Thấy rõ được tầm quan trọng của tiền lương đối với người lao động, tôi đã chọn đề tài:" Lý luận tiền công của Mác và sự vận dụng lý luận tiền công trong chính sách tiền lương ở nước ta h
Trang 1MỤC LỤC
Trang
I Lời mở đầu: 2
II Cơ sở lý luận tiền công của Mác 3
1 Cách tiếp cận nghiên cứu 3
2.Sù ra đời của khai niệm tiền lương 3
a, Một số quan điểm về tiền lương trước Mac 3
b, Tư tưởng của Mac về tiền lương 5
III Sự vận dụng lý luận tiền công trong chính sách tiền lương ở nước ta và hoat động của chính sách tiền lương tại Việt Nam 11
1 Một số vấn đề về lực lượng lao động tại Việt Nam 11
2 Chính sách tiền lương tại Việt Nam 12
a Đặc điểm và nội dung của chính sách tiền lương qua các thời kỳ 12
b Thực trạng của việc áp dụng chính sách tiền lương tại Việt Nam 13
c Đánh giá về chính sách tiền lương theo nghị định 25/CP, 26/CP 18
IV Những giải pháp đặt ra 21
1 Đổi mới cơ chế chính sách tuyển dụng và cho người lao động thôi việc 21
a Phân công lại lao động theo quan hệ lao động 21
b Công chức nhà nước 21
c Lực lượng lao động trong các doanh nghiệp 21
2 Đổi mới cơ chế, chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng lao động kỹ thuật 22
3 Đổi mới cơ chế chính sách và quản lý tiền lương, thu nhập
a Đổi mới nhận thức về tiền tương và vấn đề phân phối trong nền kinh tế thị trường 23
b Các giải pháp cụ thể đối với chế độ tiền lương hiện hành 23
c Nguyên tắc và phương pháp quản lý tiền lương của nhà nước 23
d Hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về lao động 24
e Tổ chức tốt hệ thống thông tin thị trường 24
Trang 2V Kết luận 25 Danh mục tài liệu tham khảo 27
Trang 3I.LỜI MỞ ĐẦU
Từ trước đến nay "tiền lương" luôn là vấn đề cấp thiết đối với người laođộng Một số chế định tiền lương thích hợp sẽ tạo ra động lực lớn kích thíchngười lao động hăng say sáng tạo và cống hiến cho xã hội Chính sách tiềnlương ở nước ta ban hành năm 1993 đến nay đã bộc lé nhiều bất cập Vì vậy,đại hội IX của Đảng khẳng định: " Phải cải cách cơ bản chế độ tiền lương,nâng cao đời sống của người hưởng lương, chống đặc quyền đặc lợi" Cảicách tiền lương ở nước ta diễn ra trong điều kiện nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, vì vậy phải đảm bảo không xa rời lý luận của cáchmạng về tiền công( tiền lương), mà điểm mấu chốt là tiền lương phải đảm bảođầy đủ giá trị sức lao động
Thấy rõ được tầm quan trọng của tiền lương đối với người lao động, tôi
đã chọn đề tài:" Lý luận tiền công của Mác và sự vận dụng lý luận tiền công trong chính sách tiền lương ở nước ta hiện nay" làm đề tài nghiên cứu của
mình
II CƠ SỞ LÝ LUẬN TIỀN CÔNG CỦA MÁC
1 Cách tiếp cận nghiên cứu:
Trang 4Ở bề ngoài của đời sống xã hội tư bản, công nhân làm việc cho nhà tưbản một thời gian nhất định, sản xuất ra một lượng hàng hóa hay hoàn thànhmột số công việc nào đó thì nhà tư bản trả cho một số tiền nhất định gọi làtiền công
Trong" sự khèn cùng của triết học" K.Mác nhìn thấy nguồn gốc sự vậnđộng biện chứng trong đời sống mà tư tưởng, khái niệm phạm trù là sự phảnánh nó Không phê phán quan điểm coi quy luật kinh tế là tự nhiên và vĩnhviễn Giá trị không những là lao động được vật hóa trong hàng hóa mà còn làbiểu hiện quan hệ sản xuất hàng hóa, nhưng là hàng hóa đặc biệt Nó có đặctính là tạo ra giá trị và nó được trả trên thị trường K Mác chỉ ra hiệp tác đơngiản, công trường thủ công, công xưởng là các giai đoạn phát triển của chủnghĩa tư bản
Đầu năm 1849 tác phẩm" lao động làm thuê và tư bản của K Mác đượcxuất bản Trong tác phẩm K.Mác giải thích cơ sở kinh tế của sự thống trị của
tư bản và sự bóc lột làm thuê Theo K.Mác, tiền công là giá cả của lao độngđem đi bán Quan hệ giữa tư bản với lao động làm thuê là quan hệ cơ bản của
xã hội tư bản
2.Sù ra đời của khái niệm tiền lương:
a, Một số quan điểm về tiền lương trước Mác :
Chủ nghĩa trọng thương tan rã ngay từ thế kỉ XVII, trước hết ở Anh,
một nước phát triển nhất về mặt kinh tế ,đã tạo tiền đề cho sự phát triển cáccông trường thủ công ở Anh,đặc biệt nghành dệt,sau đó là nghành côngnghiệp khai thác.Giai cấp tư sản đã nhận thức rằng , ngưòi nghèo là nguồngốc làm giàu vô tận cho những ngưòi giàu.Và để làm rõ nhận đinh trên ta hãyxem các nhà tư tương nói về thu nhập, tiền lương nh thế nào ?
Theo VVilliam Petty:ông lấy lý luận giá trị làm cơ sở cho lý luậntiền lương Ông xác định tiền lương là khoản giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiếttối thiểu Tiền lương không thể vượt quá nhưng sinh hoạt cần thiết tốithiểu Nếu tiền lương nhiều thì công nhân không muốn làm việc Nói một
Trang 5cách khác ,muốn công nhân làm việc thì biện pháp là hạ thấp tiền lươngxuống mức tối thiểu.Ông kịch liệt phản đối những rường hợp tăng tiền lươngquá cao Sở dĩ nh vậy vì thời đại W.Petty tư bản chưa có thể bắt công nhân
lệ thuộc vào công nhân ,tư bản phải dùa vào sự ủng hộ của nhà nước ,đề ranhững đạo luật cấp tăng lương Nh vậy ,mặc dù có sai lầm ,song W.Petty đãnêu được cơ sở khoa học của tiền lương là giá trị của các tư liệu sinh hoạt Theo Adam Smith -nhà kinh tế chính trị cổ điển nổi tiéng ở Anh và
trên thế giới,ông có hai quan điểm về tiền lương,tiền lương ngang với sảnphẩm lao động và tiền lương là phần thưởng của công nhân,do lao động củacông nhân tạo ra Hai quan điểm đó giống nhau ở chỗ tiền luongwwvaf thunhập có lao động Việc coi tiền lương ngang với sản phẩm lao dddoongj cónghĩa là coi tiền lương là giá cả của lao động.A.Smith không phủ nhận mâuthuẫn giai cấp khi ông chỉ ra "công nhân mà lĩnh được càng nhiều tiền côngthì càng tốt,còn chủ thì muốn trả càng Ýt càng hay " Theo ý ông, tiền côngkhông thể hạ thấp quá giới hạn nhất định vì "người ta bao giê cũng khó có khảnăng sống bằng lao động cả mình , ông tán thành tiền công cao Theoông ,tiền công cao vốn là hậu quả của việc tăng của cải ,đồng thời cũng lànguyên nhân tăng dân số" A.Smith đã xem xét những nguyên nhân khác nhau
có tính chất nghề nghiệp trong tiền công và ông còn cho rằng tiền công củaloại công nhân bậc thấp do hai nhân tố quyết định : lượng cầu về lao động vàgiá cả thông thường hay trung bình của lương thực A.Smith cho rằng tiềncông chịu sự tác động của nhân khẩu và quy mô của tư bản quyết định tiềncông Ông đã phân biệt một cách có lý tiền công danh nghĩa và tiền côngthực tế A.Smith còn có những hạn chế và sai lầm về lý luận tiền công nh :coitiền công là giá cả của lao động ,là phạm trù dặc trưng cho tất cả các giai đoạnphát triển kinh tế
Theo David Ricardo : giá trị tạo được gồm hai phần , tiền lượng và lợinhuận Và ông đã đi đến kết luận quan trọng về sự đối kháng giữa tiền lương
Trang 6và lợi nhuận ( ông nhậ thấy quy luật của tư bản ; năng suất lao động tăng lêntiền lương giảm và lợi nhuận tăng ) Mét trong những công lao to lớn của ông
là đã phân tích được tiền công thực tế và xác định nã nh là một phạm trù kinh
tế Ông nhấn mạnh rằng lượng hàng hóa người công nhan mua được bằngtiền công chưa quyết định địa vị xã hội của người đó , sù quyết định tình nhcủa người công nhân phụ thuộc vào mối tương quan giữa tiền lương và lợinhuận
Theo sismondi, để có hạnh phóc chung , thì thu nhập phải tăng cùng lúcvới tư bản , mức tăng dân số không vượt quá việc tăng thu nhập Nói về tiềncông , ông đi theo quan điểm của Adam smith coi tiền công phụ thuộc vàotích lũy tư bản , vào số lượng công nhân , cung cầu về lao động Sissmondilập lại quan điểm tầm thường về sự tác động qua lại trực tiếp giữa sự gia tăngtiền công và tăng dân sè Sismondi công khai nói về tình trạng điêu đứng củacông nhân do sự phát triển của sản xuất cơ khí Ông nhấn mạng thất nghiệp
là hiện tượng thường xuyên Ông chống lại quan điểm cho rằng việc tiêudùng máy hơi nước làm giảm nhu cầu lao động ở ngành này lại tăng nhu cầulao động ở ngành khác
b- Tư tưởng của các mác về tiền lương :
* Bản chất kinh tế của tiền công và tiền lương :
Ở trên bề mặt của xã hội tư bản , tiền công của công nhân thể hiện rathành giá cả của lao động , thành một số lượng tiền nhất định trả cho một sốlượng người lao động nhất định ở đây người ta nói đến giá trị của lao động làbiểu hiện bằng tiền của giá trị đó và là giá cả tất yếu hay giá cả tự nhiên củalao động Mặt khác người ta lại nói đến với những giá cả thị trưởng của laođộng tức là giá cả lên xuống trên dưới giá cả tất yếu của lao động
Những người công nhân có khả năng làm cho lao động của mình cóđược một sự tồn tại độc lập thì người công nhân sẽ bán hàng hóa chứ khôngphải là bán sức lao động Nếu không nói tới những mâu thuẫn Êy thì một sựtrao đổi tiền tức là lao động đã vật hóa trực tiếp với động sống , học giả sẽ
Trang 7xóa bỏ quy luật giá trị là quy luật chỉ tử do phát triển trên cơ sở nền sảnxuất Tư bản chủ nghĩa , hoặc giả sẽ xóa bỏ bản thân nền sản xuất tư bản chủnghĩa và nền sản xuất đã dự trên lao động làm thuê Trên thực tế, cái trực tiếpvới đối diện với kẻ sở hữu tiền trên thị trường hàng hóa không phải là laođộng mà là người lao động Cái mà người lao động bán là sức lao động củaanh ta mét khi lao động của anh ta thực sự bắt đầu , thì nó không còn phụthuộc vào anh ta nũă , do đó anh ta không còn có thể bán lao động đó được Lao động là thực thể và là thước do nội tại của giá trị, nhưng bản thân laođộng thì không có giá trị Cái giấ cả chi phối những giá cả thị trường ngẫunhiên của lao động và điều tiết cấc giá cả Êy ,cái "giá cả tất yếu "hoặc giá cả
tự nhiên" đó của lao động,cũng giống như ở các hành hóa khác,chỉ có thể làgiá trị của lao động được biểu hiện thành tiền mà thôi Cái gọi là giá trị củalao động thật ra là giá trị của sức lao động tồn tại trong con người của ngườilao động và khác với chức năng của nó tức là với lao động ,cũng giống nhưcái máy khác với những động tác của máy vậy
Vì giá trị của lao động chỉ là biểu hiện bất hợp lý của giá trị sức lao độngnên cũng dẽ hiểu rằng giá trị của lao động bao giê cũng Ýt hơn sản phẩm- giátrị của nó, bởi vì nhà tư bản bao giê cũng buộc sức lao động hoạt động lâu hơntheo số thời gian cần thiết để tái sản xuất ra giá trị bản thân nó
Nh chóng ta đã biết, giá trị hàng ngày của sức lao động được tính theomột tuổ thọ nào đó của người công nhân và tương ứng với nó là ngày lao động
có một độ dài nhất định Do vậy giá trị của sức lao động quyết định giá trị củalao động Ngược lại,nếu giá trị của sức lao động chênh lệch với giá trị của nóthì giá cả của lao động cũng chênh lệch với cái gọi là giá trị của lao động Vìgiấ trị của lao động chỉ là biểu hiện bất hợp lí của giá trị sức lao động, nên cũng
dễ hiểu rằng giá trị của lao động bao giê cũng Ýt hơn sản phẩm, bởi vì nhà tưbản bao giê cũng Ýt buộc sức lao động hoạt động lâu hơn số thời gian cần thiết
để tái sản xuất ra giá trị của bản thân nó
Trang 8Hình thái tiến đã xóa bá mọi vết tích phân chia ngày lao động ra thànhlao động cần thiết và lao động thặng dư, thành lao động được trả công va laođộng không công Toàn bộ lao động thể hiện ra nh là lao động được trả công Ơlao động làm thuê thì ngay cả lao động thặng dư, hay lao động không côngcũng thể hiện ra nh là lao động được trả công Quan hệ sở hữu đã che mất laođộng làm cho mình của người nô lệ còn ở đây thì quan hệ tiền tệ đã che mất laođộng không công của người lao động lam thuê.
Sù trao đổi giữa nhà tư bản và lao động mới thoạt nhìn thì hoàn toànchẳng khác gi với việc mua và bán mọi thứ hàng hóa khác Người mua đưa ramột số tiền nhất định ,người bán đưa ra một vật phẩm khác với tièn Tiếpnữa ,vì giá trị tao đổi và giá trị sử dụng tự chúng là những đại lượng không thể
đo chung được , cho nên nói "giá trị của lao động ","giá cả của lao động " hìnhnhư cũng chẳng phi lÝ gì hơn là nói " giá trị của bông ", giá cả của bông".Nhưng trong chức năng làm phương tiện thanh toán của mình,thì mãi về sau ,tiền mới thực hiện giá trị hay giá cả của vật phẩm đã cung cấp Cuối cùng ,cái "giá trị sử dụng "mà người công nhân cung cấp cho nhà tư bản thật ra khôngphải là sức lao động mà là sự hoạt động của sức đó,là một lao động hữu Ýchnhất định :các sự kiện là ,cũng lao động Êy ,vè mặt khác ,lại là yếu tố phổ biếntạo nên giá trị -một thuộc tính làm cho lao động khác với tất cả hàng hóa khác-sự kiện đó ,ý thức đó ,ý thức thông thường không thể hiểu nổi
Vậy bản chất của tiền công trong chủ nghia tư bản là giá trị hay giá cả củasức ;ao động
Tiền công che đậy mất bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản
*Các hình thức cơ bản của tiền công, tièn lương:
Bản thân tièn công ,đến lượt nó ,lại khoác lấy rất nhiều hình thức khácnhau mà các cuốn sách chỉ nam về kinh tế chính trị không hề cho chóng ta biết,
vì trong khi quá quan tâm đến mặt vật chất ,chúng đã coi thường mọi sự khácnhau về hình thức Tiền công có hai hình thức cơ bản là tiền công tính theo thờigian và tiền công tính theo sản phẩm
Trang 9Tièn công tính theo thời gian là hình thức tiền công mà số lượng của nó
Ýt hay nhiều tùy theo thời gian lao động của công nhân( giê, ngày ,tháng ) dàihay ngắn Số tiền mà người công nhân nhận được về ngày lao động ,tuần laođộng , của mìnnh là số tiền công danh nghĩa của anh ta, hay tiền công đượcđánh giá theo giá trị Nhưng tùy theo độ dài của ngày lao động ,tùy theo sốlượng do người công nhân cung cấp hằng ngày ,mà cũng một số tiền công ngày,tiền công tuần như nhau lại có thể đại diện cho một giá cả lao động rất khácnhau, tức là đại diện những số tiền rất khác nhau trả cho cùng một số lượng laođộng Vì vậy khi nói đến tiền công tính theo thời gian thì lại phải phân biệt tổng
số tiền công với giá cả láo động Nhưng làm thế nào để tính được giá cả Êy,hay giá trị bằng tiền của một lượng lao động nhất định? Chúng ta sẽ có đượcgiá cả trung bình của lao động bằng cách đem chia giá trị hàng ngày trung bìnhcủa sức lao động cho số giê của ngày lao động trung bình Giá cả đó sẽ dùnglàm đơn vị để đo giá cả của lao động Những sự tăng lên của tiền công danhnghĩa hàng ngày hay hàng tuần có thể đi kèm theo với một giá cả lao độngkhông đổi hay tụt xuống Nhưng quy luật chung là: Nếu số lượng lao độnghàng ngày hay hàng tuần đã cho sẵn thì tiền công hàng ngày hay hàng tuầnphụ thuộc vào giá cả lao động, bản thân giá cả này lại biến đổi cùng với giá trịsức lao động hay cùng với những chênh lệch của giá cả sức lao động so với giátrị của nó Ngược lại nếu giá cả lao động cho sẵn thì tiền công ngày hay tiềncông tuần phụ thuộc vào số lượng lao động hàng ngày hay hàng tuần Bây giê,nhà tư banr có thể nóp nặn của công nhân một số lượng lao động thặng dư nhấtđịnh mà không cần phải dành cho anh ta số thời gian lao động cần thiết để duytrì sự sống của mình Nhà tư bản có thể xóa bỏ mọi sự đều đặn trong công việc
và hoàn toàn căn cứ vào sù tiện lợi, tính tùy tiện và lợi Ých trước mắt của mình
mà thay thế những thời kỳ lao động quá mức ghê gớm bằng những thời kỳ thấtnghiệp bộ phận hoặc hoàn toàn Mượn cớ trả giá cả bình thường của lao độngnhà tư bản có thể kéo dài ngày lao động một cách bất bình thường mà khôngđền bù thích đáng gì cho công nhân cả
Trang 10Từ quy luật" với giá cả lao động đã cho sẵn thì tiền công hàng ngày haytiền công tuần phụ thuộc vào số lương lao động đã cung cấp", trước hết có thểrót ra kết luận nói rằng: Giá cả lao động càng thấp thì số lượng lao động phảicàng lớn, hoặc ngày lao động lại phải càng giảm, để đảm bảo cho công nhân cóđược dù là một số tiền công trung bình thảm hại Ở đây, mức giá cả lao độngthấp tác động nh là một yếu tố kích thích việc kéo dài thời gian lao động.Nhưng trái lại, việc kéo dài ngày lao động đến lượt nó cũng làm cho giá cả laođộng tụt xuống và do đó làm cho tiền công tuần cũng tụt xuống.
Nhà tư bản không hề biết rằng ngay cả giá cả bình thường của lao độngcũng bao gồm một số lượng lao dộng không công nhất định, và chính lao độngkhong công Êy là cái nguồn lợi nhuận của hắn Phạm trù thời gian lao độngthặng dư nói chung không tồn tại đối với nhà tư bản, vì thời gian lao độngthặng dư này đã nằm trong ngày lao động bình thường mà hắn cho rằng đã trảtrong tiền công này rồi Nhưng đối với hắn thì thời gian ngoại ngạch, tức làviệc kéo dài ngày lao động ra quá giới hạn tương ứng với giá cả lao động có tồntại Thậm chí hắn còn muốn bắt những người bán với giá bình thường cạnhtranh với hắn phải trả thêm thời gian ngoại ngạch Êy nữa Nhưng hắn cũng lạikhông biết rằng số tiền trả thêm đó vẫn bao gồm lao động không công, cũnggiống như giá cả của giê lao động bình thường vậy
Tiền công tính theo thời gian lao động được trực tiếp đô bằng thời gian
đo bằng thời gian dài ngắn của nó, còn trong tiền công tính theo sản phẩm thìlao động được đo bằng số lượng sản phẩm trong đó lao động đã ngưng đọng lạitrong một khoảng thời gian nhất định
Tiền công tính theo sản phẩm chẳng qua cũng chỉ là hình thức chuyểnhóa của tiền công tính theo thời gian, cũng giống như tiền công tính theo thờigian là hình thức chuyển hóa của giá trị hay giá cả của sức lao động Trong tiềncông tính theo sản phẩm, mới thoạt nhìn thì hình như giá trị sử dụng do côngnhân bán ra không phải là chức năng của sức lao động mà là lao động đã vậthóa trong sản phẩm, và hình như giá cẩ của lao động đó không phải do phân số:
Trang 11Giá trị hàng ngày của sức lao động Ngày lao động của một số giê nhất địnhquyết định nh trong tiền công tính theo thời gian mà là do năng lực công táccủa một người sản xuất nhất định
TiÒn công tính theo sản phẩm cung cấp cho nhà tư bản một cái thước
đo hoàn toàn chính xác để đo cường độ lao động Chỉ có thời gian lao độngnào nhập vào một khối lượng sản phẩm đã được quy định trước, do kinhnghiệm xác lập, thì mới được coi là thời gian lao động xã hội cần thiết và mớiđược trả công với tư cách là một thời gian lao động nh thế
Trong chế độ tiền công tính theo thời gian, trừ rất Ýt ngoại lệ ra người
ta trả một tiền công như nhau cho những công việc như nhau, còn trong chế
độ tiền công tính theo sản phẩm thì mắc dù giá cả của thời gian lao động được
đo bằng một số lượng sản phẩm nhất định, nhưng tiền công ngày và tiền côngtuần lại thay đổi tùy theo sự khác nhau có tính chất cá nhân giữa các côngnhân Phạm vi hoạt động lớn hơn mà tiền công tính theo sản phẩm mang lạicho cá nhân, một mặt sẽ góp phần phát triển cá tính, tinh thần tự do, tính độclập và khả năng tự kiểm tra của người công nhân và mặt khác lại đẻ ra sự cạnhtranh giữa công nhân với nhau Vì vậy, trong khi nâng tiền công cá nhân lêncao hơn mức trung bình thì tiền công tính theo sản phẩm đồng thời lại có xuhướng hạ thấp chính ngay mức trung bình đó xuống Nhưng nơi nào mà mộttiền công rtinhs theo sản phẩm nhất định đã được cố định từ lâu theo truyềnthống rồi và do đó mà mọ việc hạ thấp tiền công cũng gặp khó khăn đặc biệt
Ta thấy, đối với những hình thức biểu hiện như"giá trị và giá cả của lao động'',hay tiền công, khác với cái quan hệ cơ bản mà nó biểu hiện, tức là khác vớigiá trị và giá cả của lao động, thì sự việc cũng giống như đối với tất cả mọihình thức biểu hiện và cái cơ sở bị che dâú ở đằng sau những hình thức đó.Khoa kinh tế chính trị cổ điển đã đi rất gần đến tình hình thực sự của sự vật,
Trang 12nhưng đã không nêu được tình hình đó lên một cách có ý thức Và nó khôngthể làm được điều đó, khi nó còn chưa trút bỏ được cái líp da tư sản của nó đi.
III SỰ VẬN DỤNG LÝ LUẬN TIỀN CÔNG TRONG CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG Ở NƯỚC TA.CƠ SỞ TỒN TẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG Ở VIỆT Nam.
1.Một vài vấn đề về lực lượng lao động ở VN.
Nghiên cứu chính sách tiền lương của người lao động, trước hết cần xétđến vai trò của họ trong quá trình sản xuất Ở đây, vấn đề đặt ra là: Tại saocon người lại làm việc? Mục đích làm việc của họ là gì? Vì sao cùng mộtngười lao động, nhưng ở cơ quan, xí nghiệp này họ lại làm tốt, làm việc hếtmình; Còn ở xí nghiệp cơ quan khác lại không muốn làm việc, làm việc vớinăng suất thấp và không có hiệu quả?
Trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển nhưng ở Việt Nam thì nhucầu của con người mới chỉ đảm bảo được ở mức độ thấp, tối thiểu về ăn, mặc,
ở, đi lại, nghỉ ngơi, bảo vệ sức khỏe và học hành Trong nền kinh tế thị trườngnhu cầu được thể hiện tập trung ở lợi Ých kinh tế- đông lực trực tiếp thúcđẩy người lao động làm việc và làm việc có năng suất chất lượng hiệu quả
*Thực trạng về lao động ở VN
Nói đến tiền công, trước hết ta phải xem xét đến nhân tố tạo ra tiềncông, gắn bó chặt chẽ đến tiền công:Nguồn nhân lực Con người tạo ra laođộng và giá trị của lao động là tiền lương Trên thực tế, theo điều tra dân sốtháng 4/1999 là 76,3 triệu ngưòi, số người trong độ tuổi lao động, số ngườitrong độ tuổi lao động chiếm gần 59% dân số VN Lực lượng lao động năm
1999 có 38 triệu người Theo điều tra lao động việc làm năm 2000 lực lượnglao động là 39,643 triệu người Đây là tiềm năng quý báu để phát triển kinh tế
xã hội VN
Trang 13Ở nước ta mỗi năm có khoảng hơn 1,5 triệu người bước vào tuổi laođộng Số người bước ra khỏi dé tuổi lao động chiếm gần 0,5 triệu người Vìvậy, mỗi năm nguồn lao động VN tăng thêm hơn 1 triệu người.
Mét trong những biểu hiện của chất lượng nguồn nhân lực là trình độvăn hóa Trình độ văn hóa của lao động ngày càng cao Năm 1997 điều tra36,3 triệu lao động thấy 5% sè lao động chưa biết chữ; 2% chưa tốt nghiệpcấp 1; 28% đã tốt nghiệp cấp 1; 32% đã tốt nghiệp cấp1; 15% đã tốt nghiệpcấp 3
Việc phân bố lực lượng lao động vào các thành phần kinh tế trong thờigian qua đã có sự điều chỉnh rõ rệt Khu vực nhà nước lao động đã liên tụcgiảm từ 17% năm 1979 xuống 15% năm 1989 và 10% năm 1999 Lao động ởkhu vực tập thể cũng giảm mạnh Chỉ số phát triển nhân lực đã từ vị trí120/174 năm 1995 lên vị trí 110/174 nước trên thế giới năm 1999
Qua phân tích trên, chúng ta thấy rằng các nguồn lực lao động ở VN cóquy mô lớn và tăng theo nhịp độ rất cao Vấn đề này đã, đang và sẽ tạo racung về sức lao động ngày càng nhiều Trong khi đó cầu về thị trường còn tấtyếu, gây lãng phí các nguồn nhân lực, kể cả nguồn nhân lực có học vấn ở đothị và ảnh hưởng trực tiếp đến mức tiền lương
2 Chính sách tiền lương ở VN.
Chính sách tiền lương là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chínhsách kinh tế xã hội của đất nước Chinh sách này liên quan chặt chẽ đến lợiÝch, thãi quen và tâm lý của đông đảo người lao động.Từ ngày thành lậpnước đến nay chế độ tiền lương đã nhiều lần cải tiến, ở đây chỉ đề cập đến 2lần cải cách gần nhất để đánh giá thực trạng chính sách và cơ chế tiền lương ởnước ta
a Đặc điểm và nội dung của chính sách tiền lương qua các thời kỳ:
Chính sách tiền lương ban hành theo nghị điịnh số 235/HĐBT ngày18/9/1985 của hội đồng bộ trưởng theo điều kiện tổng điều chỉnh giá, lưong,
Trang 14tiền nhưng vẫn dùa trên cấu trúc kinh tế xã hội của mô hình quản lý trực tiếpcứng của nhà nước, chưa có sự thay đổi trong cơ chế quản lý kinh tế.
Cơ chế quản lý tiền lương là một bộ phận cấu thành cơ chế quản lý kinh
tế Tronh những năm 1980, cơ chế quản lý kinh tế vẫn còn được thực hiệntheo mô hình kế họach hóa tập trung quan liêu, trong đó lao động và tiềnlương của các đơn vị, các doanh nghiệp, và các cơ quan nhà nước đều phải kếhoách hóa do ngân sách nhà nước chi trả Đối với các xí nghiệp quốc doanhsau khi hoàn thành kế hoạch đều được trích một phần lợi nhuận định mức donhà nước Ên định để lập các quỹ xí nghiệp và phân phối bổ xung cho côngnhân, viên chức
Về công cụ quản lý tiền lương Mức tiền lương tối thiểu và các mứclương trong hệ thống thang lương, bảng lương được thực hiện thoóng nhấttrong toàn quốc Tiền lương giữa các vùng được điều chỉnh theo phụ cấpchênh lệch giá sinh hoạt theo vùng
Khi chuyển sang kinh tế thị trường, chính sách tiền lương theo nghịđịnh 235/HĐBT vừa lạc hậu, vừa chứa đựng nhiều mâu thuẫn,có ảnh hưởngxấu đến sản xuất t,đời sống và công bằng xã hội
Cơ chế và chính sách tiền lương theo nghị định 25/CP,vaf‚†/CP đượcxây dựng đáp ứng đòi hỏi khách quan của công cược đổi mới voi nhưng quanđiểm la:
- Tiền lưong là giá cả sức lao động được hình thành qua thỏa thuận giữangười sử dụng lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sứclao động trong nền kinh tế thị trường
- Thay đổi kết cấu tiền lương từ việc phân phối gián tiếp sang phân phốitrực tiếp trong tiền lương, đồng thời phân biệt rõ hệ thống tiền lương của cácchức vụ bầu cử, hành chính sự nghiệp, sản xuất kinh doanh và lực lượng vũtrang Tách dần các chế độ đãi ngộ ra khỏi tiền lương