Chính sách thương mại quốc tế của hoa kì và bài học cho việt nam Chính sách thương mại quốc tế của hoa kì và bài học cho việt nam Chính sách thương mại quốc tế của hoa kì và bài học cho việt nam Chính sách thương mại quốc tế của hoa kì và bài học cho việt namChính sách thương mại quốc tế của hoa kì và bài học cho việt nam Chính sách thương mại quốc tế của hoa kì và bài học cho việt nam Chính sách thương mại quốc tế của hoa kì và bài học cho việt nam Chính sách thương mại quốc tế của hoa kì và bài học cho việt nam Chính sách thương mại quốc tế của hoa kì và bài học cho việt nam Chính sách thương mại quốc tế của hoa kì và bài học cho việt nam Chính sách thương mại quốc tế của hoa kì và bài học cho việt nam Chính sách thương mại quốc tế của hoa kì và bài học cho việt nam Chính sách thương mại quốc tế của hoa kì và bài học cho việt namChính sách thương mại quốc tế của hoa kì và bài học cho việt namChính sách thương mại quốc tế của hoa kì và bài học cho việt nam
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
1 Tính tất yếu của đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Kết cấu đề tài 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOA KỲ 5
1.1 VÀI NÉT VỀ ĐẤT NƯỚC HOA KỲ 5
1.2 KHÁI QUÁT NỀN KINH TẾ HOA KỲ 6
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ HOA KỲ 8
2.1 MÔ HÌNH CHÍNH SÁCH 8
2.2 NỘI DUNG CHÍNH SÁCH 8
2.3 CÔNG CỤ, BIỆN PHÁP ÁP DỤNG 9
2.3.1 Công cụ và biện pháp quản lý 9
2.3.1.1 Thuế quan 9
2.3.1.2 Hạn ngạch 14
2.3.1.3 Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật 16
2.3.1.4 Hạn chế xuất khẩu tự nguyện 22
2.3.1.5 Chống bán phá giá 24
2.3.1.6 Các biện pháp khác 27
2.3.2 Công cụ, biện pháp hỗ trợ 30
2.3.2.1 Công tác xúc tiến thương mại 30
2.3.2.2 Hỗ trợ tín dụng 31
2.3.2.3 Hệ thống pháp luật của Hoa Kỳ về thương mại quốc tế 32
CHƯƠNG 3 : ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA HOA KỲ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 35
3.1 ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA HOA KỲ 35
3.1.1 Từ chủ nghĩa bảo hộ tới thương mại tự do hóa 35
3.1.2 Đa phương hóa, khu vực hóa và song phương hóa 39
Trang 23.1.4 Thâm hụt thương mại của Mỹ 43
3.2 BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 46
3.2.1 Quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ 46
3.2.2 Bài học cho Việt Nam 47
KẾT LUẬN 53
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính tất yếu của đề tài
Từ khi Cách mạng công nghiệp bắt đầu ở Châu Âu vào cuối thế kỷ thứ XVIII – đầuthế kỷ thứ XIX, nó đã nhanh chóng lan sang Hoa kỳ, cùng với đó năm 1865, cuộc Nội haimiền Nam – Bắc Hoa Kỳ kết thúc đã đặt nền móng cho nền kinh tế công nghiệp hiện đại pháttriển ở nước này Kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ II, Hoa Kì luôn là một siêu cường vớinền kinh tế có quy mô lớn nhất trên thế giới Bước vào thế kỷ XXI, Hoa Kì với một nền kinh
tế lớn hơn bao giờ hết và cùng với nhiều số liệu đánh giá là thành công chưa từng có Xếp thứnhất về sản lượng kinh tế, còn gọi là tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong năm 2006 Với íthơn 5% dân số thế giới, khoảng 302 triệu người, nước Mỹ chiếm 20 đến 30% tổng GDP củatoàn thế giới Qua các năm con số này luôn giữ được tính ổn định, kinh tế Mỹ vẫn luôn là nềnkinh tế đứng đầu thé giới
Có được những thành công kể trên không thể không kể đến vai trò của thương mại quốc tế trong nền kinh tế Hoa Kì Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế tế, nền kinh tế của Hoa Kì đã dỡ bỏ được hầu hết các hàng rào bảo hộ, thực hiện
tự do hóa thương mại Đặc biệt là đối với hàng hóa nông sản và dịch vụ Áp dụng các biện pháp mang tính ưu đãi với các nước được coi là đồng minh và các nước đã kí các hiệp ước tự do như EU, Nhật Bản Sử dụng hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập GSP, đánh thuế thấp với hàng hóa nhập khẩu từ các nước đang phát triển
Tuy nhiên, dù là một nền kinh tế với tự do hóa thương mại nhưng Hoa Kì vẫn cónhững nguyên tắc, sự điều chỉnh riêng của mình để bảo hộ nền sản xuất trong nước Đó là cáccông cụ thuế và phi thuế như tiêu chuẩn kĩ thuật, chính sách chống bán phá giá, áp dụng quytắc xuất xứ, Hàng hóa nhập khẩu vào Hoa Kì thường đạt tiêu chuẩn cao, bảo vệ người tiêudùng trong nước và vảo vệ môi trường sinh thái
Vậy Hoa Kì đã thực hiện chính sách thương mại quốc tế của mình như thế nào để vừađạt được những thành công to lớn, vừa bảo vệ được sản xuất nước nhà? Để tìm hiểu kỹ hơn
Trang 4về vấn đề này, nhóm chúng em thực hiện bài tiểu luận với đề tài: “Chính sách thương mại
quốc tế của Hoa Kì và bài học cho Việt Nam”.
2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: giúp người đọc có được cái nhìn tổng quan về chính sách thươngmại quốc tế của Hoa Kỳ
Nhiệm vụ nghiên cứu: bài viết tìm hiểu khái quát về nên kinh tế Hoa Kỳ; chính sáchthương mại quốc tế mà Hoa Kì đã áp dụng trong thời gian qua; đánh giá sự hiệu quả của cáccông cụ biện pháp mà chính sách sử dụng, từ đó đưa ra bài học cho chính sách thương maiquốc tế của Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: chính sách thương mại quốc tế của Hoa Kì
Phạm vi nghiên cứu:
– Không gian: bài viết đề cập đến chính sách thương mại quốc tế được áp dụng tại Hoa Kì.– Thời gian: số liệu trong đề tài được thu thập từ năm 2000 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài có sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
– Phương pháp phân tích điển hình và tổng hợp: thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu trênquy mô lớn
– Phương pháp phân tích theo cấu trúc logic của các tài liệu theo số liệu thu thập được, nhậndạng những vướng mắc trong hoạt động thực tế, từ đó phát hiện ra những vấn đề để tiến hànhnghiên cứu
Trang 5Chương 2: Chính sách thương mại quốc tế của Hoa Kì
Chương 3: Bài học cho chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam
Trang 6CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOA KỲ1.1 VÀI NÉT VỀ ĐẤT NƯỚC HOA KỲ
Hoa Kỳ (tên chính thức: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) là một cộng hòa lập hiến liênbang gồm có 50 tiều bang và một đặc khu liên bang, nằm hoàn toàn trong Tây Bán Cầu Với3,79 triệu dặm vuông (9,83 triệu km2) và 305 triệu dân, Hoa Kỳ là quốc gia lớn thứ ba về tổngdiện tích và về dân số trên thế giới với gần như có tất cả các loại khí hậu trải dài từ bắc xuốngnam Khí hậu ôn hòa có ở đa số các vùng, khí hậu nhiệt đới ở Hawaii và miền nam Florida,khí hậu địa cực ở Alaska, khí hậu Địa trung Hải ở duyên hải California và khô hạn ở Đại bồnđịa
Hoa Kỳ là một trong những quốc gia đa dạng chủng tộc nhất trên thế giới, do kếtquả của những cuộc di dân đến từ nhiều quốc gia khác trên thế giới Đây cũng là quốc gia đavăn hóa, là nơi sinh sống của nhiều nhóm đa dạng chủng tộc, truyền thống và giá trị Nói đếnvăn hóa chung của đa số người Mỹ là có ý nói đến “văn hóa đại chúng Mỹ” Đó là một nềnvăn hóa Tây Phương phần lớn là sự đúc kết từ những truyền thống của các di dân từ Tây Âu,bắt đầu là các dân định cư người Hà Lan và người Anh trước tiên Sau đó là văn hóa Đức,Ireland, Scotland, Mexico và mới đây là sự di dân từ châu Á và đặc biệt là châu Mỹ latinhcũng có nhiều ảnh hưởng rộng lớn Kết quả sự trộn lẫn các nền văn hóa lại với nhau có thể cóđặc tính như là một cái nồi súp nấu chảy mọi thứ văn hóa thành một thứ văn hóa chung màngười Mỹ thường gọi từ xưa đến nay là melting pot, hay một khái niệm mới là salad bowl –một tô xà lách trộn có đủ thứ rau, gia vị mà trong đó những người di dân và con cháu của họvẫn giữ những đặc tính văn hóa riêng biệt của mình Chính sự hòa trộn văn hóa và đa dạngchủng tộc đó, Hoa Kỳ đã hội tụ được những nhân tài và tinh túy của các quốc gia, góp phầnquan trọng trong việc tạo nên một nền kinh tế năng động và phát triển bậc nhất thế giới
Hoa Kỳ có ảnh hưởng kinh tế, chính trị và quân sự to lớn trên trường quốc tế màkhiến chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ là một đề tài quan tâm lớn nhất trên khắp thế giới.Hầu như tất cả các quốc gia đều có tòa đại sứ tại Washington D.C và nhiều lãnh sự quán khắpđất nước Tương tự, gần như tất cả các quốc gia đều có các sứ bộ ngoại giao tại Mỹ Tuynhiên, Cuba, Iran, Bắc Hàn, Bhutan và Sudan không có quan hệ ngoại giao chính thức vớiHoa Kỳ
Trang 71.2 KHÁI QUÁT NỀN KINH TẾ HOA KỲ
Một câu nói cách ngôn của các nhà kinh tế học là: “Khi nước Mỹ hắt xì hơi, thì
cả thế giới đều bị cảm lạnh” Sở dĩ, Mỹ có được tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quốc gia,các tổ chức từ kinh tế đến chính trị lớn trên thế giới là nhờ vào tiềm lực kinh tế to lớn củamình Cùng điểm qua một số những con số ấn tượng của nền kinh tế lớn nhất thế giới này :
GDP : Kể từ những năm 20 của thế kỉ trước, Mỹ đã là quốc gia có nền kinh tế lớn nhất
thế giới Mặc dù trong những năm gần đây, các cuộc khủng hoảng về kinh tế và tài chính đã
có ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh thế Hoa Kỳ nhưng vị trí số 1 vẫn được duy trì Năm
2011, Quỹ tiền tệ quốc tế IMF đã công bố danh sách Top 10 nền kinh tế lớn nhất thế giới dựatheo chỉ tiêu GDP Theo đó, Hoa Kỳ đứng đầu với 13860 tỷ USD, gần gấp đôi so với quốcgia đứng thứ 2 là Trung Quốc (7.043 tỷ USD), gấp ba lần quốc gia đứng thứ 3 là Nhật Bản(4.305 tỷ USD) (Việt Nam năm 2011 có Tổng GDP là 119 tỷ USD
Hình 1.2: Các quốc gia xét theo Tổng GDP (PPP) giai đoạn từ 2001-2010
(nguồn :…)Không một quốc gia nào trong thời kỳ hiện đại có thể tiến gần hơn Mỹ xét về sứcmạnh của nền kinh tế Ở thời kỳ hưng thịnh nhất, Liên Xô chỉ tạo ra 1/3 sản lượng hàng hóa
và dịch vụ so với Mỹ Tương tự như vậy, Nhật Bản ở thời kỳ đỉnh cao cũng chỉ sản xuất rachưa bằng ½ sản lượng hàng hóa của Mỹ
Trang 8Kim ngạch xuất nhập khẩu: Hoa Kỳ là quốc gia có nền thương mại lớn nhất thế giới.
Trong năm 2011, Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 3200 tỷ USD, trong đó nhập khẩu của
Mỹ lên đến 1300 tỷ USD, xuât khẩu lên tới 1900 tỷ USD (Việt Nam đạt tổng kim ngạchXuất nhập khẩu là 200 tỷ USD) Các đối tác thương mại lớn của Hoa Kỳ là Canada, TrungQuốc, Nhật Bản, Mehico, Đức, Anh, Pháp,…Có một lượng lớn đồng Đôla Mỹ được lưuthông khắp hành tinh Và các lao động tại Mỹ tạo ra 1/3 số lượng kiều hối trên thế giới (trungbình 145 nghìn tỷ USD mỗi năm)
Tài chính: Thị trường chứng khoán NewYork được mệnh danh là “Big Board”, là thị
trường giao dịch chứng khoán lớn nhất thế giới, tọa lạc trên con phố tài chính nổi tiếng – PhốWall Theo thống kê về giá trị chứng khoán của các công ty giao dịch, thị trường NewYork làthị trường lớn gấp ba lần so với bất kì một thị trường nào trên thế giới Tổng giá trị giao dịchmỗi ngày là 10,1 tỷ USD
Thành phần kinh tế: Kinh tế Mỹ được coi là một nền kinh tế dịch vụ Theo thống kê,
dịch vụ được sản xuất bởi khu vực tư nhân chiếm 76,7% GDP của Hoa Kỳ trong năm 2010,trong đó đứng đầu là Ngân hàng, Tài chính, Bảo Hiểm và Đầu tư Công nghiệp chỉ chiếm22,1% trong nền kinh tế nhưng Hoa Kỳ vẫn là nước có nền sản xuất lớn nhất thế giới, đạt
2330 tỷ USD trong năm 2010, lớn hơn của Đức, Pháp, Ấn Độ và Brazil kết hợp và chiếm18% sản lượng sản xuất của thế giới Hoa Kỳ dẫn đầu thế giới về sản xuất máy bay, sản xuấtcác thiết bị công nghệ cao (cùng với Nhật Bản) với các nhà máy trải dài trên khắp lãnh thổ
Một số lĩnh vực khác: 32% trong tổng số 250 nhà bán lẻ lớn nhất thế giới đặt trụ sở tại
Mỹ Một nửa của 20 nhà sản xuất bán dẫn lớn nhất có nguồn gốc từ Mỹ Hầu hết các quỹ từthiện lớn nhất thế giới được thành lập bởi người Mỹ Mỹ cũng dẫn đầu về số lượng ngườigiàu nhất thế giới, khoảng 50% vào những năm 2001 và hiện nay là khoảng 33% 2 nhà tỷphú trẻ tuổi nhất thế giới hiện nay cũng mang quốc tịch Mỹ (Dustin Moskovitz, và nhà sánglập Facebook – Mark Zuckerberg Dustin, cùng 26t)…
Trang 9CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
HOA KỲ 2.1 MÔ HÌNH CHÍNH SÁCH
Mô hình chính sách Thương mại quốc tế chung của Mỹ được xây dựng trên hệ thốngluật pháp tương đối phức tạp của toàn liên bang và các nguyên tắc của các tổ chức quốc tếnhư WTO, WB, IMF
Áp dụng hệ thống các công cụ biện pháp bảo hộ mang tính tinh vi và phù hợp với các nguyêntắc của WTO như rào cản kỹ thuật, biện pháp chống bán phá giá Thực hiện bảo vệ ngườitiêu dùng
Đồng thời, mô hình chính sách thương mại quốc tế của Mỹ có những thay đổi khácnhau qua các kỳ tổng thống Điển hình là hai chính sách thương mại dưới thời hai vị tổngthống gần đây nhất: G.Bush và Barack Obama Dưới thời cầm quyền của tổng thống G.Bush,Hoa Kỳ ưu tiên thực hiện chính sách tự do hóa thương mại, thực hiện các vòng đàm phánthương mại tự do Doha Theo như lời của tổng thống G.Bush khi tiến hành tranh cử: “Bây giờchính là thời kì để giảm rào cản thương mại trên toàn thế giới”
Tuy nhiên, dưới thời tổng thống Barack Obama, vấn đề thương mại tự do lại khôngđược đưa vào trong những vấn đề ưu tiên của ông Ông tăng cường việc thực hiện bảo hộmậu dịch đối với Hoa Kỳ, đàm phán tự do thương mại sẽ không tiến triển nhiều BarackObama tin vào một thương mại bình đẳng, nhưng phải tuân theo các cam kết có hiệu lực trênphạm vi toàn cầu trong các vấn đề liên quan đến lao động, môi trường, y tế và các tiêu chuẩn
an toàn Đây chính là đường hướng mà chính quyền Bill Clinton từng làm
Trang 10 Áp dụng chính sách ưu đãi đối với các nước được coi là đồng minh như Nhật Bản,EU…
Các nước theo chế độ cộng sản đặc biệt là các nước theo chế độ XHCN, trước đâythường áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế quan hệ thương mại, một số trường hợpđặc biệt áp dụng biện pháp cấm vận
Thực hiện cs cấm vận với các nước được coi là kẻ thù
sở tai Bruxen Mức thuế nhập khẩu của Hoa Kỳ có thể thay đổi và được công bố hàng năm
Các loại thuế bao gồm:
- Thuế theo trị giá: Hầu hết các loại thuế quan của Hoa Kỳ được đánh theo tỷ lệ
trên giá trị, tức là bằng một tỷ lệ phần trăm trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu Ví dụmức thuế tối huệ quốc năm 2004 đối với chè xanh có hương vị đóng gói không quá 3 kg/gói
là 6,4%
- Thuế theo trọng lượng hoặc khối lượng: Một số hàng hoá, chủ yếu là nông sản
và hàng sơ chế phải chịu thuế theo trọng lượng hoặc khối lượng Loại thuế này chiếm khoảng12% số dòng thuế trong biểu thuế HTS của Hoa Kỳ Ví dụ, mức thuế MFN năm 2004 đối vớicam là 1,9 cent/kg, đối với nho tươi trong khoảng 1,13 – 1,80 USD/m3 hoặc được miễn thuếtùy thời điểm nhập khẩu trong năm (Xem thêm phần về Thuế Thời vụ dưới đây.)
- Thuế gộp: Một số hàng hóa phải chịu gộp cả thuế theo giá trị và thuế theo số
lượng Hàng phải chịu thuế gộp thường là hàng nông sản Ví dụ thuế suất MFN đối với nấm
mã HTS 0709.51.01 áp dụng cho năm 2004 là 8,8 cent/kg + 20%
- Thuế theo hạn ngạch: Ngoài ra, một số loại hàng hoá khác phải chịu thuế hạn
ngạch Hàng hoá nhập khẩu nằm trong phạm vi hạn ngạch cho phép được hưởng mức thuếthấp hơn, trong khi đó hàng nhập vượt quá hạn ngạch phải chịu mức thuế cao hơn nhiều và có
hệ quả như cấm nhập khẩu Mức thuế MFN năm 2002 áp dụng đối với số lượng trong hạn
Trang 11ngạch bình quân là 9%, trong khi đó mức thuế đối với số lượng vượt hạn ngạch trung bình là53% Thuế hạn ngạch hiện nay đang được áp dụng với thịt bò, các sản phẩm sữa, đường vàcác sản phẩm đường
- Thuế theo thời vụ: Mức thuế đối với một số loại nông sản có thể thay đổi theo
thời điểm nhập khẩu vào Hoa Kỳ trong năm Ví dụ, mức thuế MFN năm 2004 đối với nhotươi nhập khẩu trong thời gian từ 15 tháng 2 đến hết ngày 31 tháng 3 là 1,13 USD/m3, trongthời gian từ 1 tháng 4 đến hết 30 tháng 6 là 1,80 USD/m3, và ngoài những thời gian trên đượcmiễn thuế
- Thuế leo thang: Một đặc điểm nữa của hệ thống thuế nhập khẩu của Hoa kỳ là
áp dụng thuế suất leo thang, nghĩa là hàng càng chế biến sâu thì thuế suất nhập khẩu càngcao Ví dụ, mức thuế FMN đối với cá tươi sống hoặc ở dạng philê đông lạnh là 0%, trong khi
đó mức thuế đối với cá khô và xông khói là từ 4% đến 6% Loại thuế này cá tác dụng khuyếnkhích nhập khẩu nguyên liệu và hàng sơ chế hơn là hàng thành phẩm
1 trong biểu thuế nhập khẩu (HTS) của Hoa Kỳ
- Mức thuế phi tối huệ quốc (Non-MFN) được áp dung đối với những nước chưa phải là thành viên WTO và chưa ký hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ như Lào,
Cuba, Bắc Triều Tiên Thuế suất Non-MFN nằm trong khoảng từ 20% đến 110%, cao hơnnhiều lần so với thuế suất MFN Mức thuế Non- FMN được ghi trong cột 2 của biểu thuếHTS của Hoa Kỳ
- Mức thuế áp dụng với Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) Hàng hoá nhập khẩu từ Canada và Mexico được miễn thuế nhập khẩu hoặc được hưởng thuế suất ưu
đãi thấp hơn mức thuế MFN Ví dụ, mức thuế MFN năm 2004 áp dụng chung với dưa chuột
Trang 12chế biến là 9,6%, trong khi đó nếu nhập khẩu từ Canada hoặc Mêxicô thì được miễn thuế.Thuế suất ưu đãi đối với hàng nhập từ Canada và Mêxicô được ghi ở cột “Special” của cột 1trong biểu thuế HTS trong đó (CA) là ký hiệu dành cho Canada và (MX) là ký hiệu dành choMêxicô
- Chế độ ưu đãi độ thuế quan phổ cập (Generalized System of Preferences GSP) Một số hàng hoá nhập khẩu từ một số nước đang phát triển được Hoa kỳ cho hưởng
-GSP được miễn thuế nhập khẩu vào Hoa Kỳ Chương trình -GSP của Hoa kỳ thực sự đượcthực hiện từ 1 tháng 1 năm 1976 với thời hạn ban đầu là 10 năm Từ đó đến nay, chương trìnhnày đã được gia hạn nhiều lần với một số sửa đổi
Theo luật Hoa Kỳ, Tổng thống bị cấm không được cho nước cộng sản hưởng GSP trừphi (a) các sản phẩm của nước đó được hưởng đối xử không phân biệt (MFN); (b) nước đó làthành viên của WTO và là thành viên của Quĩ Tiền tệ Quốc tế (IMF); và (c) nước đó không bịthống trị hoặc chi phối bởi cộng sản quốc tế Hàng năm, trên cơ sở đề xuất của Đại diệnThương mại Hoa kỳ (USTR) sau khi tham khảo ý kiến công chúng, Uỷ ban Thương mại Hoa
kỳ (ITC), và các cơ quan hành pháp; Tổng thống quyết định những mặt hàng và những nướcđựợc hưởng GSP Để đuợc miễn thuế nhập khẩu theo chế độ ưu đãi này, (1) hàng phải đượcnhập trực tiếp từ nước hưởng lợi vào lãnh thổ hải quan Hoa Kỳ và (2) trị giá hàng hoá đượctạo ra tại nước hưởng lợi phải đạt ít nhất 35%
Hiện nay, có khoảng 3.500 sản phẩm từ trên 140 nước và vùng lãnh thổ được hưởng
ưu đãi này của Hoa kỳ, trong đó không có Việt nam Không phải tất cả các nước được hưởngGSP được hưởng chung một danh mục hàng hóa GSP như nhau Những hàng hoá đượchưởng GSP của Hoa kỳ bao gồm hầu hết các sản phẩm công nghiệp và bán công nghiệp, một
số mặt hàng nông thuỷ sản, và các nguyên liệu công nghiệp
Những mặt hàng không được đưa vào diện hưởng GSP bao gồm một số mặt hàng hàngdệt may; đồng hồ; các mặt hàng điện tử nhập khẩu nhậy cảm; các mặt hàng thép nhập khẩunhậy cảm; giầy dép, túi xách tay, các loại bao ví dẹt, găng tay lao động, và quần áo da; và cácsản phẩm thuỷ tinh bán công nghiệp và công nghiệp nhập khẩu nhậy cảm
Mức thuế ưu đãi GSP được ghi ở cột “Special” của cột 1 trong biểu thuế HTS và có ký hiệu
là A và A+, trong đó A+ có nghĩa là mặt hàng này nếu được nhập quá nhiều vào Mỹ từ mộtnước thì nước đó sẽ bị mất ưu đãi GSP đối với mặt hàng đó
Trang 13- Sáng kiến Khu vực Lòng chảo Caribê (Caribbean Basin Initiative - CBI)
Điểm mấu chốt của CBI là cho phép Tổng thống quyền đơn phương dành ưu đãithương mại cho hàng nhập khẩu từ các nước và lãnh thổ nằm trong khu vực Lòng chảoCaribê để hỗ trợ cho các nước và vùng lãnh thổ này phục hồi và phát triển kinh tế Sáng kiếnnày được thể hiện trong các luật của Hoa Kỳ như: Luật Phục hồi Kinh tế Khu vực Lòng chảoCaribê ban hành tháng 8 năm 1983 (hay còn gọi là CBI I), Luật Mở rộng Phục hồi Kinh tếKhu vực Lòng chảo Caribê năm 1990 (hay còn gọi là CBI II), và Luật Hợp tác Thương mạiKhu vực Lòng chảo Caribê, có hiệu lực tháng 10 năm 2000 (hay còn gọi là CBI III)
Kể từ CBI I đến CBI III hiện nay, những ưu đãi thương mại mà Hoa kỳ đơn phươngdành cho các nước và lãnh thổ được hưởng lợi ngày càng nhiều và lớn hơn Hiện nay, có 24nước và vùng lãnh thổ được hưởng lợi của CBI Hầu hết các sản phẩm có xuất xứ từ nhữngnước và vùng lãnh thổ này được nhập khẩu vào Hoa kỳ không bị hạn chế về số lượng và đượcmiễn thuế CBI III đã bổ xung một số loại hàng dệt may vào danh mục hưởng lợi (không bịhạn chế số lượng và được miễn thuế), số còn lại vẫn chịu sự điều tiết của các hiệp định dệtmay song phương Các nhóm hàng chưa được miễn thuế hoàn toàn, song được hưởng mứcthuế ưu đãi thấp hơn mức MFN bao gồm: giầy dép, túi xách tay, túi hành lý, các loại túi vídẹt, găng tay lao động, quần áo da
Để được hưởng ưu đãi theo CBI, hàng hoá phải đáp ứng 3 yêu cầu xuất xứ: (1) Phảiđược nhập trực tiếp từ một nước được hưởng lợi vào lãnh thổ hải quan Hoa Kỳ; (2) Phải chứa
ít nhất 35% hàm lượng nội địa của một hoặc nhiều nước hưởng lợi (hàm lượng nguyên liệuxuất xứ Hoa kỳ chiếm tới 15% tổng trị giá hàng hoá cũng có thể tính vào yêu cầu 35% này),
và (3) Hàng hóa phải là sản phẩm được trồng, sản xuất hoặc chế tạo hoàn toàn ở nước hưởnglợi hoặc nếu có nguyên liệu nước ngoài thì nó phải được biến đổi thành sản phẩm mới hoặckhác ở nước hưởng lợi
Mức thuế ưu đãi theo Luật này được ghi ở cột “Special” thuộc cột 1 của biểu thuế HTS và có
ký hiệu là E và E+, trong đó E+ có ý nghĩa tương tự như A+
- Luật ưu đãi thương mại Andean (Andean Trade Preference Act - ATPA) được ban hành tháng 12 năm 1991 nhằm hỗ trợ các nước Bolivia, Colombia, Ecuador và Peru
trong cuộc chiến chống sản xuất và buôn lậu ma tuý bằng cách phát triển kinh tế Theo Luật
Trang 14này, hầu hết các sản phẩm nhập khẩu từ những các nước Adean vào Hoa Kỳ được giảm hoặcmiễn thuế nhập khẩu, trong đó có khoảng 6.300 sản phẩm được miễn thuế hoàn toàn.
ATPA được thay thế bằng Luật Xúc tiến Thương mại và Xoá bỏ Ma tuý (ATPDEA)được ban hành tháng 8 năm 2002 là một phần của Luật Thương mại năm 2002 ATPDEA đã
mở rộng diện các mặt hàng được miễn thuế nhập khẩu ATPDEA có hiệu lực đến 31 tháng 12năm 2006 Tổng thống Hoa Kỳ có thể huỷ hoặc tạm ngừng quyền hưởng lợi, hoặc huỷ, tạmngừng hoặc thu hẹp một số lợi ích của một nước nào đó nếu như nước này không thỏa mãncác tiêu chuẩn hưởng lợi đặt ra trong Luật
Bốn nước Adean nói trên cũng được hưởng GSP, song diện mặt hàng được ưu đãi theoATPA rộng hơn GSP và qui định về xuất xứ trong ATPA cũng rộng rãi hơn Ví dụ, nguyênphụ liệu nhập khẩu từ Puerto Rico, Virgin Islands thuộc Mỹ, và các nước hưởng lợi của LuậtPhục hồi Kinh tế Khu vực Lòng chảo Caribê có thể được tính vào yêu cầu 35% trị giá giatăng nội địa Những mặt hàng không được ưu đãi theo Luật ATPA và ATPDEA cũng tương
tự như những mặt hàng không được hưởng lợi theo CBI Mức thuế ưu đãi theo Luật này đượcghi ở cột “Special” thuộc cột 1 của biểu thuế HTS và có ký hiệu là J và J+, trong đó J+ có ýnghĩa tương tự như A+ và E+
- Luật Hỗ trợ Phát triển Châu Phi (African Growth and Opportunity Act AGOA) Luật này cho phép gần như toàn bộ các hàng hoá của 38 nước Châu Phi được nhập
-khẩu vào Hoa Kỳ miễn thuế và không bị hạn chế về số lượng Chính quyền Mỹ đang đề nghịQuốc hội gia hạn hiệu lực của Luật này khi hết hạn vào năm 2008
Mức thuế ưu đãi theo Luật này được ghi ở cột “Special” thuộc cột 1 của biểu thuế HTS và có
Trang 15Mức thuế ưu đãi theo các hiệp định thương mại tự do này được ghi ở cột “Special” của cột 1của Biểu thuế HTS và có ký hiệu là IL (đối với hàng nhập từ Israel), JO (đối với hàng nhập từJordan), SG (đối với hàng nhập từ Singapore), CL (đối với hàng nhập từ Chilê)
- Các ưu đãi thuế quan khác Hoa Kỳ còn dành ưu đãi thuế quan cho những hàng hóa nhập khẩu vào Hoa Kỳ thuộc diện hưởng lợi của Luật Thương mại các Sản phẩm Ô
tô (được ký hiệu trong biểu thuế là B), Hiệp định Thương mại Máy bay Dân dụng (được kýhiệu trong biểu thuế là C), Hiệp định Thương mại các Sản phẩm Dược (được ký hiệu trongbiểu thuế là K), và những cam kết giảm thuế của Vòng Uruguay đối với hoá chất nguyên liệutrực tiếp của thuốc nhuộm (được ký hiệu trong biểu thuế là L) Những ưu đãi thuế này cũngđược ghi trong cột “Special” của cột 1 của biểu thuế HTS
Các mặt hàng kim loại chế biến ở nước ngoài từ kim loại mua của Hoa Kỳ khi nhập khẩu vàoHoa Kỳ được miễn thuế nhập khẩu đối với phần trị giá mua của Hoa Kỳ Hàng lắp ráp từ các
bộ phận mua của Hoa Kỳ khi nhập khẩu vào Hoa Kỳ được miễn thuế nhập khẩu đối với phầntrị giá mua của Hoa Kỳ
2.3.1.2 Hạn ngạch
Hạn ngạch là quy định của một nước về số lượng cao nhất của một mặt hàng hay mộtnhóm hàng được phép xuất hoặc nhập từ một thị trường trong một thời gian nhất định thôngqua hình thức cấp giấy phép (Quota)
Hạn ngạch của Mỹ chia làm 2 loại:
Hạn ngạch tuyệt đối (Absolute): quy định phần hàng hóa vượt quá mức hạn ngạch sẽ
không được phép đưa vào lãnh thổ hải quan Mỹ và bên XK phải thuê kho hải quan chờ hạnngạch năm sau hoặc tái XK Một số mặt hàng áp dụng hạn ngạch tuyệt đối khi nhập khẩu vào
Mỹ là thức ăn gia súc, các sản phẩm thay thế bơ, pho mát, sữa khô, sô cô la, thịt từ Australia
và New Zealand,…
Hạn ngạch thuế quan (Tariff – rate): trong quy định của hạn ngạch này phần hàng
hóa vượt quá mức hạn ngạch cho phép vẫn có thể được đưa vào hải quan nhưng phải chịumức thuế NK cao hơn so với phần hàng hóa trong hạn ngạch (thường cao hơn 10 lần) Một
số hàng hóa bị áp dụng hạn ngạch khi nhập khẩu vào Mỹ: Sữa và kem, cá cơm, cá ngừ, rượu,đặc biệt là các mặt hàng nông sản, dệt may,…
Trang 16Theo thủ tục, đối với các loại quota tariff rate, quan thuế không thể định được mộtcách đích xác ngày và số lượng hạn ngạch đã lên đúng chỉ tiêu Theo thủ tục, biểu thuế ápdụng cho quota thường được áp dụng trong thời gian đầu của quota cho đến khi quan thuếước tính là số lượng hàng nhập đã gần lên đến chỉ tiêu thì quan thuế sẽ đòi hỏi các nhà nhậpcảng phải đóng dần tiền cọc dựa theo biểu thuế vượt quá chỉ tiêu Đợi đến giai đoạn đã thẩmđịnh tường tận con số chỉ tiêu so với số lượng hàng nhập thì biểu thuế chính xác sẽ được ápdụng.
Riêng về loại hạn ngạch absolute, trong đa số trường hợp, chỉ tiêu của các quota này sẽ
bị lấp chỉ trong một thời gian rất ngắn Theo thủ tục, mỗi quota sẽ bắt đầu mở một cách chínhthức vào 12h trưa của ngày quota có hiệu lực (giờ Đông Mỹ) Khi số lượng hàng nhập nộpphép xin xuất kho cho sử dụng bắt đầu vượt quá chỉ tiêu và số hàng nộp bản để được nhập.Cách thức chia theo tỷ lệ này nhằm tránh tình trạng phân phối bất công con số cho các nhànhập khẩu đang có hàng tranh chấp
Mỹ đặc biệt chú trọng đến hạn ngạch nhập khẩu đối với mặt hàng dệt may, nông sản
và đường Đối với các nhà nhập khẩu có ý định xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ, nhất là cácsản phẩm về nông nghiệp, thường gặp khó khăn do hạn ngạch được áp đặt bởi chính phủ Hoa
kỳ nhằm kiểm soát số lượng hàng hóa nhập khẩu và bảo vệ quyền lợi của một số các thànhphần sản xuất nông nghiệp nội địa, và được phản ánh qua các Đạo luật của Nghị viện Hoa
Kỳ Đồng thời với sự cạnh tranh ráo riết của các quốc gia đang phát triển, các doanh nghiệpsản xuất thủy hải sản của Hoa Kỳ đang gặp khó khăn và phá sản lên tới con số kỷ lục Để bảo
vệ ngành thủy sản, chính phủ Hoa Kỳ đã áp đặt hạn ngạch hàng năm cho các nước xuất khẩuvào Hoa Kỳ Thông thường, nếu chưa có sự thỏa thuận, Hoa Kỳ có quyền đơn phương tuyên
bố hạn ngạch và tự áp dụng
Riêng đối với Trung Quốc là quốc gia chiếm thị phần lớn nhất trong số các nước xuấtkhẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ, để bảo vệ các doanh nghiệp sản xuất ở trong nước, Hoa Kỳ
đã tuyên bố tái áp dụng hạn ngạch đối với 3 mặt hàngxuất khẩu chiến lược của Trung Quốc là
sơ mi, quần tây và đồ lót nam khiến các doanh nghiệp Trung Quốc hết sức tức giận và lolắng
Thuế định ngạch đối với Sản phẩm Ðường : Trong khi Mỹ luôn luôn là nước nhậpkhẩu ròng sản phẩm đường, kể từ năm 1934 đã có những hạn chế đối với đường nhập khẩu để
Trang 17thúc đẩy ngành mía đường và củ cải đường trong nước Hệ thống bảo hộ nhập khẩu đã duy trìđược giá đường cao hơn giá thế giới Ðể chương trình đường của Mỹ phù hợp với GATT, vàsau đó là Hiệp định trong khuôn khổ Vòng đàm phán Urugoay, hạn ngạch tuyệt đối áp dụngđối với đường nhập khẩu đã chuyển sang hiệp định thuế định ngạch năm 1990 Do kết quảcủa các Vòng đàm phán Thương mại Ða phương Urugoay, hai loại thuế định ngạch đã đượcđưa vào áp dụng, một loại áp dụng đối với đường chế biến từ mía, và một loại áp dụng đốivới các loại đường khác và mật đường.
Theo quy định của hệ thống thuế định ngạch, Bộ trưởng Bộ nông nghiệp sẽ xác địnhlượng đường có thể nhập khẩu với thuế suất nhập khẩu thấp hơn, và Ðại diện Thương mại
Mỹ sẽ phân bổ số lượng này cho 40 nước xuất khẩu đường đủ tiêu chuẩn Lượng nhập khẩuphân bổ cho các nước trong chương trình GSP, CBI, và ATPA được miễn thuế Chứng nhận
đủ tiêu chuẩn hạn ngạch (Certificates of Quota Eligibility-CQE) phát cho các nước xuất khẩuphải được thực hiện và hoàn lại trong từng đợt nhập khẩu đường để nhận đãi ngộ hạn ngạch.Lượng nhập khẩu đường vượt quá mức cho phép sẽ phải chịu mức thuế cao hơn Mỹ đã thoảthuận trong Vòng đàm phán Urugoay không giảm lượng đường nhập khẩu và giảm 15% mứcchênh lệch thuế đường nhập khẩu trong 6 năm Ðường nhập khẩu từ Mêhico và Canada đượcđiều chỉnh theo các điều khoản của NAFTA
Tuy nhiên, việc áp dụng hạn ngạch đang dần được gỡ bỏ dần, thay vào đó là các biệnpháp kiểm soát tiêu chuẩn kĩ thuật, xuất xứ hàng hóa,… Điển hình, từ sau ngày 1/1/2007, cácmặt hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ đã được dỡ bỏ hạn ngạch Điều này tạođiều kiện lớn cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam vì Mỹ chiếm khoảng 55% thị phần dệtmay xuất khẩu của VIệt Nam Tuy bãi bỏ hạn ngạch nhưng Hoa Kỳ vẫn tiếp tục giám sát chặtchẽ việc nhập khẩu 5 nhóm hàng của Việt Nam (gồm áo, quần, đồ lót, quần áo bơi và áo len),nếu thấy có dấu hiệu Chính phủ trợ cấp cho các DN thì Hoa Kỳ sẽ lập tức tái áp dụng quy chếhạn ngạch
2.3.1.3 Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật
a Khái niệm
Trong thương mại quốc tế, những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật (hay còn gọi là ràocản kỹ thuật : Technical Barriers to Trade) là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà một nước
Trang 18áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu và quy trình đánh giá sự phù hợp của hang hóa nhậpkhẩu đối với quy chuẩn kỹ thuật đó (TBT).
Trong các hàng rào phi thuế quan, hệ thống rào cản kỹ thuật được xem là một trongnhững nhóm biện pháp hữu hiệu nhất để ngăn chặn hàng xuất khẩu, đặc biệt là hàng xuấtkhẩu của các nước đang phát triển Các biện pháp kỹ thuật này, về nguyên tắc là cần thiết vàhợp lý nhằm đảm bảo những lợi ích quan trọng như sức khỏe con người, môi trường, anninh… Vì vậy mỗi nước thành viên WTO đều thiết lập và duy trì một hệ thống biện pháp kỹthuật riêng đối với hàng hóa của mình và hàng hóa nhập khẩu Hoa Kỳ được coi là quốc gia
có hệ thống luật pháp phức tạp và nhiều rào cản kỹ thuật đối với thương mại Các rào cản kỹthuật trong thương mại quốc tế của Hoa Kỳ rất đa dạng và được áp dụng rất khác nhau ở cácnước tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước
b Phân loại
Các rào cản này có thể được chia làm các loại hình sau :
Các tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật, an toàn vệ sinh dịch tễ.
Cơ quan chức năng đặt ra các yêu cầu liên quan chủ yếu đến kích thước, hình dáng,thiết kế, độ dài và các chức năng của sản phẩm Theo đó, các tiêu chuẩn đối với sản phẩmcuối cùng, các phương pháp sản xuất và chế biến, các thủ tục xét nghiệm, giám định, chứngnhận và chấp nhận, những quy định và các phương pháp thống kê, thủ tục chọn mẫu và cácphương pháp đánh giá rủi ro liên quan, các yêu cầu về an toàn thực phẩm, … được áp dụng.Mục đích của các tiêu chuẩn và quy định này là nhằm bảo vệ an toàn, vệ sinh, bảo vệ sứckhoẻ, đời sống động, thực vật, bảo vệ môi trường
Các tiêu chuẩn thường dược áp dụng trong thương mại là HACCP (Hệ thống phân tíchcác mối nguy tới hạn) đối với thuỷ sản và thịt, SPS đối với các sản phẩm có nguồn gốc đadạng sinh học, luật thực phẩm, luật mỹ phẩm … Theo Bộ Luật Liên bang Mỹ 21 CFR, chỉ cócác doanh nghiệp nước ngoài nào đã thực hiện chương trình HACCP có hiệu quả mới đượcxuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ Đây là một hệ thống quản lý chất lượng mang tínhphòng ngừa nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm và chất lượng thực phẩm thông qua việc phântích những mối nguy và thực hiện các biện pháp kiểm soát tại các điểm kiểm soát tới hạn.HACCP nhấn mạnh tính nhất thiết phải kiểm soát dây chuyền công nghệ sản xuất để đảm bảo
an toàn, vệ sinh cho sản phẩm thay vì kiểm soát sản phẩm cuối cùng
Trang 19Để được phép đưa hàng thuỷ sản vào Mỹ, doanh nghiệp phải gửi kế hoạch, chươngtrình HACCP cho Cục Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) FDA xem xét kế hoạch,chương trình HACCP, khi cần thì kiểm tra Nếu FDA kết luận là đạt yêu cầu thì cấp phép chodoanh nghiệp đó.
FDA kiểm tra từng lô hàng nhập khẩu Nếu phát hiện có lô hàng không đảm bảo antoàn, vệ sinh thực phẩm hoặc có các vi phạm khác, lô hàng sẽ bị FDA từ chối nhập khẩu, bịgửi trả về nước hoặc tiêu huỷ tại chỗ với chi phí do doanh nghiệp chịu, đồng thời, tên doanhnghiệp sẽ bị đưa lên mạng Internet ở chế độ “Cảnh báo nhanh” (Detention) 5 lô hàng tiếptheo của doanh nghiệp này sẽ bị tự động giữ ở cảng nhập để kiểm tra theo chế độ tự động.Chỉ sau khi cả 5 lô hàng đó đều đảm bảo an toàn, vệ sinh và doanh nghiệp làm đơn đề nghị,FDA mới xoá tên doanh nghiệp đó ra khỏi danh sách “Cảnh báo nhanh”
FSMA là bộ luật sửa đổi, bổ sung các quy định an toàn thực phẩm của FDA, đượcTổng thống Obama ký ngày 4/1/2011 và là lần cập nhật các quy định an toàn thực phẩm đángchú ý nhất kể từ năm 1938 Với sự ra đời của FSMA, sẽ có những thay đổi trong quy định củaFDA ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa của các nhà xuất khẩu nước ngoài vào thịtrường Mỹ Nếu nước xuất khẩu thuỷ sản sang Mỹ đã ký được Bản ghi nhớ (MOU) với FDA,
cơ quan có thẩm quyền cao nhất về kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm của nước xuất khẩu
tự chỉ định các doanh nghiệp được đưa thuỷ sản vào Mỹ mà không cần trình kế hoạch,chương trình HACCP Tuy nhiên, FDA chỉ mới ký MOU cho mặt hàng nhuyễn thể 2 mảnhvới Canada, Hàn Quốc và vài nước Nam Mỹ Đây sẽ là một trong những rào cản được pháthuy tác dụng nhiều nhất trong giai đoạn sắp tới, đặc biệt là đối với hàng thuỷ sản từ các nướcđang phát triển
Các tiêu chuẩn chế biến và sản xuất theo quy định môi trường
Đây là các tiêu chuẩn quy định sản phẩm cần phải được sản xuất như thế nào, được sửdụng như thế nào, được vứt bỏ như thế nào, những quá trình này có làm tổn hại đến môitrường hay không Các tiêu chuẩn này được áp dụng cho giai đoạn sản xuất với mục đíchnhằm hạn chế chất thải gây ô nhiễm và lãng phí tài nguyên không tái tạo
Việc áp dụng những tiêu chuẩn này ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, làm tăng giá thành
và do đó tác động đến sức cạnh tranh của sản phẩm Một số tiêu chuẩn tiêu biểu như ISO
14000, dán mác sinh thái (CE), …Mỹ là nước áp dụng các rào cản này rất triệt để So với các
Trang 20tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn vệ sinh, các tiêu chuẩn chế biến và sản xuất theo quy định môitrường không phổ biến bằng nhưng hiệu suất cản trở cao hơn, khả năng đáp ứng của các nướcđang phát triển là rất hạn chế Andy Urso, chuyên gia kinh tế Anh đã nhận định “những đòihỏi về môi trường của Mỹ khiến các nước đã phát triển còn trở tay không kịp, nói chi đến cácnước mới phát triển” Mỹ đơn phương áp dụng các tiêu chuẩn của mình để hạn chế nhập khẩu
cá hồi và tôm bằng cách cấm nhập khẩu cá hồi từ những nước mà Mỹ cho rằng phương phápđánh bắt của họ làm ảnh hưởng xấu đến cá heo và cấm nhập khẩu tôm từ những nước sử dụnglưới quét có hại cho rùa biển
Quy định về trách nhiệm xã hội
Các tiêu chuẩn trong nhóm này nhằm kiểm soát trách nhiệm xã hội của doanh nghiệpsản xuất trong hoạt động kinh doanh, cụ thể như quy định độ tuổi lao động : cấm nhập khẩusản phẩm sử dụng lao động trẻ em và tuổi nghỉ hưu; quy định mức lương tối thiểu, các chế độkhen thưởng, trợ cấp, nghỉ ốm…Ngoài ra còn có quy định về quyền tự do và đảm bảo thamgia các hiệp hội, tự do tín ngưỡng và tôn giáo…
Các yêu cầu về nhãn mác
Biện pháp này được quy định chặt chẽ bằng hệ thống văn bản pháp luật, theo đó cácsản phẩm phải được ghi rõ tên sản phẩm, danh mục thành phần, trọng lượng, ngày sản xuất,thời hạn sử dụng, thời hạn bảo quản, xuất xứ, nước sản xuất, nơi bán, mã số mã vạch, hướngdẫn sử dụng, hướng dẫn bảo quản … Quá trình xin cấp nhãn mác cũng như đăng ký thươnghiệu kéo dài hàng tháng và rất tốn kém ở Mỹ Đây là một rào cản thương mại được sử dụngrất phổ biến trên thế giới, đặc biệt tại các nước phát triển
Các nước nhập khẩu đều quy định sản phẩm thực phẩm nói chung và thuỷ sản nóiriêng khi nhập khẩu phải được ghi nhãn đầy đủ theo danh mục do cơ quan chức năng đưa ra
- Phải có nhãn dán phía bên ngoài, nơi dễ nhìn thấy nhất trên các thùng chứa hoặc baobì
- Nội dung trên nhãn bao gồm: tên sản phẩm, xuất xứ, nơi sản xuất, tên và địa chỉ nhàsản xuất, ngày sản xuất, hạn sử dụng, sản phẩm sử dụng có thể ăn sống hay không, phươngpháp bảo quản, khối lượng, mã số mã vạch
- FDA còn đưa ra yêu cầu phải ghi rõ thành phần, giá trị dinh dưỡng
Trang 21- Một hình thức rào cản mới trong biện pháp này là đưa ra các cấm đoán về ghi tên sảnphẩm Tổng thống Mỹ đã ký ban hành Đạo luật An ninh trang trại và Đầu tư nông thôn, gọitắt là Đạo luật H.R 2646, trong đó có điều khoản 10806 quy định chỉ có giống cá da trơn cótên khoa học là Ictaluridae nuôi trồng ở nước Mỹ mới được dùng chữ catfish để ghi nhãnmác, còn các loại cá da trơn khác không được ghi chữ catfish trên nhãn mác, bao bì Cácdoanh nghiệp xuất khẩu cá da trơn vào thị trường Mỹ sẽ phải chịu thiệt hại đáng kể do sảnphẩm sẽ phải thay đổi thương hiệu và bao bì Các doanh nghiệp phải in lại toàn bộ bao bì,phải tổ chức quảng cáo, tiếp thị lại,… rất tốn kém.
Các yêu cầu về đóng gói bao bì
Gồm những quy định liên quan đến nguyên vật liệu dùng làm bao bì, những quy định
về tái sinh, những quy định về xử lý và thu gom sau quá trình sử dụng,… Những tiêu chuẩn
và quy định liên quan đến những đặc tính tự nhiên của sản phẩm và nguyên vật liệu dùng làmbao bì đòi hỏi việc đóng gói phải phù hợp với việc tái sinh hoặc tái sử dụng
Các yêu cầu về đóng gói bao bì cũng ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và sức cạnh tranhcủa sản phẩm do sự khác nhau về tiêu chuẩn và quy định của mỗi nước, cũng như chi phí sảnxuất bao bì, các nguyên vật liệu dùng làm bao bì và khả năng tái chế ở mỗi nước là khácnhau Hiện nay, thị trường các nước phát triển quy định tương đối chặt và tương đồng vớinhau về bao bì sản phẩm Có thể khái quát một số điểm đáng lưu ý như sau:
- Chất liệu bao bì đóng gói giới hạn trong một số chất cho phép, có thể tái sinh vàtái sử dụng Nếu doanh nghiệp xuất khẩu không đáp ứng được thì doanh nghiệp nhập khẩuphải đóng gói lại, hao phí đóng gói lại khiến doanh nghiệp nhập khẩu không muốn mua hàng
từ người xuất khẩu cũ nữa
Bao bì nhựa phải đảm bảo không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, việc tiếp xúc giữa sảnphẩm và chất nhựa của bao bì không gây ra bất cứ phản ứng và nguy hại nào Mỹ đã banhành một danh sách các loại bao bì nhựa được phép sử dụng, trong đó hơn một nửa loại vậtliệu làm bao bì các nước đang phát triển không sản xuất được
- Các sản phẩm đóng hộp phải đáp ứng các yêu cầu về kim loại
- Khay bìa phải đảm bảo khi bị nung nóng không bị cong, ngả màu
Quy định vể xuất xứ hàng hóa
Trang 22Do hệ thống thuế nhập khẩu của Hoa Kỳ có các mức thuế khác nhau áp dụng với cácnhóm nước khác nhau và một số mặt hàng nhập khẩu còn chịu sự quản lý bằng hạn ngạchphân bổ theo nước, nên việc xác định nước xuất xứ của hàng hóa rất quan trọng.
Nguyên tắc chung và cơ bản: Nước xuất xứ của hàng hóa là nước chế tạo, sản xuất hoặc nuôitrồng ra hàng hóa Tuy nhiên, trong điều kiện quốc tế hóa sản xuất hiện nay, không phảikhông có phức tạp và khó khăn trong việc xác định nước xuất xứ hàng hóa, bởi vì rất nhiềuhàng hóa được sản xuất, chế tạo hoặc lắp ráp từ các nguyên phụ liệu, linh kiện, bộ phận đượcsản xuất từ nhiều nước khác nhau
Nguyên tắc chung và cơ bản để xác định nước xuất xứ của hàng hóa là dựa vào sự biếnđổi đặc tính và giá trị gia tăng của hàng hóa Theo nguyên tắc này, nước xuất xứ của hàng hóa
là nước cuối cùng sản xuất ra hàng hóa đó với điều kiện hàng hóa đó đã biến dạng để mangtên mới và có đặc tính sử dụng mới Ví dụ, túi xách tay sản xuất ở Việt Nam bằng da nhậpkhẩu được coi là hàng có xuất xứ Việt Nam
Tuy nhiên, trong trường hợp nước cuối cùng sản xuất ra hàng hóa chỉ tiến hành nhữngcông việc lắp ráp đơn giản, không tạo ra bản sắc riêng của hàng hóa hoặc trị giá gia tăng đượctạo ra quá thấp thì nước cuối cùng sản xuất ra hàng hóa đó cũng không được coi là nước xuất
xứ hàng hóa Ví dụ, để được coi là hàng có xuất xứ từ Thái Lan để được hưởng GSP của Hoa
Kỳ thì hàng đó phải có ít nhất 35% giá trị gia tăng được tạo ra tại Thái Lan
Phí môi trường
Phí môi trường thường được áp dụng nhằm 3 mục tiêu chính: thu lại các chi phí phải
sử dụng cho môi trường, thay đổi cách ứng xử của cá nhân và tập thể đối với các hoạt động
có liên quan đến môi trường và thu các quỹ cho các hoạt động bảo vệ môi trường Các loạiphí môi trường thường gặp gồm có:
- Phí sản phẩm: áp dụng cho các sản phẩm gây ô nhiễm, có chứa các hoá chất độc hạihoặc có một số thành phần cấu thành của sản phẩm gây khó khăn cho việc thải loại sau sửdụng
- Phí khí thải: áp dụng đối với các chất gây ô nhiễm thoát vào không khí, nước và đất,hoặc gây tiếng ồn
- Phí hành chính: áp dụng kết hợp với các quy định để trang trải các chi phí dịch vụ củachính phủ để bảo vệ môi trường
Trang 23Phí môi trường có thể được thu từ nhà sản xuất hoặc người tiêu dùng hoặc cả nhà sản xuất vàngười tiêu dùng.
Nhãn sinh thái
Sản phẩm được dán nhãn sinh thái nhằm mục đích thông báo cho người tiêu dùng biết
là sản phẩm đó được coi là tốt hơn về mặt môi trường Các tiêu chuẩn về dán nhãn sinh tháiđược xây dựng trên cơ sở phân tích chu kỳ sống của sản phẩm, từ giai đoạn tiền sản xuất, sảnxuất, phân phối, tiêu thụ, thải loại sau sử dụng, qua đó đánh giá mức độ ảnh hưởng đối vớimôi trường của sản phẩm ở các giai đoạn khác nhau trong toàn bộ chu kỳ sống của nó
Sản phẩm được dán nhãn sinh thái, thường được gọi là “sản phẩm xanh”, có khả năngcạnh tranh cao hơn so với sản phẩm cùng chủng loại nhưng không dán nhãn sinh thái dongười tiêu dùng thường thích và an tâm khi sử dụng các “sản phẩm xanh” hơn Ví dụ, trên thịtrường Mỹ, các loại thuỷ sản có dán nhãn sinh thái thường có giá bán cao hơn, ít nhất 20%,
có khi gấp 2-3 lần thuỷ sản thông thường cùng loại
Gần đây Mỹ, EU và Nhật Bản đã cho thanh tra lại việc cho dán nhãn sinh thái đối vớicác sản phẩm thuỷ sản nhập khẩu và đưa thêm một số tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn vệ sinh,bảo vệ môi trường,… vào những yêu cầu để sản phẩm có thể dán nhãn sinh thái Sắp tới, việc
sử dụng công cụ nhãn sinh thái kết hợp với các tiêu chuẩn kỹ thuật và môi trường sẽ rất phổbiến, nhất là trong các nước phát triển do xu hướng yêu thích sản phẩm có dán nhãn sinh tháităng lên rất nhanh
2.3.1.4 Hạn chế xuất khẩu tự nguyện
Đây là một biện pháp dàn xếp giữa chính phủ nước nhập khẩu và chính phủ nước xuấtkhẩu Nước nhập khẩu yêu cầu nước xuất khẩu hạn chế bán hàng sang nước nhập khẩu nếukhông sẽ thực thi biện pháp trả đũa Nước xuất khẩu đồng ý và tự hạn chế hàng xuất khẩusang nước yêu cầu.Khi hai nước đồng ý thực hiện biện pháp hạn chế xuất khẩu tự nguyện, nó
sẽ có tác dụng tương tự như hạn ngạch là gây thiệt hại cho người tiêu dùng và bảohộ sản xuấttại nước nhập khẩu
Trước 1995 do GATT cấm sử dụng hạn ngạch nhập khẩu, nên một số nước đã sử dụngbiện pháp hạn chế xuất khẩu "tự nguyện" Nói chung, ngành công nghiệp đang phải cạnhtranh gay gắt với hàng nhập khẩu tương tự gây áp lực với chính phủ đàm phán về hạn chế
Trang 24chấp nhận số lượng đó và bị đe doạ nhận được các hành động khắc nghiệt hơn nếu khôngchấp nhận thoả thuận tự nguyện hạn chế số lượng xuất khẩu Chính phủ xuất khẩu hoặc chínhcác nhà xuất khẩu quản lý thoả thuận này Hạn chế xuất khẩu tình nguyện từng là một công
cụ quan trọng hạn chế thương mại và đã được sử dụng khá rộng rãi Trong khi hạn ngạchđược áp dụng chung thì hạn chế xuất khẩu tự nguyện chỉ áp dụng với một số nước xuất khẩuchủ yếu, do đó tạo ra sự phân biệt đối xử giữa các thành viên và rõ ràng vi phạm nguyên tắctối huệ quốc (MFN) Mỗi thành viên không được tìm kiếm, thực hiện hay duy trì bất cứ thoảthuận hạn chế xuất khẩu, thoả thuận về thị trường nào hay bất cứ biện pháp tương tự khác lênphía xuất khẩu hay nhập khẩu Điều này bao gồm các hành động do một thành viên thực hiệnriêng rẽ cũng như các hành động do hai thành viên trở lên thực hiện
Trong thập niên 90 Hoa Kỳ phàn nàn Nhật Bản thặng dư trong mua bán với Hoa Kỳquá nhiều và Nhật Bản bảo hộ ngành sản xuất thiết bị máy bay trong nước Sau khi đàm phánthất bại, Hoa Kỳ quyết định trả đũa bằng luật Super 3013 nhằm hạn chế nhập khẩu ô tô từNhật Sau đó, Nhật phải nhượng bộ tự hạn chế xuất khẩu ô tô sang Hoa Kỳ và tăng nhập máybay từ Hoa Kỳ Tranh chấp thương mại mới kết thúc Năm 2005, Trung Quốc cũng tự nguyệnhạn chế xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ và EU để tránh một cuộc chiến thương mạikhông có lợi cho đôi bên
Một số luật nổi tiếng nhất của Mỹ được sử dụng để hạn chế xuất khẩu tự nguyện đối với cácquốc gia khác :
- Luật Bảo vệ Ðộng vật biển có vú 1972 (MMPA) : Kể từ năm 1990 Mỹ đã cấm nhậpkhẩu các sản phẩm chế biến từ cá ngừ vây vàng được đánh bắt ở phía đông Thái bình dươngnhiệt đới, trừ những nước đã cấm thuyền đánh cá của họ sử dụng các loại lưới túi khi đánhbắt, một hành động có trách nhiệm đối với tình trạng tàn sát hàng trăm ngàn con cá voi mỗinăm Tàu đánh cá của Mỹ cũng bị cấm tương tự kể từ năm 1972 Các hội đồng của GATT đãhai lần đã phán quyết luật này đã vi phạm những giao ước của GATT, nhưng chưa có quyếtđịnh nào được thừa nhận chính thức
- Ðiều 609 của Luật Chung của Mỹ 101-162: Khi Bộ Ngoại giao gần đây giải thích luậtnày, Mỹ đã cấm nhập khẩu tôm tự nhiên từ các khu vực trên thế giới, nếu việc đánh bắt có thểgây nguy hiểm hoặc đe doạ đến loài rùa biển, trừ những nước được chứng nhận đã yêu cầuthuyền đánh bắt tôm của họ sử dụng các thiết bị ngăn rùa biển Các thuyền đánh bắt tôm của
Trang 25Mỹ cũng phải đáp ứng yêu cầu tương tự Bộ Ngoại giao thông báo danh sách các nước đượcchứng nhận hàng năm vào ngày 1 tháng 5 Một số nước đã không thừa nhận lệnh cấm này tạiWTO, tại đây Hội đồng Giải quyết Tranh chấp sẽ giải quyết vụ này trước tháng 12 năm 1997.
- Ðiều 8 của Luật bảo vệ của Fishermen năm 1976, được sửa đổi, "Luật sửa đổi bổ sungPelly": Theo luật này, Tổng thống có quyền cấm nhập khẩu bất kỳ sản phẩm nào từ bất kỳmột nước nào tiến hành những hoạt động đánh bắt hoặc tham gia vào buôn bán hải sản làmgiảm hiệu quả của các chương trình quốc tế về bảo tồn hải sản hoặc các chương trình quốc tế
về các loài động vật bị nguy hiểm hoặc bị đe doạ Dựa trên Luật sửa đổi bổ sung Pelly, tổngthống Clinton đã cấm một số hàng nhập khẩu từ Ðài loan sau khi chính phủ của ông xác địnhrằng đảo quốc này đang buôn bán sừng tê giác và xương hổ, vi phạm Công ước Thương mạiquốc tế về buôn bán động vật bị nguy hiểm Những lệnh trừng phạt theo Luật sửa đổi bổ sungPelly cũng được đe doạ áp dụng đối với một số nước đánh bắt cá voi
- Luật Cưỡng chế Ðánh bắt Cá bằng Lưới nổi Ngoài khơi: Theo luật này, tổng thống cóquyền cấm nhập khẩu sò biển, cá và các sản phẩm từ cá, và các thiết bị câu cá thể thao từ bất
cứ nước nào mà chính phủ của ông xác định là đã vi phạm lệnh cấm của Liên Hợp Quốc vềđánh bắt cá bằng lưới nổi
- Hạn chế Nhập khẩu liên quan đến An ninh Quốc gia: Ðiều 232 của Luật Mở rộngThương mại năm 1962 cho phép tổng thống áp đặt những hạn chế đối với hàng nhập khẩu đedọa đến an ninh quốc gia Luật này thỉnh thoảng được sử dụng, đáng chú ý nhất là nhằm ấnđịnh hạn ngạch và lệ phí đối với dầu mỏ nhập khẩu và để cấm nhập khẩu các sản phẩm dầulọc từ Libya
- Quyền liên quan đến Cán cân Thanh toán: Ðiều 122 của Luật Thương mại năm 1974cho phép tổng thống có quyền tăng hoặc giảm nhập khẩu để đối phó với sức ép cán cân thanhtoán Tổng thống có thể thắt chặt những hạn chế nhập khẩu thông qua hạn ngạch hoặc thuế
phụ thu nhập khẩu 15% trên giá trị, hoặc kết hợp cả hai Luật này chưa bao giờ được sử dụng.
2.3.1.5 Chống bán phá giá
a Khái niệm
Bán phá giá là bán sản phẩm ở thị trường nước ngoài với mức giá thấp hơn giá thành
Trang 26nước ngoài.Một cách tổng quát, bán phá giá là việc một doanh nghiệp bán hàng ở thị trườngnước ngoài thấp hơn giá trị hợp lý, căn cứ vào giá bán ở thị trường nước nhà hay chi phí sảnxuất của doanh nghiệp Một lập luận chống lại việc bán phá giá cho rằng các nhà xuất khẩuhàng được bảo hộ ở thị trường nước nhà và sử dụng lợi nhuận thu được để trợ giá cho việcbán mặt hàng đó ở nước nhập khẩu Do vậy, ngành sảnxuất mặt hàng tương tự ở nước nhậpkhẩu phải đối mặt với sự cạnh tranh thiếu công bằng và có thể bị mất thị phần.
Bán phá giá nhằm:
- Tăng mức khai thác năng lực sản xuất dư thừa
- Dành thị phần để kiểm soát thị trường
Để khắc phục tình trạng chống bán phá giá, các quốc gia thường sử dụng thuế chống bán phágiá Thuế chống bán phá giá được áp dụng lần đầu tiên ở Canada vào năm 1904 và ngày càngđược áp dụng phổ biến không những ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, Canada, EU, Úc mà
cả các nước đang phát triển như Brazil, Arhentina, Mexico, Ấn độ, Malaysia và gần đây làTrung Quốc
b Chính sách chống bán phá giá của Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là một trong những nước áp dụng biện pháp chống bán phá giá sớm nhất (từnăm 1906) Đến năm 1930, Luật về Thuế quan của Hoa Kỳ đã có các quy định chi tiết về vấn
đề này Và việc các quy định về phòng vệ thương mại như một công cụ “rào cản nhập khẩu”hợp pháp được đưa vào Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại GATT 1947 trên thực
tế cũng là hệ quả của nhiều sức ép, tong đó đáng kể là Hoa Kỳ Các hiệp định về phòng vệThương mại của Mỹ hiện tại được phát triển từ các quy định tương đối đơn giản trong Hiệpđịnh chung về Thuế quan và Thương mại GATT năm 1947 nói trên Quá trình chi tiết hóa cácquy định tại GATT 1947 trong khuôn khổ vòng đàm phán tại Uruguay thực chất là quá trìnhđàm phán, thương lượng giữa các nhóm nước muốn sử dụng công cụ này ( đứng đầu là Mỹ)
và các nước không muốn sử dụng chúng ( chủ yếu là các nước đang phát triển nhờ vào xuấtkhẩu)
Các Hiệp định này ra đời như là biểu hiện rõ nét của sự thỏa hiệp giữa hai xu hướng này Mộtmặt các Hiệp định này thừa nhận tính hợp pháp của việc sử dụng công cụ chống bán phá giá,chống trợ cấp, tự vệ; mặt khác các Hiệp đinh cũng đưa ra những quy tắc nhằm hạn chế sửdụng các công cụ này trong khuôn khổ nhất định và có thể kiểm soát được
Trang 27Từ năm 1999 đến những năm gần đây, Mỹ là “vô địch” trong việc dùng các biện phápchống bán phá giá Cho đến 30.6.1999, chẳng hạn, trên số 1121 biện pháp đang hiện hành lúc
đó được thông báo lên Ủy ban chống bán phá giá của WTO, 300 biện pháp là của Mỹ, tức làhơn một phần tư tổng số Chính sách chống bán phá giá của Mỹ bị nhiều nước phản đối làđiều dễ hiểu nhưng chính trong nội bộ nước Mỹ, đấy cũng là một đề tài tranh cãi gay gắt Sựbất đồng này có nhiều lý do kinh tế, chính trị, lịch sử và cả tâm lý xã hội
Mỹ dùng đến biện pháp chống bán phá giá nhiều thì cũng gặp phải sự kháng cự mạnh
Mỹ là nước bị kiện nhiều nhất về chống bán phá giá trước GATT/WTO, với 16 vụ trên 41 vụkiện ở WTO cho tới nay Gần đây và quan trọng nhất là vụ kiện về Đạo luật bù trừ các biện
pháp tài trợ và bán phá giá tiếp diễn (Continued Dumping and Subsidy Offset Act of 2000), gọi tắt là CDSOA hoặc Byrd Amendment vì xuất phát từ một dự luật của Thượng nghị sĩ
Robert Byrd Ngày 28.10.2000, Tổng thống Clinton ký sắc lệnh ban hành luật này qua đó các
số tiền thu được qua thuế chống bán phá giá sẽ được chia lại cho các công ty Mỹ thắng kiện
Vì mức thuế chống bán phá giá có thể lên tới 400% nên có thể là một nguồn lợi đáng kể, ngay
cả cho một anh sản xuất một mặt hàng khiêm tốn như nến: công ty Candle-lite, tại Cincinnati,nhờ thắng kiện một công ty TQ, đã được chia 15,6 triệu đô-la tiền thuế thu trong năm 2002
và dự kiến sẽ còn nhận thêm 39 triệu đô-la trong năm nay Món lộc béo bở này khiến một sốcông ty chế tạo nến khác cũng nhảy vào, đòi được hưởng một phần của số tiền 65 triệu đô lathuế sẽ thu năm nay Trong năm 2002, Hải quan Mỹ đã chia lại cho khoảng 1 200 công tytổng cộng 329 triệu đô la thu vào qua thuế AD
Ví dụ tiêu biểu nhất về thuế chống bán phá giá của Mỹ với Việt Nam là vụ kiện cá tra, cábasa Ngày 27.1.2003, DOC đưa ra phán quyết sơ bộ là các công ty VN bán phá giá cá tra tại
Mỹ, và ấn định các biên độ phá giá từ 37.94% đến 61,88 % cho các công ty này, tùy theotrọng lượng của mỗi công ty, và một mức chung 63,88% cho toàn VN Ngay hôm sau,VASEP đã phản đối và nêu lên những sai sót hay điểm bất hợp lý trong phân tích của DOC.Nhờ vậy, tháng 3.2003, DOC đã quyết định sửa lại mức thuế AD sẽ áp dụng cho các công tytham gia vụ kiện (thí dụ từ 61,88% xuống 31,45% cho Agifish, từ 53,96% xuống 38,09% choNavisfishco) và giữ nguyên mức 63,88% cho các công ty không tham gia
Sau đó DOC trực tiếp điều tra thực trạng nuôi trồng cá basa tại Việt Nam và đề nghịViệt Nam thảo luận về thỏa thuận đình chỉ vụ và thay bằng việc áp dụng hạn ngạch và giá đối
Trang 28với việc xuất khẩu mặt hàng này Tuy thế tháng 5.2003 thì thỏa thuận về đình chỉ vụ kiện bị
đổ vỡ và ngày 17.6, khi đại diện của VASEP có mặt tại phiên họp của ITC để điều trần thìDOC công bố quyết định mới, tăng trở lên lại, tuy là không nhiều lắm, các biên độ dumpingcho hầu hết các công ty, tiếp tục duy trì tình trạng khẩn cấp đối với công ty Nam Việt và đưathêm 5 công ty vào trường hợp này Bước diễn tiến mới này rất bất lợi, và theo luật sư LêCông Định, của văn phòng White & Case bào cãi cho VN, kết luận mới của DOC là một cúsốc đối với tất cả các thành viên trong đoàn Việt Nam tham dự phiên điều trần trước ITC vàđặc biệt là các doanh nghiệp thủy sản đang làm ăn với Mỹ Sau phán quyết cuối cùng này củaDOC, kết quả của vụ kiện chỉ còn tuỳ thuộc vào phán quyết của ITC về vấn đề tổn hại, dựatrên ý kiến của DOC và phần trình bày của hai bên (VASEP và CFA) Ngày 24.7.2003, ITCđưa ra phán quyết cuối cùng, khẳng định các doanh nghiệp VN đã bán với giá thấp hơn giáthành và gây tổn hại cho ngành sản xuất của Mỹ, và ấn định mức thuế suất bán phá giá từ36,84 đến 63,88%
Như vậy, chống bán phá giá là một biện pháp thường xuyên được mỹ áp dụng và còn
áp dụng rất hiệu quả Chính sách này vừa đem lại cho nước Mỹ nguồn thu lớn từ thuế chốngbán phá giá, vừa giúp Mỹ loại bỏ các mặt hàng cạnh tranh của các nước khác với mặt hàngtrong nước của Mỹ
2.3.1.6 Các biện pháp khác
a Giấy phép nhập khẩu :
Giấy phép nhập khẩu được xác định như là các thủ tục hành chính được sử dụng đểthực hiện chế độ cấp phép nhập khẩu, đòi hỏi đệ trình đơn hay các tài liệu khác (không liênquan tới mục đích hải quan) tới các cơ quan hành chính thích hợp là điều kiện tiên quyết đểđược phép nhập khẩu Tuy nhiên, thủ tục hành chính để thực hiện chế độ cấp phép khôngđược bóp méo thương mại do sử dụng không thích hợp các thủ tục đó Các qui tắc đối với thủtục cấp phép nhập khẩu phải được áp dụng trung lập và được quản lý theo một cách thứccông bằng và hợp lý
Mặt khác, cần phải công khai các thông tin liên quan tới thủ tục nộp đơn, tiêu chuẩncủa nhà nhập khẩu, cơ quan tiếp nhận, danh sách các sản phẩm đòi hỏi giấy phép trong thờihạn 21 ngày trước khi chúng có hiệu lực Người nộp đơn chỉ cần tiếp cận tới một cơ quan
Trang 29hành chính Trường hợp đặc biệt không được quá ba cơ quan Nhà nhập khẩu hàng cần giấyphép có thể tiếp cận ngoại tệ cần thiết trên cùng một cơ sở với hàng nhập khẩu không cầngiấy phép.
Cấp phép nhập khẩu tự động: khi tất cả đơn đều được chấp thuận, không hạn chế khối
lượng nhập khẩu trong phạm vi điều chỉnh, không đặt ra hạn chế với nhà nhập khẩu, đượcchấp thuận trong vòng 10 ngày
Cấp phép nhập khẩu không tự động: là thủ tục cấp phép không phải là cấp phép tự
động Cấp phép không tự động không được gây ra hạn chế hay bóp méo thương mại hơn mứccác điều kiện do yêu cầu cấp phép đặt ra Các thủ tục cấp phép không tự động cần phải tươngứng về phạm vi và thời hạn với biện pháp mà chúng được sử dụng để thực hiện, và sẽ khôngđặt ra những gánh nặng hành chính hơn mức cần thiết để quản lý biện pháp đó Trong trườnghợp đòi hỏi cấp phép không vì mục đích quản lý số lượng, các thành viên phải công bố đầy
đủ thông tin về cơ sở để cấp phép
b Biện pháp chống trợ cấp đối với hàng nhập khẩu
Mỹ áp dụng việc áp thuế chống trợ cấp đối với hàng hoá nhập khẩu từ các nước có nềnkinh tế phi thị trường Luật mới này có một số ảnh hưởng đến doanh nghiệp Việt Nam xuấtkhẩu hàng hóa vào thị trường Mỹ
Theo trang web của tổ chức tư vấn luật Mayer Brown, ngày 13-3, dự luật cho phépchính phủ Mỹ áp dụng thuế chống trợ cấp đối với hàng hoá nhập khẩu từ các nước có nềnkinh tế phi thị trường (NME) đã được Tổng thống Mỹ Obama ký để trở thành luật.Tháng 12-
2011, liên quan đến việc áp thuế chống trợ cấp đối với lốp xe ô tô nhập khẩu từ Trung Quốc,Toà phúc thẩm liên bang Mỹ ra phán quyết rằng luật hiện hành của Mỹ không cho phép ápdụng thuế chống trợ cấp đối với hàng hoá nhập khẩu từ các nước NME Phán quyết này đã vôhiệu hoá hàng chục yêu cầu cũng như các cuộc điều tra chống trợ cấp đối với hàng hoá nhậpkhẩu từ Trung Quốc và Việt Nam
Theo một đại diện của Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công Thương), luật mới này chínhthức cho phép Bộ Thương mại Mỹ áp thuế chống trợ cấp đối với hàng hoá nhập khẩu từ nềnkinh tế phi thị trường Theo đó, khi luật này có hiệu lực, sẽ không có tranh chấp về việc liệu
Mỹ có được áp thuế chống trợ cấp lên hàng hoá nhập khẩu từ các nước NME hay không Và,