quyền sở hữu tài sản của vợ chồng ở Việt Nam hiện nay
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, sự ổn định và phát triển lành mạnh của giađình sẽ góp phần vào sự phát triển chung của toàn bộ xã hội Mỗi gia đình đượcxây dựng dựa trên những sợi dây liên kết của hôn nhân, huyết thống và nuôidưỡng trong đó quan hệ hôn nhân có thể xem là quan hệ nền tảng Nhận địnhđược vị trí của gia đình trong xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng quantâm đến việc xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc qua việc ban hành, hoànthiện các quy phạm pháp luật, điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình cho phùhợp với sự phát triển của xã hội Trong quan hệ vợ chồng, bên cạnh đời sốngtình cảm, tình yêu thương lẫn nhau, không thể không quan tâm tới đời sống vậtchất Quan hệ tài sản giữa vợ chồng là một vấn đề hết sức quan trọng, nó là mộttrong những tiền đề giúp cho vợ chồng xây dựng cuộc sống hạnh phúc, đáp ứngnhững nhu cầu về vật chất, tinh thần cho gia đình Bản chất của quan hệ hônnhân và gia đình là các yếu tố nhân thân và tài sản gắn liền với các chủ thể nhấtđịnh, không thể tách rời và không có tính đền bù ngang giá do đó đã làm nảysinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ với nhau mà quyền sở hữu tài sảncủa vợ chồng là một vấn đề không thể thiếu trong pháp luật hôn nhân và giađình
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, các quy định của pháp luật hiệnnay nói chung và Luật hôn nhân và gia đình nói riêng ở nước ta ngày càng đượchoàn thiện, đáp ứng được đòi hỏi của quá trình toàn cầu hóa Các quy định đótừng bước đi vào cuộc sống, phát huy được hiệu quả điều chỉnh, củng cố chế độhôn nhân và gia đình Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt đượcthì việc áp dụng quy định của pháp luật vào thực tiễn không tránh khỏi nhữngvướng mắc, khó khăn trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản
ở các cấp Tòa án Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề quyền sở hữu tài sản của vợ
Trang 2chồng ở Việt Nam hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc nhằm đảm
bảo cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống
Với mong muốn góp phần vào việc làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn của
quyền sở hữu tài sản của vợ chồng, em đã mạnh dạn chọn đề tài “Một số vấn đề
về pháp luật điều chỉnh quyền sở hữu tài sản của vợ chồng ở Việt Nam hiện
nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2 Tình hình nghiên cứu
Tài sản của vợ chồng là vấn đề luôn thu hút được sự quan tâm của nhiềungười, nên đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học thể hiện qua các bài viếtđược đăng trên các tạp chí Luật học, tạp chí Nhà nước và pháp luật, tạp chí Tòa
án nhân dân hay trong các khóa luận tốt nghiệp cử nhân, luận văn thạc sỹ, tiến
sỹ luật học Gần đây nhất là công trình khoa học “Chế độ tài sản vợ chồng theo luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam” được thầy giáo Nguyễn Văn Cừ bảo vệ
thành công luận án tiến sĩ vào đầu năm 2005 Đây thực sự là những công trình
có giá trị về khoa học và thực tiễn Mặc dù đây là vấn đề đã được nghiên cứunhiều, song liên quan đến quyền sở hữu tài sản của vợ chồng luôn phát sinhnhững khó khăn phức tạp trong quá trình giải quyết, và những khó khăn đókhông phải có tính chất tương tự nhau giữa các thời kỳ, mà cùng với sự pháttriển của nền kinh tế, những quan hệ liên quan đến tài sản của vợ chồng cũngbiến động không ngừng và không phải quan hệ nào cũng được pháp luật dự liệu
Do dó, nghiên cứu quyền sở hữu tài sản của vợ chồng ở Việt Nam hiện nay vẫn
là một nhu cầu
3 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi một khóa luận tốt nghiệp, đề tài chỉ tập trung nghiên cứulàm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của các quy định pháp luật về tàisản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng theo pháp luật hôn nhân vàgia đình Việt Nam hiện hành Đồng thời qua thực tiễn áp dụng Luật, phát hiện
Trang 3những bất cập và đưa ra những kiến nghị nhằm bổ sung hoàn thiện các quy địnhcủa pháp luật trong lĩnh vực này.
4 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề trong khóa luận dựa trên cơ sởphương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh
Để đạt được mục đích nghiên cứu tác giả có sử dụng kết hợp nhiều phương phápnhư: phân tích, tổng hợp, so sánh…
5 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo khóa luận còn
có phần nội dung được cơ cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng
Chương 2: Một số vấn đề về pháp luật điều chỉnh quyền sở hữu tài sản của vợ chồng ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng ở Việt Nam hiện nay
Trang 4CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN
CỦA VỢ CHỒNG 1.1 Khái niệm tài sản và quyền sở hữu tài sản của vợ chồng
1.1.1 Khái niệm tài sản
Theo Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005 (sau đây viết tắt là BLDS năm2005): “ tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”
Bên cạnh đó, vật có thực còn bao gồm cả những vật (hay tài sản) chắcchắn sẽ có và Điều 175 BLDS năm 2005 đã xác định loại tài sản này là hoa lợi,lợi tức- đây chính là sự gia tăng của tài sản trong những điều kiện nhất định
Như vậy, ngoài yếu tố đáp ứng được nhu cầu của con người, vật có thựcvới tính cách là tài sản phải nằm trong sự chiếm hữu của con người, có đặc trưnggiá trị và trở thành đối tượng của giao lưu dân sự
- Tiền là vật đúc bằng kim loại hay in bằng giấy, do Ngân hàng nhànước phát hành, dùng làm đơn vị tiền tệ Tiền đại diện cho giá trị thực của hàng
Trang 5hóa và phương tiện lưu thông trong giao lưu dân sự, có tư cách đại diện cho chủquyền của mỗi quốc gia, mỗi chế độ nhà nước
- Giấy tờ có giá là giấy tờ có giá trị tương đương như tiền mà cácchủ thể dùng để thanh toán trong giao dịch dân sự
Ví dụ: Thẻ tín dụng, sổ tiết kiệm, trái phiếu, cổ phiếu mà trong đó có xác định
rõ giá trị của nó tương đương với một khoản tiền nhất định
- Quyền tài sản: Theo Điều 181 BLDS năm 2005, quyền tài sản là quyềntrị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự kể cả quyền
sở hữu trí tuệ
Ví dụ: Quyền đòi nợ, quyền hưởng nhuận bút của tác giả văn học nghệ thuật,quyền sử dụng đất hợp pháp
Như vậy, tài sản là vật, lợi ích vật chất khác thuộc quyền của chủ thể
1.1.2 Khái niệm quyền sở hữu tài sản của vợ chồng
Theo pháp luật hôn nhân và gia đình, tài sản của vợ chồng có thể được hiểu
là vật và những lợi ích vật chất khác thuộc quyền của vợ chồng, bao gồm vật cóthực, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản
Tuy nhiên, nếu hiểu theo khái niệm này, thì tài sản của vợ chồng mới chỉnhắc tới tài sản thuộc quyền sở hữu của vợ chồng mà không bao gồm tài sản nợthuộc nghĩa vụ của vợ chồng [22, tr7] Vì khi tham gia vào các quan hệ dân sự,
họ có thể xác lập các quyền về tài sản, đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm vềcác nghĩa vụ tài sản phát sinh Đó có thể là nghĩa vụ chung hoặc nghĩa vụ riêngcủa một bên vợ chồng Việc thực hiện nghĩa vụ tài sản được bảo đảm bằng tàisản chung hay bằng tài sản riêng là một vấn đề còn phát sinh nhiều tranh chấptrong thực tế
Do đó, tài sản của vợ chồng là vật và những lợi ích vật chất khác thuộcquyền sở hữu của vợ chồng (bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ có giá và cácquyền tài sản) và những tài sản nợ thuộc nghĩa vụ tài sản của vợ chồng
Pháp luật hôn nhân gia đình quy định về tài sản của vợ chồng nhằm cụ thểhóa quy định quyền sở hữu tài sản trong BLDS và chế độ tài sản của vợ chồng
Trang 6trong Luật hôn nhân gia đình năm 2000, phù hợp với sự vận động, phát triển củagia đình, trình độ phát triển kinh tế xã hội.
Quyền sở hữu tài sản có thể hiểu theo hai nghĩa Theo nghĩa rộng: Quyền
sở hữu tài sản là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành đểđiều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng, địnhđoạt các tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, những tài sản khác theo quy định tạiĐiều 163 BLDS Hoặc theo nghĩa hẹp: Quyền sở hữu tài sản là mức độ xử sự
mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện các quyền năng chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt trong những điều kiện nhất định [18, tr178]
Tóm lại: Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng, nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ và chồng.
Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng được pháp luật tôn trọng và bảo vệ khi
nó được xác lập trên cơ sở những căn cứ do pháp luật quy định nhằm mục đíchxác định tính hợp pháp, hình thức sở hữu tài sản do vợ chồng có được trước khikết hôn và trong thời kỳ hôn nhân, tạo cơ sở xây dựng quy chế pháp lý bảo đảmviệc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của vợ chồng
Việc pháp luật quy định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng tạo cơ sở pháp
lý để vợ chồng thực hiện quyền dân chủ và bình đẳng trong các quan hệ về tàisản, tạo điều kiện khuyến khích vợ chồng có trách nhiệm đối với cuộc sống củagia đình mình, đồng thời giúp họ thực hiện tốt vai trò của một thành viên trong
xã hội
Quy định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng là cơ sở để phân định quyền
và nghĩa vụ của vợ chồng trong việc tham gia các giao dịch về tài sản, đồng thờixác định rõ trách nhiệm và khả năng thanh toán các nghĩa vụ tài sản của vợchồng trong các giao dịch đó Bên cạnh đó, góp phần nâng cao ý thức tráchnhiệm của mỗi bên khi tham gia các giao lưu dân sự với người thứ ba
Trang 7Ví dụ: A và B ký kết hợp đồng mua bán nhà ở, nếu B biết ngôi nhà này là
tài sản chung của A và vợ là C, thì B sẽ xác định được việc mua bán ngôi nhà đócần phải có sự đồng ý của C, nếu không có sự đồng ý của C thì hợp đồng muabán nhà sẽ vô hiệu và ảnh hưởng đến quyền lợi của cả hai bên Như vậy, trongtrường hợp này căn cứ vào quy định của pháp luật có thể xác định vợ chồng A,
C bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với ngôi nhà trên nênkhi tham gia xác lập các giao dịch liên quan đến ngôi nhà đó càn phải có sựđồng ý của cả hai vợ chồng
Việc quy định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng còn có ý nghĩa là cơ sởpháp lý giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng với nhau hoặc vớingười khác nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của vợ, chồng hay người thứ
ba tham gia giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng
Ví dụ: Giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn, khi một bên
vợ chồng chết trước cần phải chia tài sản chung hoặc giải quyết các món nợ của
vợ chồng đối với những người khác
Như vậy, pháp luật quy định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng có ý nghĩa
vô cùng quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, tạođiều kiện để vợ chồng thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tài sản trong suốt thời
kỳ hôn nhân, góp phần điều tiết, ổn định quan hệ tài sản trong các giao dịch dân
sự, kinh tế, thương mại
1.2 Đăng ký tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng
Đăng ký quyền sở hữu tài sản của vợ chồng là công nhận và chứng thựccủa cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với tài sản nhằm xác định về mặt pháp
lý tài sản đó thuộc sở hữu chung hay sở hữu riêng của vợ chồng
Đây được coi là một trong những biện pháp công khai các quyền về tài sản bảo
vệ quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu đối với tài sản đó Do đó, Điều 167 BLDS
năm 2005 quy định: quyền sở hữu đối với bất động sản được đăng ký theo quy định pháp luật, quyền sở hữu đối với động sản không phải đăng ký trừ trường pháp luật có quy định khác Trên cơ sở này, khoản 2 Điều 27 Luật hôn nhân và
Trang 8gia đình năm 2000 quy định: Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của
vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng Đây là một trong những
quy định mới của Luật hôn nhân và gia đình 2000 liên quan đến quyền sở hữucủa vợ chồng đối với tài sản chung và những tài sản thuộc tài sản chung của vợchồng khi đăng ký quyền sở hữu phải ghi tên của cả hai vợ chồng gồm: nhà ở,quyền sử dụng đất là các loại tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền
sở hữu (khoản 1 Điều 5 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP của chính phủ ngày 03tháng 10 năm 2001 quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình 2000(sau đây viết tắt là Nghị định số 70/2001/NĐ-CP)
+ Nhà ở, quyền sử dụng đất là các loại tài sản có tính đặc thù Theo Điều
12 Luật nhà ở 2005: nếu nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng thì trong giấychứng nhận quyền sở hữu nhà ở phải ghi đủ tên của cả vợ chồng, trong trườnghợp một bên vợ hoặc chồng không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Namtheo quy định của pháp luật thì chỉ ghi tên người có quyền sở hữu nhà ở tại ViệtNam”
Điều 48 Luật đất đai 2003 quy định: “khi cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất mà quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng thì giấy chứngnhận quyền sử dụng phải ghi cả họ tên vợ, họ tên chồng”
+ Tài sản khác mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu như:phương tiện giao thông vân tải (ô tô, xe máy, tàu thuyền ), quyền sở hữu trítuệ
Như vậy, BLDS và các luật chuyên ngành đã quy định rõ về đăng kýquyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản để xác định chủ sở hữu hay chủ sửdụng tài sản Tài sản chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng kýquyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả hai vợchồng Tuy nhiên, thực tế vẫn còn nhiều trường hợp có những tài sản là tài sảnchung của vợ chồng nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu hay quyền sửdụng chỉ ghi tên của một bên vợ hoặc chồng Việc xác định quyền và nghĩa vụ
Trang 9của các bên vợ, chồng đối với tài sản chung còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt làkhi cần chia tài sản chung của vợ chồng Tình trạng này xuất phát từ nhiều lýdo:
- Trước ngày Nghị định số 70/2001/NĐ-CP có hiệu lực thì chưa có vănbản pháp luật quy định rõ đối với đăng ký quyền sở hữu tài sản vợ chồng về việcghi tên chủ hộ hay cả hai vợ chồng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặcgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Đối với những tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất: theo luật đất đai
2003, người đăng ký quyền sở hữu nhà ở hoặc quyền sử dụng đất phải có hộkhẩu thường trú tại nơi có bất động sản Dẫn đến thực tế, nhiều trường hợp mộtbên vợ, chồng không có hộ khẩu thường trú tại nơi có bất động sản nên khi đăng
ký quyền sở hữu, quyền sử dụng chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng Có trườnghợp vợ hoặc chồng là người nước ngoài không thuộc diện được sở hữu nhà hoặckhông thuộc diện được nhà nước giao đất thì dù nhà ở, quyền sử dụng đất là tàisản chung của vợ chồng nhưng khi đăng ký vẫn chỉ ghi tên một bên vợ hoặcchồng Đối với phương tiện giao thông, thủ tục đăng ký khá phức tạp và liênquan đến nhiều cơ quan nhà nước gây khó khăn cho việc đăng ký Đối với tàisản là quyền sở hữu trí tuệ, thì tài sản đó chỉ do một bên vợ hoặc chồng sáng tạo
ra trong thời kỳ hôn nhân nên theo quy định của pháp luật khi đăng ký chỉ ghitên vợ hoặc chồng sáng tạo ra tài sản đó
- Chưa thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của giấy chứng nhận quyền
sở hữu tài sản đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích của vợ chồng [25, tr22]
Xuất phát từ thực tế trên, Nghị định số 70/2001/NĐ-CP, và Nghị quyết số02/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 23tháng 12 năm 2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân vàgia đình 2000 (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP) đã cóhướng dẫn cụ thể:
Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên trong trường hợp tài sản chung do vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật quy định phải
Trang 10đăng ký quyền sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu thường chỉ ghi tên của vợ hoặc chồng, nếu không có tranh chấp thì đó là tài sản chung của
vợ chồng; nếu có tranh chấp là tài sản riêng thì người có tên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải chứng minh được tài sản này do thừa kế riêng, được tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản có được từ nguồn tài sản riêng Trong trường hợp không chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này là tài sản riêng thì đó là tài sản chung của vợ chồng (điểm 3b Nghị quyết số 02/2000/
NQ-HĐTP)
Hiện nay, có ý kiến cho rằng áp dụng nguyên tắc suy đoán để giải quyếttrình trường hợp này không thỏa đáng, cả hai bên đều phải có nghĩa vụ chứngminh Thực hiện theo quan điểm này có thể bảo vệ được quyền lợi ích đúng đắncủa cả hai bên, tuy nhiên trong một số trường hợp có thể là nguyên nhân dẫn đếnquá trình giải quyết tranh chấp kéo dài Điều đó cũng đòi hỏi cần có sự linhhoạt trong cách giải quyết đối với từng trường hợp cụ thể
Như vậy, các quy định hiện nay thể hiện: giấy chứng nhận quyền sở hữutài sản, giấy đăng ký tài sản hay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ là loạibằng chứng có giá trị pháp lý cao nhất trong việc chứng minh tài sản là tài sản
chung của vợ chồng hay tài sản riêng của một trong hai bên Tuy nhiên, đến thời
điểm hiện nay, các quy định của Nghị định số 70/2001/NĐ-CP vẫn chưa được
áp dung một cách đồng bộ và hiệu quả Tức là, giấy chứng nhận quyền sở hữutài sản trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam không được xem là loại bằng chứng
có giá trị pháp lý cao nhất để chứng minh tài sản tranh chấp là tài sản chung haytài sản riêng của vợ, chồng Do vậy, trong việc chứng minh nguồn gốc tài sảnbằng việc áp dụng nguyên tắc suy đoán tài sản chung, các thẩm phán chấp nhậnmột cách rộng rãi tất cả các loại bằng chứng có thể có một cách hợp pháp[21]
1.3 Khái quát về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong Luật Hôn nhân
và gia đình năm 1959 và Luật hôn nhân và gia đình năm 1986
1.3.1 Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng theo quy định của Luật HN&GĐ năm 1959
Trang 11Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình năm
1959 quy định: “vợ và chồng đều có quyền sở hữu, sử dụng và hưởng thụ ngangnhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”
Như vậy, theo Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, tài sản của vợ chồnggồm tài sản sở hữu chung hợp nhất, không tồn tại tài sản thuộc sở hữu riêng của
vợ chồng Vợ chồng có quyền bình đẳng khi thực hiện quyền sở hữu đối với tàisản chung và luôn có tỷ lệ giá trị tài sản ngang nhau trong khối tài sản chunghợp nhất đó
Bên cạnh đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 còn quy định haitrường hợp chia tài sản chung của vợ chồng Đó là chia tài sản chung khi vợhoặc chồng chết trước và chia tài sản chung khi vợ chồng ly hôn
Việc quy định quyền sở hữu tài sản vợ chồng theo quy định của Luật hônnhân và gia đình năm 1959 là hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh- tế xã hộilúc bấy giờ, đặc biệt trong việc bảo vệ lợi ích chung của gia đình, giải phóngphụ nữ thoát khỏi sự bất bình đẳng trong quan hệ gia đình nói chung và quan hệ
sở hữu nói riêng
1.3.2 Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng theo quy định của Luật HN&GĐ năm 1986
Sau gần ba mươi năm thực hiện Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, đấtnước ta bắt đầu bước vào thời kì đổi mới, các quan hệ xã hội ngày càng phongphú, đa dạng, đặc biệt là về mặt kinh tế Để đảm bảo thực sự quyền tự định đoạtcủa công dân, ngày 29 -12-1986 tại kỳ họp thứ 12 Quốc hội khóa VII đã thôngqua Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 gồm 10 chương 57 điều Luật hônnhân và gia đình năm 1986 quy định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng đượcthực hiện theo chế độ tài sản pháp định, trong đó có quy định khác về căn bản
so với Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 (như: dự liệu trường hợp chia tài sảnchung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, ghi nhận vợ chồng có quyền có tàisản riêng )
Trang 12Các quan hệ liên quan đến tài sản của vợ chồng rất phức tạp, trong khiLuật Hôn nhân và gia đình năm 1986 vẫn mang tính khái quát cao và khó ápdụng trong việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng Tình hình đóđòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 mộtcách đầy đủ, toàn diện Do đó, trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000 đã được ban hành và đây cũng chính là văn bản pháp luậtchính, chủ yếu điều chỉnh quyền sở hữu tài sản của vợ chồng ở Việt Nam hiệnnay
Trang 13CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUYỀN
SỞ HỮU TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Quyền sở hữu tài sản chung của vợ chồng
Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng ở Việt Nam hiện nay được quy địnhchủ yếu trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và một số văn bản hướngdẫn áp dụng đó là: Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP; Nghị định số70/2001/NĐ-CP Theo pháp luật Việt Nam hiện nay, quyền sở hữu tài sản của
vợ chồng được quy định theo chế độ cộng đồng tạo sản với nội dung: vừa quyđịnh chế độ tài sản chung của vợ chồng, vừa ghi nhận vợ chồng có tài sản riêng,quy định căn cứ, nguồn gốc, phạm vi xác lập tài sản chung và tài sản riêng của
vợ chồng cùng với các quyền sở hữu của vợ chồng đối với các loại tài sản đó,các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng
2.1.1 Căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng
Để đảm bảo cuộc sống chung của vợ chồng khi quan hệ hôn nhân đượcxác lập đòi hỏi cần phải có một khối tài sản đáp ứng thỏa mãn nhu cầu về tinhthần, vật chất của vợ chồng, nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau giữa vợ chồng, nghĩa
vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái
Kế thừa và phát triển Điều 14, Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình năm
1986, Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
Trang 14Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả hai vợ chồng.
Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.
Theo đó, pháp luật đã dự liệu về căn cứ, nguồn gốc, thành phần các loại tàisản thuộc sở hữu chung của vợ chồng Đặc biệt, pháp luật quy định cả nguyêntắc suy đoán để xác định những tài sản giữa vợ chồng đang có tranh chấp nhưngkhông đủ cơ sở chứng minh là tài sản riêng của vợ chồng thì được coi là thuộckhối tài sản chung của vợ chồng (khoản 3 Điều 27) Đây là quy định mới củaLuật hôn nhân và gia đình năm 2000
Như vậy, các căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
- Thời điểm phát sinh tài sản chung của vợ chồng
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 khi quy định về tài sản chung của vợchồng dựa trên hai nguyên tắc: tài sản chung chỉ hình thành từ khi có sự kiện kếthôn và sẽ không còn khi hôn nhân chấm dứt Khi hôn nhân còn tồn tại về mặtpháp lý, thì tính chất cộng đồng của hôn nhân cũng vẫn còn tồn tại Tính chấtcộng đồng này dẫn đến vợ, chồng phải chung sức, chung lòng, chung ý chí trongviệc tạo lập khối tài sản chung Do đó, những tài sản được xác lập trong “thời kỳhôn nhân” được xác định là tài sản chung của họ (trừ những tài sản mà pháp luậtquy định thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng)
Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân (khoản 7 Điều 8 Luật hônnhân và gia đình năm 2000 )
Như vậy, thời kỳ hôn nhân được tính từ khi hai bên nam nữ kết hôn, việckết hôn đó được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo thủ tục và cácđiều kiện luật định
Trên thực tế, các trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng mới chỉđược gia đình tổ chức lễ cưới theo tập quán, mà chưa đăng ký kết hôn theo thủ
Trang 15tục luật định (gọi là hôn nhân thực tế) vẫn còn xảy ra khá phổ biến Theo Nghịquyết số 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luậthôn nhân và gia đình 2000 thì những trường hợp nam nữ chung sống như vợchồng mà chưa đăng ký kết hôn trước ngày 03/01/1987, khi Luật hôn nhân vàgia đình năm 2000 có hiệu lực, dù họ có đăng ký kết hôn với nhau hay không,thì quan hệ vợ chồng của họ vẫn được pháp luật công nhận và thời điểm xác lậpquan hệ hôn nhân được tính từ ngày họ chung sống với nhau như vợ chồng chứkhông phải từ ngày đăng ký kết hôn.
Ví dụ: Anh A và chị B chung sống như vợ chồng từ ngày 20/05/1986,nhưng chưa đăng ký kết hôn Trường hợp này, sau khi Luật hôn nhân và giađình năm 2000 có hiệu lực pháp luật, dù A và B có đăng ký kết hôn với nhauhay không thì quan hệ hôn nhân của họ vẫn được pháp luật công nhận; quan hệhôn nhân của họ được xác lập từ ngày 20/5/1986
Như vậy, thời kỳ hôn nhân được tính từ ngày đăng ký kết hôn, hay ngàyxác lập quan hệ vợ chồng (áp dụng đối với hôn nhân thực tế) và về nguyên tắc,tài sản mà vợ chồng có được trong thời kỳ này đều là tài sản chung của vợchồng (trừ những tài riêng mà vợ chồng được tặng cho riêng hoặc được thừa kếriêng)
Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định, quan hệ hôn nhân chấm dứt khi cónhững sự kiện pháp lý sau:
+ Khi vợ, chồng chết, hoặc có quyết định của Tòa án tuyên bố vợ hoặcchồng bị chết khi quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật
+Trường hợp vợ chồng còn sống thì hôn nhân chấm dứt bằng ly hôn, tính
từ thời điểm phán quyết ly hôn của tòa án có hiệu lực pháp luật [24, tr131]
Do đó, thời gian vợ chồng sống ly thân do có mâu thuẫn hay thời gian chờđợi giải quyết ly hôn, kể cả thời gian bản án hay quyết định của Tòa án về chấmdứt hôn nhân chưa có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại trướcpháp luật Những tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật hôn nhân và
Trang 16gia đình năm 2000 phát sinh trong thời gian này về nguyên tắc được xác định làtài sản chung của vợ chồng.
- Dựa vào nguồn gốc tài sản
+ Thứ nhất, tài sản chung của vợ chồng được xác lập dựa vào nguồn gốc tài sản gồm các tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân: Đây là loại tài
sản phổ biến trong khối tài sản của vợ chồng Sau khi kết hôn, quan hệ vợ chồngđược xác lập, vợ chồng cùng chung sức, đồng lòng trong việc tạo dựng tài sản
để nuôi sống gia đình, bảo đảm các nhu cầu của đời sống chung, đáp ứng nghĩa
vụ chăm sóc lẫn nhau, nuôi dưỡng và giáo dục các con Tài sản do vợ chồng tạo
ra, có thể được hiểu là tài sản do cả hai vợ chồng hoặc do một bên vợ hoặcchồng lao động trực tiếp bằng sức lao động của mình để tạo ra tài sản cho giađình (Ví dụ: đóng bàn ghế, giường tủ, xây dựng nhà ở ) Cũng có thể được hiểu
là vợ chồng sử dụng tiền bạc của mình thuê người khác trực tiếp tạo ra tài sản đóhoặc mua sắm các tài sản đó, chuyển quyền sở hữu từ người khác sang quyền sởhữu của vợ chồng (mua nhà ở, tivi, ô tô, xe máy ) thì những tài sản đó cũngđược coi là tài sản do vợ chồng tạo ra
+ Thứ hai, tài sản chung của vợ chồng bao gồm những thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (đây được coi là loại tài sản chủ yếu thuộc
tài sản chung của vợ chồng) Kế thừa Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm
1986, khoản 1 Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: Thu nhập
do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác
của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng là tài sản chung của vợ chồng.
Theo từ điển Tiếng Việt, thu nhập là: “nhận được tiền bạc, của cải vậtchất từ một hoạt động nào đó”, còn theo từ điển thuật ngữ về thuế thì thu nhậplà: “quyền lợi kinh tế, tiền hay giá trị nhận được”
Như vậy có thể hiểu: thu nhập của vợ chồng là những lợi ích vật chất mà
vợ chồng có được do tham gia lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh như:tiền công, tiền lương, thành quả lao động hay lợi nhuận do kinh doanh mang lạicũng như các hoa lợi, lợi tức thu được từ các loại tài sản của vợ chồng trong quá
Trang 17trình sản xuất kinh doanh Đây được coi là loại thu nhập ổn định, cơ bản và chủyếu.
Ngoài ra, tài sản của vợ chồng còn bao gồm các thu nhập hợp pháp khác.Theo điểm a mục 3 Nghị quyết số 02/2000/NQ- HĐTP thì: Thu nhập hợp phápkhác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể hiểu là tiền thưởng, tiền trợcấp, tiền trúng thưởng xổ số, mà vợ, chồng có được hoặc tài sản mà vợ chồngđược xác lập quyền sở hữu theo quy định tại các Điều 233, 234, 235, 236, 237,
238, 239,240…BLDS năm 2005 trong thời kỳ hôn nhân
Bên cạnh đó, hiện nay việc xác định hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sảnriêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thuộc tài sản chung của vợ chồnghay không là vấn đề phức tạp còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau
Trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, do tính chất cộng đồng của quan hệ vợchồng cùng chung sức, chung ý chí tạo dựng tài sản chung nhằm bảo đảm nhucầu đời sống chung của gia đình, cho nên một trong những đặc điểm của căn cứxác lập tài sản chung của vợ chồng là: Tài sản chung của vợ chồng không nhấtthiết phải do cả hai vợ chồng cùng trực tiếp tạo ra mà chỉ cần một bên vợ chồngtạo ra được trong thời kỳ hôn nhân Do đó, hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sảnriêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng được coi là tài sản chung của
vợ chồng
+ Thứ ba, tài sản chung của vợ chồng bao gồm những tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, được tặng cho chung Đây là trường hợp xác lập
quyền sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng phụ thuộc vào sự định đoạt của chủ
sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật về thừa kế
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có thể được tặng cho chung tài sảnhoặc được hưởng thừa kế chung khối di sản, tức là trong hợp đồng tặng cho haytrong di chúc của người chết tuyên bố tặng cho hay để lại thừa kế cho hai vợchồng mà không phân biệt tỷ lệ tài sản, phần quyền mà mỗi bên được hưởng.Nếu có xác định rõ tỷ lệ đó từ trước thì về nguyên tắc những tài sản đó sẽ thuộctài sản riêng của vợ chồng và chúng chỉ trở thành tài sản chung của vợ chồng khi
Trang 18vợ chồng tự nguyện nhập khối tài sản đó vào khối tài sản chung hay thỏa thuận
đó là tài sản chung
+ Thứ tư, tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm quyền sử dụng đất mà
vợ chồng có được sau khi kết hôn: Quyền sử dụng đất là loại quyền đặc thù, theo
quy định tài Điều 688 BLDS năm 2005: “Đất đai thuộc hình thức sở hữu Nhànước, do Chính phủ thống nhất quản lý Quyền sử dụng đất của cá nhân, phápnhân, hộ gia đình, chủ thể khác được xác lập do Nhà nước giao đất, cho thuê đấthoặc công nhận quyền sử dụng đất” Do đó, vợ chồng chỉ có được quyền tài sảnnày khi được nhà nước giao đất hay cho thuê đất Xuất phát từ tính đặc thù, tầmquan trọng và vị trí đặc biệt của quyền sử dụng đất trong đời sống gia đình, Luậthôn nhân và gia đình năm 2000 đã có quy định cụ thể về loại tài sản này màtrước đó Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 chưa có quy định: “Quyền sửdụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng trừtrường hợp được thừa kế riêng”
Như vậy, cũng có thể hiểu, quyền sử dụng đất mà cả vợ chồng hoặc mỗibên vợ hay chồng được Nhà nước giao khoán, cho thuê, hay nhận thế chấp từngười khác là tài sản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặcchồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ,chồng có thỏa thuận
+ Thứ năm, tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm những tài sản được
vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Trong đời sống chung của vợ chồng, để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của giađình vợ chồng đã tự nguyện nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung hoặc vợchồng đã thỏa thuận tài sản riêng của một trong hai bên là tài sản chung của vợchồng Đồng thời, xuất phát từ nguyên tắc đảm bảo quyền tự định đoạt tài sảncủa vợ chồng, khoản 1 Điều 32 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
“Vợ chồng có quyền nhập hay không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung”
Do đó, vợ chồng có thể thỏa thuận: Tài sản có trước kết hôn, tài sản được thừa
kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản được chia riêng cho vợ
Trang 19chồng trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân,
đồ dùng tư trang cá nhân là tài sản chung của vợ chồng Trong trường hợpthỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng mà theo quy địnhpháp luật tài sản đó phải có đăng ký quyền sở hữu thì thỏa thuận đó phải đượclập bằng văn bản có chữ ký của cả hai vợ chồng và phải được công chứng tại cơquan nhà nước có thẩm quyền
+ Thứ sáu, tài sản không đủ chứng cứ xác định là tài sản riêng thì nó sẽ
được suy đoán là tài sản chung
Đây là nguyên tắc xác định tài sản có tính suy đoán pháp lý lần đầu tiênđược quy định trong Luật hôn nhân và gia đình của nước ta Việc quy địnhnguyên tắc này hiện nay đã khắc phục những khó khăn, phức tạp trong thực tiễn
áp dụng quy định của pháp luật hôn nhân gia đình trong việc xác định nguồn gốctài sản của vợ chồng
Vấn đề xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng được quy địnhtương đối cụ thể trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Tuy nhiên, trongthực tiễn, một khi đời sống chung giữa vợ chồng càng kéo dài thì không thểtránh khỏi tình trạng các tài sản lẫn lộn với nhau, đặc biệt khi vợ chồng xác lậpcác giao dịch liên quan đến tài sản Do đó, không phải lúc nào nguồn gốc của tàisản cũng có thể xác định được theo các quy định về việc xác định tài sản chung(Điều 27) và tài sản riêng (Điều 32) Trong bối cảnh đó, quy định về việc suyđoán tài sản chung mà nhà làm luật đặt ra trong khoản 3 Điều 27 có ý nghĩa nhưmột nguyên tắc có tính chất định hướng trong việc giải quyết các tranh chấpgiữa vợ chồng với nhau về nguồn gốc tài sản, góp phần bảo đảm được sự côngbằng trên cơ sở vì lợi ích chung của gia đình và vợ chồng
Tuy nhiên, với tư cách là một nguyên tắc suy đoán, tác dụng của nguyên tắcnày chỉ dừng lại ở chỗ thiết lập một sự suy đoán, không có ý nghĩa khẳng địnhchắc chắn tất cả tài sản trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợchồng Mặt khác, nguyên tắc này còn có ý nghĩa như một trở ngại không nhữngđối với vợ, chồng trong việc chứng minh tài sản là của riêng, mà còn là trở ngại
Trang 20đối với người thứ ba, cụ thể là các chủ nợ riêng của vợ, chồng (các chủ nợ chỉđược đảm bảo thanh toán bằng tài sản riêng) trong việc yêu cầu kê biên tài sảnriêng Các chủ nợ riêng này muốn kê biên tài sản riêng của vợ, chồng mắc nợ,buộc phải chứng minh tài sản mà họ yêu cầu kê biên là tài sản riêng của ngườimắc nợ[21].
Do đó, để bảo vệ lợi ích gia đình và tạo cơ sở pháp lý để giải quyết tranhchấp, bảo đảm nguyên tắc công bằng hợp lý, khoản 3 Điều 27 Luật hôn nhân và
gia đình năm 2000 đã quy định: Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng
Thực hiện đúng quy định này góp phần công khai, minh bạch khối tài sảncủa vợ chồng, bảo vệ quyền lợi đúng đắn của các bên khi phát sinh tranh chấp
Qua phân tích trên có thể thấy:
+ Tài sản chung của vợ chồng không cần phải do cả hai vợ chồng cùngtrực tiếp tạo ra tài sản đó,
+ Tài sản chung của vợ chồng được tạo dựng không phụ thuộc vào điềukiện vợ chồng ở chung hay ở riêng mà chỉ cần đó là tài sản do vợ chồng tạo ratrong thời kỳ hôn nhân,
+ Vợ chồng có quyền bình đẳng khi thực hiện quyền sở hữu đối với khốitài sản chung đó mà không phụ thuộc vào công sức đóng góp
Như vậy, sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất và theopháp luật dân sự đó là hình thức sở hữu chung trong đó phần quyền sở hữu củamỗi chủ sở hữu không được xác định đối với tài sản chung Theo đó, vợ chồngcùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người,
có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung
Vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sửdụng, định đoạt tài sản chung Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theothỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án Do đó, theo quy định của pháp luật
vợ chồng không thể thỏa thuận thay đổi được chế độ tài sản chung này
Trang 21Tóm lại, Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định căn cứ
xác lập tài sản chung của vợ chồng là dựa vào thời kỳ hôn nhân và nguồn gốccủa các loại tài sản thuộc khối tài sản chung của vợ chồng Những quy định này
có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở pháp lý bảo đảm quyền và nghĩa vụ của vợchồng đối với tài sản chung
2.1.2 Quyền của vợ chồng đối với tài sản chung
Vợ chồng có quyền bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung
Trên tinh thần Điều 219 BLDS năm 2005, Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 đã cụ thể hóa quyền bình đẳng của vợ chồng đối với sở hữu chung hợpnhất Vợ chồng không chỉ bình đẳng trong quá trình tạo lập tài sản chung màcòn bình đẳng về quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung, bình đẳng trong việcphân chia tài sản chung hợp nhất
Trong thời kỳ hôn nhân, không phân biệt mức thu nhập của người này caohay thấp hơn mức thu nhập của người kia, tài sản không nhất thiết phải do cả hai
vợ chồng tạo ra mà chỉ cần do một bên vợ hoặc chồng tạo ra thì tài sản đó cũngvẫn là tài sản chung của vợ chồng Do đó, theo khoản 1 Điều 28 Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000 quy định: “Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhautrong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng”
Xuất phát từ tính chất của cuộc sống chung, mọi vấn đề liên quan đếncuộc sống gia đình đều phải gắn liền với lợi ích, nhu cầu chung của mọi thànhviên trong gia đình Do đó, vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận sử dụng tài sảnchung nhằm đảm bảo cuộc sống chung của vợ chồng, bảo đảm nghĩa vụ nuôidưỡng con cái cũng như quyền lợi của các thành viên khác trong gia đình
Do tính cộng đồng của quan hệ hôn nhân và cuộc sống chung của vợchồng đòi hỏi vợ chồng phải thực hiện các giao dịch dân sự với những ngườikhác liên quan đến tài sản chung, nên khoản 3 Điều 28 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000 còn quy định cụ thể: “Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao
Trang 22dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này”.
Theo khoản 3 Điều 4 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP: Tài sản có giá trị lớncủa vợ chồng được xác định căn cứ vào phần giá trị của tài sản đó trong khối tàisản chung của vợ chồng
Tài sản là nguồn sống duy nhất của gia đình có thể hiểu là tài sản duy nhấtcủa vợ chồng có giá trị đáp ứng nhu cầu cho cuộc sống chung của gia đình
Vì vậy, để đảm bảo lợi ích chung của gia đình, Điều 4 Nghị định số70/2001/NĐ-CP đã cụ thể hóa khoản 3 Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 thông qua quy định: Các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của
vợ chồng mà có “giá trị lớn” hoặc giao dịch đó có liên quan đến việc định đoạttài sản riêng thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng nhưng đã đưa vào
sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó là nguồn sống duy nhấtcủa gia đình đều phải có sự thỏa thuận của vợ chồng theo đúng hình thức màpháp luật quy định
Trong trường hợp vợ hoặc chồng xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt cácgiao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của vợ chồng mà không có sự đồng
ý của một bên, thì bên đó có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vôhiệu theo quy định tại Điều 134 BLDS năm 2005 và hậu quả pháp lý được giảiquyết theo quy định tại Điều 137 BLDS Theo đó, có thể hiểu: đối với nhữnggiao dịch thông thường liên quan đến những tài sản “không có giá trị lớn” nhằmđáp ứng các nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình, thì hành vi xử sự của vợ,chồng khi định đoạt tài sản chung đó luôn được pháp luật coi là có sự thỏa thuậnđương nhiên của cả hai vợ chồng (mặc dù chỉ có một bên vợ, chồng định đoạttài sản)
Ví dụ: vợ chồng tham gia giao dịch dùng tài sản chung của vợ chồng đápứng nhu cầu ăn ở, học hành, chữa bệnh thì các giao dịch này luôn được coi là
Trang 23có sự thỏa thuận đương nhiên của cả hai vợ chồng Còn đối với tài sản chung cógiá trị lớn như: nhà ở, quyền sử dụng đất, ô tô, xe máy thì khi định đoạt phải
có sự đồng ý của cả hai vợ chồng Nếu hợp đồng liên quan đến tài sản chung của
vợ chồng có giá trị lớn mà pháp luật quy định phải được ký kết bằng văn bản thìhình thức của hợp đồng phải tuân theo quy định của pháp luật (ví dụ: Hợp đồngmua bán nhà ở, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất ), vợ, chồng phải cùngtrực tiếp ký vào văn bản, nếu chỉ có một bên trực tiếp ký thì phải có giấy ủyquyền cho vợ, chồng ký thay thì khi đó hợp đồng mới có hiệu lực
Bên cạnh đó, Điều 25 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 còn quy định:
“Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợppháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếucủa gia đình” Giao dịch hợp pháp ở đây được hiểu là hợp đồng vay tài sản (tiền,vàng, ngoại tệ ) hoặc giấy vay tiền, không phân biệt viết tay hay đánh máy dongười có đủ năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện Nhu cầu thiết yếu củagia đình có thể hiểu là: ăn, ở, mặc, chăm sóc sức khỏe cho các thành viên tronggia đình, việc học hành của con trẻ
Theo Luật định thì đối với những giao dịch hợp pháp nhằm đáp ứng nhucầu chi tiêu, sinh hoạt, tiêu dùng trong gia đình, pháp luật không bắt buộc cả vợ
và chồng cùng ký tên vay hoặc khi vay phải hỏi ý kiến người kia, và khi hậu quảxảy ra, thì cả vợ và chồng đều phải liên đới trách nhiệm trong việc trả nợ, đó là
nợ chung của vợ và chồng Trường hợp có tranh chấp, chẳng hạn như một bênvay để tiêu xài chung mà bên kia không đồng ý liên đới trả nợ, thì người vaymượn có nghĩa vụ phải chứng minh việc vay mượn là để đáp ứng nhu cầu sinhhoạt thiết yếu trong gia đình
Như vậy, quy định tại Điều 25, Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 và Nghị định số 70/2001/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý trong thực tiễn ápdụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 liên quan đến các quy định về cácgiao dịch dân sự trong BLDS
Trang 242.1.3 Các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng
- Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000)
Theo nguyên tắc chung, chế độ tài sản chung của vợ chồng chỉ tồn tạitrong thời kỳ hôn nhân Tuy nhiên, trong thực tế nhiều cặp vợ chồng vì những lý
do khác nhau muốn được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (có thể xuấtphát từ việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung hoặc do có mâu thuẫn vềmặt tình cảm nhưng không muốn ly hôn mà muốn độc lập về tài sản)
Xuất phát từ thực tế trên, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 29,Điều 30) trên cơ sở kế thừa và phát triển Luật hôn nhân và gia đình năm 1986(Điều 18) tiếp tục quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân: Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo đó, trong trường hợp có lý do chính đáng, việc chia tài sản chungcủa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể được thực hiện thông qua thỏa thuậnbằng văn bản giữa vợ chồng hoặc bằng bản án, quyết định của tòa án Khi chiatài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân quan hệ nhân thân giữa vợchồng không thay đổi Đây chính là điểm khác biệt nhất của chế định này so vớichế định ly thân được quy định trong pháp luật của một số nước phương tây.Việc quy định theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 là hoàn toàn phù hợpbản chất hôn nhân được xác lập dưới chế độ xã hội chủ nghĩa
Theo quy định trên, các trường hợp vợ chồng yêu cầu chia tài sản chungtrong thời kỳ hôn nhân là:
+ Chia tài sản chung khi vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng: Đây là trườnghợp khi một bên vợ hoặc chồng muốn tự mình kinh doanh hoặc hợp tác vớingười thứ ba nhưng không muốn ảnh hưởng đến khối tài sản chung của vợchồng khi thua lỗ, hoặc không đủ vốn, hoặc do một bên muốn đầu tư kinh doanh
Trang 25vào một lĩnh vực nào đó nhưng người còn lại không đồng ý Do đó, để thuậntiện cho việc đầu tư kinh doanh riêng của mình vợ, chồng có thể yêu cầu đượcchia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
+ Chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên thực hiện nghĩa vụ dân sựriêng: Nghĩa vụ phát sinh từ khoản nợ mà vợ, chồng vay của người khác trướckhi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân nhưng sử dụng vào mục đích cá nhân,
mà không vì lợi ích chung của gia đình; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do hành vitrái pháp luật của vợ, chồng; nghĩa vụ cấp dưỡng cho con riêng; nghĩa vụ cấpdưỡng cho vợ hoặc chồng cũ (rơi vào cảnh khó khăn túng thiếu có yêu cầu cấpdưỡng)
+ Chia tài sản chung của vợ chồng khi có lý do chính đáng khác
Pháp luật không có quy định cụ thể lý do chính đáng khác ở đây là baogồm những gì? Xuất phát từ thực tiễn, có thể hiểu: Lý do chính đáng khác trongtrường hợp này là những mâu thuẫn sâu sắc về tình cảm giữa vợ chồng, song dotuổi cao, địa vị xã hội, nghề nghiệp, danh dự, uy tín trách nhiệm đối với cáccon mà họ không muốn ly hôn
Về phương diện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân,trên cơ sở kế thừa và phát triển Điều 18 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 :
“Các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại đều
do Toà án quyết định”, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cho phép hai vợchồng thỏa thuận chia tài sản chung bằng văn hoặc yêu cầu tòa án giải quyết.Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình không quy định nguyên tắc chia
Xuất phát từ đặc điểm hình thức sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng,trong đó tỷ lệ tài sản của mỗi bên vợ chồng trong khối tài sản chung là ngangnhau Pháp luật cần phải quy định cụ thể nguyên tắc chia tài sản chung của vợchồng theo nguyên tắc chia đôi tài sản chung của vợ chồng, trong đó có xem xétcông sức đóng góp của mỗi bên vợ chồng để tạo cơ sở pháp lý thống nhất ápdụng trong thực tiễn
Trang 26Về hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân:
+ Hậu quả pháp lý về nhân thân: không làm chấm dứt quan hệ hôn nhântrước pháp luật, các quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng vẫn phải được đảm bảo
+ Hậu quả pháp lý về tài sản:
Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng củamỗi người, phần tài sản không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng (Điều
30 Luật hôn nhân và gia đình 2000) Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản chungcòn lại vẫn thuộc tài sản chung của vợ chồng
Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh, và những thu nhậphợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ,chồng trừ trường hợp có thỏa thuận khác (Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP)
Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ
về tài sản không được pháp luật công nhận (khoản 2 Điều 29 Luật hôn nhân vàgia đình 2000), được hướng dẫn cụ thể tại Điều 11 Nghị định số 70/2001/NĐ-
CP Đây là quy định mới của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Bên cạnh đó, trong trường hợp sau khi chia tài sản chung mà vợ chồngmuốn khôi phục lại chế độ tài sản chung thì theo Điều 9 và Điều 10 Nghị định
số 70/2001/NĐ-CP, trong trường hợp vợ chồng có thoả thuận bằng văn bản vềkhôi phục chế độ tài sản chung, thì kể từ ngày văn bản thoả thuận khôi phục chế
độ tài sản chung có hiệu lực, việc xác định phần tài sản thuộc sở hữu riêng củamỗi bên, phần tài sản thuộc sở hữu chung căn cứ vào sự thoả thuận của vợchồng Như vậy, vợ chồng có quyền chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhânđồng thời có quyền khôi phục chế độ tài sản chung mà không cần có sự xem xétcủa Tòa án Đây là một quyền hạn khá rộng mà pháp luật trao cho vợ chồng,đảm bảo quyền tự do định đoạt tài sản của công dân
- Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Trang 27Khi phán quyết ly hôn của tòa án có hiệu lực pháp luật, quan hệ vợ chồngđược chấm dứt cả về mặt nhân thân và tài sản Về tài sản chung của vợ chồng sẽđược chia theo yêu cầu của vợ chồng Việc chia tài sản khi ly hôn do các bênthỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết Tài sản củabên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó (khoản 1 Điều 95).
Quy định như vậy đảm bảo quyền tự định đoạt của vợ chồng Trongtrường hợp vợ chồng tự thỏa thuận với nhau về việc chia tài sản chung, nuôi conkhi ly hôn (còn gọi là thuận tình ly hôn) sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thihành án khi phân chia tài sản của vợ chồng Trường hợp vợ chồng không thỏathuận với nhau, có yêu cầu Tòa án giải quyết, tòa án cần phải xem xét: xác địnhtài sản chung, tài sản riêng, người có quyền, lợi ích liên quan, công sức đónggóp
+ Đối với tài sản riêng: tài sản riêng của bên nào vẫn thuộc quyền sở hữucủa bên đó, nếu có tranh chấp về tài sản riêng, bên nào cho rằng đó là tài sảnriêng của mình, phải có nghĩa vụ chứng minh; nếu không có chứng cứ chứngminh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tàisản đó là tài chung của vợ chồng
+ Đối với tài sản chung: theo khoản 2 Điều 95: về nguyên tắc được chiađôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đónggóp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này Lao động của
vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; bảo vệ quyền lợicủa vợ, con chưa thành niên, tàn tật Tài sản chung của vợ chồng được chiabằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giátrị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trịchênh lệch Việc chia tài sản cũng phải bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bêntrong sản xuất kinh doanh
Bên cạnh đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 còn quy định cáctrường hợp chia tài sản chung trong trường hợp sống chung với gia đình (Điều96), chia quyền sử dụng đất của vợ chồng (Điều 97), chia nhà ở thuộc sở hữu
Trang 28chung (Điều 98), giải quyết quyền lợi của vợ chồng khi ly hôn trong trường hợpnhà ở thuộc sở hữu riêng của một bên (Điều 99) và được cụ thể hóa trong Nghịđịnh số 70/2001/NĐ-CP (Điều 23 đến Điều 29) và bảo đảm quyền lưu cư của
vợ, chồng trong thời hạn 6 tháng (khoản Điều 30 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP)
Tuy nhiên, trên thực tế các tranh chấp phát sinh liên quan đến chia tài sảntrong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, các tranh chấpliên quan đến quyền sử dụng đất thường rất phức tạp, dẫn đến tình trạng thờigian giải quyết kéo dài
Ví dụ: Theo bản án sơ thẩm số 18/2009/HNGĐ- ST, ngày 28/9/2009 của
Tòa án nhân dân (sau đây viết tắt là TAND) quận Cầu Giấy, trong đơn ly hônngày 9/11/2008 và lời khai tại Tòa, nguyên đơn Nguyễn Thu Hương trình bày:Ngày 26/1/1999, chị tự nguyện kết hôn với anh Nguyễn Giang Sau một thờigian, hạnh phúc đổ vỡ do chị không thể sinh con theo nguyện vọng của chồng.Anh Giang có quan hệ với phụ nữ khác Vợ chồng chị đã ly thân trong nhiềunăm Đến nay, do thấy không thể tiếp tục sống chung nên chị đề nghị ly hôn
Tài sản chung của vợ chồng chị là ngôi nhà 4 tầng, trên diện tích 87m2 ở
số 11, ngõ 46, phố Quan Nhân, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy (gọi tắt lànhà số 11); một xe ô tô Isuzu - Lander biển kiểm soát 29T - 5572 và đồ dùngsinh hoạt trong nhà Khi ly hôn, chị Hương đề nghị Tòa xử chị được chia giá trịchiếc xe Còn về ngôi nhà, chị đã đóng góp 70% trong việc mua đất, xây nhànên đề nghị Tòa căn cứ vào quy định của pháp luật để chia Chị đề nghị Tòachia bằng hiện vật, theo cách chia dọc nhà từ dưới lên trên để thuận tiện sửdụng Cũng trong bản án sơ thẩm này, bị đơn, anh Nguyễn Giang trình bày Vềtài sản, anh cho rằng chiếc xe ô tô Isuzu – Lander, biển kiểm soát 29T - 5572 làcủa riêng anh Về ngôi nhà, anh cho biết đó là tài sản của anh, chị Hương và bố
mẹ anh (đóng góp 65 cây vàng 9999) Số tiền này, anh nhận từ mẹ mình là bàBùi Thị Khang vào khoảng tháng 8/1998 Thời điểm này anh và chị Hương chưasống chung với nhau Việc đưa số vàng 65 cây có sự chứng kiến của những
Trang 29người thân trong gia đình anh như bố, mẹ, em gái Theo anh Giang, phần đónggóp của chị Hương 200.000.000 trên tổng giá trị ngôi nhà lúc đó là1.270.000.000 Khi ly hôn, anh sẽ thanh toán cho chị Hương bằng tiền đúng vớigiá trị chị đã đóng góp theo giá trị mà Hội đồng định giá xác định để chị Hương
đi tìm nơi ở mới
Tại phiên tòa sơ thẩm, TAND quận Cầu Giấy quyết định: Xác nhận ngôinhà có tổng giá trị hiện thời 7.261.590.860; Xác nhận ngôi nhà số 11, là tài sảnchung của bà Bùi Thị Khang, chị Nguyễn Thu Hương và anh Nguyễn Giang.Trong đó, bà Khang sở hữu 25% giá trị tài sản nhà đất, anh Giang và chị Hương
sở hữu 75% giá trị nhà đất Giao cho anh Giang toàn quyền sử dụng một phầnnhà đất tại nhà số 11 và có nghĩa vụ thanh toán trả chị Hương tài sản chungbằng tiền là 2.723.096.500 Chị Hương không đồng ý với quyết định trên, nên đã
có kháng cáo
Theo chúng tôi, đối với vụ việc này, Hội đồng xét xử cần xem xét lại việc
bố mẹ anh Giang có cung cấp tiền để anh mua ngôi nhà số 11 hay không trên cơ
sở những căn cứ xác thực Thực tế, đã có những trường hợp khi kết hôn, vợ hoặcchồng không biết đến những quyền sở hữu của những người khác trong tài sảncủa người vợ hoặc người chồng Còn việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ trên lờikhai của nhân chứng thì chưa đủ, bởi có thể những lời khai này không kháchquan Những giấy tờ có giá trị pháp lý về quyền sở hữu ngôi nhà số 11 của anhGiang và chị Hương đưa ra có phải là căn cứ khẳng định đây là tài sản thuộcquyền sở hữu của hai người không? Tòa án cũng có thể xem xét đến nhữngchứng cứ khác để xác định quyền sở hữu ngôi nhà thuộc về những ai? Theo tìnhtiết vụ án, ngôi nhà số 11 là tài sản trước hôn nhân do chị Hương và anh Gianggóp tiền mua (nhà mua từ cuối năm 1998, tháng 1/1999 chị Hương mới kết hônvới anh Giang) Khi mua ngôi nhà trên, xác định chị Hương và anh Giang cùnggóp tiền mua, và cùng đứng tên trong giấy tờ sở hữu ngôi nhà trong suốt thời kỳhôn nhân mà không xác định phần quyền của bố mẹ anh Giang Có thể khi đó,
Trang 30bố mẹ anh Giang cho anh Giang tiền để mua nhà thì xác định đó là tài sản củaanh Giang cùng góp vào với chị Hương, nếu anh Giang được bố mẹ cho vay tiền
để mua nhà thì đó là số nợ riêng của anh Giang Mọi giao dịch liên quan đếnngôi nhà đều đứng tên của chị Hương và anh Giang, khi chưa phát sinh tranhchấp hai bên đều không xác định rõ phần quyền của bố mẹ anh Giang trong ngôinhà đó, bố mẹ anh Giang chỉ sống cùng trong ngôi nhà đó với vợ chồng anhGiang Khi có yêu cầu ly hôn thì họ lại ra sức chứng minh phần quyền của mìnhtrong khối tài sản đó có thể nhằm chia nhỏ khối tài sản, và phần quyền của chị
Hương cũng được thu hẹp hơn Do đó, cần phải xác định ngôi nhà số ngôi nhà 4
tầng, trên diện tích 87m2 ở số 11, ngõ 46, phố Quan Nhân, phường Trung Hòa,quận Cầu Giấy là tài sản chung của vợ chồng Hương Giang
- Chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chết trước
Điều 31 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 không quy định cụ thể vềnguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chết trướchoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết nhưng nguyên tắc “chia đôi” tài sản chungcủa vợ chồng khi một bên vợ chồng chết trước hoặc bị Tòa án tuyên bố là đãchết là phù hợp Vì trước đây, Điều 17 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 quy
định: “khi một bên chết trước, nếu cần chia tài sản chung của vợ chồng thì chia đôi”; và theo điểm a khoản 2 Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì:
“tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi” (khi vợ chồng ly
hôn) Tuy nhiên, để có quan điểm chung, thống nhất khi áp dụng cần phải bổsung nguyên tắc chia đôi tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chếttrước hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết vào Điều 31 Luật hôn nhân và gia đìnhnăm 2000
Bên cạnh đó, để bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của người chồng hoặcngười vợ còn sống khi vợ, chồng chết trước, cũng như quyền lợi của các con,khoản 3 Điều 31 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 còn dự liệu trường hợphạn chế quyền yêu cầu chia di sản thừa kế của những người thừa kế và được cụ