Khi giảng dạy văn bản văn học cho học sinh, việclàm rõ đặc điểm về phong cách ngôn ngữ tác giả là một yêucầu rất cần được chú ý vì nó liên quan đến việc phân tích giátrị nghệ thuật của t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HUỆ
SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM PHONG CÁCH NGÔN NGỮ CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN VÀ NAM CAO
(QUA 2 TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội, 5/ 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hữu Đạt
Hà Nội, 5/2013
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 11
1.1 Vài nét tóm tắt về nhà văn Nguyễn Công Hoan và Nam Cao 11
1.1.1 Hoàn cảnh xuất thân của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao 11
1.1.2 Các tác phẩm trước cách mạng 12
1.1.2.1 Các tác phẩm trước cách mạng của Nguyễn Công Hoan 12
1.1.2.2 Các tác phẩm trước cách mạng của Nam Cao 13
1.2 Khái niệm về phong cách và phong cách nghệ thuật 14
1.2.1 Khái niệm về phong cách và phong cách học 14
1.2.2 Phong cách chức năng ngôn ngữ và phong cách nghệ thuật 15
1.2.2.1 Cơ sở phân chia phong cách chức năng 15
1.2.2.2 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật 17
1.3 Khái niệm người trần thuật và điểm nhìn trần thuật 22
1.3.1 Khái niệm về người trần thuật và ngôi trần thuật 22
1.3.2 Điểm nhìn trần thuật 25
1.4 Ngôn ngữ trần thuật và giọng điệu trần thuật 30
1.4.1 Ngôn ngữ trần thuật 30
1.4.2 Giọng điệu trần thuật 35
1.5 Các kiểu câu giàu sắc thái 37
1.5.1 Câu đặc biệt 37
1.5.2 Câu tỉnh lược 40
1.5.3 Câu dưới bậc 42
Trang 4Chương 2: So Sánh đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trần thuật của Nguyễn
Công Hoan và Nam Cao 49
2.1 Người trần thuật và điểm nhìn trần thuật 49
2.1.1 Người trần thuật và điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan 49
2.1.1.1 Người trần thuật ngôi thứ 3 với điểm nhìn bên ngoài 49
2.1.1.2 Người trần thuật ngôi thứ 3 với điểm nhìn bên trong 51
2.1.1.3 Người trần thuật ngôi thứ nhất 52
2.1.2 Người trần thuật và điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Nam Cao 53
2.1.2.1 Người trần thuật ngôi thứ 3 với điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn bên trong và phức hợp nhiều điểm nhìn 53
2.1.2.2 Truyện ngắn Nam Cao với chủ thể trần thuật ngôi thứ nhất 61
2.1.3 So sánh đặc điểm người trần thuật và điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan và Nam cao 63
2.2 Ngôn ngữ trần thuật 66
2.2.1 Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan 66
2.2.2 Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Nam Cao 73
2.2.3 So sánh đặc điểm ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan và Nam cao 77
Chương 3: So Sánh đặc điểm sử dụng giọng điệu trần thuật và cách sử dụng một số kiểu câu giàu sắc thái của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao 80
3.1 Giọng điệu trần thuật 80
3.1.1 Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan 80
3.1.1.1 Giọng khách quan, lạnh lùng 80
3.1.1.2 Giọng châm biếm, đả kích sâu cay 83
3.1.1.3 Giọng bông lơn, suồng sã pha chút hóm hỉnh 86
3.1.2 Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nam Cao 89
3.1.2.1 Truyện ngắn Nam Cao với giọng văn tự sự triết lý, suy ngẫm, phẩm bình 89
Trang 53.1.2.2 Truyện ngắn Nam Cao với giọng văn tự sự lạnh lùng, dửng dưng 91
3.1.2.3 Truyện ngắn Nam Cao với giọng văn giễu nhại, châm biếm, hài hước 93
3.1.3 So sánh giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan và Nam Cao 97
3.2 Đặc điểm sử dụng một số kiểu câu (câu đặc biệt, câu tỉnh lược, câu tách biệt) 100
3.2.1 Đặc điểm sử dụng một số kiểu câu của Nguyễn Công Hoan 100
3.2.1.1 Đặc điểm sử dụng câu đặc biệt 100
3.2.1.2 Đặc điểm sử dụng câu tỉnh lược 102
3.2.1.3 Đặc điểm sử dụng câu tách biệt (câu dưới bậc) 105
3.2.2 Đặc điểm sử dụng một số kiểu câu của Nam Cao 107
3.2.2.1 Đặc điểm sử dụng câu đặc biệt 107
3.2.2.2 Đặc điểm sử dụng kiểu câu tỉnh lược 108
3.2.2.3 Đặc điểm sử dụng kiểu câu tách biệt (câu dưới bậc) 111
3.2.3 Nhận xét đặc điểm sử dụng một số kiểu câu của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao 112
KẾT LUẬN 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
PHỤ LỤC 124
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong dòng văn học Hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930 –
1945, Nam Cao và Nguyễn Công Hoan là hai gương mặt tiêu biểu, hai đạidiện ưu tú Giữa lúc làng thơ văn Việt Nam đang đua nhau chạy theo thị hiếutầm thường của độc giả, đắm chìm trong những câu chuyện tình lãng mạn thìNguyễn Công Hoan và Nam Cao cũng như một số cây bút khác đã chọn chomình một hướng đi riêng, đem đến cho văn chương đương thời một tiếng nóimới mẻ, mạnh mẽ về hiện thực đời thường như nó vốn có mà không hề tô vẽ
Có thể nói, Nguyễn Công Hoan là một trong những gương mặt mở đầu
và cũng là nhà văn ưu tú của trào lưu văn học Hiện thực phê phán Nói đếnNguyễn Công Hoan là nói đến một cây bút có sức sáng tạo dồi dào, dẻo dai,một tài năng xuất chúng Hơn nửa thế kỉ cầm bút, ông đã để lại một khốilượng tác phẩm đồ sộ, đa dạng về thể loại, độc đáo về nội dung tư tưởng trong
đó truyện ngắn được coi là lĩnh vực nổi bật nhất, đặc biệt là truyện ngắn tràophúng Có thể so sánh Nguyễn Công Hoan với những nhà văn viết truyệnngắn trào phúng bậc thầy như Guy-dơ Môpatxăng và A.Sêkhôp Nhữngtruyện ngắn của Nguyễn Công Hoan có sức hấp dẫn đặc biệt với nhiều thế hệ
và nó vẫn là những “vỉa vàng” đang được tiếp tục khai phá.
Trong trào lưu văn học Hiện thực phê phán, Nam Cao là người đến khámuộn khi mà Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng đã tạodựng được vị trí, chỗ đứng vững chắc với những tác phẩm xuất sắc Tuynhiên, Nam Cao không bị mờ nhạt bởi những bóng dáng lớn mà ông vẫnkhẳng định được vị trí của mình, góp phần đưa trào lưu văn học Hiện thựcphê phán phát triển tới đỉnh cao Với 15 năm cầm bút, Nam Cao đã để lại một
số lượng tác phẩm lớn mà đặc sắc là truyện ngắn Truyện ngắn của Nam Cao
Trang 7giàu có về tư tưởng, sâu sắc về nghệ thuật và được độc giả bao đời yêu mến.Đương thời, người ta không chú ý nhiều đến tác phẩm của ông nhưng từ saukhi Nam Cao hi sinh, những giá trị tác phẩm của ông mới được quan tâm,nghiên cứu một cách sâu sắc
1.2 Tác phẩm của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao đã được đưa vào
chương trình giảng dạy trong nhà trường từ bậc phổ thông đến đại học Khảosát ở bậc học phổ thông, cụ thể là THCS và THPT, chúng tôi thấy có các tác
phẩm như sau: truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan gồm Tinh thần thể dục – Ngữ văn 11; truyện ngắn của Nam Cao gồm Lão Hạc – Ngữ văn 8; Chí Phèo
– Ngữ văn 11 Khi giảng dạy văn bản văn học cho học sinh, việclàm rõ đặc điểm về phong cách ngôn ngữ tác giả là một yêucầu rất cần được chú ý vì nó liên quan đến việc phân tích giátrị nghệ thuật của tác phẩm và sự đóng góp của nhà văn đốivới việc hiện đại hóa văn học
1.3 Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan và
Nam Cao ở các phương diện khác nhau song vẫn chưa có công trình nghiêncứu toàn diện, hệ thống về cả hai nhà văn trong cái nhìn tương quan so sánh
về đặc điểm phong cách ngôn ngữ Đây cũng là ý nghĩa mới mẻ mà đề tài củachúng tôi mong muốn thực hiện
Là một giáo viên THPT giảng dạy bộ môn Ngữ văn,
chúng tôi muốn thực hiện đề tài “So sánh đặc điểm phong
cách ngôn ngữ của nhà văn Nguyễn Công Hoan và Nam Cao” nhằm phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy
tác giả và tác phẩm văn học trong nhà trường
2 Lịch sử vấn đề
Có thể nói, Nguyễn Công Hoan và Nam Cao là nhữngnhà văn của thế kỉ XX được nhiều người nghiên cứu nhất
Trang 82.1 Vấn đề nghiên cứu Nguyễn Công Hoan
Ngay sau khi những truyện ngắn đầu tiên ra đời, NguyễnCông Hoan đã được giới nghiên cứu phê bình chú ý Có rấtnhiều bài nhận xét, đánh giá về văn chương của Nguyễn CôngHoan Có thể kể đến những tác giả sau:
Các công trình nghiên cứu đầu tiên về Nguyễn Công Hoan phải kể đến
Trúc Hà với bài Một ngòi bút mới: ông Nguyễn Công Hoan đăng trên báo
Nam Phong năm 1932 Trúc Hà đã tỏ ra khá tinh tế khi nhận ra giọng văn mới
mẻ pha chất hài hước của Nguyễn Công Hoan
Ngay sau đó, Hải Triều đã sắc sảo phát hiện ra ý nghĩa và tác dụng xãhội của tiếng cười trong truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan
Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại cũng cho rằng Nguyễn Công
Hoan sở trường về truyện ngắn hơn truyện dài Còn Nguyễn Đăng Mạnh đã ranhận định chính xác và sâu sắc về tiếng cười Nguyễn Công Hoan trong truyệnngắn trào phúng
Nhà nghiên cứu Nguyễn Hoành Khung trong lời giới thiệu truyện
ngắn Việt Nam 1930 - 1945, tập 1, NXB Giáo dục, H., 1990 khẳng định:
Nguyễn Công Hoan là một bậc thầy trong truyện ngắn trước hết là truyệnngắn trào phúng
Nói về phong cách ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, có thể kể
đến Lê Trí Dũng – Trần Đình Hựu trong Văn học Việt Nam giai đoạn giao
thời 1900 – 1930; Lê Minh – con gái của nhà văn – với bài “Sức trẻ một cây bút”
Nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan nhiều nhất phải kể đến Lê Thị ĐứcHạnh Bà có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết sâu sắc về Nguyễn Công
Trang 9Hoan với những khám phá ở khía cạnh nghệ thuật cũng như phong cách ngônngữ truyện ngắn.
2.2 Vấn đề nghiên cứu Nam Cao
Nam Cao là một tài năng lớn của văn học Việt Nam hiện đại, vì thế, số lượng tài liệu nghiên cứu về Nam Cao là rất lớn (theo thống kê của các nhà nghiên cứu thì có khoảng hơn 200 tài liệu khác nhau)
Trước cách mạng tháng 8 – 1945, Nam Cao chưa được chú ý trong giớinghiên cứu phê bình Nhưng sau cách mạng, Nam Cao trở thành một hiệntượng của giới phê bình văn học Người đầu tiên chú ý đến sự sắc sảo trong
văn phong của Nam Cao là Nguyễn Đình Thi trong bài Nam Cao viết vào
những năm 50
Bước sang những năm 60, nhiều công trình có giá trị về Nam Cao ra đời
Có thể kể đến Đọc truyện ngắn Nam Cao, soi lại bước đường đi lên của một
nhà văn hiện thực; Con người và cuộc sống trong tác phẩm của Nam Cao
của Huệ Chi – Phong Lê; Phan Cự Đệ trong Văn học Việt Nam 1936 – 1945 Sau đó là Hà Minh Đức trong Nam Cao, nhà văn hiện thực xuất sắc.
Bước sang những năm 70, nhiều công trình về Nam Cao ra đời như giáo
trình Lịch sử văn học Việt Nam 1930 – 1945 của Nguyễn Hoành Khung, trong đó có một chương viết về Nam Cao; Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại của Phan Cự Đệ Những cuốn nổi bật có thể kể Nam Cao đời văn và tác phẩm (Hà Minh Đức, 1977); Nam Cao, phác thảo sự nghiệp và chân dung (Phong
Lê, 1997); Nam Cao, người kết thúc vẻ vang trào lưu văn học hiện thực
(Phong Lê, 2001)
Trang 10Những năm gần đây, có khá nhiều công trình nghiên cứu, luận án tiến sĩ,luận văn thạc sĩ nghiên cứu về Nam Cao Bên cạnh đó hàng loạt các hội thảo
về Nam Cao được tổ chức Có thể kể những cuộc hội thảo khoa học tiêu biểunhân 40 năm ngày mất của Nam Cao 1951 – 1991 (tháng 11/ 1991) và nhân
80 năm ngày sinh của Nam Cao 1917 – 1997 (tháng 10/ 1997)…Những buổihội thảo khoa học tôn vinh nhà văn Nam Cao càng chứng tỏ vị trí và vai tròcủa ông trong làng văn học Việt Nam hiện đại và trong lòng tất cả nhữngngười yêu mến tác phẩm của ông
2.3 Cho đến ngày nay, số lượng các công trình, các bài nghiên cứu về
tác phẩm của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao quả là không nhỏ Tuy nhiên,các công trình, bài nghiên cứu thường tập trung vào vấn đề phê bình tác phẩmvăn học Chưa có nhiều bài viết về đặc điểm phong cách của hai tác giả vàđặc biệt là chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ đặc điểm phong cáchngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao trong tương quan đối chiếu
Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm tìm hiểu một cách đầy đủ vềnhững điểm tương đồng và khác biệt trong đặc điểm phong cách ngôn ngữcủa Nguyễn Công Hoan và Nam Cao
3 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, người viết nhằm:
- Làm rõ những đặc điểm nổi bật về phong cách ngôn ngữcủa Nguyễn Công Hoan và Nam Cao trên các phương diện:người trần thuật và điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ trần thuật,giọng điệu trần thuật, cách sử dụng một số kiểu câu giàuphong cách Đây là các phương diện có liên quan trực tiếpđến phong cách ngôn ngữ của nhà văn
Trang 11- So sánh để rút ra những đặc điểm giống và khác nhau vềphong cách ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan và Nam Caocũng như làm rõ những đóng góp của hai nhà văn đối với sựhiện đại hóa nền văn học.
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu như trên, người viếtxác định nhiệm vụ cho luận văn như sau:
- Trình bày một số luận điểm cơ bản về phong cách nghệthuật, ngôn ngữ trần thuật, giọng điệu trần thuật, cách sửdụng một số kiểu câu (câu đặc biệt, câu tỉnh lược, câu táchbiệt)
- Phân tích đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trần thuật (ngườitrần thuật và điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ trần thuật),giọng điệu trần thuật và cách sử dụng một số kiểu câu (câuđặc biệt, câu tỉnh lược và câu tách biệt) trong một số truyệnngắn của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao
- Rút ra những kết luận về đặc điểm phong cách ngônngữ tác giả của hai nhà văn này
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các truyện ngắn của Nguyễn CôngHoan và Nam Cao trước cách mạng tháng 8 – 1945 Trong đó, chúng tôi tậptrung làm rõ những đặc điểm thể hiện phong cách ngôn ngữ của hai tác giả
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn gồm các truyện ngắn
in trong Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Công Hoan (NXB
Trang 12thời đại, 2010), tuyển tập truyện ngắn Nam Cao ( Nxb Văn
học, năm 2000)
6 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, người viết sử dụng các phương phápsau:
- Phương pháp miêu tả
- Phương pháp phân tích phong cách học
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp cải biến
7 Ý nghĩa khoa học của đề tài
7.1 Ý nghĩa lý luận: Đề tài này thực hiện thành công
sẽ góp phần tích cực vào lí luận nghiên cứu phong cách nhàvăn Hiện thực phê phán nói chung và phong cách ngôn ngữcủa Nguyễn Công Hoan và Nam Cao nói riêng dưới cách nhìncủa ngôn ngữ học
7.2 Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài
sẽ trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy về haitác giả Nguyễn Công Hoan và Nam Cao đồng thời góp phẩnđổi mới phương pháp giảng dạy môn văn học trong nhàtrường phổ thông
8 Bố cục của luận văn
Luận văn gồm ba phần:
+ Phần mở đầu
+ Phần nội dung
Trang 13Trong đó phần nội dung chia thành 03 chương.
+ Chương 1: Cơ sở lí luận
+ Chương 2: So sánh đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trầnthuật của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao
+ Chương 3: So sánh đặc điểm sử dụng giọng điệu trầnthuật và một số kiểu câu của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN1.1 Vài nét tóm tắt về nhà văn Nguyễn Công Hoan và Nam Cao
1.1.1 Hoàn cảnh xuất thân của Nguyễn Công Hoan
và Nam Cao
Nguyễn Công Hoan sinh ngày 6 tháng 3 năm 1903 tạilàng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộctỉnh Hưng Yên) trong một gia đình quan lại sa sút và bất mãnvới chế độ thực dân Gia đình Nguyễn Công Hoan có nhiều đờihọc hành, đỗ đạt và làm quan Nhưng đến thời cụ thân sinhcủa ông, mặc dù thi đỗ nhưng chỉ được làm chức quan nhỏ dokhông biết tiếng Pháp, không có những mánh khóe giao thiệp
Trang 14kiểu mới Đó là bi kịch của những quan “nhà nho” lỗi thời vớinhiều bi kịch và tâm sự khó nói.
Sinh ra và lớn lên ở nhà quan nên ngay từ nhỏ NguyễnCông Hoan đã nghe và thấy đủ mọi chuyện của chốn quantrường Đó là những chuyện ăn hối lộ của quan lại, thủ đoạnnịnh nọt, bỉ ổi để tiến thân Tất cả những điều đó sau nàyNguyễn Công Hoan đã phản ánh sinh động trong các truyệnngắn của mình
Tốt nghiệp trường Sư phạm, Nguyễn Công Hoan đi dạyhọc và viết văn Ông bị chuyển hết nơi này đến nơi khác nhưHải Dương, Lào Cai, Nam Định Chính vì đi nhiều nên NguyễnCông Hoan có điều kiện thực tế nghe được nhiều chuyện đời,chuyện người Điều này cũng rất hữu ích đối với nghề viết văncủa ông
Khác với Nguyễn Công Hoan, Nam Cao (tên thật là TrầnHữu Tri), sinh ngày 29 – 10 – 1915 trong một gia đình trungnông đông anh em tại làng Đại Hoàng thuộc tổng Cao Đà,huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (nay là xã HòaHậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) Bút danh Nam Cao là doghép hai chữ đầu tên huyện và tổng mà thành Làng ĐạiHoàng của Nam Cao vốn là nơi có nhiều vấn đề mâu thuẫn,tranh chức tranh quyền của bọn cường hào địa chủ ác bá,nhiều người dân không thể sống được đã phải bỏ đi thaphương cầu thực Điều này đã được Nam Cao phản ánh chân
thực trong một số tác phẩm đặc biệt là trong Chí Phèo.
Như vậy, Nguyễn Công Hoan và Nam Cao sinh trưởng
Trang 15Hoan xuất thân trong gia đình có truyền thống quan lại, từnhỏ đã hiểu chuyện quan trường thì Nam Cao lại xuất thân từmột gia đình nông dân nghèo với cuộc sống thuần túy ở nôngthôn Tuy nhiên, cả hai nhà văn lớn đều sinh ra trong hoàncảnh xã hội giao thời Tây – Tàu nhố nhăng, nhiều vấn đề phứctạp Với cái nhìn sâu sắc và cảm quan nhạy bén, cả hai đãdùng văn chương để phanh phui hiện thực xã hội đương thời.
1.1.2 Các tác phẩm trước cách mạng
1.1.2.1 Các tác phẩm trước cách mạng của Nguyễn Công Hoan
Có thể nói, Nguyễn Công Hoan là một trong những người
đi tiên phong đặt nền móng cho văn học Hiện thực phê phán.Nguyễn Công Hoan bắt đầu viết truyện ngắn từ rất sớm khi
mà văn xuôi quốc ngữ còn chập chững ở cái buổi bình minh
Ông bắt đầu viết vào năm 1923 với tập truyện Kiếp hồng
nhan có tính chất thử bút Đến năm 1929, Nguyễn Công
Hoan thực sự viết, ông có nhiều truyện ngắn đăng trên An
Nam tạp chí do Tản Đà chủ biên Cho đến năm 1935, ông đã
cho ra mắt bạn đọc khoảng 80 truyện ngắn và đặc biệt, tập
truyện Kép Tư Bền xuất bản đã gây được tiếng vang lớn, đưa
tên tuổi Nguyễn Công Hoan vang khắp Bắc, Trung, Nam.Nguyễn Công Hoan đã nhìn thẳng vào hiện thực và bằng tiếngcười trào phúng phơi ra mặt trái của xã hội với đầy bất công
thối nát Với Kép Tư Bền, Nguyễn Công Hoan vừa là một
trong những người mở màn vừa là người cầm ngọn cờ chiếnthắng cho khuynh hướng văn học hiện thực phê phán ViệtNam thời kỳ 1930 – 1945
Trang 16Nguyễn Công Hoan xứng đáng là một nhà văn lớn, nhàvăn tiêu biểu của nền văn học Hiện thực phê phán Việt Nam.Cho đến nay, gần một thế kỉ trôi qua nhưng những tác phẩmcủa Nguyễn Công Hoan vẫn giữ được vị trí quan trọng trongnền văn học dân tộc, được bạn đọc bao thế hệ yêu thích.Không những thế, tác phẩm của ông còn được dịch ra nhiềuthứ tiếng nước ngoài như Liên Xô, Bungari, Hunggari, Anbani,Cộng hòa dân chủ Đức, Cuba, Ba Lan, Ấn Độ
1.1.2.2 Các tác phẩm trước cách mạng của Nam Cao
Từ năm 1936, Nam Cao bắt đầu sáng tác Ông viết văn,làm thơ, viết kịch với các bút danh Thúy Rư, Xuân Du, NhiêuKhê Năm 1938, Nam Cao bị ốm nặng, ông ra Bắc tự học vàthi đỗ Thành chung Sau đó ông dạy học tư và viết nhiều
truyện ngắn đặc sắc như: Đôi lứa xứng đôi (Chí Phèo), Dì
Hảo, Nửa đêm, Cái mặt không chơi được, Trẻ con không được ăn thịt chó, Trăng sáng
Cách mạng tháng 8, Nam Cao tham gia cướp chínhquyền rồi tham gia đoàn quân Nam tiến với tư cách là phóngviên Sau đó, Nam Cao trở ra Bắc tiếp tục hoạt động cáchmạng và sáng tác nhiều tác phẩm ở các thể loại khác nhau.Ngày 30 – 11- 1951, trên đường vào công tác vùng địch hậuLiên khu Ba, Nam Cao đã anh dũng hi sinh ở Ninh Bình do bịđịch phục kích
Nam Cao bước chân vào con đường văn chương khi trênvăn đàn đặc biệt là trong dòng văn học Hiện thực phê phán
Trang 17Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng Thế nhưng trênmảnh đất đã được cày xới kỹ càng đó, Nam Cao không bịchìm lấp trong những lối mòn mà ông vẫn tìm được cho mìnhmột hướng đi riêng không lẫn với bất cứ ai Những tác phẩmcủa Nam Cao đã phản ánh chân thật cuộc sống ngột ngạt,đen tối của xã hội Việt Nam những năm trước cách mạng vàdựng lên cuộc sống đau khổ, bế tắc của những người nôngdân, trí thức nghèo Trong truyện ngắn Nam Cao, nổi lên hai
đề tài chính là đề tài người nông dân và người trí thức nghèo.Nam Cao hướng ngòi bút của mình vào miêu tả cuộc sốngkhốn khổ, bi kịch không chỉ đói nghèo mà còn bị tha hóa vềlương tâm của người nông dân đồng thời dựng lên những bikịch về đời sống vật chất và tinh thần của người trí thức tiểu
tư sản
Như vậy, nếu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan tập trungxây dựng những bức chân dung biếm họa về tầng lớp quanlại, địa chủ, cường hào xấu xa, độc ác thì Nam Cao lại hướngngòi bút của mình để tìm hiểu bi kịch bị tha hóa cả thể xác vàtâm hồn của người nông dân cũng như người trí thức nghèo
Nam Cao là một trong những nhà văn góp phần hiện đạihóa văn xuôi quốc ngữ trên tiến trình văn học Và cũng giốngnhư Shêkhôp (Nga), Nam Cao là đại diện cuối cùng, ngườikhép lại dòng văn học Hiện thực phê phán Việt Nam và làngười mở đường mới cho sự phát triển của nó Cũng nhưNguyễn Công Hoan, các sáng tác của Nam Cao không chỉ cógiá trị ở trong nước mà còn vượt qua biên giới lãnh thổ để đếnvới bạn đọc quốc tế
Trang 181.2 Khái niệm về phong cách và phong cách nghệ thuật
1.2.1 Khái niệm về phong cách và phong cách học
Thuật ngữ phong cách bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, lúcđầu có tên là “stylos” – chỉ cái que có một đầu vót nhọn vàmột đầu tù dùng để viết, vẽ lên tấm bảng Về sau, nó đượcdùng để chỉ cách sử dụng ngôn ngữ và ngày nay, thuật ngữphong cách được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu nhiềungành khác nhau
Phong cách không hoàn toàn là thuật ngữ của phongcách học Trong đời sống hàng ngày, phong cách là cách nói,cách sinh hoạt, làm việc, ứng xử tạo nên cái riêng của mỗingười hay mỗi loại người như phong cách ăn mặc, phong cáchnói, phong cách viết Trong lí luận văn học, thuật ngữ phongcách được dùng để chỉ đặc điểm sáng tác riêng biệt, nổi trộicủa mỗi nhà văn hay tác phẩm Trong văn hóa, phong cáchđược dùng để chỉ những đặc điểm văn hóa mang tính dân tộc,thời đại như phong cách truyền thống, phong cách dân tộc
Như vậy, thuật ngữ phong cách học “thực chất là phong cách học ngôn ngữ Đó là bộ môn khoa học nghiên cứu những đặc điểm và phong cách sử dụng ngôn ngữ trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể.” [16, tr.33].
Trong những nét chung nhất, “phong cách học được hiểu
là khoa học nghiên cứu sự vận dụng ngôn ngữ, nói khác đi đó
là khoa học về các quy luật nói và viết có hiệu lực cao.” [16,
tr.7] Phong cách học quan tâm đến giá trị biểu đạt, biểu cảm
Trang 19ngữ trong những hoàn cảnh giao tiếp tiêu biểu với những điềukiện giao tiếp nhất định.
1.2.2 Phong cách chức năng ngôn ngữ và phong cách nghệ thuật
1.2.2.1 Cơ sở phân chia phong cách chức năng
Phong cách ngôn ngữ được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử.Phong cách ứng với mỗi chức năng xã hội của ngôn ngữ gọi là phong cáchchức năng Mỗi cá nhân khi nói, khi viết đều theo một phong cách chức năngnhất định Có nhiều khuynh hướng bàn về cách phân chia phong cách chức năngsong chủ yếu dựa vào các cơ sở chung như sau:
a Dựa trên chức năng giao tiếp
Một số tác giả nước ngoài và trong nước đã dựa vào chức năng giao tiếp củangôn ngữ để phân chia các phong cách chức năng:
- Phong cách khẩu ngữ tự do: thông báo những nội dung thông thường thuộcphạm vi sinh hoạt hàng ngày
- Phong cách nghệ thuật: thông báo về sự vật, hiện tượng dưới dạng hìnhtượng nghệ thuật
b Dựa trên hình thức thể hiện
Dựa trên hình thức thể hiện khác nhau để diễn đạt nội dung tư tưởng, tìnhcảm (hình thức nói hoặc viết), các nhà nghiên cứu phân chia phong cách chứcnăng thành hai loại là phong cách khẩu ngữ và phong cách gọt giũa
c Dựa vào phạm vi giao tiếp
Dựa vào phạm vi giao tiếp khác nhau, một số tác giả chia tách thành phạm vigiao tiếp gia đình và phạm vi giao tiếp mang tính chất xã hội
Như vậy, có điểm chung trong các cách phân chia trên đó là phân chia theobậc, từ bậc lớn lại tách thành các bậc nhỏ hơn
Trang 20Có thể phân loại các phong cách chức năng trong tiếng Việt thành 2 loại lớn:phong cách ngôn ngữ nói và phong cách ngôn ngữ viết Trong đó:
- Phong cách ngôn ngữ nói bao gồm: phong cách khẩu ngữ tự nhiên, phongcách hội thảo, phong cách diễn xuất sân khấu, điện ảnh
- Phong cách ngôn ngữ viết bao gồm: Phong cách hành chính – công vụ,phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách báo chí, phong cáchvăn học nghệ thuật
Nhắc tới khái niệm phong cách là nhắc tới những nét đặc trưng, riêng biệt,
tiêu biểu nhất Phong cách ngôn ngữ là “một phong cách chức năng cụ thể trong
đó cách sử dụng ngôn ngữ đã được định hình về mặt thời gian và mặt xã hội Thực chất nó đã trải qua một quá trình tự điều chỉnh của bản thân hệ thống và
có sự can thiệp ở một mức độ nhất định của những thiết chế xã hội.” [16, tr.41].
Có thể coi phong cách ngôn ngữ là sự lặp đi lặp lại một số kiểu lời nói đểtạo thành các khuôn mẫu nhất định trong từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể
1.2.2.2 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
Trong các phong cách chức năng của ngôn ngữ thì đây là phong cách cónhiều tên gọi nhất: phong cách ngôn ngữ văn chương, phong cách ngôn ngữ vănhọc, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, phong cách văn học nghệ thuật Đối vớimột số nhà nghiên cứu ngôn ngữ thì phong cách ngôn ngữ nghệ thuật khôngđược xếp vào hệ thống các phong cách chức năng
Tuy nhiên, theo Hữu Đạt: “các tác phẩm văn học nghệ thuật là hình thức bảo lưu tương đối đầy đủ nhất diện mạo ngôn ngữ ở mỗi thời đại Không ai có thể phủ nhận đó là hình thức tồn tại có thực của hoạt động giao tiếp Vậy đương nhiên, nó phải tồn tại với tư cách là một kiểu phong cách riêng hoặc thuộc vào loại phong cách chức năng nhất định” [16, tr.276] Như vậy, có thể khẳng định
Trang 21phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là một loại phong cách chức năng của ngôn
ngữ và được định nghĩa như sau: “Phong cách nghệ thuật là một phong cách chức năng được dùng để sáng tạo hình tượng nghệ thuật và tác phẩm nghệ thuật nhằm phục vụ cho nhu cầu về đời sống tinh thần của con người” [16, tr.276].
So với các phong cách chức năng khác, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
có những đặc trưng riêng biệt Trước hết, các đơn vị ngôn ngữ trong phong cáchngôn ngữ nghệ thuật có chức năng tác động hình tượng tức là có khả năng đemlại cho người đọc những tình cảm, những rung động về cảm xúc như vui –buồn , yêu thương – căm ghét, hạnh phúc – đau khổ Với các phong cách khácnhư phong cách báo chí hay phong cách chính luận, chức năng tác động đến tìnhcảm người đọc chỉ là hệ quả thứ hai của quá trình còn trong phong cách nghệthuật, chức năng này giữ vai trò đầu tiên
Ví dụ: Trong Chinh Phụ ngâm khúc nguyên tác Đặng Trần Côn – bản
dịch của Đoàn Thị Điểm – câu thơ:
“Cảnh buồn người thiết tha lòng Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun”
gợi cho người đọc nỗi buồn về tình cảnh cô đơn, lẻ loi của người chinh phụ cóchồng đi chinh chiến đồng thời cũng gợi lên trong lòng độc giả sự oán ghét chiếntranh phong kiến phi nghĩa – nguyên nhân dẫn đến sự chia lìa của đôi vợ chồngtrẻ
Hay khi đọc những câu thơ Nguyễn Du tả cảnh thiên nhiên mùa xuân tươi
đẹp trong Truyện Kiều:
“Cỏ non xanh rợn chân trờiCành lê trắng điểm một vài bông hoaThanh minh trong tiết tháng ba
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh
Gần xa nô nức yến anh
Trang 22Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân”
người đọc lại rung lên tình yêu đối với vẻ đẹp của đất trời, thấy trong lòng rộnràng, náo nức như được sống trong không khí của ngày xuân
Chính nhờ khả năng tác động mạnh mẽ tới tình cảm của độc giả màphong cách ngôn ngữ nghệ thuật có sắc thái riêng, độc đáo so với các phongcách chức năng khác
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật còn khác các phong cách chức năngkhác ở chỗ nó có khả năng tác động đến người đọc qua hệ thống các đơn vịmang tính hình tượng Những đơn vị ngôn ngữ khi sử dụng trong phong cáchngôn ngữ nghệ thuật không chỉ có chức năng thông tin thuần túy mà nó còn cókhả năng gợi những liên tưởng sâu xa trong lòng người đọc Đó là điểm gặp gỡgiữa nhà văn và độc giả
Trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ tác động đến người đọcqua một hệ thống các đơn vị ngôn ngữ mang tính hình tượng Theo Hữu Đạt
“khi các đơn vị ngôn ngữ tham gia với tư cách là các tham tố tạo nên hình tượng nghệ thuật, tự nó đã làm mờ nhạt đi tính bản thể của tín hiệu ngôn ngữ
để tạo nên một loại nghĩa mới ngoài bản thể hay là “siêu tín hiệu”” [16, tr.285].
Từ đó, người đọc tìm hiểu văn bản nghệ thuật phải bằng cách lí giải các tín hiệungôn ngữ thông qua thao tác tư duy trừu tượng Một từ trong ngôn ngữ nghệthuật khác với từ trong các phong cách chức năng khác, nó không chỉ được hiểutheo nghĩa 1/1 (cái biểu đạt/cái được biểu đạt) mà một tín hiệu ngôn ngữ có thểđược hiểu theo nhiều cách khác nhau
Ví dụ, trong bài thơ Bánh trôi nước, Hồ Xuân Hương đã mượn hình
tượng chiếc bánh trôi nước để nói về người phụ nữ:
“Thân em vừa trắng lại vừa trònBảy nổi ba chìm với nước nonRắn nát mặc dầu tay kẻ lặn
Trang 23Mà em vẫn giữ tấm lòng son”
Về nghĩa tả thực, bài thơ miêu tả hình dạng, màu sắc, quá trình nấu bánhtrôi nước Nhưng ẩn sau đó là tầng nghĩa hàm ẩn nhằm để chỉ về vẻ đẹp củangười phụ nữ
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật còn khu biệt với các phong cách khácnhờ vào đặc điểm tính thẩm mĩ Nói tới nghệ thuật là nói tới cái đẹp, ở đây là cáiđẹp được phản ánh qua quá trình sáng tạo của người nghệ sĩ Để sáng tạo nênnhững hình tượng nghệ thuật, người nghệ sĩ phải sử dụng ngôn ngữ và ngôn ngữphải được dùng để thực hiện chức năng thẩm mĩ tức là mang lại cho người đọcnhững rung động mạnh mẽ
Trong thơ ca, ngôn ngữ thơ được gọt giũa, trau chuốt về từ ngữ, về nhịpđiệu, hình ảnh, vần, thanh để đem đến cho người đọc sự đồng điệu về cảm xúc:
Ví dụ:
Nước biếc non xanh thuyền gối bãiĐêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu
(Nguyễn Trãi)Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông
(Nguyễn Du)Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
(Hàn Mặc Tử)Trong văn xuôi, tính thẩm mĩ được thể hiện ở việc sử dụng ngôn ngữ giàu
“chất thơ” hay giàu chất họa Truyện ngắn của Thạch Lam là kiểu văn bản nhưvậy Ngôn ngữ trong truyện ngắn Thạch Lam được nhận xét như “một bài thơ
trữ tình bằng văn xuôi” Ví dụ, trong Hai đứa trẻ, Thạch Lam miêu tả khung
cảnh của phố huyện lúc chiều tàn: “Tiếng trống thu không trên cái chòi cao
Trang 24của huyện nhỏ; từng tiếng một vang xa để gọi buổi chiều Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời Chiều, chiều rồi Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”.
So với tất cả các phong cách khác, ngôn ngữ trong phong cách nghệthuật có tính sinh động và biểu cảm cao nhất Đây là một trong các yếu tố làmnên chất trữ tình của văn bản nghệ thuật Để nối liền cảm xúc giữa tác giả vàđộc giả không gì bằng các phương tiện biểu cảm của ngôn ngữ Vì thế, điểmlàm nên sự khác biệt giữa phong cách ngôn ngữ nghệ thuật và các phong cáchkhác chính là việc sử dụng các loại câu than gọi, câu hỏi tu từ…
Một đặc điểm nữa tạo nên sự khác biệt giữa phong cách ngôn ngữ nghệthuật với các phong cách khác còn là tính tổng hợp của việc sử dụng ngônngữ Phong cách nghệ thuật sử dụng mọi phương tiện của các phong cáchkhác trong đó nhiều nhất là của khẩu ngữ tự nhiên bởi lẽ đối tượng của vănbản nghệ thuật chính là các hiện tượng từ hiện thực đời sống Đặc điểm vềtính tổng hợp của ngôn ngữ nghệ thuật còn được thể hiện ở việc phong cáchngôn ngữ này đưa vào nó các từ địa phương, tiếng lóng, từ nghề nghiệp Điều này hầu như không được sử dụng trong phong cách ngôn ngữ khoa học,phong cách ngôn ngữ hành chính – công vụ trong khi đó, ở phong cáchngôn ngữ nghệ thuật, nó lại là đặc điểm làm nên nét riêng biệt trong phong
cách tác giả Ví dụ, trong Số đỏ, Vũ Trọng Phụng sử dụng một lượng lớn
ngôn ngữ vỉa hè, đường chợ, tiếng lóng, đặc biệt qua lời của nhân vật Xuântóc đỏ như: mẹ kiếp, nước mẹ gì, bỏ mẹ ra,
Như vậy, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật có nhiều điểm đặc trưngriêng biệt so với các phong cách chức năng khác của ngôn ngữ Chính điều
Trang 25này đã tạo nên sức hấp dẫn của các tác phẩm văn học so với các văn bản ngônngữ khác.
Văn học là nghệ thuật ngôn từ Người nghệ sĩ tài năng là người nghệ sĩbiết sáng tạo “chất liệu” ngôn ngữ của dân tộc để làm nên tác phẩm của mình,xây dựng hình tượng nghệ thuật của riêng mình và tạo cho mình một giọngđiệu riêng, một phong cách riêng, không nhầm lẫn được Văn hào Nga
Shêkhôp đã khẳng định: “Nếu tác giả nào không có lối nói riêng của mình thì người đó không bao giờ là nhà văn cả” Cũng theo ông, ngôn ngữ là yếu tố
đầu tiên tạo nên phong cách tác giả
Nhà văn có phong cách ngôn ngữ là nhà văn biết sử dụng ngôn ngữtoàn dân, của dân tộc để tạo nên một giọng điệu riêng, một chất giọng riêngkhông hề nhầm lẫn và được mọi ngưòi thừa nhận Chất giọng riêng ấy trướchết thể hiện ở sự sáng tạo ngôn ngữ Sự sáng tạo ngôn ngữ này chính là đónggóp của nhà văn làm phong phú thêm kho tàng ngôn ngữ của dân tộc Bởivậy, khảo sát phong cách ngôn ngữ nhà văn chính là khảo sát chất giọng riêngcủa nhà văn, tìm ra qui luật riêng trong việc sử dụng ngôn ngữ và sự sáng tạocủa nhà văn trên phương diện ngôn ngữ
Ở đề tài này, chúng tôi chỉ trình bày một số biểu hiện làm nên phong cáchngôn ngữ của nhà văn: người trần thuật và điểm nhìn trần thuật; ngôn ngữ trầnthuật; giọng điệu trần thuật, cách sử dụng một số kiểu câu đặc biệt (thủ phápnghệ thuật)
1.3 Khái niệm người trần thuật và điểm nhìn trần thuật
1.3.1 Khái niệm về người trần thuật và ngôi trần thuật
Trần thuật là phương diện cơ bản của phương thức tự sự, thể hiện ởviệc giới thiệu khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàncảnh, sự vật theo cách nhìn của người trần thuật Trần thuật không chỉ là lời
Trang 26kể mà còn bao hàm cả việc miêu tả đối tượng, phân tích hoàn cảnh, thuật lạitiểu sử nhân vật, lời bình luận, lời ghi chú của tác giả… Ngôn ngữ trần thuật
do vậy là nơi bộc lộ ý thức sử dụng ngôn ngữ có chủ ý của nhà văn, bộc lộcách lý giải cuộc sống từ cách nhìn riêng và cá tính sáng tạo của tác giả
Người trần thuật giữ vai trò trung tâm trong tất cả các yếu tố cấu trúccủa văn bản nghệ thuật Đó là phương diện để nhận thức thế giới nghệ thuật,
nó có những đặc điểm riêng, có quy luật phát triển và mối quan hệ qua lại vớicác yếu tố khác như ngôi, điểm nhìn, tiêu điểm, ngôn ngữ trần thuật Thuậtngữ người trần thuật còn được gọi là người kể chuyện, chủ thể trần thuật, chủthể kể chuyện
Trần thuật bao giờ cũng được tiến hành từ phía một người nào đó.Trong các thể loại văn học trực tiếp hay gián tiếp đều có người trần thuật.Người trần thuật không những chỉ tổ chức ngôn ngữ mà còn đóng vai trò quantrọng về mặt kết cấu, chi phối ngôn ngữ của nhân vật
Trong trường hợp tác giả đóng vai trò người trần thuật, tác phẩm cónhân vật kể chuyện ở ngôi thứ nhất (first person), xưng “tôi” Điều này dễnhận thấy ở các tác phẩm tự truyện hoặc có dáng dấp tự truyện Với việc trầnthuật ở ngôi thứ nhất, tác giả viết về những điều mình đã trải qua, đã chứngkiến và nếm trải, chiêm nghiệm Tuy nhiên, “tôi” không hẳn là tác giả mà chỉ
là một nhân vật của truyện Lời trần thuật ở đây vừa là ngôn ngữ trần thuậtcủa tác giả vừa là ngôn ngữ trần thuật của nhân vật, tức vừa là lời trực tiếp,vừa là lời gián tiếp (của nhân vật)
Ngoài ra, tác giả còn trần thuật ở ngôi thứ ba dưới hình thức người kểchuyện (do tác giả sáng tạo ra), lời trần thuật ở đây mang tính khách quan hoá
và trung tính Người trần thuật được chứng kiến câu chuyện và có khả năng
Trang 27kể lại toàn bộ câu chuyện theo cách riêng của mình Lời trần thuật ở đây còn
có nhiệm vụ tái hiện và phân tích, lý giải thế giới khách quan vật chất, sựviệc, con người…; tái hiện và phân tích, lý giải lời nói ý thức người khác.Theo Bakhtin, lời văn trần thuật gián tiếp này (khác với lời văn trực tiếp củanhân vật) có thể chia làm hai loại: loại thứ nhất là gián tiếp một giọng, là lờitrần thuật tái hiện, phẩm bình các hiện tượng của thế giới trong ý nghĩ kháchquan vốn có của chúng Loại thứ hai là lời gián tiếp hai giọng tức là trongphát ngôn của người trần thuật cùng lúc có thể có cả lời trực tiếp hay nhữngsuy tư gián tiếp của nhân vật, nó thể hiện sự đối thoại với ý thức khác củacùng một đối tượng miêu tả Loại thứ hai này cho phép tác giả di chuyển
“điểm nhìn” trần thuật và tạo nên tính chất đa thanh trong ngôn ngữ trầnthuật
Ngoài việc tác giả trần thuật theo hai dạng thức nói trên, nhân vật còn
có vai trò là người trần thuật Trong truyện ngắn, nhân vật có vị trí rất quantrọng, là then chốt của cốt truyện, giữ vị trí trung tâm trong việc thể hiện đềtài, chủ đề và tư tưởng tác phẩm Có nhân vật thì có ngôn ngữ nhân vật Ngônngữ nhân vật là một trong những phương tiện quan trọng được nhà văn sửdụng nhằm thể hiện cuộc sống và cá tính nhân vật Hình tượng người kểchuyện gắn với ngôi kể đem lại cho tác phẩm một cái nhìn và một sự đánh giá
bổ sung về mặt tư tưởng, lập trường, thái độ, tình cảm cho cái nhìn tác giả,làm cho sự trình bày, tái tạo lại con người và cuộc sống trong tác phẩm thêmphong phú Ngôi kể còn có ý nghĩa trong việc tạo thành giọng điệu của vănbản, bởi vì giọng điệu bao giờ cũng phải là giọng của một ai đó, được thể hiệnbằng những phương tiện ngôn từ nhất định
Ở nước ta, các nhà nghiên cứu cũng rất quan tâm đến việc nghiên cứu lýgiải vấn đề người trần thuật trong tác phẩm tự sự Theo các tác giả của Từ
Trang 28điển thuật ngữ văn học thì: “Người trần thuật là một nhân vật hư cấu hoặc có thật, mà văn bản tự sự là do hành vi ngôn ngữ của anh ta tạo thành (…), nó
bị trừu tượng hóa đi, trở thành một nhân vật hoặc ẩn hoặc hiện trong tác phẩm tự sự” [24, 221 ] Theo quan điểm này thì rõ ràng chủ thể trần thuật
được coi là một hình tượng do nhà văn sáng tạo nên trong tác phẩm Và tấtnhiên, tác phẩm tự sự được tạo thành chính là do hoạt động ngôn ngữ củanhân vật này mà có Bên cạnh đó, các tác giả cũng phân tích khá rõ đặc điểm:
“Người kể chuyện là hình tượng ước lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm Đó có thể là hình tượng của chính tác giả, dĩ nhiên không nên đồng nhất với tác giả ngoài đời, có thể là một nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra, có thể là một người biết câu chuyện nào đó Một tác phẩm có thể có một hoặc nhiều người kể chuyện” [22, 221]
Trong luận án tiến sĩ của Hoàng Dĩ Đình, tác giả đã chỉ ra những nét rấtmới trong quan niệm về trần thuật Các nhà nghiên cứu Trung Quốc quanniệm văn bản trần thuật có thể được coi như là một câu trần thuật được mởrộng, ngôn ngữ trần thuật là hình thức biểu hiện của hành động ngôn từ trầnthuật
Có nhiều quan niệm khác nhau về người trần thuật - chủ thể trần thuật,song hầu hết các quan niệm đều xoay quanh những đặc điểm cơ bản về chủthể trần thuật trong tác phẩm tự sự đó là một dạng hình tượng được hư cấu,sáng tạo, là người đại diện phát ngôn cho tác giả trong tác phẩm tự sự Ngườitrần thuật trong tác phẩm tự sự là chủ thể của lời kể, là người đứng ra kểchuyện và là nhân tố trung tâm chi phối việc tổ chức, kết cấu cấu trúc văn bản
tự sự Người trần thuật cũng giữ vai trò trung gian giữa tác giả, tác phẩm vàngười đọc Đối với bất kì một truyện ngắn nào, người trần thuật đồng thời
Trang 29đảm nhiệm hai vai trò: vai trò giới thiệu và dẫn dắt câu chuyện (chức năngtrần thuật) và vai trò điều khiển (chức năng kiểm soát)
Theo lí thuyết của tự sự học, có ba kiểu điểm nhìn gắn với ba kiểungười kể chuyện Đó là điểm nhìn từ đằng sau - Zero, điểm nhìn từ bên trong
và điểm nhìn từ bên ngoài
Người kể chuyện toàn tri ứng với điểm nhìn zero, nhìn từ đằng sau Khi
đó tiêu cự bằng không hay còn gọi là phi tiêu điểm (zero focalization) Người
kể chuyện mang sức mạnh toàn năng, thông suốt, tường tận hết mọi chuyệnkhông chỉ ở hiện tại mà còn có khả năng tái hiện lại quá khứ và dự báo trướctương lai Với vai trò như thượng đế, người kể chuyện biết hết mọi chuyện.Ngay cả đời sống nội tâm phức tạp và thầm kín của con người cũng được thâutóm và kể lại một cách trung thực Độ bao quát hiện thực của người kểchuyện bao giờ cũng lớn hơn tất cả mọi nhân vật Con mắt của người trầnthuật có mặt ở mọi nơi, mọi lúc, xoáy sâu vào từng chi tiết nhỏ của đời sống
để kể lại cho độc giả Nhờ vậy mà mọi hiện thực đều được phơi bày một cách
Trang 30rõ nét Điều này dường như đang trở thành một hạn chế lớn của kiểu người kểchuyện toàn tri và điểm nhìn zero Ngày nay, dạng người kể chuyện nàykhông được nhiều nhà văn sử dụng vì nó tạo ra tâm lí nhàm chán cho độc giả.Con người hiện đại luôn được xem là một thực thể phức tạp và khó hiểu Bởivậy, mọi câu chuyện được viết ra đều phải tạo cho người đọc hứng thú khámphá, một thái độ biết hoài nghi, phủ nhận Nhưng kiểu người kể chuyện toàntri với điểm nhìn zero lại không thể thực hiện được điều đó khi mọi chỗ trốngđều được lấp đầy, mọi hiện thực đều được phơi bày khiến độc giả rơi vào cảmgiác tẻ nhạt, thiếu hứng thú, nó tạo ra một lớp độc giả lười biếng.
Người kể chuyện bên trong gắn với điểm nhìn bên trong, điểm nhìn củanhân vật, nội tiêu điểm (internal focalization) Ở đây, nhà văn thôi không nóinữa mà xây dựng lên kiểu nhân vật tự nhìn, nhân vật tự nói và tự chiêmnghiệm, tự đánh giá Bởi vậy, nó mang tính chân thực và gần gũi hơn Tầmbao quát hiện thực, sự hiểu biết của người kể chuyện tương ứng với của nhânvật trong truyện Ở kiểu người kể chuyện bên trong này có thể chia làm badạng nhỏ hơn, ứng với ba điểm nhìn bên trong của nhân vật
Điểm nhìn bên trong cố định là một nhân vật cảm nhận, đánh giá và kểlại các sự việc từ đầu đến cuối Thông thường, ở dạng này, người kể chuyệnthường xưng hô theo ngôi thứ nhất để kể lại sự việc Độc giả qua đó cũng chỉbiết sự việc qua cái nhìn của một nhân vật – những sự việc mà nhân vật thamgia hoặc được chứng kiến Tuy nhiên, hạn chế của điểm nhìn bên trong cốđịnh này là lượng sự việc được nêu ra không nhiều, yêu cầu tính tái hiện vàtưởng tượng cao ở độc giả thì mới có thể nắm bắt được toàn bộ câu chuyện.Bên cạnh đó, các sự kiện, biến cố được kể đều bị nhuốm màu sắc chủ quancủa nhân vật trong quá trình phát triển tính cách
Trang 31Điểm nhìn bên trong biến đổi là nhiều nhân vật kể lại nhiều chuyệnkhác nhau trong cùng một thời điểm Nhờ đó, độc giả có thể nắm bắt nhiều sựkiện hơn qua cách cảm nhận của nhiều nhân vật hơn.
Điểm nhìn bên trong đa bội là khi một câu chuyện được kể lại qua cáinhìn của nhiều nhân vật Sự thay đổi điểm nhìn giữa các nhân vật một cáchlinh hoạt sẽ tạo nên tính chân thực và khách quan cho câu chuyện được kể.Đồng thời, độc giả sẽ có một cái nhìn tổng quan hơn về câu chuyện, cái nhìncủa nhân vật này sẽ có vai trò lấp đầy, bổ sung cho cái nhìn của nhân vậtkhác, tạo nên tính chỉnh thể cho cốt truyện
Người kể chuyện bên ngoài thường gắn với điểm nhìn bên ngoài, ngoạitiêu điểm (external focalization) Trong những văn bản tự sự sử dụng kiểungười kể chuyện này, độc giả dường như không hề cảm nhận được sự tồn tạicủa kiểu người kể chuyện Bởi vì khi đó, người kể chuyện giấu mình, đứngngoài câu chuyện để miêu tả, trần thuật lại một cách khách quan và chân thực.Đặc biệt, nội tâm của nhân vật không được đi sâu khám phá mà chỉ chủ yếu làghi lại lời nói và hành động của nhân vật Vai trò của người kể chuyện chophép truyện kể được đọc như một cái gì đó đã biết hơn là một cái gì đó tưởngtượng ra, một cái gì đó tường thuật hơn là một cái gì đó hư cấu
Trong các tác phẩm tự sự, chọn cách xuất phát từ điểm nhìn nào đểngười kể chuyện kể lại chuyện cũng chính là dụng ý nghệ thuật của nhà văn
Có những tác phẩm từ đầu đến cuối đều nhất mực tuân thủ theo một kiểungười kể chuyện, một điểm nhìn duy nhất Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp,
đó lại là sự phối ghép của nhiều điểm nhìn khác nhau mà người ta gọi đó làlối kể chuyện phân mảnh Ở lối kể chuyện này xuất hiện nhiều kiểu người kểchuyện trong cùng một tự sự, kể lại sự việc bằng nhiều điểm nhìn khác nhau
Trang 32Có thể mở đầu, người kể chuyện giấu mình để kể, sau đó, chức năng trầnthuật có thể được chuyển cho một hay nhiều nhân vật trong truyện, từ điểmnhìn ngôi thứ nhất chuyển tiếp sang điểm nhìn bên trong, Với lối viết phânmảnh như vậy sẽ tạo lên cái nhìn đa diện, đa chiều cho tác phẩm, và đặc biệt
là nó không gây cảm giác nhàm chán cho độc giả
Ở Việt Nam, điểm nhìn cũng được khai thác ở các góc độ trên Chẳnghạn: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân nghiên cứu điểm nhìn dưới góc độ ngữdụng học; Nguyễn Thái Hòa chú ý đến điểm nhìn trong truyện; Hữu Đạtnghiên cứu điểm nhìn trong mối tương quan với độc giả và cấu trúc củatruyện
Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán (chủ biên) thì: “Điểm
nhìn nghệ thuật (tiếng Anh: Point of view) là vị trí từ đó người trần thuật nhìn ra và miêu tả sự vật trong tác phẩm Không thể có nghệ thuật nếu không
có điểm nhìn, bởi nó thể hiện sự chú ý, quan tâm và đặc điểm của chủ thể trong việc tạo ra cái nhìn nghệ thuật” [24;113] Như vậy, có thể nói, điểm
nhìn là sự lựa chọn cự ly trần thuật nào đó loại trừ được sự can thiệp của tác
giả vào các sự kiện được miêu tả và cho phép văn xuôi trở nên “tự nhiên”
hơn, phù hợp với cuộc sống hơn Chủ thể trần thuật thay mặt tác giả có mặt ởkhắp nơi, nhưng không ai nhìn thấy, lại có sức mạnh toàn năng giống nhưThượng Đế vậy
Điểm nhìn trần thuật biểu hiện qua các phương tiện nghệ thuật, ngôi kể,lời văn, giọng điệu, cách gọi tên sự vật,… Nó cung cấp một phương diện đểngười đọc nhìn sâu vào cấu tạo nghệ thuật của tác phẩm, nhận ra phong cáchđặc trưng của nhà văn
Trang 33Như vậy, điểm nhìn trần thuật giữ một vai trò rất quan trọng, là xuất phátđiểm của bất kỳ một tác phẩm tự sự nào Tuy nhiên, cần phân biệt rõ điểmnhìn là điểm xuất phát của một cấu trúc nghệ thuật chứ không phải là bản thâncấu trúc đó Cấu trúc nghệ thuật của một tác phẩm là hằng số không đổi củanhững quan hệ của các yếu tố nghệ thuật được lựa chọn để đưa vào tác phẩm.Điểm nhìn nghệ thuật chiếu cái nhìn vào các yếu tố được lựa chọn, thêm bớthoặc nhấn mạnh và chỉ được suy ra từ cái nhìn tổng thể đối với tác phẩm nghệthuật do yêu cầu của người tiếp nhận
Điểm nhìn trần thuật và ngôi kể là hai yếu tố cấu thành phương thức
trần thuật của một tác phẩm tự sự Sự kết hợp giữa hai yếu tố này với nhau tạo
thành các phương thức tự sự khác nhau, đem lại những khả năng khái quáthiện thực phong phú cho truyện kể Riêng về vấn đề điểm nhìn, nhà văn tổchức một cách khéo léo linh hoạt sẽ làm nổi bật được khá rõ quan niệm nghệthuật, tư tưởng của mình Hơn nữa, chính sự lựa chọn điểm nhìn của nhà văn
sẽ quyết định rất nhiều đến giọng điệu, sắc thái thẩm mỹ và giá trị nghệ thuậtcủa tác phẩm Chính vì thế, khi mỗi một tác phẩm có sự di chuyển điểm nhìnbên ngoài và bên trong, hay có sự phức hợp trong điểm nhìn sẽ giúp chongười đọc khám phá đời sống phong phú, đa dạng về nhân vật từ nhiều góc
độ khác nhau
Điểm nhìn trần thuật có thể phân chia ra làm nhiều loại:
- Điểm nhìn không gian: nhìn xa, gần, trên, dưới, lệch, thẳng,…
- Điểm nhìn thời gian: nhìn từ hiện tại, quá khứ, hay tương lai,…
- Điểm nhìn tâm lí: khi người trần thuật nhìn theo tầm mắt nhân vật cóđặc điểm giới tính, lứa tuổi hoặc có quan hệ thân sơ, bên trong hay bên ngoài,
…
- Điểm nhìn quang học: mang tính khách quan hoàn toàn
- Điểm nhìn theo một mô hình văn hoá nào đó
Trang 34- Điểm nhìn theo một hệ tư tưởng nhất định.
- Điểm nhìn dịch chuyển
…
Tổ chức điểm nhìn trần thuật là khâu quan trọng nhất trong trần thuật.Bởi để miêu tả, trần thuật, nhà văn buộc phải xác định, lựa chọn điểm nhìnhợp lí Điểm nhìn thể hiện sự chú ý và đặc điểm của chủ thể trong việc sángtạo ra cái nhìn nghệ thuật Trên thực tế, giá trị của tác phẩm nghệ thuật mộtphần không nhỏ là do nó đem lại cho bạn đọc một cái nhìn mới nào đó vềcuộc đời Mặt khác, thông qua điểm nhìn trần thuật, người đọc có dịp đi sâutìm hiểu cấu trúc tác phẩm và đặc điểm phong cách
1.4 Ngôn ngữ trần thuật và giọng điệu trần thuật
1.4.1 Ngôn ngữ trần thuật
Mỗi tác phẩm văn học được tạo nên trước hết nhờ yếu tố ngôn ngữ đúng
như lời của nhà văn M.Gorki đã nói: “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” Nhà văn sáng tạo nên tác phẩm bằng sự chọn lựa, chắt lọc ngôn từ trong
vốn ngôn ngữ đa dạng, phong phú của dân tộc mình Người đọc khi khám phátác phẩm sẽ bóc tách lớp vỏ ngôn từ để thâm nhập vào thế giới bí ẩn bên trongnhững câu chữ, trong hệ thống cấu trúc của tác phẩm Khi xây dựng tác phẩmvăn học, nhà văn đã tạo nên một chỉnh thể thống nhất giữa nội dung và hìnhthức Đồng thời qua cách sáng tạo ngôn từ nghệ thuật, nhà văn bộc lộ được tàinăng và cá tính sáng tạo riêng của mình, để lại dấu ấn trên những trang viết cụthể
Ngôn ngữ trần thuật trước hết phải là ngôn ngữ văn học, nghĩa là ngônngữ mang tính nghệ thuật được dùng trong văn học Đó là thứ ngôn ngữ mangđầy đủ các đặc trưng: tính hình tượng, tính đa nghĩa, tính cá thể hóa và cụ thểhóa
Trang 35Ngôn ngữ trần thuật là ngôn ngữ đa dạng, ngôn ngữ của nhiều tính cách,bao gồm: ngôn ngữ của người trần thuật, ngôn ngữ nhân vật và lời nói nướcđôi Trong đó, ngôn ngữ người trần thuật giữ vai trò quyết định.
Trong tác phẩm tự sự, ngôn ngữ trần thuật thể hiện rõ vai trò và tầm quantrọng của nó trong kiến tạo tác phẩm Trong văn học dân gian, các tác phẩm
tự sự chưa thực sự được chú ý ở lời văn trần thuật; các thành phần của lời văntrần thuật chưa được đa dạng nên giọng điệu trong tác phẩm còn đơn điệu,xuôi chiều Đến văn học viết, tác phẩm tự sự đã có sự linh hoạt, đa dạng trongcác thành phần của lời văn trần thuật; phong phú, đa sắc trong giọng điệu trầnthuật vì thế đã đem lại hiệu quả thẩm mỹ tích cực cho tác phẩm Các nhà lýluận văn học chỉ ra những dạng thức phổ biến của lời văn trần thuật trong cáctác phẩm tự sự như: lời tác giả và lời nhân vật hay lời trực tiếp và lời giántiếp
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, ngôn ngữ người trần thuật là “phần lời
văn độc thoại thể hiện quan điểm tác giả hay quan điểm người kể chuyện (sản phẩm sáng tạo của tác giả) đối với cuộc sống được miêu tả, có những nguyên tắc thống nhất trong việc lựa chọn và sử dụng các phương tiện tạo hình và biểu hiện ngôn ngữ” [24, tr 212 - 213].
Ngôn ngữ người trần thuật không những có vai trò then chốt trong phươngthức trần thuật mà còn là yếu tố cơ bản thể hiện phong cách nhà văn, thể hiệncái nhìn, giọng điệu, cá tính của tác giả
Ngôn ngữ người trần thuật có thể có một giọng (chỉ nhằm gọi ra sựvật) hoặc có thể có hai giọng (như lời mỉa mai, nhại,…) thể hiện sự đối thoạivới người khác về cùng một đối tượng miêu tả
Ngôn ngữ nhân vật, theo Từ điển thuật ngữ văn học, là “lời nói của
nhân vật trong các tác phẩm thuộc các loại hình tự sự và kịch” [24, tr 214].
Trang 36Ngôn ngữ nhân vật là một trong các phương tiện quan trọng mà nhàvăn sử dụng để thể hiện cuộc sống và tính cách nhân vật Trước đây, trongvăn học trung đại, do ý thức cá nhân chưa được đề cao, ngôn ngữ nhân vậtchưa được cá thể hoá sâu sắc và chưa có sự phân biệt với ngôn ngữ tác giả.Nhưng về sau, cùng với sự trỗi dậy của ý thức cá nhân, ngôn ngữ nhân vậtđược coi là đối tượng của sự miêu tả, và cá tính hoá trở thành một yêu cầuthẩm mĩ Nhà văn có thể cá tính hoá ngôn ngữ nhân vật bằng nhiều cách:nhấn mạnh cách đặt câu, ghép từ, lời phát âm đặc biệt của nhân vật, cho nhânvật lặp lại những từ, câu mà nhân vật thích nói, hoặc trực tiếp miêu tả phongcách ngôn ngữ nhân vật,…
Dù tồn tại dưới hình thức nào hoặc được thể hiện bằng cách nào, ngônngữ nhân vật cũng phải đảm bảo kết hợp hài hoà tính cá thể và tính khái quát,nghĩa là một mặt, mỗi nhân vật có một ngôn ngữ mang đặc điểm riêng, mặtkhác ngôn ngữ ấy lại phản ánh được ngôn ngữ của một tầng lớp người nhấtđịnh
Ngoài ra, ngôn ngữ trần thuật còn bao gồm cả ngôn ngữ nước đôi Đóvừa là lời nói của tác giả, vừa là lời nói của nhân vật, bộc lộ cả thế giới bêntrong và thế giới bên ngoài nhân vật
Việc phân biệt lời tác giả và lời nhân vật có ý nghĩa nhất định nhất là đốivới văn học Hiện thực phê phán, ở đó không chỉ có sự tách bạch lời tác giả và
lời nhân vật, mà nó còn có sự “trao quyền” trần thuật, phát ngôn cho nhân vật,
để nhân vật bộc lộ tính cách qua sự cá tính hóa của ngôn ngữ nhân vật Tuy
nhiên, sự phân biệt thành lời văn trực tiếp và lời văn gián tiếp được chú ý
nhiều hơn Trong đó, lời văn trực tiếp được xem là “lời do nhân vật hoặc do tác giả - những con người trực tiếp nói lên trong tác phẩm” [48; 330] Do
vậy, lời trực tiếp trong tác phẩm tự sự chủ yếu là những câu thoại và chúngđảm nhận nhiều chức năng quan trọng Theo Phương Lựu, nó có những chức
Trang 37năng chính như: chức năng phản ánh hiện thực ở ngoài nhân vật; chức năng tựbộc lộ của nhân vật (cho thấy sự tồn tại của nó); chức năng biểu hiện nội tâm,thế giới bên trong của nhân vật… Trong đó, lời trực tiếp của cái tôi tác giảthường thuộc về những đoạn trữ tình ngoại đề, hay những lời phẩm bình, triết
lý Trong lời trực tiếp của nhân vật lại thường được tìm hiểu ở hai dạng cơbản là lời đối thoại trực tiếp giữa các nhân vật trong tác phẩm với nhau và lờinội tâm của nhân vật khi tự nói với chính mình Lời nội tâm được xem là mộtdạng đặc biệt của lời trực tiếp, trong đó lời nội tâm bao gồm độc thoại nội tâm
và đối thoại nội tâm Thực ra, đối thoại nội tâm cũng là một dạng của độcthoại nội tâm, nhưng điểm khác ở chỗ là nó mang tính chất đối thoại, nghĩa làchúng ta sẽ nghe thấy nhiều giọng cùng vang lên một lúc, các giọng ấy đốithoại với nhau, tranh biện với nhau trong mạch nội tâm của nhân vật
Cùng với lời văn trực tiếp, lời văn gián tiếp cũng được các nhà văn xâydựng và phát huy khả năng biểu hiện của nó trong việc tạo dựng hình tượng
nghệ thuật Lời gián tiếp được hiểu là “lời tác giả hay lời người trần thuật do tác giả ủy quyền” [48; 69] Mỗi một dạng thức lời văn đều có những chức năng riêng; Lời văn gián tiếp cũng có hai chức năng chính là “tái hiện và phân tích, lí giải thế giới khách vật chất, sự việc, con người, cảnh vật,…lí giải lời nói, ý thức người khác” [48; 335]
Cũng chia thành những tiểu loại nhỏ như dạng lời văn trực tiếp; lời văngián tiếp có thể được chia làm hai loại theo quan niệm của M Bakhtin là lờigián tiếp một giọng và lời gián tiếp hai giọng Lời gián tiếp một giọng chính
là lời của người trần thuật không có lời đan xen của nhân vật, là “lời tái hiện, phẩm bình các hiện tượng của thế giới trong ý nghĩ khách quan vốn có của chúng theo ý đồ của tác giả, không liên can gì tới ý thức, suy nghĩ của người khác về chúng” [48; 335] Lời gián tiếp hai giọng lại thường có lời kể của chủ
thể trần thuật xen lời nhân vật Trong loại lời văn này lại có các dạng chính là
Trang 38lời nửa trực tiếp, lời gián tiếp phong cách hóa, lời gián tiếp của người kểchuyện Trong ba loại lời văn trên thì lời nửa trực tiếp (tức là lời vừa xennhững yếu tố lời trực tiếp của nhân vật) được coi là dễ đem lại hiệu quả thẩm
mỹ sâu sắc nhất trong việc thể hiện tiếng nói bên trong nhân vật Bởi nó kếthợp đồng thời hai hình thức phát ngôn từ chủ thể trần thuật và nhân vật Nhờthế nó dễ dàng tạo nên sự phức hợp giọng điệu cho tác phẩm Khi phân biệtcác thành phần của lời văn nghệ thuật cũng cần nhận thấy rằng trong một tácphẩm văn học, nhất là trong các tác phẩm tự sự sẽ có sự kết hợp đan xen cáckiểu lời văn nghệ thuật Nhờ sự kết hợp đa dạng các kiểu lời văn này mà nhà
văn phát huy được sức mạnh của “nghệ thuật ngôn từ” để diễn tả được tính đa
sắc điệu của đời sống
Bằng việc chọn lựa ngôn từ tinh tế và tận dụng các ưu thế về tính kháiquát, tính trừu tượng và tính đa nghĩa của ngôn ngữ, các nhà văn có thể táihiện được toàn bộ đời sống xã hội phức tạp của con người tùy vào điểm nhìn
và nhận thức của mỗi nhà văn về hiện thực Như vậy, ngôn ngữ qua bàn taysáng tạo của nhà văn trở thành lời văn nghệ thuật mà Bakhtin nhận xét là
“ngôn ngữ trong tính toàn vẹn, cụ thể và sinh động của nó chứ không phải ngôn ngữ với tính cách là đối tượng chuyên biệt của ngôn ngữ học có được bằng một sự trừu tượng hóa và tất yếu một khía cạnh nào đó của sự sống cụ thể của lời nói” [67; tr.189]
1.4.2 Giọng điệu trần thuật
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “giọng điệu là thái độ, tình cảm, lập
trường, đạo đức của nhà văn với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ
xa gần, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm ” (24, tr134).
Giọng điệu là một yếu tố đặc trưng của hình tượng tác giả trong tác phẩm
Trang 39trong văn học, giọng điệu giúp chúng ta nhận ra tác giả Do vậy, thông quagiọng điệu trần thuật trong tác phẩm, người đọc có thể nhận thấy tất cả cácchiều sâu tư tưởng, thái độ, vị thế, phong cách, tài năng cũng như sở trườngngôn ngữ, cảm hứng sáng tạo của người nghệ sĩ thể hiện trong đó Nền tảngcủa giọng điệu là cảm hứng chủ đạo của nhà văn Trong khi trần thuật, tác giả
sử dụng nhiều giọng điệu, nhiều sắc thái trên cơ sở một giọng điệu cơ bản chủđạo, chứ không đơn điệu một giọng trần thuật Có được điểm này là do giọng
điệu gắn bó chặt chẽ với điểm nhìn, với chủ thể phát ngôn Nếu như “tiêu điểm” trả lời cho câu hỏi ai nhìn? Thì “giọng” trả lời cho câu hỏi “ai nói?”, lời
văn trần thuật sẽ trả lời cho câu hỏi: nói như thế nào? - nó hướng về sự phátngôn của chủ thể lời văn
Thông thường, giọng điệu bị chi phối bởi điểm nhìn của chủ thể, ở quan
hệ của chủ thể tác giả đối với cái được miêu tả Chính vì vậy, Nguyễn Thái
Hoà trong Những vấn đề thi pháp của truyện đã khẳng định: “Giọng điệu
chính là mối quan hệ giữa chủ thể và hiện thực khách quan thể hiện bằng hành vi ngôn ngữ trong đó bao hàm cả việc định hướng, đánh giá và thói quen cá nhân sử dụng ngôn từ trong những tình huống cụ thể” [32, tr.154] Trần Đình Sử lại xem giọng điệu văn học là hiện tượng “siêu ngôn ngữ”
là “yếu tố hàng đầu của phong cách nhà văn” [55, tr.34] Do đó, yếu tố giọng
điệu giữ một vai trò rất quan trọng trong việc cấu thành lời văn nghệ thuật.Đồng thời, giọng điệu cũng là sự biểu hiện nhận thức, thái độ, tình cảm, cảmxúc nhà văn đối với đời sống Mỗi tác phẩm in đậm dấu ấn, phong cách củanhà văn qua giọng điệu và lời văn trần thuật Như vậy, giọng điệu là mộttrong những yếu tố nghệ thuật quan trọng nhất trong tác phẩm tự sự nói chung
và trong truyện ngắn nói riêng
Trang 40Trong văn học dân gian, yếu tố giọng điệu không phải là yếu tố nổi bật,cũng không có sự phân biệt rõ ràng giọng của các nhân vật do các dạng cấutrúc lời văn trần thuật chưa có sự đa dạng, linh hoạt Trong văn học hiện thựcthì khác, vấn đề giọng điệu trần thuật được các nhà văn đặc biệt chú ý Mỗinhà văn đều lựa chọn được những giọng điệu chủ đạo cho tác phẩm nhằm bộc
lộ tốt nhất thái độ, tư tưởng, chủ đề của tác phẩm Bên cạnh giọng chủ đạocòn tồn tại nhiều giọng khác nhau, mỗi nhân vật mang một giọng riêng, mỗinhân vật cũng có thể có nhiều giọng khác nhau trong mỗi cảnh huống, hoàncảnh khác nhau Có bao nhiêu nhân vật sẽ có bấy nhiêu giọng trong tác phẩm,chưa kể còn có sự pha trộn giọng của chủ thể trần thuật và của cái tôi nhà văntrong đó Và vì thế, có thể dễ dàng tìm thấy rất nhiều chất giọng khác nhau,(đặc biệt trong các tác phẩm tự sự) Sự pha trộn giọng điệu như thế tạo nênmột cấu trúc đa thanh cho truyện kể
Cần phân biệt giọng điệu với ngữ điệu - phương tiện biểu hiện của lờinói thể hiện qua cách lên giọng, xuống giọng, nhấn mạnh, nhịp điệu, chỗngừng,… Giọng điệu là một phạm trù thẩm mĩ Trong một tác phẩm có giá trị,giọng điệu thường không buồn tẻ, đơn điệu mà linh hoạt thay đổi tạo nên tính
“phức điệu” (chữ dùng của Bakhtin) Theo đó, trong tác phẩm tự sự, giọng
điệu trần thuật sẽ là tổng hợp giọng của nhiều nhân vật, của người kể chuyện,của tác giả,…
Giọng điệu có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn vàtạo nên sức truyền cảm của tác phẩm tới người đọc Vì thế, bên cạnh việc tìmhiểu về người trần thuật, điểm nhìn trần thuật và ngôn ngữ trần thuật, chúngtôi cũng đi nghiên cứu về vấn đề giọng điệu trần thuật – yếu tố tạo nên phongcách mỗi tác giả
1.5 Các kiểu câu giàu sắc thái