Nét văn hóa dân tộc thể hiện qua từ ngữ thuần Việt trong tục ngữ Viêt 48 3.2.1 Hình ảnh con người được thể hiện qua từ ngữ thuần Việt trong tục ngữ So sánh với tục ngữ tiếng Hán.. Chương
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 3
CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHỤC VỤ CHO LUẬN VĂN 3
1.1 Cách hiểu về tục ngữ ở Việt Nam 3
1.1.1 Hiểu về tục ngữ 3
1.1.2 Phân biệt tạm thời giữa tục ngữ và thành ngữ hiện nay 5
1.2 Cách hiểu về từ ngữ thuần Việt và Hàn - Việt trong luận văn 8 1.2.1 Từ thuần Việt và nguồn gốc tiếng Việt 8
1.2.2 Từ Hán Việt 13
Chương 2 23
TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TỪ HÁN VIỆT VÀ THUẦN VIỆT TRONG TỤC NGỮ 23
2.1 Sơ bộ về đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của tục ngữ 23
2.1.1 Cấu trúc của tục ngữ 23
2.1.2 Ngữ nghĩa của tục ngữ………26 2.2 Tình hình sử dụng từ Hán Việt và thuần Việt trong tục ngữ Việt trên cứ liệu thu thập tục ngữ Việt……… 27 2.2.1 Tình hình sử dụng từ Hán Việt trong tục ngữ Việt 28
2.2.2 Tình hình sử dụng từ thuần Việt trong tục ngữ Việt 34
2.3 Tiểu kết 42
Chương 3: 43
NHẬN XÉT VỀ NÉT VĂN HÓA DÂN TỘC QUA TỪ NGỮ HÁN VIỆT VÀ
TỪ NGỮ THUẦN VIỆT TRONG TỤC NGỮ TIẾNG VIỆT (SO SÁNH VỚI TỤC NGỮ TIẾNG HÁN) 43
3.1 Hiểu biết văn hóa qua từ ngữ Hán Việt và từ ngữ thuần Việt trong tục ngữ 43
Trang 23.1.1 Khái niệm văn hóa 43
3.1.2 Quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 45
3.2 Nét văn hóa dân tộc thể hiện qua từ ngữ thuần Việt trong tục ngữ Viêt 48 3.2.1 Hình ảnh con người được thể hiện qua từ ngữ thuần Việt trong tục ngữ (So sánh với tục ngữ tiếng Hán) 48
3.2.2 Hình ảnh giới tự nhiên thể hiện qua từ ngữ thuần Việt trong tục ngữ Việt (So sánh với tục ngữ tiếng Hán) 53
3.3 Tiểu kết 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO
64
Trang 3Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHỤC VỤ CHO LUẬN VĂN
1.1 Cách hiểu về tục ngữ ở Việt Nam
1.1.1 Hiểu về tục ngữ
Tục ngữ là những câu nói hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân
về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội Tục ngữ thiên về trí tuệ nên thường được ví von là "trí khôn dân gian" Trí khôn đó rất phong phú mà cũng rất đa dạng nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn, xúc tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và nhịp điệu
Với các đặc thù như ngắn gọn, dễ nhớ, giàu hình tượng, giàu nhịp điệu, gần gũi với mọi người mà tục ngữ là một loại hình văn hóa dân gian có mối quan hệ mật thiết nhất với lời ăn tiếng nói của nhân dân
Đa số các câu tục ngữ đều có vần, gồm 2 loại: vần liền và vần cách Các kiểu ngắt nhịp thường dựa vào cơ sở: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ Hình thức đối: đối thanh, đối ý Thường thường tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán, nhưng cũng có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán
1.1.2 Phân biệt tạm thời giữa tục ngữ và thành ngữ hiện nay
Tất cả các công trình sưu tập trên đã đóng góp vào việc bảo tồn và giới thiệu được một phần quan trọng vốn tục ngữ cổ truyền của dân tộc Việt Nam Trước tiên quan sát phương pháp biên soạn của các công trình này, hầu hết các tác phẩm giới thiệu trên đây đều không giới thiệu riêng biệt giữa tục ngữ
và ca dao, thành ngữ, đặc biệt là không phân biệt với thành ngữ Tục ngữ và thành ngữ ít khi được người ta xem xét một cách rạch ròi như là hai loại hình
Trang 4sáng tạo dân gian khác nhau, thể hiện rõ nét nhất là phần đông đều quan niệm
rằng Tục ngữ và Thành ngữ đều là những hiện tượng ngôn ngữ Nguyễn Văn
Tố trong bài “ Tục ngữ ta đối với tục ngữ Tàu và tục ngữ Tây” [5:19] hầu như không phân biệt tục ngữ và thành ngữ vì ông viết “ … Tục ngữ là câu thành ngữ nói đã quen trong thế tục, nhiều câu nghĩa lý thâm thúy, ý tứ cao xa; câu nào từ đời xưa truyền lại gọi là ngạn ngữ, cũng có khi gọi là tục ngạn Nhưng
dù là ngạn ngữ, tục ngữ hay tục ngạn thì nghĩa cũng gần giống nhau….” [5:19]
Cách lý giải và những tiêu chí trong bài Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ với tục ngữ đưa ra, là một đóng góp mới trong quá trình nhận thức ngày
càng sâu sắc về bản chất của tục ngữ và thành ngữ Cách lý giải này đứng ở góc độ của ngành ngôn ngữ học để giải quyết vấn đề, cho nên ta lấy lý giải
này làm cơ sở cho sự phân biệt thành ngữ với tục ngữ: đó là những sự khác nhau về cấu tạo ngữ pháp và về vị trí trong lời nói của thành ngữ và tục ngữ.
1.2 Cách hiểu về từ ngữ thuần Việt và Hán -Việt trong luận văn
1.2.1 Từ thuần Việt và nguồn gốc tiếng Việt
Về vấn đề nguồn gốc tiếng Việt Từ xưa đến nay có rất nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của tiếng Việt
Theo Haudricourt, “thanh điệu tiếng Việt là một hiện tượng mới có”, nói
cách khác, trước đây tiếng Việt cũng là một ngôn ngữ không có thanh điệu và hiện nay nó là một ngôn ngữ có thanh điệu giống như các ngôn ngữ Thái Chính vì điều này mà Haudricourt đã chứng minh được rằng, về nguồn gốc, tiếng Việt tương tự như các ngôn ngữ Mon-Khmer:
Với việc nghiên cứu từ thuần Việt, GS.TS Trần Trí Dõi đi vào chi tiết hơn, cụ thể hơn trong một bài viết gần đây Quan niệm ông nêu ra đã thống nhất những quan niệm nghiên cứu trước đây Chúng tôi nhờ cách quan niệm
Trang 5này để làm cơ sở lý luận và muốn nhấn mạnh hơn vào cái tiêu chí “thái độ của người Việt” Bởi vì, thật khó để chúng ta phân biệt được thế nào là một từ thuần Việt nếu không dựa vào cảm quan của người bản ngữ Trên thực tế, xử
lý tư liệu sẽ có một số trường hợp mà nếu xét một cách nghiêm ngặt thì đó là
từ ngoại lai (gốc Hán chẳng hạn) nhưng trong quá trình sử dụng chúng gần gũi với người Việt, được người Việt coi như từ gốc, từ thuần Việt
1.2.2 Từ Hán Việt
1.2.2.1 Những khái niệm liên quan đến từ gốc Hán
Theo Nguyễn Tài Cẩn, cách đọc Hán Việt “là một cách đọc bắt nguồn
từ tiếng Hán đời Đường và cụ thể là Đường âm dạy học ở Giao Châu vào giai đoạn thế kỉ VIII, IX nhưng … đã bị biến dạng đi dưới tác động của quy luật ngữ âm và ngữ âm lịch sử tiếng Việt, tách xa hẳn cách đọc của người Hán để trở thành một cách đọc riêng biệt của người Việt và những người thuộc khu vực văn hóa Việt” [1,19]khảo sát chắc chắn
Như vậy, cách đọc Hán Việt là một sản phẩm của sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán, là một sáng tạo của người Việt trong cách thức tác động làm biến đổi hàng loạt các từ mượn Hán về mặt ngữ âm
1.2.2.2 Từ Hán Việt
Khi nghiên cứu về từ ngoại lai của tiếng Việt, GS TS Nguyễn Văn
Khang nói như sau: “ Từ ngoại lai trong tiếng Việt, cụ thể là từ mượn Hán
(gồm từ Hán Việt, từ Hán Việt cổ, từ Hán Việt Việt hóa, từ Hán Việt phỏng
âm phương ngữ Hán) ” Như vậy, theo ông trong những từ gốc Hán trong tiếng Việt có một bộ phận là từ Hán Việt Đây là những từ gồm những yếu tố cấu tạo từ có cách đọc Hán Việt (tức ngữ âm Hán Việt) Lớp từ này được chia
ra thành:
Trang 6a Những từ Hán Việt được tiếp nhận từ đời Đường và các triều đại tiếp theo cho đến ngày nay
b Những từ Hán Việt được cấu tạo ở Việt Nam
1.2.2.3 Từ Hán Việt cổ
Từ Hán Việt cổ hay cũng được gọi là cổ Hán Việt Trong tiếng Việt có một số từ gốc Hán du nhập vào Việt Nam trước đời Đường và người Việt đã đọc những từ này theo âm tiếng Hán thuộc giai đoạn ấy Vì thế có thể hiểu rằng từ Hán Việt cổ là những từ gốc Hán được người Việt đọc theo cách đọc tiếng Hán trước đời Đường Vì đi vào tiếng Việt đã lâu, đã được đồng hoá rất mạnh, nên những từ này hiện nay nói chung không còn cái vẻ xa lạ đối với người Việt nữa Đồng thời vì vay mượn thời ấy không nhiều, không hệ thống nên những từ này có số lượng ít, lẻ tẻ nên không làm thành hệ thống như các loại từ Hán Việt về sau này
1.2.2.4.Từ gốc Hán trong tiếng Việt vay mượn tiếng Hán địa phương
Bộ phận này, GS TS Nguyễn Văn Khang gọi là “từ Hán Việt phỏng
âm phương ngữ Hán” Đây là những từ Hán du nhập vào Việt Nam bằng con đường khẩu ngữ qua cách phát âm địa phương nào đó của tiếng Hán, cả trước đây và hiện nay, được gọi là từ gốc Hán trong tiếng Việt vay mượn tiếng Hán địa phương
Như vậy, từ Hán Việt trong tiếng Việt là những từ gốc Hán có ngữ âm là cách đọc Hán Việt Điều quan trọng là ở chỗ chúng ta phải có cách nhìn nhận
và xử lí các nhóm, các lớp trong lớp từ gốc Hán sao cho thoả đáng, phù hợp với nhu cầu xây dựng một hệ thống từ vựng tiếng Việt phong phú, đầy đủ mà vẫn không làm giảm bớt bản sắc tiếng nói dân tộc Việt Nam
Chương 2.
Trang 7TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TỪ HÁN VIỆT VÀ THUẦN VIỆT TRONG TỤC NGỮ
2.1 Sơ bộ về đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của tục ngữ
Đây không phải là nhiệm vụ của chúng tôi khi thực hiện đề tài luận văn Nhưng là người nước ngoài học tiếng Việt nên chúng tôi trình bày lại trên cơ sở những nghiên cứu đã có ở Việt Nam để giúp chúng tôi hiểu rõ hơn
về tục ngữ Việt Nam
2.1.1 Cấu trúc của tục ngữ
2.1.1.1 Kết cấu tục ngữ một mệnh đề
Đây là kiểu tục ngữ tồn tại dưới hình thức một câu tối giản Đó là một phán đoán hoặc một phát ngôn, có nội dung khẳng định Kiểu cấu trúc gọi là cấu trúc một vế hay kết cấu tục ngữ một mệnh đề và thường có độ dài từ 4 - 6
âm tiết
Đôi khi câu tục ngữ cấu trúc một vế mang ý nghĩa so sánh mà không cần xuất hiện từ so sánh ngang bậc
2.1.1.2 Kết cấu tục ngữ hai mệnh đề
Phần lớn tục ngữ tiếng Việt thường có kết cấu hai vế Hai mệnh đề trong kiểu tục ngữ này thường rất cân đối nhau về số lượng các âm tiết Kiểu cấu trúc tục ngữ có hai vế như vậy thường có số âm tiết bằng nhau tạo nên tính đối xứng cả về hình thức lẫn nội dung ngữ nghĩa Loại này có cấu trúc chủ yếu dựa vào hai vế so sánh ( còn gọi là cấu trúc so sánh).Tuy nhiên, sự khác biệt cơ bản với thành ngữ so sánh là tục ngữ có cấu trúc so sánh thường
có nghĩa tường minh chứ không có kiểu so sánh dưới dạng ẩn dụ hay hoán dụ như trong thành ngữ tiếng Việt
2.1.1.3 Kết cấu tục ngữ ba mệnh đề
Trang 8Kết cấu tục ngữ gồm 3 mệnh đề có số lượng đứng thứ hai sau kiểu tục ngữ hai mệnh đề Tuy nhiên số lượng của kiểu cấu trúc này cũng không nhiều Nhìn chung, loại kết cấu này thường có độ dài khá lớn Độ dài ngắn nhất cuả loại này là 8 âm tiết và lớn nhất có thể kéo dài đến 18 âm tiết
2.1.1.4 Kết cấu tục ngữ bốn mệnh đề
Kết cấu tục ngữ gồm 4 mệnh đề không nhiều Tuy nhiên, kiểu cấu trúc
4 mệnh đề có độ dài lớn nhất so với tất cả các kiểu cấu trúc tục ngữ còn lại,
nó có thể lên đến 22 âm tiết Một đặc điểm khác dễ nhận thấy là, kiểu tục ngữ này có số lượng các âm tiết ở mỗi vế thường không đồng đều nhau
2.1.2 Ngữ nghĩa của tục ngữ
Lẽ thường, khi nói về ngữ nghĩa của một câu tục ngữ là người ta nói đến nội dung của chúng Xét về ngữ nghĩa, phần lớn tục ngữ Việt đều có nghĩa đen và nghĩa bóng
Nghĩa đen là nghĩa bề mặt, nghĩa cụ thể ban đầu khi người ta gọi tên sự vật và hiện tượng Nội dung của câu tục ngữ được toát ra từ chính bản thân nó
mà không có một ngụ ý nào khác, là sự tổng hợp ý nghĩa của từng từ trong câu, là "tổ hợp nghĩa trên bề mặt với những yếu tố được hiện thực hóa bằng
từ Nghĩa đen là nghĩa gốc, còn gọi là nghĩa tường minh
Nghĩa bóng của nhiều câu tục ngữ là nghĩa hàm ngôn được phát triển từ nghĩa định danh Từ quan sát trực tiếp vẻ bề ngoài của một sự vật và hiện tượng cụ thể (nghĩa đen), các tác giả dân gian đã khái quát thành bản chất chung cho nhiều sự vật và hiện tượng khác Nghĩa bóng là nghĩa ẩn dụ, thường "lặn sâu" đằng sau nghĩa bề mặt, nghĩa hiển ngôn Như vậy, từ nhận thức trực quan cảm tính, con người tiếp cận đến nhận thức lý tính, giai đoạn đầu của tư duy trừu tượng Không chỉ dừng lại ở những nhận xét bề nổi, tục
Trang 9ngữ có xu hướng đi sâu vào bên trong để phát hiện ra bản chất sự vật, khái quát từ những hiện tượng cá biệt, cá thể, bề ngoài của một sự vật
2.2 Tình hình sử dụng từ Hán Việt và thuần Việt trong tục ngữ Việt trên cứ liệu thu thập tục ngữ Việt.
Ở phần này, chúng tôi chỉ khảo sát trong những câu tục ngữ mà chúng
tôi tập hợp ở phần Phụ lục Lý do là, nếu khảo sát hết các câu tục ngữ trong
tiếng Việt thì quá nhiều Cho nên, chúng tôi chỉ chú ý đến một số chủ đề nội dung của tục ngữ
2.2.1 Tình hình sử dụng từ Hán Việt trong tục ngữ Việt
Hơn một nghìn năm Bắc thuộc, tiếng Hán và văn hóa Hán có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống xã hội người Việt, trong đó có văn học dân gian nói chung và tục ngữ nói riêng Tiếng Hán vào Việt Nam đã được nhân dân “Việt hóa” thành từ Hán Việt Bởi vậy, một số câu tục ngữ Việt đã sử dụng một lượng từ Hán Việt
2.2.1.1 Kết quả thống kê
Theo thống kê của chúng tôi, trong 388 câu tục ngữ được chúng tôi khảo sát thì có 56 từ Hán Việt Chẳng hạn, những từ in đậm trong những ví dụ dưới đây đều là những từ Hán Việt (Chúng đã được chúng tôi tra cứu để kiểm tra lại trong từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh)
Sau đây là bảng thống kê những từ Hán Việt đã được sử dụng trong
388 câu tục ngữ được chúng tôi khảo sát.
STT
Từ Hán Việt
Từ Danh từ Động từ Tính từ Số lần xuấthiện Ghi chú
Trang 102 An 4
Trang 1137 Thiên / 1
2.2.1.2 Nhận xét
- Thứ nhất là về mặt số lượng Như vậy, thông qua bảng thống kê chúng tôi nhận thấy rằng: Số lượng từ Hán Việt được sử dụng trong tục ngữ Việt là rất ít, chỉ chiếm 10 % (56/560) so với lượng từ thuần Việt Từ Hán Việt gồm: danh từ là 35 từ; động từ là 7 từ; tính từ là 14 từ Hơn nữa, số lần xuất hiện từ Hán Việt không nhiều Chỉ có ba từ xuất hiện 4 lần (là từ “an” với nghĩa “bình an”, từ “nhất” với nghĩa là “một, thứ nhất” và từ “tứ” với nghĩa là “bốn” ), còn lại chỉ xuất hiện với tần xuất là 3 lần (có 2 từ là “nhập” với nghĩa là “vào” và “huyền đề” và 2 lần hay 1 lần
- Thứ hai là về nội dung
Trang 12+ Từ Hán Việt trong tục ngữ diễn đạt cho sắc thái trang trọng, nhưng lượng câu diễn đạt ý nghĩa này khá ít ỏi
+ Từ Hán Việt xuất hiện ở một số lĩnh vực đời sống như kinh nghiệm nông nghiệp (về trồng trọt, chăn nuôi); kinh nghiệm liên quan đến trang phục (việc ăn mặc, y phục, trang điểm); mối quan hệ (giữa con người với con người, con người với xã hội); kinh nghiệm về các hiện tượng tự nhiên, (thời tiết, mưa gió); kinh nghiệm về văn hóa ẩm thực… Như vậy, các từ Hán Việt xuất hiện ở nhiều chủ đề cuộc sống khác nhau và các từ Hán Việt xuất hiện trong câu tục ngữ về những lĩnh vực này chủ yếu là danh từ
Có thể thấy rằng ở những chủ đề được khảo sát trong tục ngữ của Việt Nam, số lượng từ Hán Việt hạn chế và như vậy lượng từ thuần Việt sẽ chiếm
đa số Kết quả khảo sát về từ thuần Việt sẽ có trong mục 2.2.2 dưới đây
2.2.2 Tình hình sử dụng từ thuần Việt trong tục ngữ Việt
Từ thuần Việt sử dụng trong tục ngữ chiếm đa số tuyệt dối Chúng xuất hiện ở mọi chủ đề về các kinh nghiệm sống, kinh nghiệm thời tiết, chăn nuôi, trồng trọt… Hầu như câu tục ngữ nào cũng có từ thuần Việt Nếu xét về từ loại, số lượng danh từ trong từ thuần Việt ở tục ngữ chúng tôi khảo sát là 326 từ; động từ là 137 từ; tính từ là 124 từ
2.2.2.1 Từ thuần Việt sử dụng trong chủ đề nói về hiện tượng thiên nhiên, thời tiết
Việc xem xét các hiện tượng thiên nhiên, đặt mối tương quan ảnh hưởng của thời tiết với đất đai, cây trồng để rút ra những kinh nghiệm là một vấn đề không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp Có lẽ tác động quan trọng nhất của thiên nhiên đối với sản xuất và đời sống là “mưa và nắng” Số lần xuất
hiện hai từ này trong câu tục ngữ là nhiều nhất Mưa là 12 lần, nắng là 11 lần.
Trang 13Hầu như các câu tục ngữ nói về hiện tượng mưa, nắng đều xuất hiện ở cấu
trúc hai mệnh đề A thì B.
Không nói trực tiếp đến hiện tượng mưa nhưng đọc câu tục ngữ sau chúng
ta vẫn nhận rõ là trời sẽ mưa qua những từ rất đời thường khi người nông dân dựa vào dấu hiệu ở động vật, thực vật, đồ vật xung quanh như miêu tả con Ếch kêu với động từ “uôm uôm”, từ “lụt” trong từ “lụt lội” với động từ “bò” Đôi khi kết quả của cây trái, mùa màng cũng cho ta những dự áo về thời
tiết: “được mùa nhãn, hạn nước lên; được mùa sim sắm xóc, được mùa móc sắm tơi”.
Ngoài hiện tượng mưa, nắng thì các hiện tượng khác cũng xuất hiện nhiều: gió, bão, sấm, chớp, cầu vồng, nước lên, nước ròng… cùng với cách
kết hợp các động từ hoặc tính từ rất thú vị ở người Việt
Sau đây là một số ví dụ về từ ngữ thuần Việt trong bảng thống kê liên quan đến hiện tượng thời tiết (Chi tiết xem ở bảng 2 phần phụ lục )