1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá vai trò của công tác khuyến nông trong quá trình phát triển mô hình nuôi cá lồng trên địa bàn xã chiếng bằng, quỳnh nhai, sơn la giai đoạn 2011 2013

73 784 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 506,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có kết quả như vậy phải kể đến hệ thống khuyến nông xã kết hợp với trạm khuyến nông huyện đã có những hoạt động cụ thể giúp đồng bào TĐC phát triển sản xuất, mở các lớp tập huấn chuyển g

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYấN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NễNG LÂM

NGễ THỊ THOA

Tờn đề tài:

Đánh giá vai trò của công tác khuyến nông trong quá trình phát triển mô hình nuôi cá lồng trên địa bàn xã Chiềng Bằng

huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La giai đoạn 2011- 2013

KhóA LUậN tốt nghiệp ĐạI HọC

Chuyờn ngành : Khuyến nụng

Khoa : KT - PTNT Khoỏ học : 2010 - 2014 Giảng viờn hướng dẫn : ThS Bựi Thị Minh Hà

Thỏi Nguyờn, năm 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các Cơ quan, Đơn vị, Nhà trường, các thầy, cô giáo cùng bạn bè

và người thân Đến nay, tôi đã hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & PTNT Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và

đặc biệt là Cô giáo ThS Bùi Thị Minh Hà người đã trực tiếp, tận tình hướng

dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các bác, các cô, các chú, các anh và các chị đang công tác tại UBND xã Chiềng Bằng đã tận tình giúp đỡ tôi trong việc hướng dẫn, cung cấp các thông tin, tài liệu và tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài của mình trong thời gian qua

Trong quá trình thực tập, bản thân tôi đã cố gắng hết sức nhưng do trình

độ và thời gian có hạn nên đề tài tốt nghiệp của tôi không tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chỉ bảo của các thầy, cô giáo, của bạn bè và người thân để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Ngô Thị Thoa

Trang 3

DANH MUC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Chiềng Bằng qua 3 năm (2011 - 2013) 25 Bảng 4.2 Tình hình dân số và lao động xã Chiềng Bằng qua 3 năm (2011 - 2013) 28 Bảng 4.3 Diện tích, năng suất và sản lượng các loại cây trồng năm 2013 31 Bảng 4.4 Số lượng, năng suất và sản lượng cá lồng của xã Chiềng Bằng qua

3 năm (2011 - 2013) 34 Bảng 4.5 Cơ cấu loài cá nuôi tại xã Chiềng Bằng năm 2013 35 Bảng 4.6 Kết quả thông tin tuyên truyền khuyến nông về mô hình sản xuất cá lồng qua 3 năm (2011 - 2013) 38 Bảng 4.7 Mức độ theo dõi của hộ nuôi về công tác thông tin, tuyên truyền tại

xã Chiềng Bằng 39 Bảng 4.8 Kết quả đào tạo, tập huấn về mô hình cá lồng qua 3 năm (2011 - 2013) 40 Bảng 4.9 Đánh giá công tác đào tạo tập huấn trên địa bàn xã Chiềng Bằng 41 Bảng 4.10 Kết quả xây dựng mô hình trình diễn cá lồng tại xã qua 3 năm (2011 - 2013) 43 Bảng 4.11 Đánh giá của nông dân về hiệu quả mô hình trình diễn về cá lồng 44 Bảng 4.12 Đánh giá của người dân về công tác đi tham quan trên địa bàn xã Chiềng Bằng 46 Bảng 4.13 Số lượng lồng chia theo loại qua ba năm (2011 - 2013) 47 Bảng 4.14 Quy mô lồng nuôi tại xã Chiềng Bằng qua ba năm (2011 - 2013) 48 Bảng 4.15 Yếu tố giúp hộ nuôi nâng cao thu nhập và mức sống của hộ so với thời kỳ trước khi sản xuất cá lồng 49 Bảng 4.16 Cơ cấu thành viên HTX thủy sản Chiềng Bằng 51 Bảng 4.17 Đánh giá mức độ cung cấp thông tin giá cả của CTKN và kênh tiêu thụ sản phẩm cá lồng trên địa bàn xã 52

Trang 4

PTNT : Phát triển Nông thôn

PRA : Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có

sự tham gia của người dân

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3

2.1 Cơ sở lý luận 3

2.1.1 Khái niệm về khuyến nông 3

2.1.2 Vai trò, nội dung của công tác khuyến nông 5

2.1.3 Khái niệm về mô hình cá lồng 9

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 10

2.2.1 Sự hình thành và phát triển của khuyến nông Việt Nam 10

2.2.2 Kết quả hoạt động công tác khuyến nông trong phát triển ngành thủy sản 12

2.3 Vài nét về nghề nuôi cá lồng 15

2.3.1 Sự ra đời và phát triển của nghề nuôi cá lồng 15

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 20

3.2.2 Thời gian nghiên cứu 20

3.3 Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 20

3.3.1 Nội dung nghiên cứu 20

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu 20

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22

4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 22

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 22

Trang 6

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 27

4.1.3 Tình hình phát triển kinh tế 30

4.2 Tình hình sản xuất mô hình cá lồng trên địa bàn xã Chiềng Bằng 33

4.2.1 Năng suất, sản lượng và số lượng lồng nuôi 33

4.2.2 Loài cá nuôi 35

4.3 Vai trò của công tác Khuyến Nông trong quá trình phát triển mô hình cá lồng tại xã Chiềng Bằng 37

4.3.1 Thông tin, tuyên truyền 37

4.3.2 Đào tạo, tập huấn kỹ thuật 40

4.3.3 Xây dựng mô hình trình diễn 43

4.3.4 Công tác đi tham quan 45

4.4 Tác động của công tác khuyến nông trong phát triển sản xuất cá lồng tại xã Chiềng Bằng 47

4.4.1 Tác động của khuyến nông tới phát triển quy mô sản xuất cá lồng 47

4.4.2 Tác động của khuyến nông đến sự phát triển kinh tế hộ 49

4.4.3 Tác động của khuyến nông tới hình thức tổ chức sản xuất 50

4.4.4 Tác động của khuyến nông tới tiêu thụ sản phẩm 52

4.5 Đánh giá tình hình công tác khuyến nông trong quá trình phát triển mô hình cá lồng tại xã Chiềng Bằng 54

4.5.1 Đánh giá kết quả đạt được 54

4.5.2 Những tồn tại 54

4.5.3 Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại 55

4.6 Định hướng và giải pháp công tác khuyến nông trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất mô hình cá lồng tại xã Chiềng Bằng 55

4.6.1 Định hướng 55

4.6.2 Giải pháp 56

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60

5.1 Kết luận 60

5.2 Kiến nghị 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 7

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Chiềng Bằng là xã thuộc điểm tái định cư thủy điện Sơn La Sau khi hồ thủy điện Sơn La tích nước, gần một nửa diện tích đất trồng trọt, chăn nuôi của người dân xã Chiềng Bằng ngập dưới lòng hồ Trước khó khăn đó, xã đã tập trung chỉ đạo người dân thuộc 16 bản phải chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ sản xuất nông nghiệp thuần nông sang phát triển nuôi trồng, khai thác tiềm năng mặt hồ đặc biệt là phát triển nuôi cá lồng, cá bè Với mục tiêu ứng dụng tiến bộ KHKT, quy mô sản xuất, chăn nuôi chuyên canh, vào sản xuất mô hình nuôi cá lồng, từng bước xây dựng hệ thống cơ sở sơ chế, bảo quản tại chỗ kết hợp khai thác, đánh bắt thủy sản trên lòng hồ thủy điện Sơn La tại xã Chiềng Bằng, sau đó tiếp tục nhân rộng ra toàn vùng lòng hồ, nhằm chuyển đổi sản xuất sau khi đồng bào dân tộc tái định cư tại cơ sở mới, tạo việc làm cho đồng bào dân tộc trên chính lòng hồ của mình, ổn định đời sống, cung cấp thực phẩm cho thị trấn huyện Quỳnh Nhai và các vùng lân cận Chính vì thế

mô hình nuôi cá lồng có ý nghĩa rất lớn trong việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất, góp phần xóa đói giảm nghèo và đảm bảo an ninh chính trị trật tự xã hội Do vậy, nó đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp nông thôn của xã

Trong những năm gần đây người dân trong xã đã thấy được những ưu điểm của mô hình, vì vậy mà cơ cấu và diện tích mô hình của xã tăng lên nhanh chóng từ quy mô 20 lồng năm 2010 lên 49 lồng năm 2013 Có kết quả như vậy phải kể đến hệ thống khuyến nông xã kết hợp với trạm khuyến nông huyện đã có những hoạt động cụ thể giúp đồng bào TĐC phát triển sản xuất,

mở các lớp tập huấn chuyển giao KHKT và dạy nghề cho hội nông dân vùng ven hồ phát triển nghề thủy sản

Tuy nhiên, diện tích nuôi thuỷ sản trong xã đến nay vẫn còn ít so với tiềm năng của địa phương, mới phần nào giải quyết được những vấn đề khó khăn của đồng bào TĐC trong xã Vậy công tác khuyến nông trong phát triển sản xuất mô hình của xã như thế nào? Vị trí, vai trò của nó? Đây là vấn đề cấp

Trang 8

thiết đặt ra cần phải được nghiên cứu, đánh giá một cách đúng đắn Cần phải xem xét cái gì đã đạt được, cái gì chưa đạt được, cái gì mạnh, cái gì yếu từ đó

có những giải pháp để phát huy các thế mạnh và hạn chế những mặt yếu, thúc đẩy nghề nuôi cá lồng tại xã Chiềng Bằng phát triển nhanh và bền vững Vì

vậy, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá vai trò của công tác khuyến nông trong quá trình phát triển mô hình nuôi cá lồng trên địa bàn xã Chiềng Bằng huyện Quỳnh Nhai - tỉnh Sơn La giai đoạn 2011- 2013"

1.2 Mục tiêu của đề tài

Trên cơ sở đánh giá vai trò của công tác khuyến nông trong quá trình phát triển mô hình nuôi cá lồng trên địa bàn xã Chiềng Bằng Từ đó đề ra giải pháp khuyến nông nhằm phát triển sản xuất mô hình cá lồng, góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông thôn của xã

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Giúp sinh viên củng cố lại kiến thức lý thuyết đã được học trên lớp

- Giúp sinh viên có phương pháp làm việc và nghiên cứu khoa học, tiếp thu thực tế để thấy rõ được những việc mà một cán bộ khuyến nông phải làm

- Bổ sung thêm kiến thức về các hoạt động khuyến nông cho sinh viên

- Bổ sung thêm tài liệu cho khoa, trường, cán bộ khuyến nông và các cơ quan trong ngành

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở cho cán bộ khuyến nông, cơ quan trong ngành có thêm căn cứ để lựa chọn phương hướng hoạt động phù hợp nhất nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả hoạt động của công tác khuyến nông góp phần thúc đẩy phát triển mô hình cá lồng tại xã

Trang 9

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Khái niệm về khuyến nông

2.1.1.1 Nguồn gốc của thuật ngữ khuyến nông

Thuật ngữ “Extension” có nguồn gốc ở Anh Năm 1866 ở một số trường Đại học như Cambridge và Oxford đã sử dụng thuật ngữ “Extension” -

có nghĩa là “Mở rộng - triển khai”, nhằm mục tiêu mở rộng giáo dục đến với người dân, do vậy “Extension” được hiểu với nghĩa là triển khai, mở rộng, phổ biến, phổ cập, làm lan truyền Nếu ghép với từ “Agriculture” thành

“Agriculture Extension” có nghĩa là “mở rộng nông nghiệp - triển khai nông nghiệp” và dịch là “khuyến nông” hiện nay đôi khi chỉ nói “Extension” người

ta cũng hiểu là khuyến nông

2.1.1.2 Khái niệm khuyến nông

Khuyến nông là một hệ thống các biện pháp giáo dục nông dân nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân, xây dựng và phát triển nông thôn mới Khuyến nông được

tổ chức bằng nhiều cách khác nhau và phục vụ nhiều mục đích có qui mô khác nhau Vì vậy khuyến nông là một thuật ngữ khó định nghĩa được một cách chính xác, nó thay đổi tùy theo lợi ích nó mang lại Tùy vào từng nhà khoa học và từng thời điểm nó có khái niệm khác nhau:

Theo nghĩa cấu tạo của từ ngữ Hán - Việt thì: “Khuyến nông là những hoạt động nhằm khuyến khích, giúp đỡ và tạo điều kiện để phát triển sản xuất nông nghiệp trên tất cả các lĩnh vực: Trồng trọt, chăn nuôi, lâm sinh, thuỷ sản

ở nông thôn” [2]

Ở Việt Nam, khuyến nông được hiểu là một hệ thống các biện pháp giáo dục không chính thức cho nông dân nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, xây dựng

và phát triển Nông thôn mới

Theo tổ chức lương thực và nông nghiệp của liên hợp quốc đã đúc kết

và trên cơ sở hoạt động khuyến nông của Việt Nam ta có thể định nghĩa

Trang 10

khuyến nông như sau: “Khuyến nông là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân, đồng thời giúp họ hiểu được những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm về quản lý kinh tế, những thông tin về thị trường để họ có đủ khả năng để giải quyết được các vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới”

Còn theo định nghĩa của Trung tâm Khuyến nông Khuyến lâm Quốc gia thì: “Khuyến nông là một quá trình, một dịch vụ thông tin nhằm truyền bá những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm tổ chức và quản lý sản xuất, những thông tin về thị trường giá cả, rèn luyện tay nghề cho nông dân, để họ có đủ khả năng tự giải quyết vấn đề của sản xuất, đời sống, của bản thân họ và cộng đồng, nhằm phát triển sản xuất, nâng cao dân trí, cải thiện đời sống và phát triển Nông nghiệp Nông thôn”[2]

Tóm lại, chúng ta có thể hiểu Khuyến nông theo hai nghĩa:

Theo nghĩa hẹp: Khuyến nông là một tiến trình giáo dục không chính thức mà đối tượng của nó là người nông dân Tiến trình này đem đến cho người nông dân những thông tin và những lời khuyên nhằm giúp họ giải quyết những vấn đề hoặc những khó khăn trong cuộc sống Khuyến nông hỗ trợ phát triển các hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả canh tác để không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống của nông dân và gia đình họ

Theo nghĩa rộng: Khuyến nông là khái niệm chung để chỉ tất cả những hoạt động hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn

Như vậy khuyến nông là cách giáo dục không chính thức ngoài học đường cho nông dân, là cách đào tạo người lớn tuổi Khuyến nông là quá trình vận động quảng bá, khuyến cáo cho nông dân theo các nguyên tắc tự nguyện, chứ không áp đặt Đây là một quá trình tiếp thu dần dần và tự giác của nông dân Nói cách khác, khuyến nông là những tác động vào quá trình sản xuất kinh doanh của người nông dân, giúp họ sản xuất đạt hiệu quả cao nhất Tiến trình sản xuất bao gồm các yếu tố kiến thức và kỹ năng, những khuyến cáo kỹ thuật, tổ chức của nông dân, động cơ và lòng tin Vì vậy, cán bộ khuyến nông cần đến với họ, giúp đỡ họ và khuyến khích họ tham gia các chương trình khuyến nông Nhưng điều quan trọng hơn cả là cần phải thuyết phục và động

Trang 11

viên để họ tin tưởng rằng họ hoàn toàn có thể tự giải quyết và hành động để cải thiện cuộc sống của chính mình Nội dung của hoạt động khuyến nông phải khoa học, kịp thời và thích ứng với điều kiện sản xuất của người nông dân

2.1.1.3 Mục tiêu khuyến nông

Mục tiêu của khuyến nông là làm thay đổi cách đánh giá, cách nhận thức của nông dân trước những khó khăn trong cuộc sống Khuyến nông không chỉ nhằm mục tiêu phát triển kinh tế mà còn hướng tới sự phát triển toàn diện của bản thân người nông dân và nâng cao chất lượng cuộc sống ở nông thôn Muốn đạt được những mục tiêu đó, khuyến nông phải thảo luận với nông dân, giúp họ có cách nhìn thực tế và lạc quan hơn đối với mọi vấn

đề trong cuộc sống để họ tự giải quyết, tự tìm những biện pháp để vượt qua những khó khăn, trở ngại

Ngày 08/01/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 02/2010/NĐ -

CP về khuyến nông, và có 03 mục tiêu như sau [6]:

- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của người sản xuất để tăng thu nhập, thoát đói nghèo, làm giàu thông qua các hoạt động đào tạo nông dân về kiến thức, kỹ năng và các hoạt động cung ứng dịch vụ để hỗ trợ nông dân sản xuất kinh

doanh đạt hiệu quả cao, thích ứng các điều kiện sinh thái, khí hậu và thị trường

- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng Nông thôn mới, bảo đảm an ninh lương thực Quốc gia, ổn định Kinh tế - Xã hội, bảo vệ môi trường

- Huy động nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia khuyến nông

2.1.2 Vai trò, nội dung của công tác khuyến nông

2.1.2.1 Vai trò của công tác khuyến nông

Khuyến nông có vai trò là cầu nối

Cầu nối nông dân với nhà nước: Đất nước ta có 70% dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, trình độ dân trí chưa cao, nên mọi người dân không thể hiểu được mọi đường lối chủ trương chính sách của Đảng, chỉnh phủ về nông

Trang 12

nghiệp Khuyến nông có vai trò giúp nông dân nâng cao nhận thức trong quá trình sản xuất sao cho sản xuất có hiệu quả và phù hợp với đường nối lãnh đạo của Nhà nước Ngược lại, thông qua cầu nối khuyến nông Đảng và Chính phủ hiểu được tâm tư nguyện vọng của nông dân, những nhu cầu bức xúc của nông dân trong sản xuất, cuộc sống và phát triển nông thôn

Cầu nối nông dân với nghiên cứu: Khuyến nông giúp nông dân lựa chọn áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới phù hợp với địa phương mình, gia đình mình Ngược lại qua quá trình nông dân áp dụng những sáng tạo kỹ thuật mới mà các nhà khoa học, cơ quan nghiên cứu khoa học biết nên nghiên cứu những gì cho phù hợp với sản xuất

Cầu nối nông dân với môi trường: Nông nghiệp một nước đang phát triển và phát triển phải quan tâm đến vấn đề môi trường, sản xuất nông nghiệp theo mục tiêu sản xuất hàng hóa lại càng phải lưu ý đến môi trường để sản xuất ra những sản phẩm nông nghiệp an toàn cho đời sống và môi trường sống của mọi người dân trong cộng đồng và xã hội

Cầu nối nông dân với thị trường

Cầu nối nông dân với nông dân sản xuất giỏi

Cầu nối nông dân với các doanh nghiệp: Các doanh nghiệp có tầm quan trọng giải quyết đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông nghiệp Khuyến nông đã góp phần tăng cường mối liên kết giữa nông dân với các doanh nghiệp

Cầu nối nông dân với các tổ chức chính quyền, đoàn thể và các ngành hữu quan: Khuyến nông không hiệu quả nếu hoạt động đơn độc Hoạt động khuyến nông mang tính cộng đồng Thực hiện một nội dung nào đó cần có sự giúp đỡ phối hợp chặt chẽ của mọi cấp, mọi ngành, mọi đoàn thể

Cầu nối nông dân với quốc tế: Để có được sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, tiếp cận thị trường thế giới cần có vai trò của khuyến nông Khuyến nông giúp nông dân nhận biết trong cơ chế kinh tế hội nhập hiện nay nên sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và thị trường tiêu thụ sản phẩm

Mối liên kết bốn nhà: Một trong những cầu nối khuyết nông quan tâm đến hiện nay là mối liên kết bốn nhà trong công tác khuyến nông là khá quan trọng có tác dụng nâng cao kết quả sản xuất nông nghiệp

Trang 13

- Nhà nước trong mối liên kết này thể hiện xác định định hướng và kế hoạch thực hiện cho các hoạt động của các doanh nghiệp cũng như nghiên cứu của cơ quan khoa học, các nhà khoa học, Nhà nước xây dựng pháp chế, các tiêu chuẩn kỹ thuật ngành

- Các nhà khoa học cần nghiên cứu những gì đáp ứng cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp của nông dân thì nghiên cứu đó mới có ý nghĩa Họ cần liên kết với các doanh nghiệp để thu hút nguồn vốn phục vụ nghiên cứu thúc đẩy nhanh đưa TBKT học vào sản xuất Các nhà khoa học cũng là lực lượng quan trọng tham gia trực tiếp triển khai đưa các TBKT vào sản xuất

- Nhà doanh nghiệp thường phải phối hợp chặt chẽ với các nhà khoa học và khuyến nông công tác nghiên cứu cũng như chuyển giao kết quả TBKT vào sản xuất Nhà doanh nghiệp còn có vai trò giải quyết đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông nghiệp của nông dân Họ giải quyết vốn, vật tư đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp

- Mọi tác động của Nhà nước, nhà khoa học cũng như nhà doanh nghiệp ở mối liên kết này đều tác động đến nông dân mới thể hiện hiệu quả Khuyến nông có vai trò kết nối trong mối liên kết này Nông dân là yếu tố bên trong quyết định nhưng khuyến nông là tác nhân bên ngoài rất quan trọng

Khuyến nông có vai trò trong chuyển đổi nền kinh tế của đất nước

Thứ nhất: Giai đoạn sản xuất nông nghiệp HTX, nông trường quốc doanh, nông dân làm ăn tập thể, sản xuất theo kế hoạch hóa nhà nước Mỗi HTX cũng như nông trường quốc doanh đều có tổ KHKT để thực thi những nhiệm vụ chỉ đạo của ban quản trị HTX, mọi TBKT, tiến bộ trong tổ chức quản

lý sản xuất từ cấp trên quán triệt đến HTX, nông trường quốc doanh được xem như hoàn thành Khi chuyển sang kinh tế hộ gia đình “khoán 10”, người nông dân tự do kinh doanh trên mảnh đất, chuồng trại, của mình nên khuyến nông cần đến từng hộ gia đình và thậm chí phải đến từng người lao động

Thứ hai: Chúng ta chuyển từ nền nông nghiệp tự cung tự cấp, từ sản xuất nông nghiệp theo kế hoạch hóa Nhà nước sang sản xuất nông nghiệp hàng hóa đã gặp rất nhiều khó khăn rất cần vai trò cầu nối của khuyến nông

Trang 14

Khuyến nông đã huy động được lực lượng cán bộ kỹ thuật từ Trung

ương đến địa phương

Khuyến nông đã huy động được lực lượng cán bộ kỹ thuật từ Trung ương đến địa phương Cơ cấu tổ chức hệ thống khuyến nông Quốc gia có số lượng cán bộ khuyến nông của nhà nước còn rất hạn chế

Khuyến nông góp phần xóa đói giảm nghèo

Mục tiêu cơ bản của khuyến nông là làm thế nào để nông nghiệp phát triển, nông thôn phát triển nhằm nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa xã hội nông thôn, chúng ta đã phân biệt sự khác nhau rất cơ bản khuyến nông với khuyến mại nông nghiệp Dự án lớn 135 coi trọng vấn đề dân số, sinh đẻ có

kế hoạch, nước sạch nông thôn,… nhằm xóa đói giảm nghèo Nhiều chương trình dự án về an ninh lương thực ở các nơi, đặc biệt vùng sâu vùng xa được khuyến nông coi trọng

Khuyến nông đã liên kết nông dân, tăng cường sự hợp tác, hỗ trợ nhau sản xuất

Khi chuyển sang kinh tế hộ gia đình ở nông thôn có sự phân hóa Có những hộ gia đình sản xuất rất thành đạt do họ có trình độ nhận thức cao, có vốn, có lao động, có những hộ gia đình làm ăn yếu kém, gặp rủi ro dẫn đến cuộc sống khó khăn Nhà nước ta không thể không lưu tâm đến tính tiêu cực:

“Đèn nhà ai nhà đó rạng” của sản xuất kinh tế hộ Khuyến nông đã làm tốt vai trò cầu nối giữa người nông dân sản xuất giỏi với mọi người nông dân, nhất là nông dân sản xuất yếu kém trong cộng đồng Ví dụ khuyến nông coi trọng tổ chức các hội nghị, hội thảo, tham quan học tập các điển hình, tổ chức các câu lạc bộ khuyến nông Những việc làm đó đã liên kiết nông dân, tăng cường sự hợp tác, hỗ trợ nhau sản xuất

2.1.2.2 Nội dung hoạt động của công tác khuyến nông

Nghị định số 13 - CP ngày 2/3/1993 của Chính phủ về nội dung của công tác khuyến nông là [4]:

- Phổ biến những tiến bộ kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, công nghệ chế biến, bảo quản nông, lâm, thuỷ sản và những kinh nghiệm điển hình sản xuất giỏi

Trang 15

- Bồi dưỡng và phát triển kỹ năng, kiến thức quản lý kinh tế cho nông dân để sản xuất, kinh doanh có hiệu quả

- Phối hợp với các cơ quan chức năng cung cấp cho nông dân thông tin

về thị trường, giá cả nông sản để nông dân bố trí sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao

Theo Nghị định 02/2010/NĐ - CP của Chính phủ ra ngày 08/01/2010

về công tác khuyến nông thay cho Nghị định 56/2005/NĐ nêu rõ: Nội dung hoạt động khuyến nông, khuyến ngư bao gồm [6]:

(1) Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo

(2) Thông tin, tuyên truyền

(3) Trình diễn và nhân rộng mô hình

(4) Tư vấn và dịch vụ khuyến nông

(5) Hợp tác quốc tế về khuyến nông

2.1.3 Khái niệm về mô hình cá lồng

2.1.3.1 Khái niệm

Nuôi lồng là hình thức nuôi các loài thủy sản trong các lồng làm bằng lưới có kích cỡ rất khác nhau từ dưới 10 m3/lồng đến hơn 1.000 m3/lồng (trường hợp là nuôi lồng biển) Tuy nhiên, nuôi lồng cũng có thể chỉ hình thức nuôi trong lồng làm bằng gỗ, tre/nứa, kích thước thường nhỏ

Nuôi cá lồng là một hình thức nuôi cá tiên tiến với việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp để đạt một năng suất cao trong một thể tích nước nhỏ Ưu điểm của phương pháp nuôi cá lồng là:

- Nuôi cá lồng là hình thức nuôi cá thâm canh, do môi trường nước lưu thông nên cá nuôi lồng có thể thả với mật độ dày, vật liệu làm lồng dễ kiếm

Có thể nuôi những loài cá ăn trực tiếp như cá trắm cỏ, trê lai, rô phi, quả, chép, bống tượng,…

- Kỹ thuật nuôi cá lồng đơn giản, dễ làm và tận dụng được sức lao động của mọi độ tuổi

- Tận dụng nguồn nước tự nhiên, nguồn thức ăn tự nhiên để nuôi cá, không cạnh tranh ảnh hưởng tới đất sản xuất nông nghiệp

Trang 16

- Các chất thải của cá và thức ăn thừa được nước thải ra khỏi lồng nên môi trường nước sạch thích hợp cho sự tăng trưởng của cá

- Thuận tiện cho việc chăm sóc, quản lý nên ít bị hao hụt, thu hoạch

chủ động, dễ dàng, thuận lợi Năng suất cao, chu kỳ sản xuất ngắn

- Các đối tượng nuôi lồng thường có giá trị kinh tế cao nên lợi nhuận mang lại lớn nếu nuôi thành công

- Có thể nuôi với quy mô nhỏ hay lớn tuỳ vào điều kiện của từng hộ gia đình

- Tuy nhiên nuôi cá lồng dễ bị mắc bệnh và lây lan nhanh, nên việc nuôi phải thận trọng, theo đúng qui trình kỹ thuật và bảo vệ môi trường

2.1.3.2 Tầm quan trọng của nghề nuôi cá lồng

Nuôi cá lồng bè được xem như là một giải pháp được lựa chọn để phát triển cá với nhũng ưu việt về kỹ thuật, sinh thái, kinh tế và xã hội hơn hẳn so với đánh bắt tự nhiên và nuôi cá trong ao hồ:

- Kỹ thuật nuôi cá lồng bè đáp ứng được mục tiêu cơ bản của chính phủ

về sản xuất thực phẩm có chất lượng cao

- Tạo ra việc làm mới, tăng thu nhập cho ngư dân

- Khai thác, sử dụng nguồn lực tự nhiên của khu vực

- Kỹ thuật nuôi không đơn giản nhưng có thể áp dụng ở mọi quy mô và phù hợp với người dân không có đất

- Hiệu quả kinh tế cao

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Sự hình thành và phát triển của khuyến nông Việt Nam

Nông nghiệp là ngành sản xuất truyền thống và phát triển cùng nền văn minh lúa nước ở nước ta Vì vậy, khuyến nông Việt Nam đã có từ rất sớm và

có bước phát triển ngày càng lớn mạnh

Trong thời kỳ phong kiến, công tác khuyến nông đã đặc biệt được chú trọng Thời tiền Lê, hàng năm vua Lê Hoàn đã tự mình xuống ruộng cày đường cày đầu tiên cho vụ sản xuất đầu xuân Năm 1226, dưới thời Trần lập chức quan “Khuyến nông sứ” là viên quan chuyên chăm lo khuyến khích phát

Trang 17

triển nông nghiệp Năm 1789, vua Quang Trung ban bố chiếu khuyến nông sau khi đại phá quân Thanh nhằm phục hồi lại ruộng bị bỏ hoang…

Từ năm 1964, Bộ nông nghiệp chính thức có chủ trương thành lập các đoàn chỉ đạo, đưa sinh viên mới tốt nghiệp xuống cơ sở (các HTX, nông lâm trường) xây dựng các mô hình và mở các lớp tập huấn cho cán bộ chủ chốt của địa phương về công tác sản xuất, công tác thuỷ lợi

Năm 1981, Ban bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị 100 chính thức thực hiện chủ trương “khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động” Đến tháng 12/1986 Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam đã nhìn thẳng vào sự thật với tinh thần “đổi mới”, rút ra bài học hành động phù hợp với quy luật khách quan để thực hiện chủ trương đổi mới cơ chế quản lý, đưa nông nghiệp đi lên sản xuất hàng hoá

Ngày 05/04/1988 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 10 về “Đổi mới quản

lý trong nông nghiệp” Nhằm giải phóng sản xuất trong nông thôn đến từng

hộ nông dân, khẳng định hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn Từ

đó, nhờ việc nắm vững và thực hiện Nghị quyết 10 (Khoán 10) đã đem lại những tác dụng tích cực cho sản xuất

Nghị định 13/CP của Chính phủ ra ngày 02/03/1993 về công tác khuyến nông, Thông tư 02/LB/TT hướng dẫn việc tổ chức hệ thống khuyến nông và hoạt động khuyến nông đã kịp thời đáp ứng được những đòi hỏi nói trên Hệ thống khuyến nông của Việt Nam chính thức được thành lập năm

1993 Ở cấp Trung ương có cục khuyến nông (TTKNQG), cấp tỉnh có TTKN tỉnh, cấp huyện có Trạm khuyến nông huyện, cấp xã có mạng lưới khuyến nông cơ sở

Ở Trung ương, giai đoạn 1993 - 2004, Cục Khuyến nông - Khuyến lâm thuộc Bộ Nông nghiệp thực hiện cả 2 chức năng quản lý nhà nước về sản xuất nông nghiệp và hoạt động sự nghiệp khuyến nông; Vụ Nghề cá thuộc Bộ Thủy sản cũng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước và công tác khuyến ngư

Tuy vậy, sau 12 năm thực hiện Nghị định 13/CP, công tác khuyến nông

đã gặp không ít khó khăn, vướng mắc, chưa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sản xuất, khoa học công nghệ và xu hướng hội nhập kinh

Trang 18

tế quốc tế, Chính vì vậy, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Thuỷ sản đã trình Chính phủ để sửa đổi, bổ sung một số nội dung hoạt động khuyến nông, thay thế cho Nghị định 13/CP Ngày 26/4/2005, Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị định 56/2005/NĐ - CP về khuyến nông, khuyến ngư Ở Trung ương, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia được thành lập (tách từ Cục Khuyến nông

và Khuyến lâm) trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Trung tâm Khuyến ngư thuộc Bộ Thủy sản Đến năm 2008, khi hợp nhất Bộ Nông nghiệp và PTNT và Bộ Thủy sản, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia được hợp nhất thành Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư Quốc gia

Nghị định 56/2005/NĐ - CP ra đời đã quy định rõ hơn về hệ thống tổ chức khuyến nông, khuyến ngư (nhất là tổ chức khuyến nông cơ sở), mục tiêu, nguyên tắc, chính sách và nội dung hoạt động khuyến nông (bổ sung thêm nội dung tư vấn, dịch vụ khuyến nông và hợp tác quốc tế về khuyến nông); mở rộng đối tượng tham gia đóng góp nhằm thực hiện mục tiêu xã hội hoá công tác khuyến nông - khuyến ngư

Ngày 08/01/2010 bằng việc ban hành Nghị định 02/2010/NĐ - CP về công tác khuyến nông, khuyến ngư thì hệ thống khuyến nông Việt Nam đã thêm một bước được hoàn thiện cả về cơ cấu lẫn nội dung hành động Hệ thống khuyến nông Nhà nước đã nhanh chóng phối hợp với các cơ quan, ban ngành có liên quan, nhất là các tổ chức quần chúng

2.2.2 Kết quả hoạt động công tác khuyến nông trong phát triển ngành thủy sản

Trải qua 20 năm hoạt động đồng hành với tiến trình Đổi mới của Ngành nông nghiệp, tổ chức khuyến nông không ngừng phát triển, lớn mạnh

và trở thành một hệ thống khá đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở thôn bản, gắn

bó mật thiết với nông nghiệp, nông dân và nông thôn Hoạt động khuyến nông ngày càng phát triển kể cả về tổ chức và nội dung Từ khi được thành lập tới nay khuyến nông đã có những đóng góp đáng kể vào thành tựu sản xuất nông

- lâm nghiệp, thủy sản Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ mới đã được chuyển giao, áp dụng vào sản xuất hàng hóa theo hướng chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Tăng thu nhập cho người

Trang 19

lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn miền núi, khuyến nông

đã trở thành địa chỉ tin cậy của nông dân

Trong phát triển thủy sản hoạt động đào tạo, huấn luyện khuyến nông

đã góp phần nâng cao năng lực và trình độ cho cán bộ khuyến nông các cấp,

kỹ năng tổ chức quản lý sản xuất của người nông dân: Nội dung đào tạo, tập

huấn phong phú, sát nhu cầu của đối tượng tập huấn; Phương pháp đào tạo thường xuyên được đổi mới; Đa dạng hóa các hình thức đào tạo, tập huấn khuyến nông như đào tạo trực tiếp tại lớp học và hiện trường, đào tạo gián tiếp thông qua các phương tiện truyền thông và internet

Có TBKT tốt thì việc chuyển giao là nhiệm vụ của khuyến nông Cán

bộ khuyến nông phải bám sát dân, phải biết cách thuyết phục dân, phải “cầm tay chỉ việc” để có thể thay đổi nhận thức và thực hành của người dân Trong quá trình chuyển giao, cán bộ khuyến nông cũng cần đúc rút kinh nghiệm và

tổ chức các cuộc tham quan, hội thảo để tuyên truyền và nhân rộng Công tác xây dựng mô hình trình diễn và chuyển giao công nghệ thủy sản, hệ thống khuyến nông có những hoạt động thiết thực như:

- Tổng kết các mô hình có kết quả tốt về: Nuôi trồng, khai thác, bảo quản, chế biến, dịch vụ hậu cần nghề cá, lưu thông, tiếp thị để tuyên truyền nhân ra diện rộng

- Xây dựng các loại mô hình khuyến nông cho hộ nông ngư dân, hộ trang trại, chủ doanh nghiệp thủy sản

- Xây dựng các loại mô hình khuyến nông áp dụng công nghệ mới, công nghệ cao ở các mức khác nhau phù hợp với điều kiện kinh tế, trình độ sản xuất và sinh thái từng vùng

Công tác tuyên truyền, hay nói cách khác là “kênh” để kết nối giữa nhà khoa học và người nông dân cũng được chú trọng Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay thì hoạt động thông tin tuyên truyền rất quan trọng, nhất là thông tin đến người nông dân Phải thông tin, tuyên truyền như thế nào

để nông dân hiểu đúng, làm đúng

Thông tin tuyên truyền trong phát triển thủy sản nói chung và sản xuất

cá lồng nói riêng ngày càng đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung và

Trang 20

chú trọng nâng cao chất lượng Bao gồm thông tin thị trường, thông tin đại chúng, thông tin về văn bản quy phạm pháp luật trong ngành Thủy sản, xuất bản các ấn phẩm khuyến ngư dưới nhiều hình thức đa dạng

Các chương trình, dự án khuyến nông đã bám sát các chủ trương, định hướng phát triển của Bộ, ngành, chuyển giao thành công nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về năng suất và chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả, tăng thu nhập và cải thiện đời sống nông dân, góp phần rất quan trọng thúc đẩy ngành thủy sản phát triển vượt bậc trong 2 thập niên gần đây

Trong giai đoạn từ năm 1993 đến 2007 công tác khuyến nông, khuyến ngư đã xây dựng được hơn 9.000 mô hình trình diễn, nhập và chuyển giao hơn 70 công nghệ, tổ chức gần 28.000 lớp tập huấn cho khoảng 1,3 triệu người, 128 lớp tập huấn xoá đói giảm nghèo cho 2.700 lượt người tham dự Thông qua các chương trình trọng điểm như: Chương trình phát triển nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng, chương trình nuôi thủy sản nước mặn, lợ, chương trình nuôi thủy sản nước ngọt, chương trình phát triển giống thủy sản, chương trình khai thác hải sản xa bờ và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản đã góp phần nâng cao nhận thức và kiến thức khoa học kỹ thuật cho nông, ngư dân thay đổi sâu sắc về phương thức sản xuất thủy sản từ chỗ chủ yếu dựa vào khai thác và nuôi thả quảng canh sang nuôi trồng bán thâm canh và thâm canh, từ nuôi tự phát phân tán sang nuôi trồng tập trung theo quy hoạch, gắn với cơ sở chế biến, xuất khẩu Tạo nguồn thu xuất khẩu ngoại tệ đáng kể cho đất nước: năm

2008 đạt 4,5 tỷ USD và đến năm 2011 đạt trên 6,1 tỷ USD [7]

Ngoài ra công tác khuyến nông không ngừng xúc tiến hợp tác quốc tế, thông qua hợp tác quốc tế, khuyến nông, khuyến ngư tiến hành nhập công nghệ sản xuất, giống mới, tiến hành trao đổi kinh nghiệm nhằm nâng cao trình

độ quản lý, kinh nghiệm công tác của cán bộ, từ đó giúp cho nhà nước có biện pháp hữu hiệu đẩy mạnh sản xuất thủy sản, xúc tiến thương mại phù hợp điều kiện cụ thể từng địa phương

Trang 21

cá vẫn lớn, từ đó họ đã nghĩ ra cách nuôi cá trong lồng, bè

Nghề nuôi cá lồng, bè trên dòng sông Mêkông và các hồ nước lớn nhỏ

ở Campuchia đã có từ gần một trăm năm nay Lúc đầu, ngư dân Campuchia chủ yếu dùng cọc gỗ, cành cây chắn ngang các đoạn sông nông, nhánh sông hẹp Về sau, người ta đã nuôi cá ngay những vị trí này, những lồng cá bằng gỗ dần dần đã hình thành và ngày càng cải tiến hơn

Ngư dân Thái Lan cũng đã nuôi cá lồng bè khoảng 50 năm nay, Indonesia phát triển nuôi cá lồng bè từ năm 1945 Ở Nhật, cá chép nuôi trong lồng từ năm 1953, bang Alabana là nơi nuôi cá lồng đầu tiên ở Hoa Kỳ vào năm 1964 Những nước châu Âu có nghề nuôi cá lồng phát triển như: Đức, Anh, Pháp, Nauy và Hà Lan Ở Châu Phi, từ năm 1972 Tandania đã nuôi tăng sản cá rô phi trong lồng ở hồ Vachtoria, Nigieria cũng nuôi cá lồng bè ở hồ Kainhi Tuy nhiên, chỉ đầu những năm 1980 nuôi cá lồng, bè mới thực sự đóng góp đáng kể vào sản lượng nuôi trồng thủy sản

Ngày nay, vị trí đặt lồng, bè cá không chỉ giới hạn ở sông mà nó còn được đặt trong các hồ tự nhiên, hồ chứa nhân tạo của Nigieria, Nhật, Singapore và Mỹ, ở các hồ vùng núi cao của Chile, Colombia, các ao ở Mỹ, ở vùng đầm lầy Ấn Độ, các kênh mương thủy lợi ở Indonesia, trong các hồ chứa nước nóng của Bungari và cả ở biển Nguyên liệu làm lồng, bè cá cũng thay đổi, ở các nước châu Á vẫn sử dụng lồng bè bằng tre hoặc gỗ, những nước có nền nông nghiệp phát triển như Đức, Nhật, lồng, bè có dạng lưới

Trang 22

được làm bằng sợi tổng hợp polyamid hoặc sử dụng những tấm kim loại để làm lồng nuôi cá như ở Mỹ [1]

2.3.1.2 Tại khu vực miền Bắc Việt Nam

Ở Việt Nam, tại khu vực phía Bắc từ những năm 1971 lần đầu tiên ở tỉnh Sơn La nuôi cá trong lồng, đối tượng nuôi là cá trắm cỏ đặt ở suối, đạt năng suất cao 20 kg/m3 Ngoài ra phương pháp nuôi cá trong lồng cũng phát triển mạnh ở tỉnh Quảng Ninh, Bắc Ninh năng suất đạt 25 - 40 kg/m3 Quảng Bình, Thanh Hoá đạt 40 - 50 kg/m3 Lồng có nhiều dạng: hộp vuông, hộp chữ nhật , hình chữ nhật, hình khối trụ Đối tượng nuôi chủ yếu là cá chép, trắm

cỏ, rô phi và cá diếc Năng suất đạt từ 15 - 50 kg/m3 tuỳ theo đối tượng nuôi

và tuỳ vào từng nơi [17]

Nuôi cá lồng, cá bè ở ĐBSCL có từ những năm 60 của thế kỷ 20, do các kiều dân Việt Nam hồi hương từ Campuchia về áp dụng tại vùng Châu Đốc và Tân Châu (An Giang) Ban đầu ngư dân nuôi cá trong các bè bện bằng tre, đồng thời bè không có mái che, số lượng rất khiêm tốn và chỉ bán làm khô

cá tra phồng hoặc cá chợ để ăn

Vào những năm đầu của thập niên 70, nghề nuôi cá lồng, bè phát triển mạnh, cá tra và basa lúc bấy giờ chủ yếu được tiêu dùng trong nước và xuất khẩu một số phần sang các nước Hồng Kong, Đài Loan (Trung Quốc) và Singapore Sau năm 1975 số lượng bè bị sụt giảm mạnh do công việc làm ăn của người dân gặp nhiều khó khăn Đến năm 1980, khi tình hình chiến trang biên giới Tây Nam kết thúc, số lượng bè cá nuôi tăng lên, nghề nuôi cá bè phát triển hưng thịnh

Theo số liệu thống kê của Tổng cục thủy sản, trong lĩnh vực nuôi cá nước ngọt số lượng lồng nuôi của cả nước năm 2010 là 18.224 lồng, đạt sản lượng là 42.992 tấn [16]

Các tỉnh miền Bắc có tiềm năng diện tích có thể phát triển nuôi thủy sản lồng bè rất lớn trên 200.000 ha diện tích mặt nước, nhưng hiện nay mới chỉ khai thác được một phần rất nhỏ so với tiềm năng diện tích mặt nước của sông và hồ chứa (tổng diện tích lồng nuôi ước khoảng 300.530 m3, số lượng gần 5.000 lồng, với năng suất đạt hơn 2.000 tấn/năm)

Trang 23

Tại khu vực Đồng bằng sông Hồng, trong 5 năm trở lại đây từ năm

2008 đến năm 2013, phong trào nuôi cá lồng phát triển rất mạnh với các đối tượng cá nuôi chính là cá truyền thống như: trắm cỏ, chép, rô phi và một vài đối tượng có giá trị kinh tế như: cá tầm, cá lăng, cá nheo, Các tỉnh có sản lượng lớn như: Hải Dương 500 tấn/năm, Hòa Bình 200 tấn/năm, Yên Bái 200 tấn/năm, Phú Thọ 81,7 tấn/năm… Tại một số hộ nuôi trên sông Kinh Thầy (Hải Dương), sông Đuống (Bắc Ninh), năng suất nuôi đạt từ 5 - 7 tấn cá/lồng (108 m3), đem lại hiệu quả kinh tế khả quan [17]

Từ năm 2013 Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã triển khai dự án

“Xây dựng mô hình nuôi cá lồng hồ chứa” tại các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ, Bắc Giang, Sơn La, Hòa Bình, Yên Bái, Vĩnh Phúc, Bắc Kạn, Thái Nguyên và Lào Cai

Trong đó, Hòa Bình là tỉnh được đánh giá có nhiều tiềm năng và lợi thế

để phát triển ngành thủy sản đứng ở khu vực miền núi phía Bắc, trong những năm gần đây, nuôi cá lồng trên hồ thủy điện Hòa Bình phát triển mạnh mẽ Năm 2010 trên lòng hồ thủy điện có 950 lồng nuôi cá, đến tháng 9/2013 có khoảng 1.300 lồng [17]

Theo Trung tâm Khuyến nông quốc gia, việc nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh phía bắc hiện nay đã dần chuyển sang sản xuất hàng hóa và đang từng bước trở thành một trong những nghề sản xuất chính mang lại hiệu quả cao, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng nông thôn, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo Chất lượng và giá trị của các sản phẩm nuôi trồng ngày càng cao, đóng góp đáng kể cho kim ngạch xuất khẩu thủy sản chung của cả nước

Với những ưu điểm như cá nuôi ít dịch bệnh, năng suất cao, thuận tiện trong chăm sóc, thu hoạch và tận dụng khai thác tiềm năng mặt nước Từ những thành công bước đầu của một số mô hình nuôi cá lồng trên sông, hồ chứa, hy vọng sẽ có thêm nhiều mô hình nuôi trồng thủy sản hơn nữa, góp phần phát triển nghề nuôi trồng thủy sản theo hướng thâm canh, bền vững

Phát triển cá lồng ở tỉnh Sơn La, là một tỉnh miền núi phía bắc với nhiều lợi thế về lòng hồ, diện tích nuôi trồng thủy sản lớn, điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản Nuôi cá lồng là một nghề truyền

Trang 24

thống của đồng bào các dân tộc tỉnh Sơn La Nguồn lợi thủy sản tự nhiên của tỉnh Sơn La rất phong phú và đa dạng, có nhiều loài cá bản địa có giá trị cao

về khoa học và kinh tế Tỉnh Sơn La đã sản xuất mô hình cá lồng từ năm

1976, cao điểm nhất là năm 1993 Sơn La có 800 lồng đến năm 1995 do thiếu kinh nghiệm và kỹ thuật nuôi, quá trình chăm sóc quản lý chưa hợp lý, không kiểm soát được dịch bệnh dẫn đến bùng phát bệnh đốm đỏ, lở loét gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản lượng nuôi cá lồng và khả năng phát triển thêm

số lượng lồng nuôi cá [12]

Sơn La có 2 hồ chứa thủy điện thuộc vào loại lớn nhất của cả nước là

Hồ chứa thủy điện Hòa Bình và Hồ chứa thủy điện Sơn La, Ngoài ra, còn có gần 60 hồ thủy điện, hồ chứa vừa và nhỏ khác có thể đưa vào nuôi trồng thủy sản Riêng hồ chứa thủy điện Sơn La có diện tích trên 13.000 ha, dung tích nước 9,26 tỷ m3, mực nước dâng bình thường 215 m Đặc biệt lưu vực quanh

hồ không có nhà máy xí nghiệp, mật độ dân cư rất thấp nên không bị ảnh hưởng bởi chất thải công nghiệp và sinh hoạt, môi trường nước hoàn toàn trong sạch, đây là tiềm năng và thế mạnh mặt nước của địa phương cần được khai thác và phát triển

2.3.1.3 Một số yếu tố về điều kiện thủy văn và chất lượng nước phù hợp cho nuôi cá lồng tại khu hồ chứa sông Đà tỉnh Sơn La

- Chế độ Thuỷ văn:

Nguồn sinh thuỷ cho hồ thuỷ điện Hoà Bình và hồ thuỷ điện Sơn La chủ yếu là do nước từ các lưu vực rộng lớn của hồ chảy về Lòng hồ tương đối rộng, lưu tốc dòng chảy bình thường không lớn, về mùa mưa lũ do có nhiều sản phẩm hữu cơ nên nước bị đục gây khó khăn cho việc nuôi trồng thuỷ sản Mặt nước của hồ chứa có sự thay đổi lớn, về mùa khô ở mức thấp, nhất là đầu vụ nước năm sau (tháng 4 - 5) Sự chênh lệch về mực nước giữa mùa khô và mùa tích nước chênh nhau từ 25 - 30 m, độ trong của nước cũng

có sự thay đổi lớn, mùa mưa độ đục cao, mùa khô trong hơn

- Chế độ nhiệt độ:

Hồ chứa Sông Đà thuỷ điện Hoà Bình và thuỷ điện Sơn La là những hồ chứa lớn, nước sâu, nhiệt độ nước trong hồ không có sự thay đổi lớn và đột ngột Với hồ thuỷ điện Hoà Bình và thủy điện Sơn La về mùa hè nhiệt độ của

Trang 25

nước khoảng 28 - 300C, mùa đông nhiệt độ nước trong hồ thường cao hơn nhiệt độ không khí và tương đối ổn định từ 20 - 230C rất thích hợp cho các loài thuỷ sinh vật phát triển

- Dưỡng khí và các yếu tố khác:

Hồ chứa Sông Đà có mặt thoáng rộng, nước chảy thường xuyên, nhiệt

độ không cao, môi trường nước chưa bị nhiễm bẩn Riêng hồ thuỷ điện Hoà Bình có hàm lượng oxy hoà tan trong nước trung bình từ 8 - 13,5 mg/lít thấp hơn nhiều so với các loại thuỷ vực khác Ngoài ra các yếu tố khác như PH từ (7,4 - 8,0), các chất hữu cơ từ 4 - 14 mg/lít, đặc biệt là các loại Ion kim loại nặng như Cu, Zn, Hg, Pb và các nước thải công nghiệp hầu như không có (số liệu điều tra của Viện nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản I năm 1995) nên có đủ điều kiện để phát triển các loại thuỷ sinh vật [12]

Trang 26

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Các hộ tham gia sản xuất cá lồng ở xã Chiềng Bằng - huyện Quỳnh Nhai - tỉnh Sơn La

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về vai trò của công tác khuyến nông trong quá trình phát triển sản xuất cá lồng tại xã Chiềng Bằng - Quỳnh Nhai - Sơn La

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn xã Chiềng Bằng - huyện Quỳnh Nhai - tỉnh Sơn La

3.2.2 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu từ 10/02/2014 đến 15/04/2014

3.3 Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Nội dung nghiên cứu

- Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội tại xã Chiềng Bằng

- Tình hình sản xuất mô hình cá lồng trên địa bàn xã Chiềng Bằng

- Vai trò của công tác khuyến nông trong quá trình phát triển mô hình

cá lồng tại xã Chiềng Bằng

- Tác động của công tác khuyến nông trong phát triển sản xuất cá lồng tại xã Chiềng Bằng

- Đánh giá tình hình công tác khuyến nông trong quá trình phát triển

mô hình cá lồng tại xã Chiềng Bằng

- Định hướng và giải pháp công tác khuyến nông trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất mô hình cá lồng tại xã Chiềng Bằng

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.3.2.1 Thu thập thông tin thứ cấp

- Số liệu được thu thập từ các nguồn có sẵn từ UBND xã bao gồm: số liệu về điều kiện tự nhiên, các báo cáo về tình hình phát triển KT - XH của

Trang 27

UBND xã Chiềng Bằng, báo cáo kết quả công tác khuyến nông, Đề án xây dựng NTM của xã Chiềng Bằng

- Các thông tin được thu thập thông qua các văn bản, nghị định liên quan đến vấn đề khuyến nông, các báo cáo tổng kết hàng năm, các tài liệu thống kê của UBND xã, số liệu từ các cơ quan có liên quan, và một số tài liệu, sách báo, tài liệu qua mạng internet

3.3.2.2 Thu thập tài liệu sơ cấp

- Số liệu được thu thập trực tiếp từ đối tượng nghiên cứu Cụ thể, số liệu sơ cấp được thu thập từ các hộ sản xuất cá lồng trên địa bàn xã Chiềng Bằng Để thu thập được số liệu phải tiến hành phỏng vấn trực tiếp hộ bằng bảng phiếu điều tra được lập sẵn từ đó biết được tình hình sản xuất cá lồng của địa phương, vai trò của sản xuất cá lồng đối với phát triển kinh tế của hộ, ảnh hưởng của công tác khuyến nông đối với mô hình sản xuất cá lồng

- Sử dụng các công cụ chủ yếu của PRA: phỏng vấn bán cấu trúc, thảo luận với những người nông dân, kết hợp quan sát, thăm quan thực tế để thu thập thông tin

* Điều tra thu thập số liệu sơ cấp

- Tổng số mẫu điều tra là 38 hộ, bao gồm tất cả các hộ tham gia sản xuất

cá lồng địa bàn xã với quy mô khác nhau, thuộc 4 bản Huổi Cuổi, Co Hả, Co Trặm, Bung Với hệ thống các câu hỏi đã được xây dựng sẵn trong bảng hỏi

3.3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin

- Thông tin sau khi thu thập được cập nhật và xử lý bằng chương trình Excel, kết quả của việc xử lý ta được các bảng số liệu

Trang 28

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Chiềng Bằng là một xã miền núi thuộc vùng I của huyện Quỳnh Nhai, xã

có tổng diện tích tự nhiên là 4.408,0 ha Thị trấn huyện lỵ Quỳnh Nhai được xây dựng cách trung tâm xã khoảng 4 km, ngoài ra xã nằm ở vị trí có tuyến đường tỉnh lộ 107 chạy qua, rất thuận lợi để đi lại và trao đổi hàng hoá với các vùng lân cận, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội của xã

Xã có vị trí giáp ranh như sau:

- Phía Bắc giáp xã Chiềng Ơn

- Phía Đông giáp xã Mường Sại, Nậm Ét

- Phía Nam giáp xã Chiềng Khoang

- Phía Tây giáp xã Mường Giàng huyện Quỳnh Nhai, xã Phỏng Lái huyện Thuận Châu

4.1.1.2 Đặc điểm địa hình

Địa hình của xã bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi đá, núi đất, các khe suối cạn tạo nên các phiêng bãi bằng phẳng, các khe sâu phân bố rải rác ở nhiều khu vực, độ cao trung bình của xã là 750 m so với mặt nước biển Địa hình của xã được chia thành các dạng như sau:

- Dạng địa hình đồi núi thấp: Có độ cao từ 250 - 400 m (độ dốc < 15 0 )

chiếm khoảng 23% DTTN, độ cao được phân bố dọc theo Tỉnh lộ 107 và hai bên sông Đà tạo thành các dải đồi thấp xen lẫn các phiêng bãi

- Dạng địa hình đồi, núi trung bình: Có độ cao từ 400 - 650 m (độ dốc

từ 20 - 30 0 ) phân bố phía Đông của xã chiếm khoảng 20% DTTN

- Dạng địa hình đồi núi cao: Có độ cao trên 650 m (độ dốc > 30 0) chiếm khoảng 57% DTTN Chạy theo hướng Bắc Nam giáp với xã Chiềng Khoang và khu vực giáp ranh với xã Mường Sại

Trang 29

- Địa hình đồi núi thấp và trung bình có độ cao từ 300 - 750 m so với mực nước biển, dạng địa hình này hiện đang được nhân dân canh tác cây hàng năm (lúa nước, nương rẫy)

- Tổng số giờ nắng trung bình trong năm 1.748,35 giờ/năm

- Lượng mưa bình quân năm 1.718 mm/năm tập trung vào các tháng 6,

7, 8, 9 chiếm 85% tổng lượng mưa cả năm

- Độ ẩm trung bình năm 78%, độ ẩm và lượng bốc hơi phụ thuộc vào từng thời điểm khác nhau trong năm

- Hướng gió: Mùa khô chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc thường xen kẽ gió tây nam, thời tiết nóng khô và thường xuất hiện sương muối Mùa mưa chịu ảnh hưởng của gió đông nam, thời tiết nắng nóng mưa nhiều

Nhìn chung thời tiết khí hậu của xã mang đặc trưng của miền núi Tây bắc thích hợp cho việc phát triển đa dạng sinh học, phù hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau như cây ăn quả, cây công nghiệp, cây lương thực và chăn nuôi đàn gia súc, gia cầm Tuy vậy, yếu tố hạn chế về khí hậu là vào mùa mưa đôi khi xuất hiện mưa đá và lũ lớn vùng ven suối, và mùa khô nhiệt độ xuống thấp, khô hạn kéo dài xuất hiện gió lào vào tháng 2, tháng 3 gió khô và nóng gây ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong vùng

4.1.1.4 Sông ngòi, thủy văn

Sông Đà là con sông lớn chảy qua địa bàn xã với chiều dài là 10 km là thuận lợi để phát triển nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản Ngoài ra còn có hệ thống các suối được phân bố khá đồng đều trên địa bàn đây là nguồn nước chính để phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất trong toàn xã Tuy nhiên trong những năm gần đây rừng đầu nguồn bị chặt phá nhiều dẫn đến thảm thực vật

Trang 30

bị giảm sút nghiêm trọng đã ảnh hưởng đến khả năng điều tiết nguồn nước trong vùng Các suối chảy trên địa phận xã có lưu vực nhỏ, hẹp và lưu lượng nước giữa hai mùa chênh lệch lớn Mùa cạn kiệt nước trùng với mùa khô lưu lượng nước nhỏ Mùa lũ trùng với mùa mưa lưu lượng dòng chảy lớn, tốc độ dòng chảy cao, lượng nước tập trung thường gây ra lũ quét, lũ ống ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống nhân dân

4.1.1.5 Tình hình sử dụng đất đai

Đất đai là tư liệu sản xuất vô cùng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, là tư liệu sản xuất chủ yếu, không thể thay thế, không có đất đai thì không có sản xuất nông nghiệp Khác với tư liệu sản xuất khác ở chỗ nếu sử dụng đất đai một cách hợp lý nó không những không bị hao mòn mà ngược lại độ màu mỡ của đất đai còn tăng lên Vì vậy việc sử dụng đất đai một cách hợp lý là một vấn đề quan trọng có liên quan mật thiết đến hiệu quả của sản xuất nông nghiệp và chất lượng môi trường sống của con người

Đối với xã Chiềng Bằng với tổng diện tích đất tự nhiên theo địa giới hành chính là: 2.922,0 ha Do điều chỉnh địa giới hành chính theo Nghị quyết 10/NQ - CP, đã điều chỉnh 872,25 ha của xã Liệp Muội và 613,8 ha của xã Mường Sại về xã Chiềng Bằng quản lý nên diện tích tự nhiên của xã Chiềng Bằng từ năm 2011 là 4.408,0 ha, đây là một lợi thế cho sự phát triển của xã

Trong tổng diện tích đất tự nhiên của xã chủ yếu là diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất phi nông nghiệp, chiếm phần lớn tổng diện tích đất, còn lại phần nhỏ là đất chưa sử dụng Để thấy rõ hiện trạng sử dụng đất đai xã Chiềng Bằng ta nghiên cứu bảng sau:

Trang 31

Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Chiềng Bằng qua 3 năm (2011 - 2013)

Chỉ tiêu

DT (ha)

CC (%)

DT (ha)

CC (%)

DT (ha)

CC (%) 11/12 12/13

Bình quân

Trang 32

Qua bảng số liệu 4.1 ta thấy hiện trạng sử dụng diện tích đất đai của toàn xã có sự biến động lên xuống qua mỗi năm Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã là 4.408 ha, năm 2011 diện tích đất nông nghiệp chiếm 48,77%, năm

2012 chiếm 50,75%, năm 2013 chiếm 44,25% Như vậy, diện tích đất nông nghiệp qua ba năm có tốc độ giảm bình quân là 4,37% Do xã đang trong giai đoạn thực thi công tác xây dựng khu điểm TĐC và tiến hành công tác chia đất sản xuất canh tác cho người dân trong xã được tiến hành nên phần lớn người dân còn gặp khó khăn trong khu canh tác mới

Diện tích trồng lúa tăng dần qua ba năm với tốc độ tăng bình quân là 1,82% Tuy vậy, trong ba năm 2011 - 2013, theo xu hướng giảm diện tích cây công nghiệp giảm bình quân 0,59%, diện tích cây hàng năm giảm bình quân 10,91%, trong đó diện tích đất nuôi trồng thủy sản tăng mạnh, qua ba năm tốc

độ tăng bình quân là 42,6% từ 17,8 ha năm 2011 nên 28,7 ha năm 2013 Năm

2011 diện tích đất lâm nghiệp chiếm 20,71% diện tích đất tự nhiên, năm 2012 diện tích đất rừng tăng chiếm 21,82%, năm 2013 diện tích đất rừng giảm chiếm 19,83%

Qua ba năm quỹ đất phi nông nghiệp có xu hướng tăng, với tốc độ tăng bình quân qua ba năm là 5,33% Năm 2011 chiếm 46,55%, năm 2012 chiếm 44,71%, năm 2013 chiếm 51,26%, Diện tích đất phi nông nghiệp phần lớn là diện tích đất có mặt nước chuyên dùng thuộc lòng sông Đà, đây là một thuận lợi lớn đối với sự phát triển sản xuất nông nghiệp của địa phương trong khai thác và nuôi trồng thủy sản trên lòng hồ

Diện tích đất chưa sử dụng giảm dần qua các năm có tốc độ giảm bình quân qua 3 năm là 2,05%, chủ yếu phần đất chưa sử dụng là diện tích đất đồi núi chưa sử dụng, diện tích núi đá không có rừng cây hiểm trở không thể khai thác được

Tóm lại, Chiềng Bằng là một xã có diện tích đất tự nhiên lớn, với diện tích đất nông nghiệp tương đối rộng, trong đó chủ yếu là đất trồng cây công nghiệp và cây hàng năm, diện tích đất lâm nghiệp cũng khá lớn Tiềm năng lớn nhất của xã là phần diện tích đất có mặt nước chuyên dùng thuộc lòng sông Đà, chiếm phần lớn diện tích đất phi nông nghiệp của xã Để phát triển

Trang 33

kinh tế xã hội, xã tập trung khai thác phần diện tích này vào mục đích có hiệu quả Muốn vậy cần có chính sách và định hướng cụ thể cho các ngành

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

4.1.2.1 Tình hình dân số và lao động

Cùng với đất đai, lao động là yếu tố cần thiết có vai trò đặc biệt trong mọi quá trình sản xuất Vai trò này càng được thể hiện rõ hơn trong sản xuất nông nghiệp khi mà trình độ cơ giới hoá còn ở mức hạn chế Dân số và lao động của xã Chiềng Bằng cũng có nhiều đặc điểm chung với các xã miền núi của huyện Quỳnh Nhai

Năm 2011 dân số toàn xã có: 1.306 hộ; 6.465 nhân khẩu, trong đó: dân tộc Thái là 5.250 người, chiếm 83,4%; dân tộc Kinh là 60 người, chiếm 1,0%; dân tộc La Ha là 988 người, chiếm 15,7% dân số toàn xã Toàn xã có 2.834 lao động chiếm 45% dân số, trong đó: Lao động nông nghiệp 2.607 người chiếm 92%, lao động phi nông nghiệp 227 người chiếm 8,0% Cụ thể qua bảng 4.2 ta thấy:

Trang 34

Bảng 4.2 Tình hình dân số và lao động xã Chiềng Bằng qua 3 năm (2011 - 2013)

Trang 35

Dân số toàn xã năm 2011 có 6.465 nhân khẩu, năm 2013 có 6.645 khẩu, đạt tốc độ tăng bình quân qua ba năm là 1,15% Tổng số hộ của xã năm qua ba năm 2011 - 2013 có tốc độ tăng bình quân là 0,68%, trong đó bình quân hộ nông nghiệp tăng 1,24%, hộ phi nông nghiệp giảm bình quân 2,92%

Tổng số lao động toàn xã có tốc độ tăng bình quân qua ba năm 2011 -

2013 là 2,27%, trong đó lao động nông nghiệp tăng bình quân là 0,49%, chất lượng lao động còn thấp chủ yếu là lao động chưa qua đào tạo, tỷ lệ lao động được đào tạo có kỹ thuật còn rất thấp; lao động phi nông nghiệp tăng bình quân là 0,95% trong đó chủ yếu là cán bộ viên chức, giáo viên, hộ sản xuất công nghiệp và hộ kinh doanh

Số nhân khẩu/hộ vẫn còn ở mức cao và tăng nhẹ qua các năm từ 4,95 năm

2011 lên 4,99 năm 2013 Cùng với đó là số lao động/hộ cũng có sự giao động từ 2,17 năm 2011 tăng lên 2,21 năm 2012 và giảm xuống 2,17 năm 2013

Nhìn chung lực lượng lao động trong xã là khá trẻ (84% ở lứa tuổi từ

18 - 45) Trong thời gian tới để đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của xã nhất là trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước thì việc đào tạo, nâng cao chất lượng trình độ lao động cần được quan tâm và chú trọng đầu tư, đây là vấn đề quan trọng hàng đầu để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao thu nhập ổn định đời sống cho người dân Qua các chỉ tiêu bình quân cho thấy, bình quân nhân khẩu/hộ và bình quân lao động/hộ khá cao và tăng qua các năm Đây cũng là lợi thế về lực lượng lao động của vùng song trước mắt

nó là khó khăn để giải quyết việc làm và phát triển kinh tế của toàn xã

4.1.2.2 Tình hình cơ sở hạ tầng của Chiềng Bằng

Cơ sở hạ tầng có thể nói là nền tảng để phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng của xã Chiềng Bằng Cơ sở hạ tầng của xã phát triển sẽ là động lực thúc đẩy tiềm năng và những thế mạnh của vùng được phát huy Trong những năm gần đây theo chủ trương phát triển xây dựng nông thôn mới hệ thống cơ sở hạ tầng của xã cũng đang dần được đầu tư và phát triển

* Hệ thống đường giao thông:

Trên địa bàn xã hiện có tuyến đường tỉnh lộ 107 chạy qua địa bàn với tổng chiều dài khoảng 6 km Đây là tuyến đường có ý nghĩa cực kỳ quan

Trang 36

trọng đối với xã, nó không những thúc đẩy phát triển kinh tế trong xã mà còn thúc đẩy phát triển các vùng lân cận Hệ thống đường giao thông xã (đường liên bản, liên xã) dài 40 km, đường trục bản, bản ở các điểm dân cư dài 37,4

km, hệ thống đường ngõ, xóm ở các khu dân cư với tổng chiều dài là 24,7 km, hiện là đường đất, chưa được cứng hóa và lầy lội khi mưa

* Hệ thống thuỷ lợi:

Phần lớn diện tích đất trồng lúa của xã và các công trình thuỷ lợi 7,5

km kênh mương của xã đã nằm trong vùng ngập của lòng hồ thuỷ điện Toàn

xã hiện có 9 công trình thuỷ lợi, phục vụ tưới tiêu cho hơn 70 ha ruộng lúa và rau màu các loại, các công trình thuỷ lợi trên địa bàn xã, đã góp phần đáng kể cho việc khuyến khích thâm canh tăng vụ, khai hoang phục hoá, tăng năng suất và chuyển đổi cây trồng trên địa bàn xã

* Hệ thống điện nông thôn:

Nguồn điện cung cấp cho địa bàn xã được cung cấp từ lưới điện quốc gia trong vùng chạy qua Hiện nay trên địa bàn xã có 15/25 bản được sử dụng điện lưới quốc gia thông qua 6 trạm biến áp đảm bảo yêu cầu kỹ thuật Tỷ lệ

hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn đạt 59% Hiện nay trong xã còn 10 bản chưa có điện lưới quốc gia đây là một khó khăn đối với xã

* Về y tế, văn hóa:

Hiện tại xã có 01 trạm y tế, xây dựng theo chương trình di dân TĐC, trạm có 6 cán bộ, gồm: 5 y sỹ và 1 nữ hộ sinh Quy mô và trang thiết bị của trạm y tế còn thiếu, chưa có giường bệnh cho bệnh nhân, xã đã có 25/25 bản

có y tế bản Trạm y tế đã có vườn thuốc nam, tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế đạt 100% Trên địa bàn xã có 2 trường trung học cơ

sở, và có 2 trường tiểu học Nhìn chung cơ sở vật chất để phục vụ giáo dục trong xã còn hạn chế chưa đầy đủ

4.1.3 Tình hình phát triển kinh tế

Trong những năm gần đây nền kinh tế của xã tiếp tục duy trì và tăng trưởng, có sự chuyển biến mới về chất lượng tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp, tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ Cụ thể năm 2013 tỷ trọng ngành nông -

Ngày đăng: 08/04/2015, 10:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Báo cáo tóm tắt: Quy hoạch tổng thể ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030.II. Tài liệu Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030
19. Thủy sản Việt Nam: “Chuyển giao công nghệ Khuyến Nông: Bí quyết “cầm tay chỉ việc” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển giao công nghệ Khuyến Nông: Bí quyết “cầm tay chỉ việc
1. Trần Bích Dung (2005), Tìm hiểu tình hình nuôi cá bè tại huyện Tân Châu, tỉnh An Giang Khác
2. Nguyễn Hữu Hồng, Đỗ Tuấn Khiêm (2004), Giáo trình Khuyến nông, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Khác
3. Nguyễn Hữu Thọ (2007), Bài giảng nguyên lý và phương pháp khuyến nông, Thái Nguyên Khác
4. Chính phủ, Nghị định số 13 - CP ngày 2/3/1993 của Chính phủ ban hành bản quy định về công tác khuyến nông Khác
5. Chính phủ, (2005), Nghị định 56/2005/NĐ - CP ngày 26/4/2005 về khuyến nông, khuyến ngư Khác
6. Chính phủ, Nghị định 02/2010/NĐ - CP ngày 08/01/2010 về khuyến nông khuyến ngư Khác
7. Trung tâm khuyến nông quốc gia (2013), Báo cáo tổng kết 20 năm hoạt động khuyến nông Việt Nam (1993 - 2013) và định hướng hoạt động khuyến nông đến năm 2020 Khác
8. Khuyến nông xã Chiềng Bằng (2011), Kết quả hoạt động khuyến nông năm 2011, và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện công tác năm 2012 Khác
9. Khuyến nông xã Chiềng Bằng (2012), Kết quả hoạt động khuyến nông năm 2012, và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện công tác năm 2013 Khác
10. Khuyến nông xã Chiềng Bằng (2013), Kết quả hoạt động khuyến nông năm 2013, và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện công tác năm 2014 Khác
12. QUYẾT ĐỊNH: Phê duyệt Đề án Khai thác bền vững, có hiệu quả nguồn lợi thủy sản lòng hồ thủy điện Hòa Bình và thủy điện Sơn La Khác
13. UBND xã Chiềng Bằng (2011), Đề án xây dựng Nông thôn mới xã Chiềng Bằng, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La giai đoạn 2012 - 2020 Khác
14. UBND xã Chiềng Bằng (2012), Báo cáo Tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2012; phương Khác
15. UBND xã Chiềng Bằng (2013), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2013; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2014 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Tình hình sử dụng đất đai của xã Chiềng Bằng qua 3 năm (2011 - 2013) - Đánh giá vai trò của công tác khuyến nông trong quá trình phát triển mô hình nuôi cá lồng trên địa bàn xã chiếng bằng, quỳnh nhai, sơn la giai đoạn 2011  2013
Bảng 4.1. Tình hình sử dụng đất đai của xã Chiềng Bằng qua 3 năm (2011 - 2013) (Trang 31)
Bảng 4.2. Tình hình dân số và lao động xã Chiềng Bằng qua 3 năm (2011 - 2013) - Đánh giá vai trò của công tác khuyến nông trong quá trình phát triển mô hình nuôi cá lồng trên địa bàn xã chiếng bằng, quỳnh nhai, sơn la giai đoạn 2011  2013
Bảng 4.2. Tình hình dân số và lao động xã Chiềng Bằng qua 3 năm (2011 - 2013) (Trang 34)
Bảng 4.5. Cơ cấu loài cá nuôi tại xã Chiềng Bằng năm 2013 - Đánh giá vai trò của công tác khuyến nông trong quá trình phát triển mô hình nuôi cá lồng trên địa bàn xã chiếng bằng, quỳnh nhai, sơn la giai đoạn 2011  2013
Bảng 4.5. Cơ cấu loài cá nuôi tại xã Chiềng Bằng năm 2013 (Trang 41)
Bảng 4.10. Kết quả xây dựng mô hình trình diễn cá lồng tại xã qua 3 năm - Đánh giá vai trò của công tác khuyến nông trong quá trình phát triển mô hình nuôi cá lồng trên địa bàn xã chiếng bằng, quỳnh nhai, sơn la giai đoạn 2011  2013
Bảng 4.10. Kết quả xây dựng mô hình trình diễn cá lồng tại xã qua 3 năm (Trang 49)
Bảng 4.11. Đánh giá của nông dân về hiệu qu ả mô hình trình diễn về cá lồng - Đánh giá vai trò của công tác khuyến nông trong quá trình phát triển mô hình nuôi cá lồng trên địa bàn xã chiếng bằng, quỳnh nhai, sơn la giai đoạn 2011  2013
Bảng 4.11. Đánh giá của nông dân về hiệu qu ả mô hình trình diễn về cá lồng (Trang 50)
Bảng 4.12. Đánh giá của người dân về công tác đi tham quan - Đánh giá vai trò của công tác khuyến nông trong quá trình phát triển mô hình nuôi cá lồng trên địa bàn xã chiếng bằng, quỳnh nhai, sơn la giai đoạn 2011  2013
Bảng 4.12. Đánh giá của người dân về công tác đi tham quan (Trang 52)
Bảng 4.15. Yếu tố giúp hộ nuôi nâng cao thu nhập và mức sống của hộ - Đánh giá vai trò của công tác khuyến nông trong quá trình phát triển mô hình nuôi cá lồng trên địa bàn xã chiếng bằng, quỳnh nhai, sơn la giai đoạn 2011  2013
Bảng 4.15. Yếu tố giúp hộ nuôi nâng cao thu nhập và mức sống của hộ (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w