nghị định số 172/CP ngày21/11/1963 quy định kí kết hợp đồng lao động tập thể trong các xí nghiệp côngnghiệp quốc doanh Ban hành kèm theo với một số nghị định là các bản Điều lệ kháquan trọng như: Điều lệ tạm thời về tuyển dụng và cho thôi việc đối với công nhânviên chức nhà nước (ban hành kèm theo định số 24/CP ngày 13/3/1963); Điều lệ xínghiệp quốc doanh (ban hành kèm theo Nghị định 93/CP ngày 8/4/1977)
Mục tiêu của chế độ pháp lý thời kỳ này hướng đến là phục vụ cho công cuộcxây dựng xã hội chủ nghĩa, quốc doanh hóa, tập thể hóa nền kinh tế Chính vì vậy màtinh thần của pháp luật việc làm thời kỳ này là đề cao hình thức sở hữu công, tập
Trang 23trung cao độ nền kinh tế hoạch hóa tập trung và chỉ coi những người trong biên chếnhà nước mới là những người có việc làm nghiêm chỉnh Pháp luật không thừa nhậnviệc sức lao động là hàng hóa, không thừa nhận hiện tượng thất nghiệp, thị trường laođộng, phá sản, cạnh tranh và quyền tự do kinh doanh của công dân Người lao độngđến tuổi lao động là phải đăng ký lao động để Nhà nước sắp xếp công việc Xuấtphát từ quan điểm trên nên các văn bản pháp luật thời kỳ này chủ yếu quy định vềngười lao động là công viên chức nhà nước như vấn đề sắp xếp việc làm, vấn đềtuyển dụng, cho thôi việc công nhân viên chức nhà nước, bảo hiểm xã hội cho côngnhân viên chức nhà nước (một chính sách ưu đãi và đặc quyền cho lao động biên chếnhà nước) Các quy định thời gian này đã khiến cho các xí nghiệp, nhà máy, các đơn
vị sử dụng lao động trở nên bị động trong việc tìm nhân công, còn đối với nhà nước
do phải tạo việc làm cho người lao động mà trách nhiệm trở nên nặng nề, dẫn đếntình trạng quan liêu bao cấp
Năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi, giải phóng miền Nam,đất nước thống nhất, cả nước cùng tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa Thời kỳ này,
cơ chế tập trung bao cấp càng trở nên sâu sắc, tác động đến mọi hoạt động của nềnkinh tế xã hội nước ta, nhà nước tham gia này càng sâu rộng vào đời sống người dân,điều đó đã khiến cho pháp luật về việc làm đã có thay đổi đáng kể Điều phải kể đếnđầu tiên trong giai đoạn 1875 -1985 là Hiến pháp 1980 được thông qua Bản Hiếnpháp tiếp tục khẳng định về quyền có việc làm của nười làm của người lao động, tiếptục ghi nhận các nguyên tắc về lao động của Hiến pháp 1959 Hiến pháp 1980 cũngquy định một số nội dung tiến bộ như các quy định về chế độ lao động của công nhânviên chức nhà nước, địa vị của tổ chức công đoàn Điều 58 Hiến pháp 1980 quyđịnh “Lao động là quyền, nghĩa vụ và vinh dự hàng đầu của công dân Công dân cóquyền có việc làm Người có sức lao động phải lao động theo quy định của pháp luật.Nhà nước dựa vào kế hoạch phát triển kinh tế và văn hóa mà tạo thêm việc làm, sắpxếp công việc căn cứ vào năng lực, nguyện vọng cá nhân và yêu cầu của xã hội, nângcao trình độ nghề nghiệp, bồi dưỡng sức lao động, không ngừng cải điều kiện làmviệc của người lao động chân tay và lao động trí óc ” Quy định này đã bao gồm khánhiều nội dung tiến bộ như: ghi nhận lao động vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của
Trang 24tay và lao động trí óc tuy nhiên trong đó vẫn còn nhiều vấn đề mang tính chất chủquan duy ý trí, mang nặng tư duy quản lý nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung như:công nhận “công dân có quyền có việc làm” Đây là quy định thể hiện rõ nét tâm lýnóng vội, muốn mau chóng trở thành chủ nghĩa xã hội mà không tính đến hoàn cảnhđất nước giai đoạn này
Sau Hiến pháp năm 1980, một số quy định về lao động có sự thay đổi: mở rộngquyền tự chủ cho người sử dụng lao động, các xí nghiệp quốc doanh (Quyết định số25/CP ngày 2o/1/1981), mở rộng chế độ lương khoán sản phẩm đối với công nhân(Quyết định số 26/CP ngày 21/1/1981) Các quy định thời kỳ này đều thể hiện mộtnền kinh tế tập trung, bao cấp của nhà nước, nhiều thể chế pháp lý về mở rộng quyền
tự do kinh doanh, các chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm tạo việc làm chưađược xác lập đồng bộ Điều này đã cản trở sự phát triển kinh tế, khiến cho nền kinh tếquốc gia lâm vào tình trạng khủng hoảng Đến năm 1985, Nhà nước đã có những thayđổi nhất định để có thể cải thiện tình hình kinh tế trong lĩnh vực việc làm Nhà nước
đã tiến hành cải cách tiền lương, sửa đổi một số chính sách về bảo hiểm xã hội, phụcấp chênh lệch giá, phụ nữ có chế độ bảo hiểm thai sản, tranh chấp lao động cũngđược chú trọng hơn (Nghị định số 235/HĐBT, số 236/HĐBT, Quyết định số308/CT năm 1985, Quyết định số 121/HĐBT ngày 19/4/1985; Quyết định số10/HĐBT và Thông tư số 02/TT-LN ngày 02/10/1985) Đặc biệt, trong thời kỳ này,Việt Nam bước đâu đã có những hợp tác nhất định với các quốc gia trên thế giớitrong hệ thống xã hội chủ nghĩa về vấn đề việc làm
Nhận xét: pháp luật về việc làm trong giai đoạn này bị chi phối sâu sắc bởi cơ chế quản lý kinh tế tập trung bao cấp dựa trên hai hình thức sở hữu chủ yếu là quốc doanh và tập thể nên các quy định phần lớn điều chỉnh quan hệ việc làm trong khuân khổ nhà nước, phục vụ chiến tranh và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội Do đó,
hệ quả tất yếu là dẫn đến tình trạng nền kinh tế chậm phát triển, pháp luật còn nhiều hạn chế và không hiệu quả trong việc áp dụng, khiến cho cuối thời kỳ này pháp luật phải thường xuyên cải cách, chắp vá, chồng chéo, tản mạn
2.1.3 Thời kỳ l986 đến trước khi có Bộ luật lao động 1994:
Trước sự khủng hoảng của nền kinh tế đất nước, cần có sự thay đổi toàn diệnnhằm khắc phục khó khăn để đưa đất nước tiến lên nền kinh tế thị trường Để làm
Trang 25được điều đó, trước hết pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về việc nói riêng
đã tiến hành đổi mới toàn diện và phát triển theo hướng điều tiết nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trước Đại hội lần VI, vấn đề việc làm là một vấn đề đặc biệt gay gắt, các khuvưc kinh tế hầu như không phát triển, người lao động không có việc làm, cuộc sốngtrở nên túng quẫn, khó khăn Để khắc phục tình trạng này, tại Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện Cóthể nói, Đại hội lần thứ VI này là bước ngoặt lịch sử quan trọng của đất nước ta trênmọi phương diện kinh tế - xã hội Cũng như nhiều vấn đề khác, quan điểm của Đảng
về vấn đề việc làm cũng theo đó mà có những thay đổi đáng kể Đại hội đã phân tích,đánh giá thực trạng của đất nước, nhìn thẳng vào những khuyết điểm, chỉ rõ nhữngsai lầm, thiếu sót, trên cơ sở đó đưa ra những chính sách việc làm phù hợp nhằm pháthuy hiệu quả và triệt để nguồn nhân lực quý giá của đất nước Phương hướng quantrọng nhất để giải quyết việc làm trong thời gian này là xóa bỏ nền kinh tế tập trungbao cấp, thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất vàdịch vụ; kết hợp giữa giải quyết việc làm tại chỗ với phân công lại lao động theovùng, theo lãnh thổ, xây dựng các khu kinh tế mới, mở rộng thi trường, đẩy mạnhhoạt động xuất khẩu lao động; ghi nhận giải quyết việc làm cho lao động là tráchnhiệm của mọi ngành, mọi cấp, mỗi đơn vị thuộc mọi thành phần kinh tế và nhân dânđều có chương trình để giải quyết việc làm
Thể theo phương hướng chủ đạo này của Đảng, hàng loạt các văn bản pháp lýquan trọng về vấn đề việc làm đã được ban hành như:
- Quyết định số 21/HĐBT ngày 14/11/1987 của Hội đồng bộ trưởng ban hànhBản quy định về đổi mới kế hoạch và hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đối với
xí nghiệp quốc doanh, trong đó đề cập đến việc chuyển dần từng bước chế độ tuyểndụng vào biên chế nhà nước sang chế độ hợp đồng lao động Có thể nói đây là vănbản pháp lý mở đường cho chế độ “hợp đồng lao động” được áp dụng rộng rãi trongcác đơn vị kinh doanh
- Pháp lệnh Hơp đồng lao động ngày 30/8/1990 của Hội đồng nhà nước trong đóquy định về hợp đồng lao động được áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân thuộc các
Trang 26ngành, các thành phần kinh tế có sử dụng, thuê mướn lao động và đối với nhữngngười lao động làm công và được trả công.
- Nghị định số 233/HĐBT ngày 22/6/1990 của Hội đồng Bộ trưởng về việc banhành quy chế lao động đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Nghị địnhquy định rõ về việc các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hàng tháng có nghĩa vụnộp một khoản tiền bảo hiểm xã hội bằng 10% tổng quỹ lương của người lao độnglàm việc tại xí nghiệp, 10-20% số đó được nộp cho chơ quan lao động địa phương đểchi trả chế độ trợ cấp thất nghiệp
- Nghị định số 370/HĐBT ngày 9/11/1991 ban hành quy chế về đưa người laođộng Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Nghị định này đã khiến cho thịtrường lao động được mở rộng hơn
Ngoài các văn bản trực tiếp đề cập đến vấn đề việc làm, vấn đề việc làm cònđược quy định trong các văn bản pháp luật khác có liên quan như: Luật đầu tư nướcngoài năm 1987 và Nghị định 123/HĐBT ngày 22/6/1990 quy định về quyền sử dụnglao động hợp đồng của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật công đoàn
1990, pháp lệnh về bảo hộ lao động 1991
Trong thời kỳ 1985 đến trước năm 1994, văn bản pháp lý quan trọng nhất chính
là Hiến pháp 1992 Loại bỏ những quy định không còn phù hợp với nền kinh tế thịtrường, kế thừa và vận dụng chính sách, đường lối của Đảng tại Đại hội lần VI, Hiếnpháp 1992 ghi nhận: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xãhội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động” (Điều 55) Hiếnpháp 1992 đã khẳng định quyền và nghĩa vụ của công dân trong vấn đề việc làm,đồng thời chỉ rõ trách nhiệm tạo việc làm không chỉ của nhà nước mà còn là của toàn
xã hội Đây chính là điểm tiến bộ so với Hiến pháp 1980, từ chỗ ghi nhận “công dân
có quyền có việc làm” chuyển sang ghi nhận “lao động là quyền và nghĩa vụ củacông dân”, từ chỗ chỉ là trách nhiệm của nhà nước nay còn là trách nhiệm của toàn xãhội, và của mỗi cá nhân người lao động Ngoài ra, Hiến pháp năm 1992 đã khẳngđịnh chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường (Điều 15), phân biệt rõ ràng chế độlao động của viên chức nhà nước với người làm công ăn lương (Điều 56), ghi nhậnquyền tự do kinh doanh của công dân (Điều 57)
Trang 27Song song với Hiến pháp 1992, rất nhiều các văn bản về vấn đề việc làm đãđược ban hành như:
- Nghị quyết số 120/HĐBT ngày 11/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về chủtrương, phương hướng và biện pháp giải quyết việc làm trong các năm tới
- Quyết định số 259/CT ngày 13/7/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng vềviệc quản lý và sử dụng quỹ sắp xếp lao động và giải quyết việc làm trọng ngân sáchnhà nước năm 1992, quy định về hỗ trợ vay vốn tạo việc làm
- Quyết định số 327/CT ngày 15/9/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về sửdụng đất trống, đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước Quyết định quy định
về vấn đề điều động lao động, dân cư, xây dựng vùng kinh tế mới
- Quyết định số 15/TTg ngày 20/10/1992 của Thủ tướng Chính phủ quy định vềchính sách đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh của thương bệnh binh và người tàntật
- Nghị quyết số 18/CP ngày 16/12/1992 về thỏa ước lao động tập thể
Trong các văn bản về vấn đề việc làm giai đoạn này, đáng chú ý nhất là Nghịquyết số 120/HĐBT ngày 11/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về chủ trương, phươnghướng và biện pháp giải quyết việc làm trong các năm tới Đây là một văn bản quyđịnh khá đầy đủ về việc làm cũng là Nghị quyết riêng đầu tiên về vấn đề việc làm,quy định toàn diện từ phương hướng đến biện pháp giải quyết việc làm ở Việt Namtrong thời kỳ này Văn bản ghi nhận rõ trách nhiệm giải quyết việc làm là của toànĐảng, của các ngành, các cấp, các tổ chức xã hội và của mỗi người lao động Cácbiện pháp được đề ra trong thời gian này là: lập quỹ quốc gia về giải quyết việc làm;xây dựng chương trình việc làm gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm
và 5 năm, trong đó xác định rõ mục tiêu, nội dung dự án đầu tư, hiệu quả kinh tế, cácđiều kiện thực hiện; bổ sung và sửa đổi một số chính sách cụ thể khuyến khích cáclĩnh vực, các doạnh nghiệp, các hộ gia đình và cá nhân tạo thêm chỗ làm việc mới,thu hút thêm lao động; mở rộng và phát triển các trung tâm dạy nghề và dịch vụ việclàm ở một số ngành, tổ chức xã hội và địa phương có yêu cầu lớn để dạy nghề, trướchết là cho thanh thiếu niên đến tuổi lao động Nhà nước tạo điều kiện thông qua các
cơ chế, chính sách cho vay vốn để người lao động tự giải quyết việc làm và tạo việc
Trang 28nghiệp, kể cả các chủ tư nhân, gia đình và mọi người làm giàu chính đáng, tạo việclàm và thu hút lao động.
Nhận xét:pháp luật việc làm Việt Nam trong giai đoạn 1986 đến trước khi có Bộ luật lao động năm 1994 đã có sự đổi mới tương đối toàn diện, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường của đất nước Các quy định của pháp luật về việc làm nhìn chung đã bao quát được hầu hết các vấn đề liên quan tới việc sử dụng lao động, giải quyết việc làm, hỗ trợ việc làm, thất nghiệp Tuy nhiên nhiều quy định vẫn mang tính chất tạm thời xuất phát từ tính chất thí điểm của thời gian này.
2.2 Pháp luật về việc làm và giải quyết việc từ khi có BLLĐ năm 1994 và thực tiễn thực hiện:
Ngày 23/6/1994, sau nhiều năm nghiên cứu, tiến hành xây dựng Bộ luật laođộng đầu tiên của Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 5 đã được thông qua, trở thành sựkiện quan trọng trong lịch sử pháp luật lao động nói chung và pháp luật về việc làmnói riêng ở Việt Nam Đây là đạo luật về lao động có giá trị pháp lý cao nhất từ trướctới nay với quy mô tương đối đồ sộ gồm 17 chương và 198 điều, đề cập đến hầu hếtcác vấn đề cơ bản về lao động như: việc làm, học nghề, tiền lương, bảo hiểm xãhội, Bộ luật lao động 1994 làm cơ sở cho các văn bản pháp lý khác về việc làm rađời như: Nghị định 72/CP ngày 31/10/1995 quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một
số điều của BLLĐ về việc làm; luật tố tụng lao động cũng pháp triển qua việc Ủy banthường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh về thủ tục tranh chấp lao động năm 1996 Trong BLLĐ 1994, quan hệ làm công ăn lương được khuyến khích phát triển,các thành phần kinh tế bình đẳng trong lĩnh vực sử dụng lao động, quyền tự do lựachọn việc làm trong khuân khổ pháp luật của người lao động, quyền đình công đượcghi nhận, vấn đề việc làm, học nghề được quy định đồng bộ, các vấn đề về dịch vụviệc làm, quỹ bảo hiểm xã hội, trạnh chấp lao động cũng được quy định
Sau 7 năm thực hiện, những bất cập của các quy định trong Bộ luật đã bắt đầubộc lộ, nhất là các nội dung liên quan đến vấn đề thị trường lao động, vế vấn đề giảiquyết lao động dư thừa khi thực hiện chính sách đổi mới và phát triển doanh nghiệpnhà nước Nguyên nhân dẫn đến những bất cập này là do quá trình nghiên cứu đểxây dựng Bộ luật manh nha từ năm 1980, là thời gian còn nhiều những bất cập trongnền kinh tế - xã hội tập trung bao cấp, vẫn chưa thừa nhận về vấn đề thị trường lao
Trang 29động, những năm sau 1986, mặc dù đã có sự thay đổi trong quan niệm và phươngpháp phát triển nhưng đây mới chỉ là thời kỳ thí điểm cho công cuộc đổi mới, là thờigian đầu của cơ chế thị trường Vì vậy, nhiều quan hệ lao động mới bắt đầu hìnhthành, ở nhiều địa phương, những quan hệ này còn chưa rõ nét vì vậy chưa được chútrọng trong pháp luật lao động Với những bất cập trên, để đáp ứng nhu cầu điềuchỉnh các quan hệ mới, Bộ luật lao động cần phải được sửa đổi Ngày 19/4/2002,Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động Sau khisửa đổi, BLLĐ đã tăng cường quyền tự quyết của các bên trong quan hệ lao độngthông qua việc thỏa thuận; giảm sự bảo trợ và quản lý chặt chẽ của nhà nước; một sốquy định của Bộ luật được thay thế hợp lý và chi tiết hơn Năm 2006, Quốc hộithông qua Luật sửa đổi bổ sung BLLĐ lần thứ 2, trong đó các quy định về giải quyếttranh chấp sẽ được sửa đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường, quyđịnh hợp lý về vấn đề đình công và giải quyết đình công Năm 2007, Quốc hội thôngqua luật sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Bộ Luật lao động của Quốc hội số84/2007/QH11 ngày 02/4/2007
Trên cơ sở Hiến pháp 1992 và BLLĐ 1994, hàng loạt các văn bản pháp luật vềvấn đề việc làm đã được ban hành:
- Nghị định số 195/CP của Chính phủ ngày 31/12/1994 quy định chi tiết vàhướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi vàNghị định số 109/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/12/2002 sửa đổi bổ sung một
- Nghị định số 81/CP của Chính phủ ngày 23/11/1995 quy định chi tiết và hướng
Trang 30116/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/4/2004 về việc sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Nghị định số 81/CP.
- Nghị định số 23/CP của Chính phủ ngày 18/4/1996 quy định chi tiết và hướngdẫn thi hành một số điều của BLLĐ về những quy định riêng đối với lao động nữ vàThông tư số 03/TT-BLĐTBXH của Bộ lao động thương binh xã hội ngày 13/1/1997
về việc hướng dẫn một số điều của Nghị định số 23/CP
- Nghị định số 114/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31/12/2002 quy định chitiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về tiền lương; Thông tư số28/2007/TT-BLĐTBXH của Bộ lao động thương binh và xã hội ngày 05/12/2007 sửađổi Thông tư số 13/2003/TT-BLĐTBXH và Thông tư số 14/2003/TT-BLĐTBXHhướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 114/2002/NĐ-CP
- Nghị định số 39/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/4/2003 quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về việc làm
- Nghị định số 44/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 9/5/2003 quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về hợp đồng lao động và Thông tư số21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghịđịnh 44/2003/NĐ-CP
Hiện nay, ngoài các quy định về tiền lương, thời gian làm việc, thời gian nghỉngơi, bảo hiểm xã hội, chế độ với người lao động đặc thù thì pháp luật việc làm hiệnnay còn rất chú trọng đến các tranh chấp về việc làm và vấn đề việc làm có yếu tốnước ngoài Điều này được thể hiện qua việc Nhà nước đã ban hành các văn bản phápluật về vấn đề này để phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế đang tác động mạnh mẽđến việc làm ở nước ta:
- Nghị định số 133/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/8/2007 quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLLĐ
về giải quyết tranh chấp lao động
- Thông tư số 22/2007/TT-BLĐTBXH của Bộ lao động thương binh xã hội ngày23/10/2007 hướng dẫn về tổ chức hoạt động của Hội đồng hòa giải lao động cơ sở vàhòa giải viên lao động
Trang 31- Nghị đính số 12/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/1/2008 quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành Điều 176 của BLLĐ về hoãn hoặc ngừng đình công và giảiquyết quyền lợi của tập thể lao động
- Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2006
- Nghị định số 126/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01/8/2007 quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ởnước ngoài theo hợp đồng
- Nghị định số 98/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/10/2009 quy định mứclương tối thiểu vùng đối với lao động Việt Nam làm việc cho các doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chưc nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhânngười nước ngoài tại Việt Nam
- Nghị định số 141/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 11/11/2005 về quản lý laođộng Việt Nam làm việc ở nước ngoài
Nhận xét: pháp luật việc làm hiện nay nhìn chung đã điều chỉnh được phần lớn các vấn đề về việc làm, tạo cơ sở pháp lý cho nhà nước quản lý, kiểm tra, đánh giá, tạo môi trường thuận lợi cho người lao động phát huy khả năng làm việc của bản thân, là một trong những yếu tố thúc đẩy nền kinh tế thị trường và hợp tác quốc tế phát triển Tuy nhiên có thể thấy rằng, hệ thống pháp luật lao động nói chung và việc làm nói riêng còn nhiều phức tạp, có quá nhiều văn bản pháp luật do nhiều cơ quan ban hành với cấp độ hiệu lực khác nhau đã khiến cho các quy định về việc làm không tránh khỏi chồng chéo, tản mạn, cồng kềnh Tất cả những điều này làm cho trong nhiều trường hợp, pháp luật về việc làm trở nên kém khả thi và gặp nhiều bất cập.
2.3 Quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết việc làm:
Sau khi BLLĐ 1994 ra đời, thông qua các lần sửa đổi, bổ sung, cùng với các vănbản pháp lý khác, pháp luật về việc làm đã phát huy tính khả thi, tạo ra cơ chế chínhsách thông thoáng, hành lang pháp luật an toàn là cơ sở để người lao động tự do làmviệc, đầu tư phát triển sản xuất, mở rộng thị trường
2.3.1 Quy định của pháp luật việc làm về trách nhiệm của cơ quan Nhà nước:
Điều 55 Hiến pháp quy định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân Nhà
Trang 32Điều 13 BLLĐ quy định: “Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khảnăng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanhnghiệp và của toàn xã hội”.
Nhà nước có trách nhiệm trong việc xác định chỉ tiêu tạo việc làm mới trong các
kế hoạch kinh tế - xã hội hàng năm và năm năm, Điều 14 BLLĐ quy định:
“1 Nhà nước định chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế hoạch phát triển kinh tế
-xã hội 5 năm và hàng năm, tạo điều kiện cần thiết, hỗ trợ tài chính, cho vay vốn hoặcgiảm, miễn thuế và áp dụng các biện pháp khuyến khích khác để người có khả nănglao động tự giải quyết việc làm, để các tổ chức, đơn vị và cá nhân thuộc mọi thànhphần kinh tế phát triển nhiều nghề mới nhằm tạo việc làm cho người lao động
2- Nhà nước có chính sách ưu đãi về giải quyết việc làm để thu hút và sử dụnglao động là người dân tộc thiểu số
3- Nhà nước có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức
và cá nhân trong nước và nước ngoài, bao gồm cả người Việt Nam định cư ở nướcngoài đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, để giải quyết việc làm cho người laođộng.”
Điều 15 BLLĐ quy định:
“1- Chính phủ lập chương trình quốc gia về việc làm, dự án đầu tư phát triểnkinh tế - xã hội, di dân phát triển vùng kinh tế mới gắn với chương trình giải quyếtviệc làm; lập quỹ quốc gia về việc làm từ ngân sách Nhà nước và các nguồn khác,phát triển hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm Hàng năm Chính phủ trình Quốc hộiquyết định chương trình và quỹ quốc gia về việc làm
2- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập chương trình vàquỹ giải quyết việc làm của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyếtđịnh
3- Các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể nhân dân và tổ chức
xã hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tham gia thựchiện các chương trình và quỹ giải quyết việc làm.”
Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo việc làm ổn định, bền vững thông qua hoạchđịnh, xây dựng các chương trình phát triển kinh tế - xã hội gắn với chính sách việclàm và lao động Chính phủ có trách nhiệm lập chương trình quốc gia về việc làm
Trang 33trình Quốc hội quyết định; UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập chươngtrình giải quyết việc làm ở địa phương trình HĐND cùng cấp quyết định( Nghị định
số 39/2003/NĐ-CP của Chính phủ) Mục tiêu của các trương trình định ra là tạo chỗlàm việc mới hàng năm, đưa ra chỉ tiêu giảm tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị và nâng tỉ lệthời gian sử dụng lao động ở nông thôn Chương trình việc làm được thực hiện theohai hướng: tạo việc làm mới thông qua việc thúc đẩy phát triển kinh tế, kết hợp hàihòa giữa tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm; duy trì và bảo đảm việc làm chongười lao động, chống sa thải nhân công hàng loạt, từng bước xây dựng và thực hiệnchính sách bảo hiểm thất nghiệp
2.3.2 Quy định về lập quỹ giải quyết việc làm:
Quỹ giải quyết việc làm ở Việt Nam gồm có quỹ quốc gia về việc làm, quỹ địaphương về việc làm, quỹ việc làm cho người tàn tật
Quỹ việc làm là một trong các loại quỹ xã hội được dùng để tạo thêm chỗ làmviệc mới hoặc tạo đủ việc làm, tăng thu nhập cho người lao động với lãi suất đầu tưthấp, bội số việc làm cao và đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động Quỹ việclàm mang tính chất trợ giúp ban đầu cho người lao động có việc làm trong các thànhphần kinh tế Quỹ là nguồn vật chất đảm bảo mục tiêu tạo việc làm cho người laođộng, Điều 15 BLLĐ quy định:
“1- Chính phủ lập chương trình quốc gia về việc làm, dự án đầu tư phát triểnkinh tế - xã hội, di dân phát triển vùng kinh tế mới gắn với chương trình giải quyếtviệc làm; lập quỹ quốc gia về việc làm từ ngân sách Nhà nước và các nguồn khác,phát triển hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm Hàng năm Chính phủ trình Quốc hộiquyết định chương trình và quỹ quốc gia về việc làm
2- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập chương trình vàquỹ giải quyết việc làm của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyếtđịnh
3- Các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể nhân dân và tổ chức
xã hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tham gia thựchiện các chương trình và quỹ giải quyết việc làm.”
Quyết định số 71/2005/QĐ-TTg ngày 05/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về cơ
Trang 3415/2008/QĐ-TTg ngày 23/1/2008 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Quyết định số 71/2005/QĐ-TTg ngày 05/4/2005 (sau đây gọi chung làQuyết định số 71/2005/QĐ-TTg đã sửa đổi, bổ sung) quy định quỹ việc làm được sửdụng nhằm những mục đích sau: hỗ trợ các tổ chức dịch vụ việc làm; hỗ trợ các đơn
vị gặp khó khăn tạm thời để tránh cho người lao động không bị mất việc làm; hỗ trợcác đơn vị nhận người lao động đang bị mất việc làm theo đề nghị của cơ quan Laođộng thương binh xã hội địa phương; cho vay với lãi suất thấp để hỗ trợ giải quyếtviệc làm cho một số đối tượng thuộc diện chính sách xã hội do Bộ lao động thươngbinh xã hội quy định; hỗ trợ quỹ việc làm cho người tàn tật
Hàng năm, Chính phủ trình Quốc hội quyết định chương trình và nguồn quỹquốc gia về việc là Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phảitrình Hội đồng nhân dân cùng cấp chương trình và quỹ địa phương về giải quyết việclàm trong phạm vi địa phương mình
Quỹ địa việc làm địa phương được hình thành từ các nguồn ngân sách địaphương do Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định, cácnguồn hỗ trợ của các câ nhân tổ chức trong và ngoài nước và các nguồn hỗ trợ khác(Thông tư của Bộ tài chính số 73/2008/TT-BTC ngày 01/8/2008 hướng dẫn, quản lý,
sử dụng quỹ giải quyết việc làm địa phương và kinh phí quỹ quốc gia về việc làm).Ngoài quỹ quốc gia và quỹ địa phương về giải quyết việc làm còn có quỹ việclàm cho người tàn tật Quỹ này được hình thành từ các nguồn ngân sách địa phương,quỹ quốc gia về việc làm, khoản thu từ các doanh nghiệp hàng tháng do không nhận
đủ số lao động tàn tật theo quy định
2.3.3 Quy định về các tổ chức giới thiệu việc làm và hoạt động của các tổ chức giới thiệu việc làm:
Khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì thị trường lao động cũngngày càng mở rộng hơn Để đáp ứng nhu cầu thị trường thì các tổ chức dịch vụ vềviệc làm đã phát triển rộng khắp, đặc biệt là các trung tâm kinh tế lớn, các thành phốlớn Nhà nước đã có những quy định riêng biệt để điều chỉnh loại hình dịch vụ này: Điều 18 BLLĐ quy định:
“1- Tổ chức dịch vụ việc có nhiệm vụ tư vấn, giới thiệu việc làm cho người laođộng; cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động; thu thập,