1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Sử dụng phương pháp hệ thống kiến thức cơ bản của phần làm văn đọc văn và lý luận văn học trong chương trình ngữ văn THPT

40 1,5K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 234 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần này về lí thuyết để làm bài không xa lạ gì đối với đối tượng HS giỏi, nhưng để có được một bài văn hay, sâu sắc người giáo viên phải dạy cho học sinh: - Nhận dạng rõ ràng kiểu bài,

Trang 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:

"SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP HỆ THỐNG KIẾN THỨC CƠ BẢN CỦA PHẦN LÀM VĂN, ĐỌC VĂN, VÀ LÝ LUẬN VĂN HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGƯC VĂN THPT ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ BỒI DƯỢNG HỌC SINH GIỎI TỈNH LỚP 12 MÔN

NGỮ VĂN BAN CƠ BẢN"

Trang 2

A.Đặt vấn đề:

I.Cơ sở lí luận:

Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh có nói “ Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích

trăm năm trồng người”và Đảng, Nhà nước ta luôn xác định Giáo dục là quốc sách hàng

đầu.Đó là chiến lược lâu dài để xây dựng và phát triển đất nước, nhất là trong quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay Vì thế ngoài chất lượng giáodục đại trà, chúng ta rất chú trọng đên chất lượng mũi nhọn nhằm khuyến khích tài năngqua hình thức tổ chức các trường chuyên, lớp chọn, tổ chức các kì thi học sinh gỏi từ cấp

trường đến cấp quốc gia để chọn nhân tài Bởi theo Thân Nhân Trung “ Hiền tài là

nguyên khí của quốc gia”.

Môn Ngữ văn là môn khoa học xã hội cơ bản chiếm vị trí quan trọng trong nhà trường.Ngay từ khi lọt lòng mẹ mỗi người con đã được tiếp cận với những tác phẩm văn chươngngọt ngào, kì thú qua lời ru, lờ kể của bà, của mẹ, của chị Vào mẫu giáo con trẻ vẫn thẻthọt câu được câu chăng qua những vần thơ, những câu chuyện cổ tích của cô giáo Vàkhi vào bậc học tiểu học rồi lên trung học các em học sinh không chỉ làm quen mà đượctiếp cận và tìm hiểu sâu các tác phẩm văn học, tùy cấp học mà tiếp cận từ dễ đến khó.Vậy mới thấy chức năng giáo dục của tác phẩm văn học là không nhỏ Nhất là trong hoàncảnh xã hội như hiện nay, khi nền kinh tế thị trường diễn ra mạnh mẽ, khoa học kĩ thuậtphát triển đến chóng mặt thì vấn đề kĩ năng sống đặt ra cho học sinh qua mỗi bài học lạicàng cần thiết hơn bao giờ hết Song dạy Ngữ văn cho học sinh không chỉ là giáo dục đờisống tâm hồn cho các em, mà còn phải dạy các em cách tư duy mạch lạc, phân tích mộtvấn đề thấu đáo, qua đó làm toát lên tư tưởng, tình cảm, ý đồ nghệ thuật mà nhà vănmuốn gửi gắm

Trang 3

Nhưng rồi trong điều kiện kinh tế, xã hội phát triển như hiện nay, số lượng học sinhchuyên tâm và có hứng thú học môn này rất ít, các em chỉ học đối phó, còn dành thờigian để học các môn khoa học tự nhiên Điều đó là rất thực tế với xu thế chọn nghề ở các

em Nhưng không phải vì thế mà người giáo viên dạy bộ môn này buông xuôi mà chúngtôi luôn có cái tâm nghề nghiệp, đó là dạy làm sao cho có hiệu quả và gây được hứng thúhọc tập cho các em Nhất là hàng năm môn học này là một trong những môn thi học sinhgiỏi các cấp

II Cơ sở thực tiễn.

2.Khó Khăn:

- Thực trạng chung hiện nay học sinh ít chọn ban C,D để học và thi chọn nghề nghiêp.Các em chọn học ban KHTN để chọn nghề cho phù hợp với xu thế thời đại.Vì thế HS chỉhọc các môn ban KHXH trong đó có môn văn một cách qua quýt để đối phó cho xongchuyện, có học cũng là gượng ép, thiếu hứng thú, non sở thích

- Thực tế ở trường THPT Hậu Lộc 3 , 100% HS đăng kí học ban KHTN, việc chọn đượcmột đội tuyển đi thi học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 12 quả là hết sức khó khăn Trường

Trang 4

nằm trên vùng bán sơn địa của huyện Hậu Lộc, công tác xã hội hóa giáo dục học tập cònkém, chất lượng mũi nhọn cực kì hạn chế Những em có năng khiếu văn một chút, có thể

tư duy được thì lại rơi vào những học sinh học tốt môn khoa học tự nhiên Mà trong kì thihọc sinh giỏi cấp tỉnh không cho phép một học sinh có thể dự thi hai môn, vì thế khi chọnmôn thi các em không chọn môn Ngữ văn mà chọn môn KHTN liên quan đế quyền lợicủa mình trong kì thi Đại học – Cao đẳng sắp tới Vậy nên người lãnh đội phải chọnnhững học sinh ở tốp dưới để bồi dưỡng mà không hi vọng mang lại hiệu quả cao

- Chọn được đội tuyển rồi,thời gian bồi dưỡng cũng rất hạn chế ( Khoảng từ 6- 10 buổi),những HS này vừa phải học bồi dưỡng Toán, Lí, Hóa để thi Đại học- cao đẳng, vừa ônluyện để thi học sinh giỏi môn Ngữ văn …

2 Mục đích: Với đề tài nghiên cứu này bản thân tôi muốn sử dụng phương pháp hệ thốngkiến thức làm văn, đọc văn để nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi tỉnh môn Ngữvăn lớp 12 - ban cơ bản

- Thực tế bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn hàng năm ở đơn vị chúng tôi như đãtrình bày ở trên gặp rất nhiều khó khăn Vì thế bản thân những người dạy phải giúp họcsinh nắm những vấn đề thật cụ thể, chi tiết, có hệ thống thì các em mới dễ nắm bắt, nhớlâu và biết cách xử lí đề ra

B.Giải quyết vấn đề:

I Xác định cấu trúc đề thi:

Trước khi cung cấp kiến thức và cách làm bài cho học sinh người giáo viên phải giúphọc sinh nắm được cấu trúc đề thi học sinh giỏi của bộ môn Ngữ văn Cụ thể là: Đề đượcchia làm hai phần:

1 Nghị luận xã hội ( 6 điểm)

Trang 5

2 Nghị luận văn học ( 14 điểm) được chia làm hai câu.

II Hệ thống những đơn vị kiến thức sẽ ra đề thi.

Phần này thực tế hàng năm Sở giáo dục và đào đạo đã có công văn hướng dẫn và giáoviên phải cung cấp cho học sinh Trong đó nhấn mạnh cho các em rõ: Trọng tâm làchương trình lớp 12, và các bài đọc thêm vẫn thi học sinh giỏi

IV Hệ thống lại các kiểu làm bài văn nhị luận.

Trong quá trình học tập ở nhà trường nhất là bậc phổ thông, đối với môn Ngữ văn họcsinh được tiếp cận, thực hành và đánh giá qua các kì thi chủ yếu là văn nghị luận Đó làcái đích cuối cùng của bộ môn này vì qua đó người học thể hiện được cách vận dụng kiếnthức và kĩ năng làm bài của mình để cho ra sản phẩm là một văn bản hoàn chỉnh Vậynên dù ở dạng nghị luận xã hội hay nghị luận văn học với nhiều kiểu bài khác nhau giáoviên phải rèn cho học sinh kĩ năng làm một bài văn nghị luận Với bất kì đối tượng họcsinh nào cũng phải rèn cho học sinh kĩ năng làm bài văn nhưng đối với đối tượng là họcsinh giỏi thì cần yêu cầu cao hơn để các em làm bài một cách khoa học: vừa sâu, rộngtrong kiến thức vừa chặt chẽ, thống nhất trong hình thức, kết cấu

- Xác định được luận điểm của đề bài và triển khai, phát triển được luận điểm đó

- Kĩ năng lập luận và vận dụng một cách nhuần nhuyễn khi kết hợp các thao tác lập luậnnhư giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh - đối chiếu, phản bác

- Kĩ năng tìm ý, lập dàn ý để khi làm bài đúng trọng tâm, đủ ý, không lan man, xa đề, lạcđề

- Kĩ năng viết mở bài, thân bài, kết bài:

+ Mở bài:Là ấn tượng đầu tiên của một bài văn, tạo sức hút lớn cho người đọc và phải làsao đanh như tiếng pháo Để làm được điều đó, giáo viên phải yêu cầu học sinh khi viết

Trang 6

mở bài cần phải đạt ba yêu cầu sau: Dẫn dắt, nêu trọng tâm và giới hạn vấn đề ngắn gọn;Gây được sự chú ý của người đọc về vấn đề mình viết; Viết tự nhiên, giản dị nhưng sinhđộng, độc đáo , tránh sự cầu kì giả tạo, sáo rỗng

+ Thân bài: Có nhiệm vụ làm sáng tỏ vấn đề đặt ra ở phần mở bài, mở bài gồm nhiềuđoạn văn Mỗi đoạn văn sẽ ôm chứa nội dung của một luận điểm để làm sáng tỏ cho luận

đề trong đó mỗi luận điểm được phát triển bằng các luận cứ, được làm sáng tỏ bằng các lí

lẽ và dẫn chứng cụ thể Và các đoạn văn này được viết bằng nhiều cách khác nhau nhưsong hành, móc xích, diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp nhưng phải có sự liên kết chặtchẽ với nhau cả về nội dung lẫn hình thức

+ Kết bài: Để có một kết bài hay ngoài phải đảm bảo được việc tổng kết lại vấn đề đặt ra

ở phần mở bài và kết bài, cần tiếp tục khơi gợi được suy nghĩ, tình cảm của người đọc.Hay nói cách khác là vừa phải có sức khái quat cao vừa mở rộng nâng cao vấn đề vừa tạo

dư ba trong lòng người đọc

- Kĩ năng dùng từ phải đảm bảo tính chính xác, vừa cụ thể vừa mang tính khái quát vừamang màu sắc văn chương; diễn đạt trong sáng, mạch lạc nhưng phải có sự logic, liên kếtcâu, đoạn văn chặt chẽ cả về nội dung lẫn hình thức; trình bày sạch đẹp, bố cục rõ ràng

1 Trong phần văn nghị luận xã hội với ba kiểu đề: Nghị luận về một tư tưởng đạo

lí,Nghị luận về một hiện tượng đời sống Và Nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm vănhọc Phần này về lí thuyết để làm bài không xa lạ gì đối với đối tượng HS giỏi, nhưng để

có được một bài văn hay, sâu sắc người giáo viên phải dạy cho học sinh:

- Nhận dạng rõ ràng kiểu bài, xác định được vấn đề cần nghị luận Nhất là đối với nhữngbài luận đề được rút ra từ những câu chuyện ngụ ngôn ngắn, câu chuyện trong quà tặngcuộc sống, các câu danh ngôn, các ý kiến Muốn xác định được luận đề của những đềbài ấy giáo viên yêu cầu HS phải đọc kĩ đề, phải hiểu được câu chuyện, câu nói, ý kiến

Trang 7

ấy đề cập đến vấn đề gì qua hệ thống ngôn từ giàu tính hình tượng, đa nghĩa , hàm súc

và phải đặt ra câu hỏi tại sao lại nói như vậy, nói như vậy là có ý nghĩa gì?

- Và với phần văn nghị luận xã hội không chỉ đơn thuần là mục đích cung cấp kiến thức

xã hội mà mục đích cao cả hơn là giúp học sinh nhận thức đúng đắn những vấn đề đạođức nhân sinh cao đẹp trong đời sống xã hội để rồi giáo dục nhân cách cho các em.Vì thếđối với kiểu bài Nghị luận về một tư tưởng đạo lí cần yêu cầu cao ở HS khi rút ra được ýnghĩa, bài học nhận thức và hành động về một tư tưởng, đạo lí Còn với kiểu bài Nghịluận về một hiện tượng đời sống phải yêu cầu cao ở HS khi bày tỏ thái độ, ý kiến củangười viết về hiện tượng xã hội đó

1.Phần nghị luận văn học: Giáo viên hướng dẫn HS nắm lại lí thuyết về từng kiểu

bài nghị luận văn học cụ thể:

*Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ Với kiểu bài này GV cũng phải hướng dẫn cho

học sinh làm bài một cách cụ thể như sau:

Trang 8

+ Nắm bắt được nhân vật trữ tình trong văn bản , phải xác định được nhân vật trữ tìnhchủ thể hay trữ tình nhập vai và phải nắm bắt được sự vận động, phát triển của tâm trạng,cảm xúc của nhân vật trữ tình đó.

+ Phân chia bài thơ làm các phần, đoạn và phải xác định được luận điểm của từng phần

và từng đoạn

+ Phải phân tích nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ, câu thơ như cách viết câu, sử dụng từngữ, hình ảnh, nhịp điệu, âm thanh để rồi làm nổi bật nội dung tư tưởng mà nhà thơmuốn thổ lộ.Nhưng không nên dàn trải, bình quân mà phải có sự lựa chọn và chú trọngvào chi tiết nghệ thuật độc đáo

+ Sau khi phân tích phải tổng hợp, khái quát, đánh giá, nâng cao vấn đề

*Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi: GV chia tách thành các kiểu

bài với cách tiếp cận và nắm bắt cụ thể như sau:

- Phân tích nhân vật

+ Ý nghĩa của việc phân tích nhân vật: Nhân vật là “công cụ” giúp nhà văn phản ánh tưtưởng, chủ đề của tác phẩm, là nơi kí thác quan niệm về con người, về nhân sinh của nhàvăn Nhân vật chính thường điển hình cho một giai tầng nào đó trong xã hội, thậm chímột thời đại.Vì vậy khi giúp học sinh nhận thức một nhân vật, giáo viên phải giúp các

em hướng tới khái quát được các giá trị đó Ngoài ra nhân vật là con đẻ của nhà văn trongsuốt cả một quá trình thai ngén vì thế khi phân tích nhân vật cũng là để nhận ra tài năng,đặc điểm bút pháp nghệ thuật của nhà văn

+ Các phương diện cơ bản khi phân tích nhân vật tự sự

Lai lịch: Chính là hoàn cảnh xuất thân, hoàn cảnh gia đình, điều kiện sống trong quákhứ của nhân vật nó phần nào chi phối đến tính cách, số phận của nhân vật

Trang 9

Ngoại hình: Theo quan niệm của ông bà ta xưa “ Trông mặt mà bắt hình dong, Con lợn

có béo thì lòng mới ngon”, nhà văn cũng vậy, miêu tả ngoại hình nhân vật nhằm hé mởtính cách, chiều sâu nội tâm bên trong Đại thể là như vậy nhưng với một số trường hợpcũng có thể là một sự trật khớp giữa ngoại hình và tính cách

Ngôn ngữ: Ngôn ngữ của nhân vật trong tác phẩm văn học được cá thể hóa cao độ,mang đậm dấu ấn cá nhân

Nội tâm nhân vật: Đó là thế giới bên trong của nhân vật với những cảm xúc, cảm giác,tình cảm, suy nghĩ Thâm nhập thế giới nội tâm phong phú của nhân vật trở thành cuộchành trình đầy thú vị của nhà văn, cũng là điều hấp dẫn với người đọc và người phân tíchtác phẩm sau đó

Cử chỉ, hành động: Bản chất con người ta bộc lộ chân xác, đầy dủ nhất qua cử chỉ, hànhđộng Vì thế phân tích nhân vật cần phân tích được cử chỉ hành động và cách hành xử củanhân vật ấy

+ Vai trò của tình huống truyện đối với việc thể hiện nhân vật trong tác phẩm tự sự: Khiphân tích nhân vật, chúng ta cần quan tâm thích đáng đến tình huống truyện.Vì thông quatình huống truyện, nhân vật sẽ phần nào thể hiện được tính cách, số phận nhân vật

Trên đây là phần hướng dẫn cơ bản cho học sinh làm một bài văn phân tích nhân vật,nhưng giáo viên cần lưu ý học sinh không nên máy móc mà phải linh hoạt ở từng nhânvật văn học cụ thể để đạt hiệu quả cao khi làm bài

- Nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn xuôi: Đây là dạng đề liên quan đến mộtvấn đề, một phương diện về nội dung hoặc nghệ thuật của tác phẩm văn học Giáo viênphải giúp học sinh chỉ ra được những biểu hiện, ý nghĩa của vấn đề đó trong tác phẩm

Trang 10

* Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học: Với kiểu bài bài này thi học sinh giỏi cấp

tỉnh rất hay ra bởi đòi hỏi ở HS khả năng khái quát, đánh giá vấn đề Ý kiến bàn về vănhọc có thể là một nhận định về văn học, một danh ngôn về vấn đề trong văn học Mà vấn

đề đó có thể thuộc lí luận văn học, về văn học sử, về tác phẩm, phong cách tác giả.Đểlàm tốt được kiểu bài này giáo viên phải hướng dẫn học sinh như sau:

- Yêu cầu về kiến thức:

+ HS phải nắm được kiến thức về lí luận văn học, về văn học sử, về tác phẩm, về phongcách tác giả, quan điểm sáng tác

+ Kiến thức có được là nhờ vào cả một quá trình tích lũy, tổng hợp trong cả quá trình họctập, từ sách giáo khoa, từ các bài giảng của thầy cô, tù các văn hay của các bạn học sinhtrong các kì thi học sinh giỏi

- Yêu cầu về phương pháp:

+ Phải hiểu đúng toàn diện nội dung, tinh thần của ý kiến, nhận định để xác định đề bài

đề cập đến vấn đề gì, bản chất của vấn đề là gì?

+ Khi phân tích, chứng minh nhận định đó vào cụ thể trong văn học, học sinh phải biếtnhìn nhận xem ý kiến, nhận định đó xác đáng chưa, sâu sắc chưa, có khía cạnh nào phảibàn thêm không, nếu có chúng ta cũng có thể sử dụng thao tác bình luận để làm sáng rõquan điểm của mình

* Nghị luận về một vấn đề mang tính chất tổng hợp: Đây là dạng đề yêu cầu HS phải

biết tổng hợp, khái quát so sánh, đối chiếu những vấn đề trong các tác phẩm văn học.Nhưng những tác phẩm văn học phải ra đời trong một giai đoạn lịch sử, có cùng chung đềtài, xu hướng, trào lưu Khi so sánh người làm bài chỉ ra được sự giống nhau, khác nhaucủa từng tác phẩm văn học cùng mang đề tài, xu hướng, trào lưu ấy để thấy được sự độc

Trang 11

đáo thú vị trong quá trình khám phá, phát hiện cũng như tài năng văn chương của các nhàvăn Để làm tốt được kiểu bài này giáo viên phải hướng dẫn học sinh như sau:

- Yêu cầu về kiến thức: Nhóm các văn bản về cùng một đề tài, một xu hướng, một tràolưu văn học

- Yêu cầu về phương pháp:

+ Xác định được vấn đề cần phải làm sáng tỏ là gì?

+ Giải thích cho người đọc hiểu khái niệm của vấn đề đó

+ Biểu hiện của vấn đề đó trong từng tác phẩm cụ thể

+ So sánh để chỉ ra sự giống nhau, khác nhau của vấn đề đó trong từng tác phẩm

+ Lí giải nguyên nhân vì sao có sự giống nhau và khác nhau đó

V Hệ thống kiến thức các bài đọc văn

1 Hệ thống kiến thức các bài đọc văn cụ thể

Bên cạnh việc hướng dẫn học sinh cách làm bài văn nghị luận, giáo viên bồi dưỡnghọc sinh giỏi còn phải giúp học sinh hệ thống lại kiến thức của các bài đọc văn Bởi vìcác bài đọc văn trong chương trình lớp 11, 12 sẽ là phần trọng tâm trong kì thi.Với dunglượng kiến thức nhiều, thời gian dành cho các buổi ôn luyện rất hạn chế nên giáo viên sẽphải có phương pháp cụ thể để các em có thể tự học, nghiên cứu sách vở và giải đề.Cụthể như sau:

* Trên tinh thần các bài đọc văn các em đã được học trên lớp theo thời khóa biểu chínhkhóa, giáo viên được giao trách nhiệm bồi dưỡng phải giúp HS hệ thống lại kiến thức củabài học để các em lĩnh hội vừa đầy đủ, vừa chi tiết nhưng vừa khái quát nhất về văn bản

Để làm được điều đó ngoài kiến thức trong SGK, SGV, Chuẩn kiến thức kĩ năng, giáo

Trang 12

viên phải năng đọc thêm các tài liệu, tìm tòi sáng tạo trong quá trình giảng dạy thì bài họcmới có chiều sâu Cụ thể HS phải nắm được:

- Nét chính về tác giả: Như quan điểm sáng tác, đặc điểm văn học, phong cách nghệthuật Học sinh nắm và hiểu được những điều đó sẽ hiểu sâu hơn về tác phẩm và ý đồ ngệthuật của nhà văn

- Hoàn cảnh sáng tác , xuất xứ, vị trí của tác phẩm

- Nội dung tư tưởng chủ đạo và nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm

- Điểm sáng văn chương của tác phẩm Trong mỗi tác phẩm văn học nhất là văn xuôithường có một đoạn văn hoặc một chi tiết nghệ thuật đặc sắc để lại rất nhiều dư vị tronglòng người đọc đồng thời cũng thể hiện tài năng nghệ thuật của nhà văn.Bởi có thể nóiđiểm sáng văn chương chính là gan ruột và sự tìm tòi, sáng tạo để đưa đến cho người đọc

sự thú vị nhất và cũng nhằm bộc lộ rõ nhất tư tưởng, tình cảm của nhà văn Ví dụ như:

Cảnh đoàn tàu đi qua phố huyện lúc đêm khuya ( Hai đứa trẻ - Thạch Lam), Cảnh cho chữ ( Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân), Hồn quê trong Tràng giang của Huy Cận; Hình ảnh đôi bàn tay Tnú ( Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành)

* Sau khi các em đã nắm được kiến thức của các bài đọc văn, giáo viên sẽ hệ thống cáckiểu đề bài của văn bản đó, học sinh nắm bắt được các dạng đề bài và về nhà thực hành

để vừa khắc sâu kiến thức vừa thuần thục trong kĩ năng làm một bài văn

2 Hệ thống kiến thức các bài đọc văn theo từng giai đoạn, mảng đề tài, xu hướng, trào lưu, thể loại.

a Hệ thống theo từng giai đoạn:

* Hệ thống lại, hoàn cảnh lịch sử, xã hội ,nội dung, đặc điểm cơ bản của văn học ViệtNam hiện đại qua từng giai đoạn với mục đích:

Trang 13

- Giúp học sinh nắm kiến thức một cách khái quát nhất về một giai đoạn văn học,

đó sẽ là cơ sở ở học sinh nắm bắt các bài đọc văn được sáng tác trong giai đoạn ấy mộtcách bài bản, khoa học, sâu sắc nhất Ngược lại, khi giáo viên giảng các bài đọc văn cụthể cần gắn với nét chính của giai đoạn văn học ấy và xem đó như một dẫn chứng làmsáng tỏ phần nào giai đoạn văn học Rõ ràng đó là một mối quan hệ hữu cơ với nhau và

nó sẽ phục vụ rất nhiều cho việc làm một bài văn Nghị luận về một ý kiên bàn về vănhọc Ví dụ ta có đề bài sau:

Đề bài: Có ý kiến cho rằng “ Thơ những năm kháng chiến chống Pháp đạt được nhiều

thành tựu xuất sắc Tình yêu quê hương , đất nước, lòng căm thù giặc, ca ngợi kháng chiến và con người kháng chiến là những cảm hứng chính” ( SGK lớp 12- Ban cơ bản-

dụ: Khi các nhà văn viết về đề tài người lao động nghèo trong chế độ cũ như: Chí Phèo ( Nam Cao) - viết trước cách mạng tháng Tám năm 1945, Vợ chồng A Phủ ( Tô Hoài),

Vợ nhặt ( Kim Lân) - viết sau cách mạng tháng Tám năm 1945 Các nhà văn đều phát

hiện ra bản chất tốt đẹp trong tâm hồn cũng như số phận đau khổ, bất hạnh của người laođộng nghèo khổ.Nhưng nếu là những tác phẩm viết trước cách mạng tháng Tám năm

1945, các nhà văn chỉ mới dừng lại ở đó nên kết thúc truyện không mở cho nhân vật lốithoát với một tương lai tươi sáng ở phía trước, mà là sự tù túng, đầy sự bi quan, bế tắc, bế

Trang 14

tắc cho cả một giai cấp Cụ thể : Ở Chí Phèo của Nam Cao là Chí Phèo chết, thị Nở nhìn

nhanh xuống bụng và nghĩ tới cái lò gạch cũ Còn những tác phẩm viết sau cách mạngtháng Tám năm 1945 kết thúc truyện bao giờ cũng là kết thúc mở, nhà văn mở ra một conđường sáng cho nhân vật mà ở đó là sự đổi đời theo ánh sáng của cách mạng Các nhânvật sẽ kết thúc một cuộc đời tăm tối, cực nhục, bị chà đạp, bị áp bức, bóc lột của giai cấpthống trị, cường quyền để vươn lên đòi lại quyền sống, quyền tự do, hạnh phúc cho bảnthân Như tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân chẳng hạn: Kết thúc truyện hiện lên trong ócTràng là hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng cùng những người đói đi phá kho thóc Nhật Giáoviên cũng giúp cho học sinh nhận thấy vì sao có sự khác nhau như vậy Đó là do nhậnthức chính trị của các nhà văn ở thời điểm sáng tác tác phẩm Và sở dĩ có được kết thúcnhư vậy là do nhà văn nhìn cuộc đời, nhân vật bằng nhãn quan cách mạng

b Hệ thống theo trào lưu, xu hướng văn học.

- Giáo viên phải giúp học sinh phương pháp nắm bắt từng văn bản cụ thể trên tinh thầncủa từng trào lưu, xu hướng văn học Để học sinh vừa nắm được đặc trưng, xu hướng củatừng trào lưu văn học, có nghĩa từ đó các em có thể làm sáng tỏ nó ở từng tác phẩm cụthể Ví dụ như: Với phong trào thơ mới là tinh thần của nó chính là ở cái tôi cá nhân với

sự giải phóng về tình cảm, cảm xúc và về trí tưởng tượng; Văn học hiện thực phê phánchính là ở nhân vật điển hình và tính cách điển hình cho một giai cấp, tầng lớp người nàođó; văn xuôi chống Mĩ là đề cập đến chất sử thi và chủ nghĩa anh hùng cách mạng; Vănhọc sau năm 1975 mang cảm hứng thế sự - đời tư

c Hệ thống theo thể loại văn học.

Giáo viên giúp học sinh hệ thống các bài đọc văn có cùng một thể loại, bởi khi đã cùngchung một thể loại thường có những nét tương đồng về nghệ thuật Cùng với việc họcsinh đã nắm kĩ từng văn bản, học sinh có thể so sánh nét giống nhau và khác nhau để chỉ

Trang 15

ra sự độc đáo trong nghệ thuật sáng tạo của nhà văn Ví dụ bài Tùy bút Người lái đò

sông Đà ( Nguyễn Tuân) và bài Bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông ( Hoàng Phủ Ngọc

Tường) ta có thể nhận thấy chúng có nét tương đồng của thể kí.Đó là bằng ngòi bútphóng khoáng, tự do các nhà văn thoải mái ghi chép lại những sự vật, sự việc, con người

cụ thể bằng phong cách nghệ thuật tài hoa, uyên bác

V Hệ thống các khái niệm thuộc về phần lí luận văn học.

Khi học sinh làm bài văn về một vấn đề trong tác phẩm văn học, hay xử lí một đề bàitổng hợp mà trong đó có chứa đựng khái niệm bắt buộc các em phải hiểu và giải thíchđược khái niệm rồi sau đó mới đi phân tích làm sáng tỏ Các khái niệm đó trong quá trìnhgiảng dạy giáo viên cũng đã cung cấp nhưng cụ thể thành khái niệm, lời văn như thế nào,giáo viên phải cho học sinh nắm lại Các khái niệm đó là:

Trang 16

Sau khi giúp học sinh hệ thống lại những kiến thức cơ bản trên, giáo viên sẽ đưa ra

hệ thống đề bài dựa trên kết cấu đề thi học sinh giỏi tỉnh hàng năm để các em thực hành.Các em có thể làm bài tại lớp và làm bài ở nhà, nhưng điều quan trọng là khi các em làmbài giáo viên phải chấm bài để kiểm tra về kiến thức, về kĩ năng làm bài của các em Giáoviên phải chỉ ra chỗ đạt, chỗ chưa đạt và phải sửa cho các em từ những lỗi nhỏ nhất đểcác em rút kinh nghiệm và không tái phạm lần sau

Ở bài viết này tôi chỉ đưa ra hai đề bài và hướng dẫn chấm để minh họa cho những

lí thuyết trên

Đề 1.

Câu 1( 4 điểm): Trình bày hoàn cảnh sáng tác và đặc sắc nghệ thuật trong bài thơ Việt

Bắc ( Tố Hữu).

Câu 2 ( 6 điểm ): Bài học cuộc sống mà anh (chị) rút ra từ lời tâm sự của nữ nhà

văn Mĩ Helen Keller: “Tôi đã khóc vì không có giày để đi cho đến khi nhìn thấy một

người không có chân để đi giày”.

Câu 3 ( 10 điểm): Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân qua tác phẩm Người lái đò

sông Đà và Hoàng Phủ Ngọc Tường qua tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông.

Trang 17

- Tháng 5- 1954 chúng ta chiến thắng Điện Biên Phủ, đã mang

lại niềm vui kháng chiến, thắng lợi, hòa bình Nhân sự kiện có

tính chất lịch sử tháng 10 - 1954 Trung ương Đảng quyết định

rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô Hà Nội,Tố Hữu đã sáng

tác bài thơ Việt Bắc

- Bài thơ đã nói lên được tình nghĩa thắm thiết với Việt Bắc

quê hương cách mạng, với nhân dân và cuộc kháng chiến gian

khổ của người cán bộ cách mạng Tất cả nay đã thành kỉ niệm

sâu nặng, để trong niềm vui không quên những cội nguồn của

thắng lợi, không quên những ngày gian khổ và nghĩa tình gắn

bó, để càng tin tưởng ở tương lai

2 Nghệ thuật : Việt Bắc tiêu biểu cho giọng thơ tâm tình

ngọt ngào tha thiết của TH và nghệ thuật biểu hiện giàu

tính dân tộc trong thơ ông.

a Thể thơ lục bát truyền thống được vận dụng tài tình trong

một bài thơ dài, vừa tạo được âm hưởng chung thống nhất vừa

thể hiện một sự biến hóa đa dạng, không nhàm chán cho người

đọc Để rồi suối nguồn tình cảm cứ tuôn chảy dạt dào dưới

ngòi bút của ông

b Kết cấu đối đáp: Diễn biến tâm trạng được tổ chức theo lối

đối đáp giao duyên trong ca dao - dân ca: bên hỏi, bên đáp,

người bày tỏ, người hô ứng.Hỏi và đáp điều mở ra bao nhiêu

kỷ niệm về cách mạng và kháng chiến gian khổ mà anh hùng,

bao nỗi niềm nhớ thương.Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn

Trang 18

bên trong là lời độc thoại, là biểu hiện tâm tư tình cảm của

chính nhà thơ, của những người tham gia kháng chiến Nên

vừa có sự biến đổi linh hoạt , vừa như phân thân, hóa thân của

chính nhân vật trữ tình vào hai đại từ mình- ta

c.Những lối nói giàu hình ảnh, cách chuyển nghĩa truyền thống

như so sánh, ẩn dụ được sử dụng thích hợp: Nhớ gì như nhớ

người yêu; Nhớ hoa cùng người nhằm gợi hình ảnh và giàu

biểu cảm, cảm xúc cho câu thơ

d Nhiều câu ca dao, câu Kiều được vận dụng:

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

(Những là rày ước, mai ao

Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình)

Vừa miêu tả được hiện thực cụ thể, diễn tả tình cảm, tâm trạng

vừa quen thuộc, vừa mới mẻ

e Về ngôn ngữ: Sử dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân rất mộc

mạc, giản dị nhưng cũng rất sinh động để tái hiện lại một thời

cách mạng và kháng chiến đầy gian khổ mà dạt dào nghĩa tình

0,5

0,5

Trang 19

g Tình nghĩa với căn cứ cách mạng , với nhân dân, với Đảng,

với Bác Hồ là tình cảm của người cách mạng nhưng đã trở

thành ý nghĩ, tình cảm cao đẹp chung của con người Việt Nam

trong kháng chiến: Thủy chung son sắt với quê hương đất

Biết cách làm bài nghị luận xã hội về một hiện tượng đời

sống Sử dụng linh hoạt phương pháp: Giải thích, phân tích,

bình luận Lập luận chặt chẽ, thuyết phục, diễn đạt lưu loát,

không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp

b/ Yêu cầu về kiến thức:

Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần

đảm bảo các ý sau:

- Vấn đề cần nghị luận: Sự thiếu thốn khó khăn của mình

chẳng thấm gì nếu so với những khổ đau, bất hạnh của nhiều

người khác trong cuộc sống

- Nội dung cần nghị luận:

* Giải thích hai hình ảnh đối lập nhau: “không có giày để đi”

và “không có chân để đi giày”

+ “Không có giày để đi”: là sự thiếu thốn, khó khăn về vật

0,5

Trang 20

chất (tức là nói về hoàn cảnh nghèo khó)

+ “Không có chân để đi giày”: là nỗi bất hạnh nghiệt ngã

của số phận (nỗi đau về thể xác và tâm hồn)

=> Ý nghĩa của lời tâm sự: Cuộc sống có muôn vàn khổ đau và

bất hạnh, sự thiếu thốn của bạn chẳng thấm vào đâu khi so với

nỗi bất hạnh của nhiều người của nhiều người khác Hãy thấy

mình còn là người may mắn để biết chia sẻ và cố gắng vươn

lên và không bao giờ được cúi đầu tuyệt vọng trước những bất

hạnh, những chông gai trong cuộc sống

* Phân tích, bình luận:

+ Người ta khóc là khi trạng thái tâm hồn xúc động, đau buồn,

có khi vui quá cũng khóc Nữ sĩ khóc vì hoàn cảnh túng thiếu

của mình “không có giày để đi” bà đã khóc mãi cho đến khi bà

nhìn thấy một người không có cả đôi chân để đi giày→bà đã

kịp nhận ra mình còn là người may mắn hơn họ rất nhiều Như

vậy dù phải đi bằng đôi chân trần thì mình còn có chân để

bước trên đường đời, còn họ không có chân nên dù có giày

cũng không thể đi được, không thể làm những gì họ muốn =>

những thiếu thốn về vật chất chẳng thấm gì so với sự thiếu

thốn về xác và tinh thần

+ Lời tâm sự của Helen Keller không dừng lại ở đôi giày, đôi

chân (nếu đôi giày là ước mơ, khát vọng của mình thi đôi chân

lại là ước mơ khát vọng của người khác) Hãy biết hài lòng với

0,5

0,5

0,5

1.0

Ngày đăng: 08/04/2015, 05:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w