1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận môn xây dựng chính sách an toàn thông tin Cisco IDS IPS

21 1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 487,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước các nguy cơ xâm nhập của những kẻ tấn công nhằm tìm kiếm dữ liệu mật của công ty,doanhnghiệp,tổ chức, hay một quốc gia nào đó thì hệ thống IDSIntrusion Detection System ra đời để

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TPHCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN KHOA MẠNG MÁY TÍNH và TRUYỀN THÔNG

Lớp: MMT-TT02

Trang 2

Tp Hồ Chí Minh - Tháng 04 Năm 2012

MỤC LỤC

Chương 1:Giới thiệu khái quát về hệ thống ngăn ngừa và phát hiện xâm nhập IDS/IPS 3

Chương 2: Tổng quan IDS 4

2.1 Giới thiệu tổng quan về hệ thống IDS 4

2.1.1 Khái niệm về IDS/IPS 4

2.1.2 Chức năng 4

2.1.2.1 Các ứng dụng cơ bản 4

2.1.2.2 Các tính năng 5

2.1.2.3 Cấu trúc và kiến trúc 5

2.2 Phân loại 6

2.2.1 Network based IDS – NIDS 6

2.2.2 Host based IDS – HIDS 7

2.2.3 Wireless IDS/IPS 8

2.2.4 Network Behavior Analysis system (NBAS) 10

2.2.5 Honeypot IDS 10

2.2.6 Sự khác nhau 10

2.3 Cơ chế hoạt động 11

Chương 3 Tổng Quan IPS 11

3.1 Định nghĩa IPS 11

3.2 Chức năng của IPS 11

3.3 Kiến trúc chung của các hệ thống IPS 12

3.3.1 Module phân tích luồng dữ liệu 12

3.3.2 Modul phát hiện tấn công 12

3.3.3 Modul phản ứng 13

3.4 Phân loại hệ thống IPS 14

3.4.1 IPS ngoài luồng(Promiscuous Mode IPS) 14

3.4.2 IPS trong luồng (In-line IPS) 14

4 Mô Hình Triển Khai Thực Tế 15

Trang 3

Chương 1:Giới thiệu khái quát về hệ thống ngăn ngừa và phát hiện xâm nhập IDS/IPS

Ngày nay, nhu cầu trao đổi dữ liệu qua hệ thống mạng máy tính trở thành vô cùng quan trọng trongmọi hoạt động của xã hội Vấn đề bảo đảm an ninh, an toàn cho thông tin trên mạng ngày càng là mốiquan tâm hàng đầu của các công ty, các tổ chức, các nhà cung cấp dịch vụ Cùng với thời gian, các kỹthuật tấn công ngày càng tinh vi hơn khiến các hệ thống an ninh mạng trở nên mất hiệu quả Các hệ thống

an ninh mạng truyền thống thuần túy dựa trên các tường lửa nhằm kiểm soát luồng thông tin ra vào hệthống mạng một cách cứng nhắc dựa trên các luật bảo vệ cố định Với kiểu phòng thủ này, các hệ thống anninh sẽ bất lực trước kỹ thuật tấn công mới, đặc biệt là các cuộc tấn công nhằm vào điểm yếu của hệthống Trước các nguy cơ xâm nhập của những kẻ tấn công nhằm tìm kiếm dữ liệu mật của công ty,doanhnghiệp,tổ chức, hay một quốc gia nào đó thì hệ thống IDS(Intrusion Detection System ) ra đời để phát hiện

sự xâm nhập trái phép của kẻ tấn công thông qua việc kiểm soát lưu lượng giao thông của hệ thống mạng IDS chỉ kiểm tra và thông báo khi hệ thống có sự bất thường hoặc trái với một định nghĩa mà người dùng đặt ra cho hệ thống , IDS không thể thực hiện việc ngăn chặn ngay khi phát hiện xâm nhập xảy ra để thực hiện an ninh cho hệ thống mạng thì IPS ra đời

Hệ thống phòng chống xâm nhập IPS là một kỹ thuật an ninh được kết hợp các ưu điểm của kỹ thuậttường lửa với hệ thống phát hiện xâm nhập IDS, có khả nǎng phát hiện các cuộc tấn công và tự động ngǎnchặn các cuộc tấn công đó

Hệ thống phát hiện xâm nhập cứng(cisco)

Cisco cung cấp nhiều loại thiết bị phát hiện xâm nhập, có nhiều nền cảm biến cho phép quyết định vị trítốt nhất để giám sát hoạt động xâm nhập cho hệ thống Cisco cung cấp các nền tảng cảm biến sau đây:

* Cisco Adaptive Security Appliance nâng cao Kiểm tra và phòng chống dịch vụ bảo vệ Module (ASAAIP SSM): Cisco ASA AIP SSM sử dụng công nghệ tiên tiến và kiểm tra công tác phòng chống để cungcấp dịch vụ hiệu năng bảo mật cao, chẳng hạn như các dịch vụ công tác phòng chống xâm nhập và chốngtiên tiến-x dịch vụ, được xác định như chống virus và spyware Cisco ASA AIP SSM sản phẩm bao gồmmột Cisco ASA AIP SSM-10 mô-đun với 1-GB bộ nhớ, một Cisco ASA AIP SSM-20 mô-đun với 2-GB

bộ nhớ, và một Cisco ASA AIP SSM-40 mô-đun

* Cisco IPS 4.200 loạt các cảm biến: Cisco IPS 4.200 loạt các cảm biến đáng kể để bảo vệ mạng của bạnbằng cách giúp phát hiện, phân loại, và ngăn chặn các mối đe dọa, bao gồm cả sâu, phần mềm gián điệp vàphần mềm quảng cáo virus mạng, và lạm dụng ứng dụng Sử dụng Cisco IPS Sensor Software Version 5.1,Cisco IPS giải pháp kết hợp các dịch vụ công tác phòng chống xâm nhập nội tuyến với các công nghệ tiêntiến để cải thiện tính chính xác Kết quả là, các mối đe dọa khác có thể được ngừng lại mà không có nguy

cơ giảm lưu lượng mạng hợp pháp Cisco IPS Sensor Software bao gồm khả năng phát hiện tăng cườngkhả năng mở rộng và nâng cao, khả năng phục hồi, và vv

* Cisco 6.500 Series Intrusion Detection System Services Module (2): 6.500 Catalyst Series

IDSM-2 là một phần của giải pháp của Cisco IPS Nó hoạt động kết hợp với các thành phần khác để bảo vệ dữliệu của bạn có hiệu quả cơ sở hạ tầng Với sự phức tạp gia tăng của các mối đe dọa an ninh, việc đạt đượccác giải pháp bảo mật mạng hiệu quả xâm nhập là rất quan trọng để duy trì một mức độ cao của bảo vệ.thận trọng bảo vệ ,đảm bảo liên tục kinh doanh và giảm thiểu các hoạt động tốn kém cho việc phát hiệnxâm nhập

Trang 4

* Cisco IPS Advance Integration Module (AIM): Cisco cung cấp một loạt các giải pháp IPS; Cisco IPSAIM cho Cisco 1841 Integrated Services Router và Cisco 2800 và 3.800 Series Integrated ServicesRouters được làm cho nhỏ và vừa kinh doanh( small and medium-sized business (SMB) ) và các môitrường văn phòng chi nhánh Cisco IPS Sensor Phần mềm chạy trên Cisco IPS AIM cung cấp nâng cao,doanh nghiệp-class IPS chức năng và đáp ứng ngày càng tăng nhu cầu bảo mật của các văn phòng chinhánh Cisco IPS AIM có quy mô trong hoạt động để phù hợp với văn phòng chi nhánh với hệ thống mạngWAN yêu cầu băng thông ngày hôm nay và trong tương lai, bởi vì chức năng IPS là chạy trên dành riêngcho CPU của nó, vì thế không chiếm CPU của router Đồng thời, sự tích hợp của IPS lên một IntegratedServices Router Cisco giữ chi phí thấp và giải pháp hiệu quả cho việc kinh doanh của tất cả các kích cỡ.

Chương 2: Tổng quan IDS

2.1 Giới thiệu tổng quan về hệ thống IDS

Khái niệm phát hiện xâm nhập đã xuất hiện qua một bài báo của James Anderson cách đây khoảng 25 năm Khi đó người ta cần hệ thống phát hiện xâm nhập – IDS (Intrusion Detection System) với mục đích

là dò tìm và nghiên cứu các hành vi bất thường và thái độ của người sử dụng trong mạng, phát hiện ra các việc lạm dụng đặc quyền để giám sát tài sản hệ thống mạng

Các nghiên cứu về hệ thống phát hiện xâm nhập được nghiên cứu chính thức từ năm 1983 đến năm 1988 trước khi được sử dụng tại mạng máy tính của không lực Hoa Kỳ Cho đến tận năm 1996, các khái niệm IDS vẫn chưa phổ biến, một số hệ thống IDS chỉ được xuất hiện trong các phòng thí nghiệm và viện nghiên cứu Tuy nhiên trong thời gian này, một số công nghệ IDS bắt đầu phát triển dựa trên sự bùng nổ của công nghệ thông tin

Đến năm 1997 IDS mới được biết đến rộng rãi và thực sự đem lại lợi nhuận với sự đi đầu của công ty ISS, một năm sau đó, Cisco nhận ra tầm quan trọng của IDS và đã mua lại một công ty cung cấp giải pháp IDS tên là Wheel

2.1.1 Khái niệm về IDS/IPS

Intrusion Detection System (IDS) là một hệ thống giám sát hoạt động trên hệ thống mạng và phân tích để tìm ra các dấu hiệu vi phạm đến các quy định bảo mật máy tính, chính sách sử dụng và các tiêu chuẩn an toàn thông tin Các dấu hiệu này xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau, như lây nhiễm Malwares, Hackers xâm nhập trái phép, người dùng cuối truy nhập vào các tài nguyên không được phép truy cập, Tìm hiểu thêm về IDS: http://en.wikipedia.org/wiki/Intrusion_detection_system

Intrusion Prevention System (IPS) là một hệ thống bao gồm cả chức năng phát hiện xâm nhập (Intrusion Detection – ID) và khả năng ngăn chặn các xâm nhập trái phép dựa trên sự kết hợp với các thành phần khác như Antivirus, Firewall hoặc sử dụng các tính năng ngăn chặn tích hợp

Tìm hiểu thêm về IPS: http://en.wikipedia.org/wiki/Intrusion_prevention_system

2.1.2 Chức năng

2.1.2.1 Các ứng dụng cơ bản

Nhận diện các nguy cơ có thể xảy ra

Ghi nhận thông tin, log để phục vụ cho việc kiểm soát nguy cơ

Nhận diện các hoạt động để thăm dò hệ thống

Trang 5

Nhận diện các khuyết điểm của chính sách bảo mật.

Ngăn chặn vi phạm chính sách bảo mật

2.1.2.2 Các tính năng

Lưu trư thông tin liên quan đến các đối tượng giám sát

Cảnh báo các sự kiện quan trọng liên quan đến đối tượng giám sát

Là 1 thiết bị trung tâm dùng thu nhận các thông tin từ Sensor / Agent và quản lý chúng Một số

Management Server có thể thực hiện việc phân tích các thông tin sự việc được cung cấp bởi Sensor / Agent và có thể nhận dạng được các sự kiện này dù các Sensor / Agent đơn lẻ không thể nhận diện

Sensor nhận dữ liệu thô từ ba nguồn thông tin chính: Kiến thức cơ bản (knowledge base) của IDS, Syslog

và Audit Trail Các thông tin này tạo cơ sở cho quá trình ra quyết định sau này

Sensor được tích hợp với các thành phần chịu trách nhiệm thu thập dữ liệu - một Event Generator (EG) Dựa vào các chính sách tạo sự kiện nó xác định chế độ lọc thông tin thông báo sự kiện

Các EG (hệ điều hành, mạng, ứng dụng) tạo ra một chính sách nhất quán tập các sự kiện có thể là Log hoặc Audit của các sự kiện của hệ thống, hoặc các gói tin Điều này, thiết lập cùng với các thông tin chính sách có thể được lưu trữ hoặc là trong hệ thống bảo vệ hoặc bên ngoài Trong những trường hợp nhất định,

Trang 6

dữ liệu không được lưu trữ mà được chuyển trực tiếp đến các phân tích (thông thường áp dụng với các gói packet).

Các hệ thống IDS/IPS có thể được triển khai theo 2 hướng là tập trung và phân tán Một ví dụ cụ thể cho hướng triển khai tập trung là tích hợp IDS/IPS cùng với các thành phần an ninh khác như firewall Triển khai phân tán (Distributed IDS) bao gồm nhiều hệ IDS/IPS trong 1 hệ thống mạng lớn, được kết nối với nhau nhằm nâng cao khả năng nhận diện chính xác xâm nhập và đưa ra phản ứng thích hợp

2.2 Phân loại

2.2.1 Network based IDS – NIDS

Thường dùng để giám sát, phân tích hoạt động hệ thống mạng trong 1 segment, phân tích mạng, các giao thức ứng dụng từ đó nhận diện các hoạt động khả nghi Thường được triển khai ở các biên mạng (NetworkBorder)

Hệ thống NIDS/IPS thường được triển khai trong 1 đoạn / mạng con riêng phục vụ cho mục đích quản trị

hệ thống, trong trường hợp không có mạng quản trị riêng thì 1 mạng riêng ảo (VLAN) là cần thiết để bảo

vệ các kết nối giữa các hệ NIDS/IPS

Bên cạnh việc lựa chọn vị trí mạng phù hợp cho các thành phần của hệ NIDS/IPS, lựa chọn vị trí phù hợp cho các Sensor cũng là 1 vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến khả năng detection của hệ NIDS/IPS

Trong hệ NIDS/IPS, Sensors thường gặp ở 2 dạng là tích hợp phần cứng và phần mềm

a Các kiểu triển khai NIDS

Có hai kiểu thường sử dụng:

Sensor thẳng hàng thường được triển khai tại vị trí tương tự với firewall và các thiết bị bảo mật khác, ranh giới giữa các mạng

Sensor thẳng hàng còn có thể được triển khai tại các vùng mạng kém bảo mật hơn hoặc phía trước các thiết bị bảo mật hoặc firewall để bảo vệ và giảm tải cho các thiết bị này

a2 Thụ động (Passive)

Sensor kiểu thụ động được triển khai sao cho nó có thể giám sát 1 bản sao của các lưu lượng trên mạng Thường được triển khai giám sát các vị trí quan trọng trong mạng hư, ranh giới giữa các mạng, các đoạn mạng quan trọng (Vd: Server Farm hoặc DMZs)

Sensor thụ động có thể giám sát lưu lượng mạng qua nhiều cách như Spanning Port hoặc Mirror Port,

Trang 7

Network Tap hoặc IDS Loadbalancer.

b Khả năng bảo mật của hệ thống NIDS/IPS

- Khả năng thu thập thông tin:

Hoạt động thăm dò và tấn công trên các lớp ứng dụng (L7), lớp vận chuyển (L4),

Các dịch vụ ứng dụng không mong đợi

Vi phạm chính sách

- Khả năng ngăn chặn:

Kiểu thụ động: Ngắt phiên TCP hiện tại

Kiểu thẳng hàng: Thực hiện tác vụ firewall thẳng hàng, điều tiết băng thông sử dụng, loại bỏ các nội dung gây hại

Ngoài ra chức năng ngăn chặn còn có thể thay đổi cấu hình của 1 số thiết bị bảo mật cũng như thực thi cácứng dụng thứ 3 hoặc Scripts

Lưu ý:

Khi triển khai NIDS/IPS, cần lưu ý là phải triển khai các Sensor ở dạng ẩn (Stealth mode) Trong dạng này, các interface của Sensor không được gán địa chỉ IP (trừ interface quản lý) để tránh việc khởi tạo kết nối từ các host khác nhằm ẩn Sensor khỏi sự phát hiện của kẻ tấn công

Điểm yếu của hệ thống NIDS/IPS chính là việc nó rất dễ bị ảnh hưởng bởi nhiều loại tấn công liên quan đến khối lượng lưu lượng mạng lớn (large volume of network traffic) và kiến trúc Single-point of Failure khi triển khai Sensor kiểu thẳng hàng

Trong thực tế, NIDS/IPS thường được sử dụng tại biên mạng nhằm phát hiện các dấu hiệu tấn công và hạnchế các tấn công này ở mức network Đối với những máy chủ hoặc máy client quan trọng, việc bổ sung HIDS cho các máy này là cần thiết để tăng cường khả năng bảo mật khi kết hợp với các hệ NIDS trong cùng hệ thống

c Các sản phẩm đại diện

Snort, ISS, Juniper IDS, Tipping Point IDS, Trustware ipAgent, Cisco IPS, Reflex Security,

2.2.2 Host based IDS – HIDS

Được triển khai trên từng host,thông thường là 1 software hoặc 1 agent, mục tiêu là giám sát các tính chất

cơ bản, các sự kiện liên quan đến các thành phần này nhằm nhận diện các hoạt động khả nghi Host-based IDS/IPS thường được triển khai trên các host có tính chất quan trọng (public servers, sensitive data

servers), hoặc 1 dịch vụ quan trọng (trường hợp đặc biệt này được gọi là application-based IDS/IPS)

Trang 8

Quá trình triển khai các agent HIDS/IPS thường đơn giản do chúng là một phần mềm được cài đặt trực tiếp lên host Application-based agent thường được triển khai thẳng hàng ngay phía trước host mà chúng bảo vệ.

Một trong những lưu ý quan trọng trong việc triển khai hệ thống Host-based IDS/IPS là cân nhắc giữa việccài đặt agent lên host hay sử dụng agent-based appliances

Trên phương diện phát hiện và ngăn chặn xâm nhập, việc cài đặt agent lên host được khuyến khích vì agent tương tác trực tiếp với các đặc tính của host và qua đó có thể phát hiện và ngăn chặn 1 cách hiệu quảhơn Tuy nhiên, do agent thường chỉ tương thích với 1 số hệ điều hành nhất định nên trong trường hợp nàyngười ta sử dụng thiết bị Một lý do khác để sử dụng thiết bị là việc cài đặt agent lên host có thể ảnh hưởngđến performance của host

a Khả năng bảo mật của hệ thống HIDS/IPS

- Khả năng ghi log

- Khả năng phát hiện:

Phân tích mã (phân tích hành vi mã, nhận diện buffer-overflow, giám sát hàm gọi hệ thống, giám sát danh sách ứng dụng và hàm thư viện)

Phân tích và lọc lưu lượng mạng

Giám sát filesystem (kiểm tra tính toàn vẹn,thuộc tính, truy cập của file)

Phân tích log

Giám sát cấu hình mạng

- Khả năng ngăn chặn:

Phân tích mã: ngăn chặn thực thi mã độc

Phân tích và lọc lưu lượng mạng: ngăn chặn truy cập, lưu mã độc, chặn các dịch vụ hoặc giao thức không được phép

Giám sát filesystem: ngăn chặn việc truy cập, thay đổi filesystem

- Các khả năng bảo vệ khác: Ngăn chặn truy cập đến các removeable-media, củng cố bảo mật cho host, giám sát trạng thái các tiến trình,

Trang 9

a Các kiểu thường gặp của Wireless Sensor

Chúng ta thường bắt gặp WS dưới dạng 3 hình thức chính sau:

* Chuyên biệt (Dedicated)

Thường ở dạng thụ động, được vận hành dưới dạng giám sát tần số phát (radio requency monitoring mode), được triển khai theo 2 dạng là cố định (thiết bị) và di động (phần mềm hoặc thiết bị)

* Tích hợp trong Access Point

* Tích hợp trong Wireless switch

Vấn đề vị trí triển khai Wireless IDS/IPS là 1 vấn đề cơ bản, khác biệt hoàn toàn so với các loại Sensor trong các hệ thống NIDS/IPS hay HIDS/IPS do đặc thù của mạng Wireless Thông thường các Wireless IDS/IPS thường được triển khai ở các khu vực mở của hệ thống mạng (khu vực khách, công cộng, ), ở các vị trí có thể giám sát toàn bộ vùng sóng của mạng Wireless, hay được triển khai để giám sát trên 1 số băng tần và kênh xác định

b Hệ thống NIDS/IPS cung cấp các khả năng về bảo mật sau:

- Khả năng bảo mật

- Khả năng thu thập thông tin:

Nhận diện thiết bị Wireless

Nhận diện mạng Wireless

- Khả năng ghi log

- Khả năng nhận diện:

Nhận diện các mạng và thiết bị Wireless trái phép

Nhận diện các thiết bị Wireless kém bảo mật

Nhận diện các mẫu sử dụng bất thường

Nhận diện các hoạt động của wireless scanner

Nhận diện các tấn công từ chối dịch vụ DoS qua cơ chế phân tích trạng thái giao thức (Stateful protocol analysis) và nhận diện bất thường (Abnormaly detection)

Nhận diện các tấn công đóng giả và Man-in-the-Middle

Hệ thống Wireless IDS/IPS có khả năng xác định vị trí vật lý của mối đe dọa được nhận diện bằng phươngpháp đo tam giác ( triangulation ) dựa vào mức tín hiệu từ mối đe dọa đến Sensor và từ đó tính ra được vị trí tương đối của mối đe dọa đối với mỗi Sensor

- Khả năng ngăn chặn:

Ngắt kết nối wireless

Tác động đến switch để chặn kết nối từ Access Point hoặc Station nghi ngờ là nguồn tấn công,

Tuy nhiên, cũng như mạng Wireless, Wireless IDS/IPS cũng rất nhạy cảm với các dạng tấn công từ chối dịch vụ cũng như các tấn công sử dụng kỹ thuật lẩn tránh ( evasion techniques )

c Các sản phẩm đại diện

Trang 10

WIDZ, AirMagnet, AirDefense, Snort-Wireless,

2.2.4 Network Behavior Analysis system (NBAS)

Là 1 dạng NIDS/IPS được triển khai trong hệ thống mạng nhằm nhận diện các threats tạo ra các luồng traffic bất thường trong hệ thống ( DDoS, Malwares… ) Thường được dùng để giám sát luồng traffic trong hệ thống nội bộ cũng như có thể giám sát luồng traffic giữa hệ thống trong và các hệ thống ngoài.Khác biệt giữa NBAS và NIDS/IPS ở chỗ NBAS phân tích lưu lượng mạng hoặc các thống kê trên lưu lượng mạng để nhận diện các luồng lưu lượng bất thường

Hệ thống NBAS có thể được triển khai dưới 2 dạng là thụ động và thẳng hàng Với kiểu triển khai thụ động, được triển khai tại các vị trí cần giám sát như ranh giới mạng, các đoạn mạng quan trọng Với kiểu thẳng hàng, tương tự như NIDS/IPS, có thể triển khai sát với firewall biên, thường là phía trước để giảm thiểu số lượng các tấn công đến có thể làm quá tải firewall biên

2.2.5 Honeypot IDS

Là 1 dạng IDS dựa trên phương pháp “mồi” & “bẫy”, tạo ra các hệ thống giả lập tương tự các hệ thống chính nhằm chuyển hướng tấn công của đối tượng vào hệ thống giả lập này từ đó quan sát dấu vết và truy vết tấn công

2.2.6 Sự khác nhau

Hiện nay, Công nghệ của IDS đã được thay thế bằng các giải pháp IPS Nếu như hiểu đơn giản, ta có thể xem như IDS chỉ là một cái chuông để cảnh báo cho người quản trị biết những nguy cơ có thể xảy ra tấn công Dĩ nhiên ta có thể thấy rằng, nó chỉ là một giải pháp giám sát thụ động, tức là chỉ có thể cảnh báo màthôi, việc thực hiện ngăn chặn các cuộc tấn công vào hệ thống lại hoàn toàn phụ thuộc vào người quản trị

Vì vậy yêu cầu rất cao đối với nhà quản trị trong việc xác định các lưu lượng cần và các lưu lượng có nghi vấn là dấu hiệu của một cuộc tấn công Và dĩ nhiên công việc này thì lại hết sức khó khăn Với IPS, người quản trị không nhũng có thể xác định được các lưu lượng khả nghi khi có dấu hiệu tấn công mà còn giảm thiểu được khả năng xác định sai các lưu lượng Với IPS, các cuộc tấn công sẽ bị loại bỏ ngay khi mới có dấu hiệu và nó hoạt động tuân theo một quy luật do nhà Quản trị định sẵn

IDS hiện nay chỉ sử dụng từ một đến 2 cơ chế để phát hiện tấn công Vì mỗi cuộc tấn công lại có các cơ chế khác nhau của nó Vì vậy cần có các cơ chế khác nhau để phân biệt Với IDS, do số lượng cơ chế là ít nên có thể dẫn đến tình trạng không phát hiện ra được các cuộc tấn công với cơ chế không định sẵn, dẫn đến khả năng các cuộc tấn công sẽ thành công, gây ảnh hưởng đến hệ thống Thêm vào đó, do các cơ chế của IDS là tổng quát, dẫn đến tình trạng báo cáo nhầm, cảnh báo nhầm, làm tốn thời gian và công sức của nhà quản trị Với IPS thì được xây dựng trên rất nhiều cơ chế tấn công và hoàn toàn có thể tạo mới các cơ chế phù hợp với các dạng thức tấn công mới nên sẽ giảm thiểu được khả năng tấn công của mạng, thêm

đó, độ chính xác của IPS là cao hơn so với IDS

Nên biết rằng với IDS, việc đáp ứng lại các cuộc tấn công chỉ có thể xuất hiện sau khi gói tin của cuộc tấn công đã đi tới đích, lúc đó việc chống lại tấn công là việc nó gửi các yêu cầu đến các máy của hệ thống để xoá các kết nối đến máy tấn công và máy chủ, hoặc là gửi thông tin thông báo đên tường lửa ( Firewall) đểtường lửa thực hiện chức năng của nó Tuy nhiên, việc làm này đôi khi lại gây tác động phụ đến hệ thống

Ví dụ như nếu Đối tượng giả mạo (sniffer) của một đối tác, ISP, hay là khách hàng, để tạo một cuộc tấn công từ chối dịch vụ thì có thể thấy rằng, mặc dù IDS có thể chặn được cuộc tấn công từ chối dịch vụ nhưng nó cũng sẽ Block luôn cả IP của khách hàng, của ISP, của đối tác, như vậy thiệt hại vẫn tồn tại và coi như hiệu ứng phụ của DoS thành công mặc dù cuộc tấn công từ chối dịch vụ thất bại Nhưng với IPS

Ngày đăng: 08/04/2015, 08:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w