1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận Nhượng quyền thương mại ở Việt Nam

42 4,2K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 337,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, ở pháp luật Việt Nam cũng đã có những quy định chính thức và rõ ràng về nhượng quyền thương mại: “Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyềncho p

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU:

Mỗi một doanh nghiệp, khi thành lập và đi vào hoạt động đều có mong muốn rằng

tổ chức của mình sẽ ngày càng phát triển và mở rộng, không chỉ trong phạm vi một tỉnh,thành phố, quốc gia, mà nó còn là tham vọng vươn ra toàn thế giới Trong một nền kinh tế

mở như hiện tại, khi cơ hội được chia đều cho tất cả mọi người, điều đó cũng đồng thờimang ý nghĩa: nếu muốn tồn tại, doanh nghiệp của bạn phải chiến đấu, phải luôn bước vềphía trước, thậm chí còn phải biết giành cả vị trí tiên phong Câu hỏi được đặt ra, là vậydoanh nghiệp cần phải làm gì?

Nhượng quyền thương hiệu (Franchise) là một hình thức mở rộng phát triển kinhdoanh đã xuất hiện từ lâu trên thế giới, và với sự hội nhập, mở cửa, hình thức kinh doanhnày cũng đang dần phát triển thành một xu thế mới ở Việt Nam Nó được đánh giá là mộthình thức kinh doanh tương đối ít rủi ro, có nhiều ưu điểm Vậy khi vào Việt Nam môhình kinh doanh này liệu có thay đổi so với nguyên mẫu thế giới hay không? Nó có thật

sự là một mô hình hoàn hảo cho việc đầu tư phát triển không? Và các doanh nghiệp ViệtNam đã áp dụng nó như thế nào? Tương lai của nhượng quyền thương hiệu ở Việt Nam rasao?

Trong khuôn khổ bài tiểu luận nhỏ sau, hy vọng có thể giúp trả lời phần nào nhữngcâu hỏi đó

Trang 2

MỤC LỤC:

LỜI MỞ ĐẦU 1

I Nhượng quyền thương mại là gì? 3

1 Định nghĩa: 3

2 Phân biệt giữa khái niệm “nhượng quyền thương mại” (franchise) và “cấp phép” (license): 3

3 Lịch sử phát triển: 5

4 Các phương thức nhượng quyền thương mại 7

5 Nhượng quyền thương mại đem lại lợi ích gì 9

6 Nhượng quyền thương mại có tiềm ẩn rủi ro gì 11

7 Kiểm soát hệ thống nhượng quyền thương mại 11

I Nhượng quyền thương mại trên thế giới 12

1 Ví dụ thành công về nhượng quyền thương mại 12

2 Xu hướng kinh doanh nhượng quyền thương mại năm 2012 16

II Nhượng quyền thương mại ở Việt Nam 18

1 Ra đời và phát triển: 18

2 Cơ sở pháp lý: 19

3 Một số hạn chế trong hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam 22

4 Ví dụ điển hình về nhượng quyền thương mại tại Việt Nam 25

5 Tiềm năng phát triển kinh doanh nhượng quyền thương mại tại Việt Nam 29

6 Một số đề xuất phát triển nhượng quyền thương mại tại Việt Nam 30

LỜI KẾT 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

PHỤ LỤC 36

Trang 3

NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI.

I Nhượng quyền thương mại là gì?

1 Định nghĩa:

Nhượng quyền kinh doanh (nguyên văn từ tiếng Pháp: Franchise, nghĩa là trungthực hay tự do) là việc cho phép một cá nhân hay tổ chức (gọi là bên nhận nhượng quyềnđược kinh doanh hàng hóa hay dịch vụ theo hình thức và phương pháp kinh doanh đãđược thử thách trong thực tế của bên nhượng quyền ở một điểm, tại một khu vực cụ thểnào đó trong một thời hạn nhất định để nhận một khoản phí hay một tỷ lệ phần trăm nào

đó từ doanh thu hay lợi nhuận

Bên nhượng quyền (franchisor) phải đảm bảo cung cấp đúng, đủ và hỗ trợ thànhviên gia nhập hệ thống đó, còn bên nhận nhượng quyền (franchisee) phải đảm bảo thựchiện theo đúng các khuôn mẫu, tiêu chuẩn nghiêm ngặt của hệ thống, từ cách trang trí đếnnội dùng hàng hóa và dịch vụ, giá cả được chuyển giao

Ngoài ra, ở pháp luật Việt Nam cũng đã có những quy định chính thức và rõ ràng

về nhượng quyền thương mại:

“Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyềncho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứngdịch vụ theo các điều kiện sau đây:

- Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách tổ chứckinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tênthương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảngbáo của bên nhượng quyền

- Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trongviệc điều hành công việc kinh doanh.”

(Điều 284 - Mục 8, Chương IV, Luật Thương mại năm 2005 của Việt Nam.)

2 Phân biệt giữa khái niệm “nhượng quyền thương mại” (franchise) và “cấp phép” (license).

Trang 4

- Trong hoạt động mở rộng kinh doanh, có đôi khi tổ chức sẽ được tư vấn sử dụnghoặc “nhượng quyền thương mại” (franchise) hoặc “cấp phép” (license), chúng có vẻ nhưrất giống nhau, nhưng thật sự thì chúng có khác biệt:

 Phạm vi đối tượng của nhượng quyền thương mại rộng hơn nhiều so với hoạtđộng cấp phép: nếu hoạt động cấp phép chỉ dừng lại ở việc chuyển giao quyền sử dụngcác đối tượng sở hữu công nghiệp thì ở nhượng quyền thương mại, quyền sử dụng các đốitượng sở hữu công nghiệp chỉ là một phần của việc chuyển giao, bên cạnh đó còn là sựchuyển giao về cách thức, bí quyết tiến hành kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh…

 Trong hoạt động cấp phép, cái mà các bên cấp phép hướng tới là nhãn hiệu hànghóa, kiểu dáng, sáng chế, giải pháp hữu ích nhằm xác định hình thức, nội dung sảnphẩm… Còn trong hoạt động nhượng quyền thương mại, mục tiêu mà các bên hướng tới

là nắm giữ và vận hành một hệ thống kinh doanh, trong đó nhãn hiệu hành hóa, cũng nhưcác đối tượng khác của của quyền sở hữu công nghiệp chỉ là một bộ phận

 Nếu như sự hỗ trợ giữa Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền trong nhượngquyền thương mại là đương nhiên và liên tục, thì điều này lại không có trong hoạt độngcấp phép Sự hỗ trợ trong hoạt động cấp phép nếu có cũng chỉ là sự hỗ trợ ban đầu khichuyển giao các đối tượng sở hữu công nghiệp

 Trong nhượng quyền thương mại thì doanh nghiệp hay cá nhân được nhượngquyền thương mại trên cơ sở độc quyền hay bán độc quyền đối với sản phẩm dịch vụ củabên nhượng quyền kinh doanh và mức độ tiêu chuẩn dù là nhỏ nhất cũng được thiết lậpbởi bên nhượng quyền kinh doanh Còn trong cấp phép thì doanh nghiệp hay cá nhân lại

có thể kinh doanh một loạt các dòng sản phẩm và dịch vụ khác nhau – và trong một vàitrường hợp những sản phẩm hay dịch vụ này có thể cạnh tranh lẫn nhau

 Về vấn đề phí kinh doanh: Trong nhượng quyền thương mại thì bên đượcnhượng quyền thường sẽ phải trả một khoản phí tiền bản quyền kinh doanh liên tục theothời gian kinh doanh được tính trên lượng doanh thu thu được từ hoạt động kinh doanh,còn trong cấp phép thì việc trả phí lại không được tính theo doanh số bán mà người ta lạitính thẳng vào giá của các sản phẩm và dịch vụ nguyên liệu đầu vào mà bên cấp phépcung cấp

Trang 5

 Nhượng quyền thương mại thì doanh ngiệp được nhượng quyền sẽ sử dụngchính thương hiệu của bên nhượng quyền thương mại, còn trong cấp phép thì người đượccấp phép kinh doanh sẽ không mang thương hiệu của bên cấp phép.

- Các thương vụ cấp phép kinh doanh có một vài điểm mạnh so với nhượngquyền thương mại, trong đó lợi thế chính là sự độc lập và tính linh hoạt trong quá trìnhhoạt động mà bạn không thể tìm thấy trong các hình thức nhượng quyền thương mại.Ngoài ra các chi phí từ các hoạt động cấp phép kinh doanh cũng ít hơn so với nhượngquyền thương mại rất nhiều trong giai đoạn khởi đầu của quá trình kinh doanh trong cùngmột ngành nghề Bên cấp phép kinh doanh cũng không yêu cầu bên được cấp phép phảitrả các khoản phí định kỳ như bên nhượng quyền thương mại thường đòi hỏi Vì vậy, hìnhthức cấp phép kinh doanh sẽ có thể thích hợp hơn đối với ngành nghề kinh doanh có cơ sởtại nhà, bán thời gian hay để kiếm thêm nguồn thu nhập phụ

- Tất nhiên, cấp phép kinh doanh cũng sẽ có một số mặt hạn chế nhất định Mộttrong những hạn chế lớn nhất là rất hiếm khi bạn nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ trong việcthiết lập doanh nghiệp, hệ thống quản lý điều hành, đào tạo, tiếp thị và trong suốt quátrình kinh doanh bạn cũng chẳng nhận đươc thêm sự hỗ trợ nào từ phía cấp phép

Còn trong một vụ nhượng quyền thương mại thành công thì hoàn toàn trái lại, vìtoàn bộ hệ thống kinh doanh của bên được nhượng quyền đang sử dụng đều được cungcấp, tư vấn, hỗ trợ và giúp đỡ về mọi phương diện từ phía nhượng quyền để mang lạithành công và lợi ích cho cả hai phía

3 Lịch sử phát triển:

Hình thức sơ khai của lối kinh doanh nhượng quyền đã xuất hiện vào khoảng thế

kỷ 17 – 18 tại Châu Âu Tuy nhiên, hoạt động nhượng quyền thương mại được chính thứcthừa nhận khởi nguồn, phát triển là tại Hoa Kỳ vào giữa thế kỷ 19, khi mà nhà máy Singer(sản xuất máy khâu) ký hợp đồng nhượng quyền kinh doanh đầu tiên cho đối tác củamình

Nhượng quyền thương mại thực sự phát triển mạnh, bùng phát kể từ sau năm 1945(khi Chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc), với sự ra đời của hàng loạt hệ thống nhà

Trang 6

nhượng quyền thương mại trở thành phương thức kinh doanh thịnh hành, thành côngkhông chỉ tại Hoa Kỳ mà còn ở những nước phát triển khác như Anh, Pháp… Sự lớnmạnh của những tập đoàn xuyên quốc gia của Hoa Kỳ và một số nước Châu Âu trong linhvực kinh doanh thức ăn nhanh, khách sạn – nhà hàng đã góp phần thúc đẩy sự phát triểncủa nhượng quyền thương mại trên khắp thế giới

Nhận thấy lợi ích, hiệu quả của phương thức kinh doanh này, nhiều quốc gia đã cócác chính sách khuyến khích phát triển nhượng quyền thương mại Hoa Kỳ là quốc giađầu tiên luật hoá nhượng quyền thương mại và có các chính sách ưu đãi cho những cánhân, doanh nghiệp kinh doanh theo phương thức này Chính phủ các nước phát triểnkhác như Anh, Pháp, Đức, Nhật, Ý cũng noi gương Hoa Kỳ, ban hành các chính sáchthúc đẩy, phát triển hoạt động nhượng quyền thương mại, khuyến khích và hỗ trợ chodoanh nghiệp Nhiều trung tâm học thuật, nghiên cứu chính sách về nhượng quyền thươngmại của các chính phủ, tư nhân lần lượt ra đời, các đại học cũng có riêng chuyên ngành vềvấn đề này để đào tạo, đáp ứng nhu cầu mới của nền kinh tế

Riêng tại Đông Nam Á, kể từ thập niên 90, các quốc gia đã nhận thấy tác động củanhượng quyền thương mại đến việc phát triển nền kinh tế là quan trọng và là xu thế tấtyếu của toàn cầu hóa, vì vậy nhiều chính sách, giải pháp phát triển kinh tế liên quan đếnnhượng quyền thương mại đã được nghiên cứu, ứng dụng và khuyến khích phát triển.Năm 1992, Chính phủ Malaysia đã bắt đầu triển khai chính sách phát triển hoạt động kinhdoanh nhượng quyền (Franchise development program) với mục tiêu gia tăng số lượngdoanh nghiệp hoạt động kinh doanh theo phương thức nhượng quyền, thúc đẩy và pháttriển việc bán nhượng quyền ra bên ngoài quốc gia Singapore, quốc gia láng giềng củaMalaysia, cũng có các chính sách tương tự nhằm thúc đẩy, phát triển hoạt động nhượngquyền trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ như đào tạo, y tế, du lịch, khách sạn - nhà hàng Gần đây nhất, kể từ thời điểm năm 2000, Chính phủ Thái Lan cũng đã có các chính sáchkhuyến khích, quảng bá, hỗ trợ việc nhượng quyền của các doanh nghiệp Thái Lan tại thịtrường nội địa và quốc tế

Trung Quốc đang trở thành thị trường tiềm năng của các thương hiệu nước ngoàinhư: Mc Donald's, KFC, Hard Rock Cafe, Chilli's , đồng thời đây là cứ địa đầu tiên để

Trang 7

các tập đoàn này bán nhượng quyền ra khắp Châu Á Thông qua đó, hoạt động nhượngquyền của Trung Quốc trở nên ngày càng phát triển, Chính phủ Trung Quốc đã thay đổithái độ từ e dè chuyển sang khuyến khích, nhiều thương hiệu đang được “đánh bóng” trênthị trường quốc tế thông qua các cuộc mua bán, sáp nhập nhằm chuẩn bị cho kế hoạch đẩymạnh hoạt động nhượng quyền ra bên ngoài, được xem là một trong những động tháiquan trọng để phát triển nền kinh tế vốn đang rất nóng của Trung Quốc.

Ngày nay, nhiều tổ chức phi chính phủ với tôn chỉ thúc đẩy phát triển, hỗ trợ vàquảng bá hoạt động nhượng quyền thương mại đã được thành lập Điển hình là Hội đồngnhượng quyền thương mại Thế giới (World Franchise Council), ra đời vào năm 1994, cóthành viên là các hiệp hội nhượng quyền thương mại của nhiều quốc gia Ngoài ra, một tổchức uy tín và lâu đời nhất là Hiệp hội nhượng quyền thương mại Quốc tế (InternationalFranchise Association) được thành lập năm 1960, có khoảng 30.000 thành viên bao gồmcác doanh nghiệp bán, mua nhượng quyền Thông qua các tổ chức này, nhiều hoạt động

có ích cho doanh nghiệp, cho các nền kinh tế quốc gia đã được thực hiện như:

- Tổ chức các hội chợ nhượng quyền thương mại quốc tế

- Xây dựng niên giám nhượng quyền thương mại khu vực, và trên toàn thế giới

- Hợp tác xuất bản các ấn phẩm chuyên ngành, các website để cung cấp thông tincho mọi cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp quan tâm đến nhượng quyền thương mại

- Tư vấn, hỗ trợ, hợp tác và phát triển phương thức kinh doanh nhượng quyềnthương mại

4 Các phương thức nhượng quyền thương mại:

Trên thế giới hiện có 3 loại nhượng quyền thương mại sau:

- Single unit franchise (tạm dịch là nhượng quyền đơn lẻ): đây là phương thức muanhượng quyền thương mại khá phổ biến khi người mua ký một hợp đồng nhượng quyềnthương mại trực tiếp với người bán nhượng quyền, và người bán này có thể là chủ thươnghiệu hoặc chỉ là một đại lý độc quyền gọi là master franchise Còn người mua có thể làmột cá nhân hay một công ty nhỏ được chủ thương hiệu hay đại lý độc quyền của chủthương hiệu cấp quyền kinh doanh tại một địa điểm và một thời gian nhất định (3 – 5 năm

Trang 8

phí nhỏ để gia hạn hợp đồng Lý do hợp đồng nhượng quyền thương mại phải có thời hạn

là để người bán nhượng quyền có thể rút quyền kinh doanh thương hiệu trong trường hợpđối tác không tuân thủ các quy định chung của hệ thống hoặc kinh doanh kém hiệu quả,gây ảnh hưởng không tốt đến uy tín của thương hiệu Người mua nhượng quyền thươngmại theo phương thức này không được quyền nhượng quyền lại cho người khác, cũng nhưkhông được tự ý mở thêm một cửa hàng mang cùng thương hiệu nhượng quyền Mỗi mộtcửa hàng mới đều phải được ký thêm hợp đồng nhượng quyền thương mại mới, nhưng sẽcòn tùy thuộc vào hiệu quả kinh doanh và khả năng hợp tác với chủ thương hiệu tại cửahàng hiện tại Nhiều hệ thống nhượng quyền thương mại còn yêu cầu người mua nhượngquyền không được kinh doanh các mặt hàng tương tự tuy khác thương hiệu

- Master Franchise (tạm dịch là mua nhượng quyền độc quyền): là hình thức muanhượng quyền thương mại mà trong đó người mua được phép thực hiện nhượng quyền lạitrong một khu vực, lãnh thổ cụ thể và cam kết phát triển về số lượng đơn vị kinh doanhnhượng quyền trong từng giai đoạn cụ thể với bên bán Điều này cũng có thể hiểu làngười mua Master franchise có thể bán nhượng quyền thương mại lại cho người thứ badưới hình thức Single unit franchise hay Area development franchise, và cũng có thể tiếptục tự mở cửa hàng trong khu vực hay lãnh thổ mà mình kiểm soát độc quyền Và, ngoàiphí Master franchise trả một lần ban đầu thì chủ thương hiệu thường còn tính thêm mộtkhoản phí nhỏ hàng tháng từ 2-5% trên doanh số

- Area development franchise (tạm dịch là mua nhượng quyền phát triển khu vực):Đây là hình thức nhượng quyền thương mại nằm ở giữa hai hình thức Single unitfranchise và Master franchise, nghĩa là người mua nhượng quyền trong trường hợp nàyđược cấp độc quyền cho một khu vực hay một thành phố nhỏ trong một thời gian nhấtđịnh, tuy nhiên không được phép bán nhượng quyền cho bất cứ ai Người mua nhượngquyền hình thức này cũng bị rang buộc trong hợp đồng là phải mở bao nhiêu cửa hàngtrong một khoảng thời gian nhất định, nếu không sẽ bị chủ thương hiệu cắt hợp đồng vàrút quyền

Trang 9

Cũng cần phải lưu ý rằng, hiện nay, Luật Việt Nam không phân biệt việc mua bánnhượng quyền thương mại thành 3 hình thức nói trên, mà chỉ quy định thành 2 loại lànhượng quyền ban đầu (sơ cấp) và nhượng quyền thứ cấp, trong đó:

“3 “Bên nhượng quyền thứ cấp”: là thương nhân có quyền cấp lại quyền thươngmại mà mình đã nhận từ Bên nhượng quyền ban đầu cho Bên nhận quyền thứ cấp

4 “Bên nhận quyền sơ cấp”: là thương nhận nhận quyền thương mại từ Bênnhượng quyền ban đầu Bên nhận quyền sơ cấp là Bên nhượng quyền thứ cấp theo nghĩacủa khoản 3 Điều này trong mối quan hệ với Bên nhận quyền thứ cấp

5 “Bên nhận quyền thứ cấp” là thương nhân nhận lại quyền thương mại từ Bênnhượng quyền thứ cấp.”

(Trích Điều 3, chương I, Nghị định số 35/2006/NĐ-CP.)

5 Nhượng quyền thương mại đem lại lợi ích gì:

- Là hình thức đầu tư ít rủi ro

Lợi ích ban đầu của việc thuê nhượng quyền là mang tính ít rủi ro Với tỉ lệ thất bại90% trong 3 năm đầu, việc bắt đầu một sự nghiệp mới – một thương hiệu mới là khá nguyhiểm Khi bạn xem xét tại sao lại có nhiều thương hiệu lại gặp thất bại, bạn sẽ thấy lý do

cơ bản là người chủ không chỉ đưa ra sản phẩm hay dịch vụ của mình mà còn phải nắmbắt được quá trình hoạt động, tìm và tiến tới mục tiêu của khách hàng và đạt được mụctiêu kinh doanh đã đặt ra

Việc thuê nhượng quyền sẽ giảm thiểu những rủi ro mà thực tế kinh doanh đưa ranhờ lợi thế cạnh tranh của nơi nhượng quyền, tăng những hiệu quả của nó với sự hỗ trợ từphía thương hiệu mạnh và marketing, địa điểm và đào tạo Bạn có trở thành ông chủ mộtchi nhánh có những hệ thống cung cấp gắn liền

- Có thể thử trước khi quyết định

Một lý do khác để mua nhượng quyền là đầu tư vào chi nhánh được nghiên cứu kỹlưỡng trước khi đưa vào tiêu thụ Các chi nhánh hiện nay đưa ra nhiều thông tin về ngànhkinh doanh bởi vậy mà người được nhượng quyền mới có thể thử sức trước khi mua đểchắc chắn là nó có phù hợp với họ không

Trang 10

Nơi nhượng quyền kinh doanh có tiếng tăm thường bán dạng ngành kinh doanh đãđược thử thách, đã được xác định rõ hoặc phương thức hoạt động, đưa ra sản phẩm haydịch vụ đã được bán thành công Một ngành kinh doanh độc lập phụ thuộc vào cả ý tưởng

và quá trình hoạt động chưa được thử nghiệm

- Sức mạnh buôn bán theo chuỗi.

Người được nhượng quyền có thể mua các mặt hàng với giá thấp thông qua nơinhượng quyền, thắng lợi khả năng buôn bán theo nhóm của tất cả người được nhượngquyền Nơi nhượng quyền thương hiệu có sẵn thường có sự công nhận của quốc gia hayđịa phương Trong khi điều này có thể không đúng đối với chi nhánh mới, lợi nhuận khibắt đầu là 1 điều tất yếu để phát triển nó thành ngành kinh doanh và tên tuổi được côngnhận

- Có được sự trung thành của người tiêu dùng.

Nhượng quyền kinh doanh sẽ cung cấp một hệ thống nhất quán trong quá trìnhhoạt động Nhờ vậy mà người tiêu dùng sẽ được nhận chất lượng và giá trị sử dụng đồngđều, có hiệu quả và mang lại lợi nhuận Một hệ thống nhất quán mang lại những ưu điểmcủa lợi thế theo qui mô, nhận diện thương hiệu, lòng trung thành của khách hàng, tậndụng những dạng thức đã được công nhận

- Áp dụng mô hình kinh doanh đã được thiết lập

Nơi cung cấp quyền kinh doanh cũng sẽ cung cấp hoạt động hỗ trợ quản lý, baogồm thủ tục tài chính, nhân viên, qui trình quản lý Một cá nhân với kinh nghiệm trongcác lĩnh vực có thể không đồng nghĩa với việc biết cách áp dụng chúng một ngành kinhdoanh mới Người cấp quyền kinh doanh sẽ giúp đỡ các chi nhánh vượt qua sự thiếu kinhnghiệm

Kế họach phát triển kinh doanh của nơi cấp quyền kinh doanh sẽ giúp các chinhánh phát triển kế họach kinh doanh Rất nhiều yếu tố của kế họach là những thủ tục tiêuchuẩn được đặt ra bởi nơi cấp quyền kinh doanh Những phần khó khăn nhất là khi bắtđầu, thậm chí đối với cả những người quản lý kinh nghiệm nhưng thiếu kiến thức để tạolập một ngành kinh doanh mới

- Hỗ trợ marketing chuyên nghiệp.

Trang 11

Một trong những thuận lợi lớn nhất của việc cấp quyền kinh doanh là họat độngmarketing hỗ trợ từ phía chủ nhượng quyền Nơi cấp quyền kinh doanh có thể chuẩn bị vàtrả chi phí cho việc phát triển những chiến dịch quảng cáo chuyên nghiệp Việc marketingtrong phạm vi quốc gia hay địa phương đều có lợi cho tất cả các chi nhánh

Thêm nữa, nơi cấp quyền kinh doanh có thể đưa ra những lời khuyên làm thế nào

để phát triển chương trình marketing có hiệu quả cho một vùng thông qua quỹ marketing,điều này có thể giúp các chi nhánh chia sẻ chi phí trong nguồn thu nhập của họ

- Hỗ trợ tài chính.

Việc các chi nhánh mới nhận được sự giúp đỡ trong vấn đề tài chính thông qua nơinhượng quyền là điều có thể Người nhượng quyền thường tạo ra những sắp xếp vớinhững nơi cho vay để cho một chi nhánh vay tiền Người chủ chi nhánh phải chịu tráchnhiệm về khoản vay này nhưng những cam kết hỗ trợ từ phía người nhượng quyền kinhdoanh luôn tăng các khả năng mà một khoản nợ sẽ được phê chuẩn

6 Nhượng quyền thương hiệu có tiềm ẩn những rủi ro gì?

Có lẽ câu hỏi thường được đặt ra nhất khi doanh nghiệp muốn mở rộng phát triển

là liệu việc mở rộng đó có tiềm ẩn rủi ro gì hay không, và cũng giống như bất kì ngànhkinh doanh nào, kinh doanh qua nhượng quyền cũng tồn tại những rủi ro nhất định:

- Đặc điểm của nhượng quyền thương mại là Bên nhận quyền phải đảm bảo thựchiện đúng theo mẫu của Bên nhượng quyền, điều đó dẫn đến việc người nhận quyền hầunhư không còn khoảng trống để phát huy những ý tưởng kinh doanh sang tạo của riêngmình Nếu người nhận quyền phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống nhượng quyền thì có thểphải chịu ảnh hưởng từ những rủi ro của hệ thống

- Một rủi ro khác là mong đợi của công chúng khi đến sử dụng, mua dịch vụ hayhàng hóa từ một cửa hàng trong hệ thống nhượng quyền thương mại, nếu thái độ phục vụcủa một nhân viên ở một cơ sở không tốt có thể dẫn đến những nhận xét tiêu cực củakhách hàng đối với bất kì cơ sở nào mang cùng thương hiệu Điều này đòi hỏi về sự khảnăng giám sát, quản lý của Bên nhượng quyền phải rất chặt chẽ

7 Kiểm soát hệ thống nhượng quyền thương mại:

Trang 12

Trong hoạt động nhượng quyền, vấn đề đáng lưu tâm sau khi nhượng quyền đóchính là kiểm soát các đơn vị kinh doanh trong hệ thống nhượng quyền.

Việc kiểm soát hoạt động kinh doanh của đơn vị “mua” nhượng quyền chính làquyền của Bên Nhượng quyền Nội dung kiểm soát cần tập trung vào 03 vấn đề cơ bản:

- Việc tổ chức, thực thi phương thức kinh doanh nhượng quyền

- Vấn đề tài chính

- Khắc phục các vi phạm trong hạn định

Thông thường, để đảm bảo việc thực hiện quyền kiểm soát, Bên Nhượng quyềnphải quy định chi tiết các phương thức kiểm tra, giám sát của mình vào hợp đồng nhượngquyền Các phương thức đó có thể là:

- Hoạt động kiểm tra định kỳ, đột xuất

- Hoạt động báo cáo định kỳ, đột xuất

- Các hình thức kiểm tra, giám sát khác như: khách hàng bí ẩn

- Cơ chế phát hiện và xử lý vi phạm

Để có thể thực hiện tốt chức năng kiểm soát, Bên nhượng quyền cần quy định chitiết chính sách, nguyên tắc tổ chức hoạt động kinh doanh nhượng quyền trong cẩm nangnhượng quyền (là tài liệu phải cung cấp cho bên “mua” nhượng quyền khi ký hợp đồngnhượng quyền) Ngòai ra, hợp đồng phải có điều khỏan chế tài cụ thể, trách nhiệm do viphạm xảy ra

Ngoài việc xây dựng cơ chế kiểm soát, Bên nhượng quyền cần đảm bảo vấn để tổchức nhân sự phục vụ cho hoạt động kiểm soát Những người thực thi công tác kiểm soát

hệ thống phải đảm bảo có trình độ chuyên môn về tài chính, luật pháp và nắm vững cácquy định của hợp đồng nhượng quyền, chính sách nhượng quyền của doanh nghiệp

Thực hiện tốt chức năng kiểm soát, sẽ đảm bảo hệ thống nhượng quyền vận hànhthông suốt, kịp thời phát hiện và khắc phục các sai phạm từ phía bên “mua” nhượngquyền, nhằm bảo vệ tính đồng bộ, phát huy tối ưu hiệu năng “chuỗi”, đảm bảo tối đa lợinhuận đạt được cho mọi đơn vị kinh doanh trong cùng hệ thống nhượng quyền

II Nhượng quyền thương mại trên thế giới.

1 Ví dụ thành công về nhượng quyền thương mại.

Trang 13

Starbucks là công ty cà phê quốc tế nổi tiếng, với chuỗi cửa hàng cà phê lớn nhấtthế giới – 17.003 cửa hàng trên 55 quốc gia (số liệu thống kê ngày 2/10/2011)

Trụ sở chính được đặt ở Seatle,Washington, Mỹ

Sứ mệnh của công ty: “Nhiệm vụ của chúng tôi là truyền cảm hứng và nuôi dưỡngtinh thần cho con người - một người, một tách cà phê và một người kề cận tại ở bất cứthời điểm nào.”

Ý nghĩa logo của Starbucks: được lấy cảm hứng từ biển, là hình ảnh của Melusine– nàng tiên cá 2 đuôi, một nhân vật trong thần thoại Hy Lạp có sức quyến rũ đặc biệt, vàmang những nét tương đồng với hương vị hấp dẫn mà cà phê, nước uống…của Starbucks

Năm 1982, Howard Schultz gia nhập Starbucks, và trở thành Giám đốc hoạt độngbán lẻ và tiếp thị Sau một chuyến đi đến Milan, Ý, ông đã định hướng đã đưa ra ý tưởngrằng công ty nên bán cà phê và thức uống cà phê với mô hình các quán và phê, và

Trang 14

“Starbucks experience” ra đời Về sau Howard Schultz đã trở thành Giám đốc điều hànhcủa Starbucks.

Chiến lược cơ bản của Starbucks là bán cà phê rang xay cao cấp, cùng với đồ uốngtươi được pha chế theo phong cách espresso, nhiều loại bánh ngọt, trà và các sản phẩmkhác, quán cà phê được thiết kế trang nhã Starbucks cũng nhấn mạnh đến việc cung cấpdịch vụ khách hàng tốt nhất Starbucks cũng chú trọng rất nhiều đến việc tuyển dụng nhânviên cũng như các chương trình đào tạo và hoàn thiện chính sách trợ cấp cho nhân viên –ngay cả đối với nhân viên làm việc bán thời gian, họ đều được tùy chọn trợ cấp chứng

khoán và lợi ích y tế Starbucks cũng đã công khai hóa những chuẩn ứng xử kinh doanh

đối với tất cả nhân viên

Starbucks chính thức được đưa lên sàn chứng khoán và 26/6/1992, được niêm yếttrên NASDAQ, từ mức giá $17 mỗi cổ phiếu, hiện tại đã tăng lên xấp xỉ 226,8% bằng

$55,56

Khi bắt đầu mở rộng đầu tư ra thị trường quốc tế, chiến lược chủ yếu củaStarbucks là nhượng quyền thương hiệu (để nhận phí nhượng quyền và lợi nhuận đượcchia từ các cửa hàng nhượng quyền), ngoài ra, Starbucks còn thực hiện đầu tư chung vớicác công ty đối tác (như với Shinsegae vào 12/2000 ở Nam Triều Tiên, với tập đoàn BonAppetit – công ty thực phẩm dịch vụ lớn nhất Thụy Sĩ, với KarstedtQuelle - một trongnhững nhà bán lẻ lớn nhất của Đức…), hoặc mua lại toàn bộ các công ty yếu vốn tại nướcđầu tư (như thương vụ mua lại Coffee Partner với giá 12 triệu đô la Mỹ của Thái Lan vào7/2000)

Con đường mở rộng ra thị trường quốc tế bằng hình thức nhượng quyền thươngmại của Starbucks bắt đầu từ năm 1995, khi đã sở hữu trong tay gần 700 cửa hàng trênkhắp nước Mỹ Thị trường mà Starbucks nhắm vào là Châu Á, quốc gia đầu tiên là NhậtBản, nhưng cũng không hẳn là nhượng quyền thuần túy, vì như vậy sẽ không choStarbucks có sự kiểm soát cần thiết để đảm bảo rằng những người Nhật được nhượngquyền sẽ tuân thủ chặt chẽ theo công thức thành công của Starbucks Vì vậy, điềuStarbucks đã làm với thị trường Nhật là nó đã thành lập một liên doanh với một nhà bán

lẻ địa phương, Sâzby Inc Mỗi công ty góp vốn 50% cổ phần trong liên doanh, Starbucks

Trang 15

đã đầu tư 10 triệu đô la trong thương vụ này Sau đó, định hướng của nó là nhượng quyềnkinh doanh, chịu trách nhiệm với việc giao trách nhiệm cho việc phát triển sự hiển diệncủa Starbucks tại Nhật Bản.

Để đảm bảo các tổ chức của người Nhật sao chép đúng với “phong cáchStarbucks” ở Bắc Mĩ, Starbucks đã cử một số nhân viên của mình đến các tổ chức này.Việc chấp thuận cho nhượng quyền đòi hòi toàn thể nhân viên và quản lý cửa hàng ngườiNhật phải tham gia các lớp huấn luyện tương tự như nhân viên người Mĩ Đồng thời việcchấp thuận này cũng đòi hỏi các của hàng ở Nhật phải có cách thiết kế bày trí giống vớicác của hàng ở Mĩ đến từng chi tiết Vào năm 2001, công ty đã giới thiệu một kế hoạchquyền chọn cổ phiếu dành cho tất cả nhân viên là người Nhật, điều đó khiến Starbucks trởthành công ty đầu tiên ở Nhật làm việc này Đến đầu năm 2005, Starbucks đã có được 500cửa hàng tại Nhật và lên kế hoạch để tiếp tục mở rồng hơn nữa

Hiện tại, Starbucks Company đang sở hữu các nhãn hiệu: Starbucks Coffee,Seatle’s best coffee, Torrefazione Italia Coffee, Tazo Tea, và Evolution Fresh

Danh mục các sản phẩm của Starbucks cũng trở nên ngày càng đa dạng như:

- Cà phê: với hơn 30 loại cà phê

- Các loại thức uống: như cà phê pha, cà phê nóng và đá, cà phê Frappuccino, đồuống pha trộn cà phê, sinh tố và các loại trà Tazo

- Hàng hóa: các thiết bị sản xuất cà phê, trà; hàng hóa đóng gói, sách, quà tặng…

- Bánh ngọt, sandwiches, salads, yến mạch, yogurt…

- …

Starbucks là một doanh nghiệp chú trọng nhiều đến hình ảnh thương hiệu, cũngnhư các giá trị đạo đức trong kinh doanh, trong nội bộ doanh nghiệp, Starbucks rất quantâm đến đời sống của các nhân viên, luôn luôn đảm bảo các giá trị phúc lợi tối đa chonhân viên (như chế độ y tế, những nhân viên làm ít nhất 20h/tuần đều nhận được phúc lợi

về y tế…) Starbucks còn là một doanh nghiêp được biết đến với trách nhiệm xã hội rấtcao, trong năm 2011, khi hàng loạt các doanh nghiệp cắt giảm lao động thì Starbucks đã

Trang 16

tuyển dụng thêm 3.700 nhân viên, và dự định trong năm 2012 sẽ tạo ra việc làm cho12.500 người khác trên khắp thế giới.

Starbucks đã trở thành một trong những thương hiệu cà phê nổi tiếng nhất trên thếgiới hiện tại, tất nhiên, Starbucks không chỉ được khách hàng công nhận, mà nó còn nhậnđược sự công nhận trong giới kinh doanh, nhà nước thong qua một số giải thưởng như:

- “Cà phê tốt nhất” theo Khảo sát của chuỗi nhà hàng quốc gia của Zagat năm2009-2010

- “Thức uống nhanh phổ biến nhất” theo khảo sát của chuỗi nhà hàng quốc giacủa Zagat năm 2009-2010

- Một trong những “Công ty đạo đức nhất thế giới” – Ethisphere năm 2007-2010

- Một trong “Một trong những công ty quốc tế bền vững nhất thế giới” – Công tyKnights năm 2010

- Một trong những “Công ty đáng ngưỡng mộ nhất nước Mỹ”- Fortune năm 2010

2003 …

Doanh thu trong năm tài chính 2011 của Starbucks là 11,7 tỉ USD, tăng 1 tỷ USD

so với năm 2010 (10,7 tỷ USD trong năm 2010) Cũng trong năm 2011, số cửa hàng củaStarbucks trên khắp thế giới là trên 17.000 cửa hàng tại 55 quốc gia khác nhau, khôngchịu dừng ở đó, Starbucks đang có kế hoạch mở rộng ra thêm 800 cửa hàng mới năm2012

2 Xu hướng kinh doanh nhượng quyền thương mại năm 2012.

Dù mới hay cũ, tất cả các ngành nghề trong lĩnh vực nhượng quyền thương mạiđều có dấu hiệu lớn mạnh trong năm 2012 dù tình hình kinh tế vẫn chưa mấy khả quan

Và dưới đây là 12 xu hướng phát triển của các lĩnh vực kinh doanh nhượng quyền tại Mỹ

- nơi được coi là “quê hương” của nhượng quyền thương mại – trong năm 2012 (theo tạpchí Entrepreneur của Mỹ):

- Burger: Hàng loạt nhà hàng burger nối tiếp nhau ra đời với sự dày dạn kinhnghiệm trong lĩnh vực kinh doanh thức ăn nhanh và thực đơn mở rộng để tăng tính cạnhtranh

Trang 17

- Chăm sóc trẻ em: Chăm sóc trẻ em luôn là nhu cầu rất lớn Nhượng quyềnthương mại trong lĩnh vực này cung cấp cho các bậc cha mẹ một loạt các lựa chọn khácnhau, từ người giữ trẻ đến các trung tâm chăm sóc giáo dục trẻ em.

- Giáo dục trẻ em: Trẻ em ngày nay năng động hơn bao giờ hết, và cho dù cho các

em (hoặc các bậc phục huynh) quan tâm đến nghệ thuật và hàng thủ công, thể thao vàphòng tập thể dục khoa học máy tính thì luôn có một cơ sở kinh doanh theo hình thứcnhượng quyền thương mại đáp ứng đầy đủ những nhu cầu đó

- Thể hình: Ngành công nghiệp thể dục thể thao sẽ tiếp tục phát triển mạnh Vàcác nhà đầu tư sẽ tìm thấy rất nhiều các lựa chọn nhượng quyền trong lĩnh vực này baogồm cả các lớp học khiêu vũ, võ thuật, boxing…

- Dịch vụ y tế: Những năm gần đây đã thấy một sự đột biến của các công ty tìmkiếm để thu hút bác sĩ vào gấp nhượng quyền thương mại, với các dịch vụ đa dạng nhưgiảm cân, vật lý trị liệu, dịch vụ chỉnh hình và chăm sóc khẩn cấp

- Cửa hàng bán lẻ: Các cửa hàng bán lại đang bước vào một thời kỳ phục hưngnhờ sự chịu chi người tiêu dùng Cửa hàng quần áo thống trị lĩnh vực này nhưng bạn cóthể tìm thấy các mặt hàng điện tử, thể thao và cả nhạc cụ

Subway năm nay đã vượt qua McDonald để trở thành chuỗi nhà hàng thức ănnhanh lớn nhất trên thế giới - một minh chứng cho bánh mì sandwich phổ biến như thếnào Tuy có một gã khổng lổ “ngán đường” nhưng các chuỗi nhượng quyền kinh doanhbánh sandwich nhỏ hơn vẫn còn tìm thấy rất nhiều cơ hội để phát triển

- Chăm sóc người già: Với thế hệ bùng nổ dân số đầu tiên bước sang tuổi 65 nămnay, thị trường vốn đã lớn mạnh của dịch vụ này bắt đầu bùng nổ mạnh mẽ hơn Nhượngquyền thương mại mở rộng từ các dịch vụ chăm sóc đơn giản cho đến chăm sóc y tế, vị trí

hỗ trợ sinh hoạt, di chuyển… cho người già

- Dịch vụ Spa: Nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ xa xỉ nhưmassage, spa vẫn phát triển mạnh trong điều kiện kinh tế khó khăn, phần lớn nhờ môhình kinh doanh dựa trên thẻ thành viên

Trang 18

- Dịch vụ gia sư: Giáo dục là một trong những lĩnh vực mà các bậc cha mẹ khôngbao giờ tiết kiệm, vì vậy không có gì ngạc nhiên khi các trung tâm dạy kèm hoạt độngtheo hình thức nhượng quyền tiếp tục phát triển.

II Nhượng quyền thương mại ở Việt Nam.

1 Ra đời và phát triển.

Nhượng quyền thương mại vẫn còn khá mới mẻ tại Việt Nam, được xem là manhnha xuất hiện vào giữa thập niên 90, khi mà đồng loạt xuất hiện hệ thống các quán cà phêTrung Nguyên trên khắp mọi miền đất nước Mặc dù, cách làm của Trung Nguyên lúc đókhông hoàn toàn là nhượng quyền thương mại, nhưng cũng phần nào thể hiện được nhữngđặc trưng cơ bản của phương thức này

Trong thời gian đó, khái niệm nhượng quyền thương mại gần như xa lạ, chưa đượcluật hóa Năm 1998, lần đầu tiên thông tư 1254/BKHCN/1998 hướng dẫn Nghị định

45/CP/1998 về chuyển giao công nghệ, tại mục 4.1.1, có nhắc đến cụm từ “hợp đồng cấp phép đặc quyền kinh doanh – tiếng Anh gọi là franchise ”

Tháng 2/2005, Chính phủ ban hành Nghị định 11/2005/NĐ-CP về chuyển giaocông nghệ, trong đó có nhắc đến việc cấp phép đặc quyền kinh doanh cũng được xem làchuyển giao công nghệ, do đó chịu sự điều chỉnh của nghị định này Tiếp đến, tại Điều

755 của Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định rằng hành vi cấp phép đặc quyền kinh doanh

là một trong các đối tượng chuyển giao công nghệ

Kể từ năm 2006, nhượng quyền thương mại chính thức được luật hoá và công

nhận Luật Thương mại 2005 (có hiệu lực từ 01/01/2006) đã dành nguyên Mục 8 Chương

VI để quy định về hoạt động nhượng quyền thương mại Đồng thời, Chính phủ đã banhành Nghị định số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/3/2006 quy định chi tiết Luật Thương mại vềhoạt động nhượng quyền thương mại, đến ngày 25/5/2006 thì Bộ Thương mại ban hànhThông tư 09/2006/TT-BTM hướng dẫn đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại.Đây chính là những căn cứ pháp lý cơ bản nhất, tương đối đầy đủ để điều chỉnh và tạođiều kiện cho nhượng quyền thương mại phát triển tại Việt Nam

Năm 2004, Hội đồng Nhượng quyền thương mại Thế giới (WFC) đã tiến hành mộtcuộc điều tra với kết quả khẳng định rằng: đã tồn hơn 65 hệ thống nhượng quyền thương

Trang 19

mại hoạt động tại Việt Nam, đa số là các thương hiệu nước ngoài Mặc dù còn khá ít sovới các quốc gia láng giềng, nhưng với tình thế hiện nay, khi nhượng quyền thương mại

đã được luật hóa, Việt Nam chính thức bước qua cửa WTO, đã có nhiều nhận định rằnghoạt động nhượng quyền sẽ phát triển như vũ bão

Tính đến hiện tại, tuy không gia tăng nhanh chóng như hệ thống nhượng quyềnnước ngoài, nhưng số lượng hệ thống nhượng quyền trong nước của đã dần tăng từ 10(năm 2005) đến 18 (năm 2010) Và tại Việt Nam bây giờ có khoảng 96 hệ thống nhượngquyền, bao gồm 78 nhà nhượng quyền nước ngoài và 18 nhà nhượng quyền nội địa

Hiện nay, tại Việt Nam, hệ thống nhà hàng Phở 24 đang rất thành công và đảm bảođầy đủ các chuẩn mực, tiêu chuẩn của một hệ thống nhượng quyền thương mại đặc trưngnhất Đây cũng là một trong những doanh nghiệp đầu tiên bán nhượng quyền ra nướcngoài, góp phần thúc đẩy làn sóng nhượng quyền thương mại ngày càng dâng cao tại ViệtNam

2 Cơ sở pháp lý.

- Chủ thể hoạt động nhượng quyền thương mại

“…áp dụng đối với thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài tham giavào hoạt động nhượng quyền thương mại

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyên hoạt động mua bán hàng hóa vàcác hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa, ngoài những quy định tại Điều 7Nghị định này, chỉ được thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại đối với nhữngmặt hàng mà doanh nghiệp đó được kinh doanh dịch vụ phân phối theo cam kết quốc tế

của Việt Nam.” (Trích Điều 2 - Nghị định 35/2006/NĐ-CP.)

Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam cũng còn đòi hỏi các điều kiện kèm theo đối vớichủ thể nhượng quyền và nhận quyền:

 Thương nhân nhượng quyền phải hội đủ các điều kiện như:

“Hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã được hoạt động ít nhất 1năm

Trường hợp thương nhân Việt Nam là Bên nhận quyền sơ cấp từ Bên nhượng

Trang 20

quyền thương mại ít nhất 1 năm ở Việt Nam trước khi tiến hành cấp lại quyền thươngmại.

Đã đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại với cơ quan có thẩm quyền…”

(Trích điều 5, Nghị định 35/2006/NĐ-CP.)

 Đối với Bên nhận quyền:

“Thương nhân được phép nhận quyền thương mại khi có đăng ký kinh doanh

ngành nghề phù hợp với đối tượng của quyền thương mại.” (Điều 6, Nghị định 35/2006/NĐ-CP.)

- Hợp đồng nhượng quyền thương mại

“Hợp đồng nhượng quyền thương mại phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình

thức khác có giá trị pháp lý tương đương.” (Điều 285, Mục 8, chương VI, Luật Thương mại 2005, Việt Nam.)

Nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương hiệu:

“Trong trường hợp các bên lựa chọn áp dụng luật Việt Nam, hợp đồng nhượngquyền thương mại có thể có các nội dung chủ yếu sau đây:

1 Nội dùng của quyền thương mại

2 Quyền, nghĩa vụ của Bên nhượng quyền

3 Nghĩa vụ của Bên nhận quyền

4 Giá cả, phí nhượng quyền định kỳ và phương thức thanh toán

5 Thời hạn hiệu lực của hợp đồng

6 Gia hạn, chấm dứt hợp đồng và giải quyết tranh chấp.”

(Điều 11, Nghị định 35/2006/NĐ-CP.)

- Phân cấp thực hiện việc đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại

“1 Bộ Thương mại thực hiện đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại sauđây:

a) Nhượng quyền thương mại từ nước ngoài vào Việt Nam, bao gồm cả hoạt độngnhượng quyền thương mại từ Khu chế xuất, Khu phi thuế quan hoặc các khu vực hải quanriêng theo quy định của pháp luật Việt Nam vào lãnh thổ Việt Nam;

Trang 21

b) Nhượng quyền thương mại từ Việt Nam ra nước ngoài, bao gồm cả hoạt độngnhượng quyền thương mại từ lãnh thổ Việt Nam vào Khu chế xuất, Khu phi thuế quanhoặc các khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Việt Nam.

2 Sở Thương mại, Sở Thương mại Du lịch tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ươngnơi thương nhân dự kiến nhượng quyền đăng ký kinh doanh thực hiện đăng ký đối vớihoạt động nhượng quyền thương mại trong nước trừ hoạt động chuyển giao qua ranh giớiKhu chế xuất, Khu phi thuế quan hoặc các khu vực hải quan riêng theo quy định của phápluật Việt Nam.”

(Điều 18, Nghị định 35/2006/NĐ-CP.)

- Hồ sơ và thủ tục đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại:

 Hồ sơ đề nghị đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại bao gồm:

“1 Đơn đề nghị đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại theo mẫu do BộThương mại hướng dẫn

2 Bản giới thiệu về nhượng quyền thương mại theo mẫu do Bộ Thương mại quyđịnh

3 Các văn bản xác nhận về:

a) Tư cách pháp lý của bên dự kiến nhượng quyền thương mại;

b) Văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam hoặc tại nước ngoàitrong trường hợp có chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp đãđược cấp văn bằng bảo hộ

4 Nếu giấy tờ quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này được thể hiện bằng tiếngnước ngoài thì phải được dịch ra tiếng Việt và được cơ quan công chứng ở trong nướchoặc cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài chứng nhận và thực hiệnviệc hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam.”

(Điều 19, Nghị định 35/2006/NĐ-CP.)

 Thủ tục đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại:

“1 Bên dự kiến nhượng quyền thương mại có trách nhiệm đăng ký hoạt độngnhượng quyền thương mại theo thủ tục sau đây:

Ngày đăng: 08/04/2015, 10:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thành từ ý tưởng về Phở - món ăn nổi tiếng nhất ở Việt Nam nhưng lại được xem như là thức ăn lề đường trong nhiều thập kỉ qua, do đó, những người sáng lập thương hiệu Phở 24 đã tạo nên một khái niệm kinh doanh mới đáp ứng những tiêu chuẩn cao nhưng v - tiểu luận Nhượng quyền thương mại ở Việt Nam
Hình th ành từ ý tưởng về Phở - món ăn nổi tiếng nhất ở Việt Nam nhưng lại được xem như là thức ăn lề đường trong nhiều thập kỉ qua, do đó, những người sáng lập thương hiệu Phở 24 đã tạo nên một khái niệm kinh doanh mới đáp ứng những tiêu chuẩn cao nhưng v (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w