1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình hình thành từ GATT đến WTO và các nguyên tắc cơ bản (MFN)

31 3,1K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 304 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình hình thành từ GATT đến WTO và các nguyên tắc cơ bản (MFN)

Trang 1

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

NỘI DUNG

1 GATT (General Agreement on Tariffs and Trade) - Hiệp định chung về Thuế

quan và Thương mại 4

1.1 Lịch sử hình thành 4

1.2 Các vòng đàm phán của GATT 5

1.3 Nội dung Hiệp định chung GATT 7

1.4 Sự cần thiết phải thiết lập một hệ thống mới - Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) 8

2 WTO (World Trade Organization) – Tổ chức Thương mại thế giới 10

2.1 Sự thành lập WTO 10

2.2 Hệ thống pháp lý của WTO 13

2.3 Ý nghĩa việc ra đời WTO 14

2.4 Sự khác nhau giữa GATT và WTO 14

3 Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) và nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) 15

3.1 Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) 16

3.1.1 Lịch sử ra đời của MFN 16

3.1.2 Nội dung cơ bản của MFN 16

3.1.3 Mục đích của sự hình thành nguyên tắc MFN 17

3.1.4 Quy định về đối xử tối huệ quốc trong luật thương mại quốc tế 18

3.1.4.1 Lĩnh vực hàng hóa 18

3.1.4.2 Lĩnh vực dịch vụ 20

3.1.4.3 Lĩnh vực đầu tư 20

3.1.4.4 Sở hữu trí tuệ 20

3.1.5 Những ngoại lệ của nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc 21

3.1.6 MFN đối với các nước đang phát triển (GSP) 22

3.1.7 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc tối huệ quốc trong GATT và WTO 24

3.2 Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) 25

3.2.1 Khái niệm 25

3.2.2 Mục đích 25

3.2.3 Phạm vi áp dụng 25

3.2.3.1 Lĩnh vực hàng hóa nhập khẩu và sở hữu trí tuệ 25

3.2.3.2 Lĩnh vực dịch vụ 26

3.2.3.3 Lĩnh vực đầu tư 27

3.3 Những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam khi được hưởng MFN và NT 27

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

LỜI MỞ ĐẦU

Trang 3

Các nền kinh tế trên thế giới, ngày nay không ngừng vận động và ngày càng phụ thuộc lẫn nhau qua những hoạt động trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ… Điều này đòi hỏi cần phải có một tổ chức quốc tế đứng ra để điều tiết, thúc đẩy hoạt động giao thương phát triển thông qua các quy tắc và cam kết được thiết lập Bên cạnh đó trong quá trình giao lưu buôn bán quốc tế tất yếu nảy sinh nhiều vấn đề, từ các rào cản thuế quan, phi thuế cũng như các tranh chấp phát sinh sẽ ảnh hưởng xấu đến tiến trình tự do hóa thương mại các quốc gia đang theo đuổi Với những mục tiêu đó, các quốc gia đã có ý tưởng thành lập Tổ chức Thương mại quốc tế (International Trade Organization - ITO) từ những năm 40 của thế kỷ 20 với nhiệm vụ của tổ chức này là điều tiết thương mại quốc

tế, tạo ra một môi trường thương mại thế giới ngày càng thông thoáng, xúc tiến tự do hóa thương mại Tuy nhiên do những nguyên nhân chủ quan và khách quan, đến năm 1995 một tổ chức quốc tế hội đủ các vai trò đó mới ra đời - Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Organization - WTO) mà tiền thân là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (General Agreement on Tariffs and Trade - GATT) Quá trình hình thành từ GATT đến WTO là một quá trình lâu dài, phức tạp, trải qua nhiều vòng đàm phán Qua các vòng đàm phán đó, nhiều nguyên tắc hoạt động đã được thiết lập, trong đó có bốn nguyên tắc pháp lý nền tảng: tối huệ quốc (Most Favoured Nation - MFN), đãi ngộ quốc gia (National Treatment - NT), mở cửa thị trường và cạnh tranh công bằng Với mục tiêu làm rõ quá trình hình thành từ GATT đến WTO và hai nguyên tắc nền tảng quan trọng nhất trong hệ thống thương mại đa phương là MFN và NT, nhóm đã thực hiện đề tài

nghiên cứu “Quá trình hình thành từ GATT đến WTO và các nguyên tắc cơ bản (MFN &

NT)”.

Nhóm thuyết trình

Đề tài tiểu luận

Trang 4

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TỪ GATT ĐẾN WTO VÀ NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN (MFN & NT)

1 GATT (General Agreement on Tariffs and Trade) - Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại

GATT (General Agreement on Tariffs and Trade) - Hiệp định chung về Thuế quan

và Thương mại là hiệp định quốc tế nhiều bên về các quy tắc và trình tự điều chỉnh quan

hệ thương mại quốc tế, quy định quyền và nghĩa vụ của các quốc gia tham gia hiệp định

Năm 1941, Anh và Hoa Kỳ đã ký Hiến chương Đại Tây Dương với nội dung mở cửa thị trường trên cơ sở bình đẳng và mở rộng sự hợp tác giữa các quốc gia

Tháng 7/1944, khi Đại chiến Thế giới thứ II sắp kết thúc, quân đồng minh sắp giành được thắng lợi hoàn toàn, tại Bretton Woods (Hoa Kỳ), 34 nước đã nhóm họp và quyết định lập

ra Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB). Lúc này, hai nhà kinh tế học là John Maynard (Anh) và Harry Dexter White (Hoa Kỳ) đồng thời đưa ra đề nghị nên thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (International Trade Organization - ITO) Ý tưởng của hai ông là hình thành một thế chân vạc về kinh tế, tài chính và thương mại cho thế giới sau những cuộc khủng hoảng dữ dội đã dẫn đến chủ nghĩa phát xít và chiến tranh khốc liệt Tài chính và tiền tệ sẽ do IMF chịu trách nhiệm, phát triển kinh tế là nhiệm vụ của WB, còn ITO sẽ chịu trách nhiệm xúc tiến đồng bộ các vấn

đề có liên quan đến mậu dịch giữa các quốc gia nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các nước sau chiến tranh

Tháng 6/1946, Hội đồng kinh tế - xã hội Liên Hợp Quốc triệu tập hội nghị về thương mại và việc làm, đồng thời thảo ra Hiến chương La Havana Văn kiện này có một ý nghĩa rất quan trọng và lẽ ra phải dẫn tới sự thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế Tuy nhiên, Hiến chương La Havana đã không thể có hiệu lực vì nguyên nhân xuất phát từ phía Hoa

Kỳ, nước đã đưa ra sáng kiến thành lập ITO, Quốc hội Hoa Kỳ đã không phê chuẩn và điều kiện tiên quyết của tổ chức này là bao trùm tối thiểu 80% thương mại thế giới đã không đạt được Chính phủ các quốc gia khác sau khi thấy Hoa Kỳ không phê chuẩn Hiến chương cũng quyết định không đệ trình lên quốc hội của nước mình văn kiện này để phê chuẩn Việc Hoa Kỳ không thông qua việc thành lập ITO với nguyên nhân vì sau chiến tranh

Trang 5

Thế giới II, cả nước bại trận cũng như nước thắng trận, ở châu Âu và châu Á đều kiệt quệ, điêu tàn, chỉ có Hoa Kỳ là ngược lại, phát triển rất mạnh nhờ chiến tranh (năm 1945, GNP của Hoa Kỳ là 213.5 tỷ USD, bằng 40% tổng sản phẩm toàn thế giới, tăng gần gấp đôi so với 125.8 tỷ USD của năm 1942) Đứng trước tương quan kinh tế thế giới như vậy, rõ ràng Hoa Kỳ đã không cần và không mong muốn có sự bình đẳng trong quan hệ thương mại giữa các quốc gia Ngược lại, cái mà Hoa Kỳ mong muốn là buộc các quốc gia phải cúi đầu khuất phục và bị lệ thuộc vào Hoa Kỳ Và vì thế, thay vì bình đẳng trong trao đổi thương mại quốc tế, Hoa Kỳ đã dùng con bài “viện trợ phát triển” (Development Aid) theo sáng kiến của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đương thời là George C.Marshall Ngay tức khắc “Kế hoạch Marshall” được triển khai và những trận “mưa dollar” khổng lồ

đã ồ ạt đổ xuống châu Âu thông qua World Bank, mà chủ yếu là qua Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế (IBRD) với 12 tỷ USD trong 4 năm (1947 - 1951).

Tuy vậy, sau vài năm chiến tranh, kinh tế của các nước được hồi phục dần, họ bắt đầu tham gia trở lại vào hoạt động thương mại quốc tế với các luật lệ riêng của mình Sự phục hồi này bắt đầu ảnh hưởng đến Hoa Kỳ, hàng hoá của Hoa Kỳ (đặc biệt là hàng công nghiệp) khó vào các thị trường vì các rào cản thương mại, đặc biệt là thuế quan Bên cạnh đó, những hàng hoá của các nước bắt đầu thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ… Để phục vụ cho quyền lợi của Hoa Kỳ và mặc dù ITO không được thừa nhận, nhưng Chính phủ Hoa Kỳ đã chủ trương soạn thảo Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (General Agreement on Tariffs and Trade - GATT) GATT đã được 23 nước thương lượng và ký ngày 23/10/1947, có hiệu lực từ ngày 01/01/1948 GATT được coi là các quy định tạm thời cho hoạt động thương mại quốc tế trong lĩnh vực thương mại hàng hóa, trong đó chủ yếu bao gồm các hiệp định về giảm thuế quan (thuế nhập khẩu) và những hạn chế khác đối với

tự do thương mại

Mục đích của GATT là tự do hoá thương mại quốc tế, đặt ra các biểu thuế quan và các điều kiện trao đổi buôn bán giúp các nước thành viên ổn định giá cả và tăng cường trao đổi hàng hoá với nhau.

1.2 Các vòng đàm phán của GATT

Trong lịch sử tồn tại 48 năm của mình, GATT đã trải qua 8 vòng đàm phán với 124 thành viên và 25 quốc gia xin gia nhập với các nội dung cụ thể sau:

giảm thuế quan

Số nước tham gia

Trang 6

(Nguồn: WTO thường thức – PGS TS Bùi Tất Thắng)

Đáng chú ý là khoảng cách giữa các vòng đàm phán ngày càng lớn và thời gian thương lượng của mỗi vòng cũng càng dài, cho thấy tính phức tạp và quyết liệt của các chương trình nghị

sự ngày vàng tăng lên

Sau 4 vòng đàm phán song phương, các bên đã nhân nhượng giảm thuế trung bình 25% với 55000 hạng mục thuế quan (chủ yếu là nguyên liệu và bán thành phẩm) bao trùm 50% khối lượng thương mại toàn cầu thời kỳ đó.

Nội dung 4 vòng đàm phán đa phương tiếp theo:

Vòng Dillon (1960-1961): thảo luận về vấn đề giảm thuế quan, hạn chế bảo hộ mậu dịch và đặt vấn đề xem xét tính hợp thức của Cộng đồng châu Âu (EC), khả năng thương mại của các nước đang phát triển Kết quả là mức thuế quan chung giảm 6.5%, còn các nội dung khác chưa giải quyết được càng trở nên nóng bỏng và phức tạp hơn.

Vòng Kennedy (1964-1967): những bước tiến vượt bậc tới tự do hóa thương mại quốc

tế diễn ra thông qua các cuộc đàm phán về mậu dịch đa phương, hay còn gọi là những vòng đàm phán mậu dịch, được tiến hành dưới sự bảo trợ của GATT Vòng đàm phán Kennedy cuối cùng cũng đạt được sự thỏa thuận là giảm 37% thuế sau 5 năm với 75% khối lượng hàng hóa trao đổi Giữ nguyên chính sách bảo hộ đối với các mặt hàng nhạy cảm như nông sản, thủy sản, hàng dệt may, da giày… Ngoài ra vòng đàm phán Kennedy cũng thành công trong soạn thảo hiệp định của GATT về chống phá giá

Vòng đàm phán Tokyo (1973-1979): sau 6 năm đàm phán kéo dài, vòng đàm phán đã

đạt được những kết quả khả quan: giảm 1/3 mức thuế quan tại 9 thị trường công nghiệp chính của thế giới, giảm 4.7% thuế bình quân các sản phẩm chế biến từ 40% khi mới thành lập GATT Đặc biệt, các nước ký kết công nhận sự cần thiết và cho phép đãi ngộ ưu đãi dành cho các nước đang

và chậm phát triển.

Vòng đàm phán Uruguay (1986-1994): Hiệp ước Uruguay đã đạt được những kết quả

to lớn, vượt dự kiến của các chuyên gia và tập trung ở những nội dung sau đây:

- Nhất trí thành lập WTO với yêu cầu chấp nhận cả gói các kết quả của Hiệp ước Uruguay.

- Đưa nhiều lĩnh vực kinh tế mới vào khuôn khổ hệ thống thương mại thế giới (dịch vụ, sở hữu trí tuệ và đầu tư trong chừng mực liên quan tới thương mại, các biện pháp trở ngại phi thuế quan…)

- Thuế hóa các biện pháp phi thuế quan.

- Chấm dứt sự tồn tại riêng rẽ của thỏa thuận đa sợi, đưa hàng dệt vào khuôn khổ thương mại thế giới.

- Phá vỡ một mảng quan trọng trong chính sách bảo hộ nông nghiệp kéo dài và các mặt hàng nhạy cảm khác của các nước phát triển với quy định cụ thể, không thể tránh né.

1.3 Nội dung Hiệp định chung GATT

Trang 7

Trong suốt 48 năm tồn tại, GATT luôn mang tính chất tạm thời Bản hiệp định chung ban đầu không đầy đủ và chưa được áp dụng toàn bộ như hiện nay Bản GATT 1947 cho tới nay có 4 phần gồm 38 điều như sau:

Phần 1: Hai điều khoản chính về đãi ngộ Tối huệ quốc và các điều khoản nhân nhượng thuế quan (2 điều).

Phần 2: Các nguyên tắc và quy định cụ thể (21 điều).

Phần 3: Một số quy định về triển khai, tác động, điều chỉnh và quy định chung (12 điều).

Phần 4: Thương mại và sự phát triển (3 điều).

Trong thực tế, không thể có sự nhất trí toàn cầu về chuẩn mực pháp lý, có nhiều trường hợp các điều trong bản Nghị định thư này trái với luật hiện hành của mỗi quốc gia nên việc áp dụng nó với mỗi quốc gia là dựa trên cơ sở tự nguyện Có thể nói, GATT thể hiện tính thực tiễn cao với sự kết hợp của tính chặt chẽ và sự mềm mỏng qua các ngoại lệ cho phép

GATT là một diễn đàn đàm phán hoạt động theo phương thức đồng thuận Các điều chỉnh của GATT phần lớn được thực hiện ở các vòng đàm phán Trong đó, các điều khoản quan trọng (điều I (Tối huệ quốc), II (danh mục các nhân nhượng thuế quan) và XXX (điều chỉnh)) cần theo nguyên tắc nhất trí, các điều khoản còn lại thì chỉ yêu cầu đa

số là 2/3 số phiếu đồng thuận Cơ chế ra quyết định của GATT dựa trên nguyên tắc đa số phiếu của hội nghị và sự tham gia hơn 50% số thành viên ký kết

Trong GATT, các hiệp định riêng cụ thể hóa các chuẩn mực chỉ có hiệu lực với các bên ký kết vào hiệp định (sau khi WTO được thành lập, hầu hết các hiệp định đã đưa vào khuôn khổ pháp lý chung), đồng thời GATT cũng chấp nhận các thỏa thuận khu vực.

Như vậy, trong 48 năm tồn tại của mình, GATT đã có những đóng góp to lớn vào việc đảm bảo thuận lợi hoá và xúc tiến, đảm bảo sự tự do hóa thương mại toàn cầu GATT điều hành các vòng đàm phán kéo dài nhiều năm với sự tham gia của hàng chục quốc gia

từ khắp các châu lục Nội dung của GATT ngày một bao trùm và quy mô ngày một lớn: bắt đầu từ việc giảm thuế quan cho tới các biện pháp phi thuế và tìm kiếm một cơ chế quốc tế giải quyết các tranh chấp thương mại giữa các quốc gia Từ mức thuế trung bình 40% của năm 1948, đến năm 1995, mức thuế trung bình của các nước phát triển chỉ còn khoảng 4% và thuế quan trung bình của các nước đang phát triển còn khoảng 15%

1.4 Sự cần thiết phải thiết lập một hệ thống mới – Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

Với 48 năm tồn tại, GATT đã trở thành thoả thuận đa phương then chốt về mậu dịch toàn cầu GATT đã góp phần vào tự do hoá thương mại, bãi bỏ những hạn chế về thương mại và chống phân biệt đối xử về kinh tế trong buôn bán giữa các nước… Mặc dù đã đạt được những thành công lớn, nhưng đến cuối những năm 1980, đầu năm 1990, trước những biến chuyển của tình hình thương mại quốc tế và sự phát triển của khoa học-kỹ thuật, GATT bắt đầu tỏ ra có những bất cập, không theo kịp tình hình thế giới

Thứ nhất, là một hiệp định có vai trò bao trùm trong đời sống thương mại quốc tế và vẫn tồn tại cho đến ngày nay nhưng GATT lại chưa bao giờ là một tổ chức mặc dù sự điều hành của GATT khiến người ta có cảm giác đây là một tổ chức Tuy nhiên, GATT

Trang 8

thiếu các cam kết rõ ràng đảm bảo thực hiện như lịch đảm bảo thực hiện cụ thể và cơ quan giám sát cần thiết Sự đảm bảo chính dựa trên sự tôn trọng các cam kết của các bên trong điều ước quốc tế Các quy định của GATT về giám sát và đảm bảo thực hiện cam kết còn thiếu vô tư và gián tiếp Mặc dù GATT có điều khoản quy định biện pháp trả đũa nhưng mới được vận dụng một lần vào năm 1955, cho phép Hà Lan hạn chế nhập lúa mỳ của Hoa Kỳ, trả đũa việc Hoa Kỳ hạn chế nhập sản phẩm sữa bò của Hà Lan

Thứ hai, bên cạnh kết quả của việc cắt giảm thuế quan, những thành công nhất định của vòng đàm phán Tokyo là một dấu hiệu của một thời kỳ khó khăn đã đến Thuế quan giảm tới mức thấp nhất cùng với một loạt nhiệm vụ kinh tế trong những năm của thập niên 70 và 80 đã khiến cho các chính phủ đưa ra các hình thức bảo vệ khác (thường là các biện pháp phi thuế quan) cho các lĩnh vực kinh tế phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ nước ngoài Tỷ lệ thất nghiệp cao và sự đóng cửa thường xuyên của các nhà máy

đã buộc các chính phủ ở châu Âu và Hoa Kỳ phải tìm kiếm các thỏa hiệp song phương phân chia thị trường với các đối thủ cạnh tranh, tiếp tục trợ giúp cho các ngành nông nghiệp của mình Cả hai hình thức thay đổi này đã làm giảm độ tin cậy và hiệu quả của GATT

Thứ ba, ngoài những suy giảm về môi trường, chính sách thương mại vào đầu những năm 1980, người ta cũng thấy rõ ràng rằng, không lâu nữa GATT sẽ không giữ được vai trò chi phối nền thương mại thế giới như những năm 1940 Trước hết là do, thương mại thế giới đã trở nên cực kỳ phức tạp và quan trọng hơn nhiều so với 40 năm trước: sự toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đang hình thành, việc đầu tư quốc tế bùng nổ và thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ - những loại hình không được GATT điều chỉnh – là mối quan tâm ngày càng tăng của nhiều nước liên quan chặt chẽ với sự gia tăng liên tục của thương mại hàng hóa thế giới

Thứ tư, trong những khía cạnh khác, giờ đây, người ta thấy GATT có nhiều hạn chế,

ví dụ đối với nông nghiệp, hệ thống đa biên có những lỗ hổng không thể khắc phục được, các nỗ lực tự do hóa đem lại thành công nhỏ nhoi, trong ngành dệt và may mặc chỉ đạt được một thỏa thuận duy nhất như một ngoại lệ của các nguyên tắc thông thường của GATT là Hiệp định đa sợi

Cuối cùng, thể chế của GATT và hệ thống giải quyết tranh chấp cũng có những dấu hiệu đáng lo ngại Số lượng thành viên tăng lên nhanh chóng trên khắp các châu lục, đòi hỏi phải có một tổ chức quản lý, điều hành và giám sát chặt chẽ hơn Về việc giải quyết tranh chấp, nhìn chung, quy chế giải quyết tranh chấp của GATT còn quá lỏng lẻo, dựa trên sự dàn xếp là chính Trước tình hình đó, các bên tham gia GATT nhận thấy cần phải có nỗ lực để củng cố

và mở rộng hệ thống thương mại đa biên Từ năm 1986 đến 1994, Hiệp định GATT và các hiệp định phụ trợ của nó đã được các nước thảo luận sửa đổi và cập nhật để thích ứng với điều kiện thay đổi của môi trường thương mại thế giới Hiệp định GATT 1947, cùng với 12 hiệp định chuyên giải thích chi tiết một số vấn đề riêng kèm theo đã hợp thành GATT 1994 – một trong 3 phần cốt lõi của hệ thống pháp lý tạo thành WTO Một số hiệp định riêng biệt cũng đạt được trong các lĩnh vực như nông nghiệp, dệt may, trợ cấp, tự vệ

và các lĩnh vực khác; cùng với GATT 1994, chúng tạo thành các yếu tố của các Hiệp

Trang 9

định Thương mại đa phương về Thương mại Hàng hoá Vòng đàm phán Uruguay cũng thông qua một loạt các quy định mới điều chỉnh Thương mại Dịch vụ và Quyền Sở hữu Trí tuệ liên quan đến thương mại.

Đầu những năm 1990, mặc dù vòng đàm phán Uruguay của GATT đã khá dài, nhưng nhìn chung vấn đề vẫn tiếp tục được thảo luận Vì Hoa Kỳ và một số nước muốn đưa vào chương trình nghị sự nhiều vấn đề mới như: Trao đổi dịch vụ quốc tế, quyền sở hữu quốc tế, đầu tư, lao động, môi trường…, hơn nữa đây cũng là thời kỳ Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, kết thúc thời kỳ “chiến tranh lạnh”, thế giới chuyển từ xu thế “đối đầu” sang “đối thoại”, thực hiện “mở cửa”

và hội nhập quốc tế Do đó, nhiều vấn đề mới trong quan hệ kinh tế quốc tế phát sinh, vượt xa khuôn khổ của GATT, đồng thời các thiết chế hiện có của GATT đã không đủ sức giải quyết các tranh chấp trong các quan hệ kinh tế quốc tế này, đòi hỏi các quốc gia phải xem xét lại sứ mạng của GATT Cuối cùng, chỉ mấy tháng sau khi hoàn tất vòng đàm phán Uruguay (15/12/1993), các nước

đã cùng nhau họp tại Marrakesh (Marốc) vào ngày 15/4/1994 ký Định ước cuối cùng, Định ước Marrakesh, khẳng định kết quả của vòng đàm phán thứ 8, đồng thời cho ra đời một thiết chế mới tiếp tục sứ mạng của GATT và thay thế cho GATT, đó là Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade Organization - WTO).

2 WTO (World Trade Organization) – Tổ chức Thương mại thế giới

2.1 Sự thành lập WTO

Một trong những thành công lớn nhất của vòng đàm phán Uruguay nói riêng và của GATT nói chung là đã thành lập một tổ chức thương mại mới - Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Hạt giống của vòng đàm phán Uruguay đã được gieo tại cuộc họp cấp Bộ trưởng của các thành viên GATT tại Geneva (Thụy Sĩ) vào tháng 11 năm 1982 Các Bộ trưởng lúc này đã dự định tiến hành một vòng đàm phán lớn nhưng hội nghị lúc đó đã không vượt qua được rào cản quá lớn là vấn đề nông nghiệp và xem như bị thất bại Nhưng trên thực tế, một chương trình làm việc mới đã được lên kế hoạch, và đây được xem là tiền đề cho chương trình đàm phán Uruguay Tuy nhiên phải mất 4 năm để nghiên cứu, làm sáng tỏ các vấn đề liên quan và vượt qua những khó khăn để tìm ra sự nhất trí chung trước khi các Bộ trưởng gặp nhau ở Punta Del Este (Uruguay) tháng 9 năm 1986 Các Bộ trưởng cuối cùng cũng thống nhất một chương trình đàm phán đề cập đến hầu như toàn bộ các vấn đề về chính sách thương mại còn bị bỏ ngỏ đến thời điểm bây giờ Chương trình nghị sự cho đàm phán bao gồm các vấn đề quan trọng, bức xúc của chính sách thương mại, việc mở rộng hệ thống thương mại ra một vài lĩnh vực mới, đáng chú ý

là lĩnh vực thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ, đồng thời cải tổ các chính sách thương mại đối với những sản phẩm nhạy cảm như nông sản và hàng dệt may Bên cạnh đó, tất

cả các điều khoản của GATT cũng sẽ được đưa ra xem xét lại

Đến tháng 12 năm 1988, một cuộc họp cấp Bộ trưởng đã được tổ chức tại Montreal (Canada) để đánh giá những kết quả đã đạt được sau nửa chặng đường thực hiện vòng đàm phán và thiết lập chương trình thương lượng cho giai đoạn hai của lịch trình đàm phán Tại cuộc họp, các Bộ trưởng đã nhất trí việc nhượng bộ cho thâm nhập thị trường của những sản phẩm nông sản nhiệt đới với mục tiêu giúp đỡ các nước đang phát triển,

Trang 10

đồng thời đưa ra một hệ thống giải quyết các tranh chấp đã soạn thảo hoàn chỉnh và cơ chế đánh giá chính sách thương mại, nhằm đánh giá tổng thể thường xuyên, rõ ràng và có

hệ thống về các chính sách thương mại của các thành viên GATT

Tháng 12 năm 1991, bản dự thảo toàn diện của “dự thảo cuối cùng”, bao gồm các văn bản pháp lý thể hiện từng vấn đề được nêu ra trong chương trình nghị sự tại Punta Del Este (trừ các kết quả có liên quan tới việc thâm nhập thị trường và danh sách cam kết của các quốc gia về vấn đề giảm thuế nhập khẩu và mở cửa thị trường dịch vụ) đã được trình tại Geneva Trong hai năm tiếp theo đã diễn ra các cuộc thương lượng liên tục bàn về các vấn đề từ những thất bại chưa giải quyết được đến dự đoán thành công sẽ đến Tuy nhiên các cuộc đàm phán đã diễn ra hết sức khó khăn, tiến trình đàm phán thường chậm hơn so với tiến độ Cùng với nông nghiệp những vấn đề khác như thương mại dịch vụ, thâm nhập thị trường, luật chống bán phá giá hay việc thiết lập một thể chế kinh tế mới cũng trở thành những vấn đề gây xung đột Sự bất đồng giữa Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến sự thành công của các cuộc thảo luận

Tháng 11 năm 1992, Hoa Kỳ và Ủy ban châu Âu đã vượt qua phần lớn những bất đồng

về nông nghiệp để cùng đi đến một hiệp định chung mang tên “Hiệp định Blair House” Đến tháng 7 năm 1993, các nước trong nhóm bộ tứ (Hoa Kỳ, Ủy ban châu Âu, Nhật Bản, Canada) thông báo đã có những tiến bộ đáng kể trong đàm phán về thuế quan và những vấn đề liên quan (mở cửa thị trường) Tới ngày 15/12/1993, từng vấn đề đã được giải quyết và các cuộc bàn thảo về mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ cũng kết thúc

Ngày 15/4/1994, văn kiện cuối cùng đã được các Bộ trưởng của 111 nước trong 125 nước và vùng lãnh thổ tham gia đàm phán Hiệp định Uruguay ký tại cuộc họp ở Marrakesh (Marốc) và 104 nước đã ký hiệp định về việc thành lập Tổ chức Thương mại thế giới Tổ chức Thương mại thế giới là hiện thân cho kết quả của vòng đàm phán Uruguay và là tổ chức kế thừa của Hiệp đinh chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) Cũng như GATT trước đây, WTO chấp nhận các thành viên là những lãnh thổ quan thuế, có thẩm quyền độc lập hoạch định và tiến hành các chính sách thương mại quốc tế (Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và các lãnh thổ quan thuế Hồng Kông, Đài Loan, Macao có thể cùng là thành viên của WTO), trong đó mỗi thành viên có quyền và chỉ có một lá phiếu bầu, các lá phiếu có giá trị ngang nhau

WTO chính thức được thành lập và đi vào hoạt động kể từ ngày 1/1/1995, đặt trụ sở chính tại Geneva (Thuỵ Sĩ) WTO đã thay thế GATT với tư cách là một tổ chức quốc tế, song những gì đạt được sau vòng đàm phán Uruguay cho thấy GATT vẫn tồn tại và có hiệu lực vì nó là hiệp định khung của WTO trong các vấn đề về trao đổi hàng hóa

Về cơ cấu tổ chức của WTO, cơ quan quyền lực cao nhất của WTO là Hội nghị cấp Bộ trưởng các thành viên, định kỳ họp ít nhất hai năm một lần Các Bộ trưởng hoặc đại diện của các thành viên có thể quyết định khác đi nếu thấy cần thiết Cơ quan thường trực của WTO là Đại hội đồng, với đại diện của các nước thành viên và nhiều uỷ ban, cơ quan chuyên trách khác Giúp việc cho các cơ quan trên là Ban Thư ký WTO, đứng đầu Ban Thư ký là Tổng giám đốc, bên dưới có các Phó Tổng giám đốc và các vụ chức năng

Trang 11

Về mục tiêu, WTO vẫn theo đuổi những mục tiêu được đề ra tại phần mở đầu của Hiệp định GATT, đó là thông qua tự do hóa thương mại, trên cơ sở lập ra một hệ thống pháp lý chung làm căn cứ để mỗi thành viên hoạch định và thực thi chính sách nhằm mở rộng thương mại, tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống nhân dân các nước thành viên Các mục tiêu của WTO được xác định như sau:

- Tự do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ thông qua đàm phán và loại bỏ thuế quan, loại bỏ các hạn chế về số lượng, quy chế hóa các trở ngại phi thuế quan

- Không phân biệt đối xử qua chế độ tối huệ quốc (MFN) và chế độ đãi ngộ quốc gia (NT), đồng thời tạo điều kiện cho phát triển kinh tế bằng cách chấp nhận một cách mềm dẻo các thỏa thuận riêng và ngoại lệ

- Thiết lập và phát triển môi trường cho sự phát triển thương mại quốc tế, đảm bảo

sự trong suốt, chắc chắn và khả năng dự đoán trước các diễn biến

- Tăng cường khả năng tham khảo ý kiến trong giải quyết tranh chấp để hạn chế thiệt hại, đồng thời thể chế hóa quy chế này, đảm bảo sự tôn trọng các điều ước

Như vậy, mục đích bao trùm của WTO là làm cho thương mại hoạt động tự do, thông suốt, công bằng và có thể tiên đoán được Để đạt được mục đích đó, WTO thực hiện các chức năng sau:

- Điều hành các hiệp định thương mại, là diễn đàn cho các cuộc thương lượng về thương mại WTO ra đời từ các cuộc đàm phán và tất cả những gì tổ chức này làm được đều thông qua con đường đàm phán

- Giải quyết tranh chấp: quan hệ thương mại thường làm nảy sinh những lợi ích mâu thuẫn nhau WTO là nơi các quốc gia thành viên thương lượng để giải quyết những tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương mại giữa họ Tất cả các hiệp định, cả những hiệp định đã được các nước thành viên WTO đàm phán một cách kỹ lưỡng đều cần phải được diễn giải

- Giám sát chính sách thương mại của các thành viên

- Hỗ trợ các nước đang phát triển về chính sách thương mại thông qua các chương trình hỗ trợ kỹ thuật và huấn luyện WTO không chỉ tập trung vào mục tiêu tự do hóa thương mại, trong một số trường hợp, WTO còn đề ra những quy định ủng hộ việc duy trì rào cản thương mại, như trong trường hợp bảo vệ người tiêu dùng hay ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh

- Hợp tác với các tổ chức quốc tế khác

Trong khi phạm vi hoạt động của GATT chỉ bao trùm hoạt động thương mại hàng hóa, WTO không những đã củng cố hệ thống pháp lý thương mại hàng hóa mà còn mở rộng sang nhiều lĩnh vực khác: thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại và các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại Ngoài ra, WTO còn có chương trình tiếp tục đàm phán nhiều nội dung khác trong thương mại quốc tế Ngoài ra, so với GATT, WTO có nhiều điểm khác cơ bản WTO hoạt động trên cơ sở được các thành viên công nhận chính thức như là một thể chế thường trực, độc lập, có tư cách pháp nhân, bộ máy và ngân sách

Nguyên tắc làm việc của WTO

Trang 12

WTO làm việc trên cơ sở đồng thuận Hầu hết mọi quyết định của WTO đều được thông qua theo nguyên tắc đồng thuận Nguyên tắc này có ưu điểm là tìm được các cam kết và tiếng nói chung, tuy nhiên quá trình đi đến đồng thuận một vấn đề thường mất rất nhiều thời gian và công sức Trong một số trường hợp WTO ra quyết định theo phương thức biểu quyết Trong trường hợp này, mỗi thành viên có một phiếu (trừ Liên minh châu

Âu có số phiếu bằng số thành viên của mình) Các trường hợp áp dụng hình thức bỏ phiếu:

- Quyết đinh diễn giải các điều khoản của Hiệp định WTO và các hịệp định đa biên cần được ít nhất 3/4 các nước thành viên WTO thông qua

- Quyết định miễn trừ một nghĩa vụ cho một nước thành viên cần ít nhất 3/4 tại Hội nghị Bộ trưởng thông qua

- Quyết định sửa đổi nội dung các điều khoản hiệp định cần phải được tất cả hoặc 2/3 số nước thành viên chấp nhận, tùy theo tính chất của các điều khoản ấy, ví dụ sửa đổi một số nguyên tắc nền tảng như tối huệ quốc, nguyên tắc đãi ngộ quốc gia phải được sự nhất trí của tất cả các nước thành viên (những sửa đổi chỉ được áp dụng cho các thành viên đã chấp nhận)

- Quyết định kết nạp thành viên mới cần được Hội nghị Bộ trưởng hoặc Đại hội đồng thông qua với đa số 2/3 số phiếu thuận

2.2 Hệ thống pháp lý của WTO

Để đảm bảo hoạt động thương mại được công bằng, tự do, các nước thành viên WTO thương lượng đề thống nhất ban hành các quy tắc và tuân thủ các quy tắc đó Các quy tắc của WTO, được ghi nhận tại các hiệp định của WTO là kết quả thương lượng giữa các nước thành viên và đều đã được quốc hội của tất cả các nước thành viên phê chuẩn

Hệ thống quy tắc hiện nay là kết quả của vòng đàm phán Uruguay (1986-1994), qua đó

đã điều chỉnh đáng kể Hiệp định GATT 1947 Hiệp định GATT đã trở thành tập quy tắc

cơ bản của WTO về thương mại hàng hóa Hệ thống này còn bao gồm thương mại dịch

vụ, quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại, cơ chế kiểm tra chính sách của các thành viên, quy tắc mới về giải quyết tranh chấp và 4 hiệp định đa phương WTO mặc nhiên công nhận giá trị pháp lý của khoảng 200 quyết định và thỏa thuận đã được thông qua trong thời kỳ GATT tồn tại tạm thời

Toàn bộ hệ thống quy tắc của WTO chia thành 3 phần cơ bản:

- Phần 1: gồm những hiệp định cơ bản: Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT 1994), Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS), Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)

- Phần 2: những hiệp định trong từng lĩnh vực cụ thể: Hiệp định về nông nghiệp (AOA), Hiệp định về hàng dệt may (ATC), Hiệp định về chống bán phá giá…

- Phần 3: lịch trình hay danh sách những cam kết của các thành viên về thuế quan hay mở cửa thị trường

Căn cứ vào nội dung các hiệp định trên, có thể chia thành 5 loại thỏa ước sau:

- Thỏa ước về hàng hóa

Trang 13

Từ năm 1947 đến năm 1994, GATT là diễn đàn thương lượng việc hạ thấp hàng rào thuế quan và các rào cản thương mại khác Hiệp định GATT đã đề ra những quy tắc quan trọng nhất, nhất là nguyên tắc tối huệ quốc Từ năm 1995, Hiệp định GATT được điều chỉnh thành hiệp định khung cho thương mại hàng hóa.

- Thỏa ước về dịch vụ

Các nguyên tắc về thương mại tự do hơn và công bằng hơn trước đây chỉ áp dụng cho thương mại hàng hóa, giờ đây cũng được áp dụng cho thương mại dịch vụ của các ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty viễn thông, công ty du lịch, công ty vận tải… Những nguyên tắc trên được ghi nhận trong bản Hiệp định về thương mại dịch vụ (GATS) Các thành viên WTO cũng đã có những cam kết riêng lẻ trong khuôn khổ hiệp định, nêu rõ những lĩnh vực dịch vụ nào họ đồng ý mở cửa và mức độ mở cửa cho cạnh tranh của nước ngoài

- Thỏa ước về sở hữu trí tuệ

Hiệp định về sở hữu trí tuệ của WTO là cơ sở pháp lý cho thương mại và đầu tư về suy nghĩ và sức sáng tạo Hiệp định nêu lên quy định về cách thức bảo vệ quyền tác giả, thương hiệu, tên địa phương xác định xuất xứ sản phẩm, kiểu dáng công nghiệp và thông tin mật (bí mật thương mại)

- Thỏa ước về giải quyết tranh chấp

Thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO được quy định tại Bản thỏa thuận về giải quyết tranh chấp, là cơ sở pháp lý cho việc cưỡng chế thi hành các quy tắc của WTO, đảm bảo cho thương mại được diễn ra thông suốt

Các nước thành viên kiện ra WTO khi họ cho rằng quyền lợi của họ quy định tại các hiệp định bị xâm phạm Phán quyết sẽ được đưa ra bởi các chuyên gia (là những người được đề cử theo thể thức đặc biệt) căn cứ vào việc giải thích các hiệp định và cam kết riêng lẻ của các thành viên Hiện nay thủ tục là khuyến khích các thành viên giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng; nếu thương lượng thất bại mới áp dụng một thể thức được quy định cẩn trọng, qua nhiều giai đoạn

- Thỏa ước về giám sát chính sách

Mục đích của cơ chế giám sát chính sách là nâng cao tính minh bạch, tạo sự hiểu biết hơn về chính sách thương mại mà các nước đang áp dụng và tác động của nó Tất cả các thành viên đều phải trải qua giám sát định kỳ Mỗi cuộc giám sát được thực hiện bởi bản báo cáo của thành viên bị giám sát và báo cáo của Đoàn Thư ký của WTO

2.3 Ý nghĩa việc ra đời WTO

Việc WTO ra đời được coi là một dấu mốc rất quan trọng trong lịch sử thương mại quốc tế WTO đại diện cho một xu hướng phát triển mà theo đó nền kinh tế mỗi nước trên thế giới ngày càng phụ thuộc vào các nền kinh tế và các thị trường khác, xu hướng

đó tạo nên một bước phát triển mới của tính phụ thuộc lẫn nhau trong mối quan hệ kinh

tế quốc tế ngày nay

Với sự ra đời của WTO, hệ thống thương mại đa biên không còn giới hạn ở những định chế và thể chế chi phối thương mại hàng hóa như GATT mà được mở rộng sang

Trang 14

nhiều lĩnh vực khác: thương mại dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ…, để đáp ứng kịp thời với

sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thế giới

Ngoài ra, mối quan hệ giữa WTO và các tổ chức kinh tế quốc tế khác (IMF, WB…) tạo nên những thể chế tác động trực tiếp tới đại bộ phận các quan hệ kinh tế, thương mại quốc tế

2.4 Sự khác nhau giữa GATT và WTO

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là một thể chế pháp lý của hệ thống thương mại

đa biên WTO đưa ra các nghĩa vụ có tính nguyên tắc để chính phủ các nước thiết lâp khuôn khổ, các luật lệ và quy tắc thương mại trong nước phù hợp với nền thương mại thế giới WTO là nền tảng của tiến trình phát triển các cuộc thảo luận, thương lượng và phán xét có tính tập thể Như vậy, WTO không phải là sự mở rộng đơn giản của GATT, ngược lại, WTO hoàn toàn thay thế tổ chức tiền thân của nó, và có đặc điểm rất khác biệt Các điểm khác biệt chính bao gồm:

-GATT là Hiệp định, bao gồm các quy

định, hiệp định đa biên, không có nền tảng

về thể chế, chỉ có một ban thư ký nhỏ gắn

với mục đích ban đầu là thành lập Tổ chức

Thương mại Quốc tế (ITO)

-WTO là một tổ chức thường trực có bộ máy tổ chức, cơ chế hoạt động, có ban thư

ký riêng

-GATT hoạt động trên cơ sở tạm thời,

GATT chủ yếu là hiệp định mang tính thỏa

thuận đa phương, được lựa chọn

-Các cam kết của WTO là đầy đủ và cố định Hầu hết các hiệp định của WTO là cam kết đa phương, đòi hỏi sự bắt buộc thực hiện của các thành viên

-Các quy định của GATT được áp dụng

cho thương mại hàng hóa

-Các quy định của WTO bao gồm cả thương mại dịch vụ và các khía cạnh liên quan đến thương mại của sở hữu trí tuệ và các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại

-Giải quyết tranh chấp khó khăn vì không

có cơ chế chuẩn mực

-Hệ thống giải quyết các tranh chấp của WTO nhanh hơn, năng động hơn và ít bị tắc nghẽn so với hệ thống cũ của GATT Việc thực hiện các phán quyết về giải quyết tranh chấp cũng dễ dàng, đảm bảo hơn.-Nguyên tắc hoạt động của GATT chỉ là

đồng thuận

-Ngoài nguyên tắc đồng thuận còn kết hợp

cả nguyên tắc bỏ phiếu, mỗi thành viên một phiếu theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số

Hiệp định WTO bao gồm 29 văn bản pháp lý riêng biệt, bao trùm mọi lĩnh vực từ nông nghiệp đến ngành dệt và may, từ dịch vụ đến việc mua sắm của Chính phủ, các quy

Trang 15

tắc xuất xứ và sở hữu trí tuệ Ngoài ra còn có 25 tuyên bố bổ sung, quyết định và văn bản ghi nhớ ở cấp Bộ trưởng, quy định những nghĩa vụ và cam kết khác của các thành viên WTO Trong đó có một số nguyên tắc cơ bản và xuyên suốt nội dung các văn bản này, chủ yếu là nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) và nguyên tắc đối xử quốc gia (NT).

3 Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) và nguyên tắc đối xử quốc gia (NT)

Đối xử tối huệ quốc (MFN) và đối xử quốc gia (NT) là hai nguyên tắc cơ bản trong thương mại quốc tế, chúng đều có chung bản chất là không phân biệt đối xử hay nói cách khác là đối xử bình đẳng Hai nguyên tắc này được thể hiện rất rõ nét thông qua các Hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đồng thời chúng cũng là những nguyên tắc quan trọng trong quan hệ hợp tác kinh tế thương mại khu vực và song phương

3.1 Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN)

3.1.1 Lịch sử ra đời của MFN

Lịch sử hình thành và phát triển tối huệ quốc đã có trên 200 năm (từ thế kỷ XII-XIII), trong điều ước kí kết giữa thành phố thương nghiệp Italia với vương quốc Ảrập Bắc Phi đã xuất hiện hình thức đầu tiên của tối huệ quốc

Vào năm 1641, trong điều ước Hà Lan kí với Bồ Đào Nha lần đầu tiên áp dụng điều khoản tối huệ quốc kiểu châu Âu hay còn gọi loại tối huệ quốc vô điều kiện, sau này được các nước châu Âu áp dụng rộng rãi

Đến năm 1778, trong điều ước thương mại Hoa Kỳ kí với Pháp, lần đầu tiên điều khoản tối huệ quốc thuộc loại ưu đãi có điều kiện được áp dụng

Tuy nhiên, thuật ngữ “tối huệ quốc” ra đời vào cuối thế kỷ XIX, hình thành trong luật về thuế quan 1930 trong thực tiễn thương mại của Hoa Kỳ Vào thời điểm đó, Hoa Kỳ đã đưa ra chế độ tối huệ quốc trong các hiệp định song phương như cơ sở để xúc tiến thương mại với một số đối tác tại châu Âu có quan hệ mật thiết với mình như Pháp, Hà Lan Đãi ngộ tối huệ quốc vào thời điểm ra đời chỉ mang ý nghĩa của chế độ thương mại thuận lợi nhất mà quốc gia sở tại có thể dành cho hàng hóa nhập khẩu từ các đối tác thương mại của mình Quy chế này mang tính chất có đi có lại Nói cách khác đó là "chế độ đối xử bình đẳng giữa những thực thể được ưu đãi"

Năm 1948, quy chế này chính thức được GATT đưa vào điều 1 của GATT, và xem đây là cơ sở quan trọng kêu gọi các nước thành viên cho nhau hưởng chế độ tối huệ quốc để thúc đẩy buôn bán giữa các nước thành viên

3.1.2 Nội dung cơ bản của MFN

Nguyên tắc tối huệ quốc (Most Favoured Nation Rule - MFN) là nguyên tắc “không phân biệt đối xử” trong quan hệ mậu dịch giữa các quốc gia Đây là nguyên tắc truyền thống trong quan hệ kinh tế quốc tế và phổ biến nhất trong lĩnh vực thương mại, và là nguyên tắc tối quan trọng trong các hiệp định của Tổ chức Thương mại thế giới, đồng thời là kim chỉ nam cho các quốc gia và vùng lãnh thổ trong hoạch định các chính sách thương mại quốc tế, hay các hiệp định song phương đa phương

Đãi ngộ tối huệ quốc có hai loại đãi ngộ: đãi ngộ tối huệ quốc có điều kiện và đãi ngộ tối huệ quốc vô điều kiện Đãi ngộ tối huệ quốc có điều kiện là chỉ bên ký kết khác muốn

Ngày đăng: 08/04/2015, 10:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w