hoại đoàn kết dân tộc, trật tự xã hội, an ninh quốc gia,… Do đó, quản lýnhà nước đối với các hoạt động tôn giáo là yêu cầu khách quan của mọiquốc gia trong đó có Việt Nam.Trong lĩnh vực
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN THỊ THANH VÂN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 2Công trình đợc hoàn thành tại: Trờng Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Ngời hớng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thanh Xuân
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Hồng Dơng
Phản biện 2: PGS.TS Hoàng Minh Đô
Luận văn đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận thạc sĩ họp tại:Trờng Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia HàNội vào hồi giờ ngày tháng năm 2013
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm th viện Đại học Quốc gia Hà Nội
- Trung tâm th viện Trờng Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo Bên cạnhnhững tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, các tín ngưỡng dângian… còn xuất hiện nhiều loại hình tôn giáo mới, các “đạo lạ” Nhữngnăm gần đây, hoạt động của các tín đồ, tổ chức tôn giáo diễn ra hết sứcphong phú, đa dạng và phức tạp Điều này tạo nên những khó khăn nhấtđịnh trong công tác quản lý tôn giáo cũng như giữ gìn an ninh, trật tự
xã hội tại các địa phương
Trong âm mưu diễn biến hòa bình chống phá Nhà nước ViệtNam, các thế lực thù địch luôn coi tôn giáo là một lĩnh vực nhạy cảm,
có thể tạo “ngòi nổ” gây mất ổn định chính trị và xã hội Bên cạnh cáchoạt động xuyên tạc chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng, các thếlực thù địch tăng cường vu cáo Việt Nam đang đàn áp tôn giáo, viphạm nhân quyền; ráo riết kích động, chỉ đạo các phần tử cực đoanphản động chống đối Nhà nước nhằm gây ra tình hình phức tạp về anninh, trật tự, dẫn tới những xung đột về chính trị ở các vùng tôn giáo,tạo cớ quốc tế hóa vấn đề tôn giáo để can thiệp, gây sức ép về chính trị,kinh tế - xã hội đối với nước ta Thực tiễn lịch sử cho thấy, ở bất kỳquốc gia nào trên thế giới, nơi đâu có tôn giáo thì ở đó có sự can thiệpđiều chỉnh của nhà nước Không quản lý nhà nước về tôn giáo sẽ dẫnđến các tôn giáo hoạt động vô chính phủ, chèn ép, công kích lẫn nhau,
xã hội sẽ không phát triển lành mạnh vì sự lợi dụng tôn giáo để phá
Trang 4hoại đoàn kết dân tộc, trật tự xã hội, an ninh quốc gia,… Do đó, quản lýnhà nước đối với các hoạt động tôn giáo là yêu cầu khách quan của mọiquốc gia trong đó có Việt Nam.
Trong lĩnh vực tôn giáo, quan điểm về tự do tôn giáo từ khi lậpquốc cho tới nay vẫn luôn nhất quán và ngày càng được cụ thể hóa rõràng hơn Trên thực tế, tình hình chính trị - xã hội trong và ngoài nướcluôn có những tác động đến tình hình tôn giáo trong nước Vì thế nhữngquan điểm của Đảng đối với công tác quản lý nhà nước về các hoạtđộng tôn giáo cũng cần phải đổi mới và tăng cường hơn nữa nhằm đápứng yêu cầu của tình hình mới Thêm vào đó, công cuộc cải cách hànhchính đặt ra nhiều vấn đề về hệ thống pháp luật điều chỉnh các hoạtđộng tôn giáo, trình tự thủ tục hành chính trong quản lý Nhà nước đốivới hoạt động tôn giáo và bộ máy quản lý các hoạt động trong công tácquản lý tôn giáo là hết sức cần thiết Việc nghiên cứu và đưa ra các giảipháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với tôn giáo sẽ là tư liệuhữu ích góp phần hoàn thiện các quy định, điều luật liên quan tới hoạtđộng tôn giáo
Chính vì tính thời sự của tình hình tôn giáo ở Việt Nam và vaitrò quan trọng không thể thiếu của hoạt động quản lý nhà nước đối vớitôn giáo nên học viên đã chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp gópphần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôngiáo ở Việt Nam hiện nay”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tôn giáo và vấn đề công tác quản lý nhà nước đối với các hoạtđộng tôn giáo là đề tài được các nhà khoa học hết sức quan tâm nghiên
Trang 5cứu Điển hình như các công trình và các tác giả như: Bùi Đức Luận
với công trình Quản lý hoạt động tôn giáo cơ sở lý luận và thực tiễn (2005), NXB Tôn giáo, HN; Ban Tôn giáo Chính phủ với Tôn giáo với Công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo (2008), NXB Tôn giáo, HN; Hoàng Quốc Bảo với Quản lý xã hội về tôn giáo
(2010), NXB Chính trị - Hành chính, HN,…
Tuy nhiên, cho tới nay, chủ trương, chính sách và pháp luậtcủa Đảng, Nhà nước đã có nhiều thay đổi, thực tiễn hoạt động của cáctôn giáo vô cùng phức tạp và không còn thuần túy như trước Vì vậy, để
có đường lối, chính sách quản lý hoạt động tôn giáo đúng đắn và cậpnhật phù hợp với tình hình thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu nhằm hoànthiện cơ sở lý luận để từ đó áp dụng một cách hiệu quả vào thực tiễnquản lý tôn giáo nói riêng và quản lý xã hội nói chung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các tôn giáo ở Việt Nam vàhoạt động quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo ở nước tahiện nay
Phạm vi nghiên cứu chính của đề tài là hoạt động quản lý tôn thời
kỳ đổi mới
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và của Đảng ta về tôn giáo Đồng thời, luận văn dựa trên
cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩaduy vật lịch sử,các phương pháp nghiên cứu khác như: phương phápphân tích, tổng hợp, xử lý số liệu,…
Trang 65 Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần làm sáng rõ cơ sở lý luận cho công tác quản
lý nhà nước về tôn giáo
- Khái quát diện mạo tôn giáo và tình hình quản lý các hoạt độngtôn giáo của Đảng, Nhà nước thông qua các công cụ là hệ thống phápluật và bộ máy quản lý các cấp về tôn giáo
- Đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quảquản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu luận văn sẽ góp phần làm rõ hơn cơ sở khoahọc cho việc xây dựng và hoàn thiện các chính sách tôn giáo phục vụcho công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở nước ta hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụlục, nội dung của luận văn gồm 2 chương 5 tiết
Trang 7NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO
1.1 Lý luận về quản lý nhà nước và quản lý nhà nước đối với
các hoạt động tôn giáo
1.1.1 Quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp là dạng quản lý xã hội mangtính quyền lực nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chứcthực hiện pháp luật của cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ,
Ủy ban nhân dân các cấp)
1.1.2 Quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo
1.1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôngiáo là quá trình dùng quyền lực nhà nước của cơ quan nhà nước theoquy định của pháp luật để tác động, điều chỉnh, hướng dẫn các quá trình
mà tôn giáo và các hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôngiáo diễn ra phù hợp với pháp luật đạt được những mục tiêu cụ thể củachủ thể quản lý
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước nước đối với các hoạt độngtôn giáo là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luậtcủa các cơ quan trong hệ thống hành pháp để điều chỉnh mọi hành vihoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo đúng quyđịnh của pháp luật
Trang 81.1.2.2 Phương phỏp quản lý cỏc hoạt động tụn giỏo
Phương phỏp quản lý là cỏch thức mà cỏc cơ quan nhà nước sửdụng để tỏc động vào đối tượng quản lý nhằm mục đớch thực hiện mụctiờu quản lý Để thực hiện cỏc mục tiờu trong quản lý nhà nước đối vớicỏc hoạt động tụn giỏo đó đề cập trờn đõy, cú thể kể tới một số phươngphỏp căn bản sau: phương phỏp giỏo dục, thuyết phục, phương phỏphành chớnh, phương phỏp tổ chức, phương phỏp kinh tế, phương phỏpcưỡng chế
1.1.2.3 Nội dung của hoạt động quản lý nhà nước đối với cỏc hoạt động tụn giỏo
Nội dung quản lý nhà nớc đối với hoạt động tôn giáo gồm nhiều
lĩnh vực cụ thể nh sau: Về cụng nhận cỏc phỏp nhõn tụn giỏo; Về quỏ trỡnh xõy dựng, sửa chữa nơi thờ tự; Về chương trỡnh hoạt động thường xuyờn và đột xuất; Về quỏ trỡnh đào tạo chức sắc; Về quỏ trỡnh sản xuất, lưu thụng đồ dựng việc đạo; Về một số việc thuộc hành chớnh đạo;
Về cỏc hoạt động từ thiện – xó hội; Xử lý cỏc khiếu tố, khiếu nại liờn quan đến tụn giỏo và vi phạm chớnh sỏch tụn giỏo; Xột duyệt cỏc hoạt động quốc tế và đối ngoại tụn giỏo; Đấu tranh chống lợi dụng tớn
ngưỡng, tụn giỏo;
1.1.2.4 Nguyờn tắc quản lý nhà nước đối với cỏc hoạt động tụn giỏo
- Nhà nước tụn trọng và đảm bảo quyền tự do tớn ngưỡng tụngiỏo và tự do khụng tớn ngưỡng tụn giỏo của cụng dõn
Trang 9- Mọi cá nhân và tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải tuânthủ Hiến pháp và pháp luật; có nghĩa vụ bảo vệ lợi ích của Tổ quốc ViệtNam xã hội chủ nghĩa; giữ gìn độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia.
- Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Những cơ sở thờ tựhợp pháp, kinh bổn và các đồ thờ cúng của tín ngưỡng, tôn giáo đượcpháp luật bảo hộ
- Đoàn kết gắn bó đồng bào tôn giáo và không tôn giáo trongkhối đại đoàn kết toàn dân
- Những hoạt động tôn giáo ích nước, lợi dân, phù hợp vớinguyện vọng và lợi ích chính đáng, hợp pháp của tín đồ được đảm bảo.Những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo được tôn trọng vàkhuyến khích phát huy
- Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng,tôn giáo, ép buộc công dân theo đạo hoặc bỏ đạo, vi phạm quyền tự dotín ngưỡng, tôn giáo của công dân,… Mọi hành vi lợi dụng tôn giáo đểlàm mất trật tự an toàn xã hội, phương hại đến nền độc lập dân tộc, pháhoại chính sách đoàn kết toàn dân, chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam, gây tổn hại các giá trị đạo đức, lối sống, văn hóacủa dân tộc, ngăn cản tín đồ chức sắc các tôn giáo thực hiện nghĩa vụcông dân… đều bị xử lý theo pháp luật Hoạt động mê tín phải bị phêphán và loại bỏ
1.2 Tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
1.2.1 Việt Nam là quốc gia có đời sống tôn giáo đa dạng, phong
phú
Trang 10Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, đa tín ngưỡng với sự hiệndiện của các tôn giáo lớn trên thế giới, tôn giáo nội sinh, tín ngưỡngbản địa và các hình thức tôn giáo mới Cho tới nay ở Việt Nam đã có 37
tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận của các 13 tôn giáo khácnhau Các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam thu hút sự quantâm của đông đảo người dân Việt Theo ước tính, năm 2012 ở ViệtNam có khoảng 80% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó
có khoảng trên 20 triệu tín đồ, chiếm khoảng 25% dân số
1.2.2 Các tôn giáo ở Việt Nam ngày càng gắn bó, đồng hành cùng dân tộc
Sự đồng hành cùng dân tộc của các tôn giáo được thể hiện trongnhiều nội dung, nhiều lĩnh vực trong đó có hai nội dung nổi bật: Một là,giáo hội các tôn giáo xác quyết đường hướng hành động gắn bó với dântộc, vì mục tiêu chung của quốc gia nhằm xây dựng đất nước Việt Namdân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh Hai là, vănhóa tôn giáo ngày càng hội nhập mạnh mẽ với văn hóa dân tộc, gópphần vào việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc
1.2.3 Các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam ngày càng được củng cố, phát triển
Được sự tạo điều kiện của Nhà nước, các tổ chức tôn giáo ngàycàng hoàn thiện được thể hiện rõ nét trên hai phương diện: bộ máy hànhchính đạo và tổ chức nhân sự
Ở Việt Nam, đội ngũ chức sắc, nhà tu hành, chức việc là khôngchỉ giữ vai trò quan trọng trong việc chăn dắt phần hồn của các tín đồ
Trang 11mà còn là lực lượng quan trọng liên kết giữa giáo hội với nhà nước và
là đầu mối trong quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo Đồng thời do
vị trí ảnh hưởng của chức sắc, nhà tu hành đối với tín đồ và xã hội nêntrong công tác tôn giáo nói chung, công tác quản lý nhà nước nói riêng,việc tranh thủ chức sắc, nhà tu hành rất quan trọng và cần thiết
1.2.4 Ở Việt Nam số lượng lớn tín đồ là người dân tộc thiểu số
Hiện nay, trên lãnh thổ Việt Nam có một số lượng lớn đồng bàodân tộc thiểu số sinh sống và theo những tôn giáo, tín ngưỡng khácnhau Theo thống kê, nước ta có 53 dân tộc thiểu số với khoảng trên 10triệu người sống tập trung chủ yếu ở 3 khu vực chính là Tây Nguyên,Tây Bắc và Tây Nam Bộ Trong những năm gần đây, mặc dù đượcĐảng, Nhà nước quan tâm, đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số đãđược cải thiện đáng kể, tuy nhiên còn nhiều khó khăn và là một trongnhững yếu tố để các tôn giáo len lỏi, tuyên truyền, các thể lực phảnđộng lợi dụng kích động chống phá Nhà nước ta Chính vì thế, nângcao đời sống kinh tế - xã hội và quản lý các hoạt động tôn giáo tại vùngđồng bào các dân tộc thiểu số là một trong những mối quan tâm hàngđầu của Đảng, Nhà nước ta hiện nay
1.2.5 Các tôn giáo ở Việt Nam có mối liên hệ quốc tế rộng rãi
Trong quá trình phát triển, hầu hết các tôn giáo và tổ chức tôngiáo ở Việt Nam có mối quan hệ quốc tế rộng rãi Một mặt, hoạt độngquan hệ quốc tế của các tôn giáo là loại hình hoạt động đối ngoại đặcthù, ít nhiều góp phần tạo nên những dấu ấn của Việt Nam trên trường
Trang 12quốc tế Mặt khác, do đặc thù của hoạt động tôn giáo – một lĩnh vựcnhạy cảm liên quan tới đời sống chính trị - xã hội, thường được các thếphản động lợi dụng để hoạt động chống phá với nhiều mục đích khácnhau Do đó, trong xu hướng toàn cầu hóa và quốc tế hóa các vấn đềkinh tế, văn hóa, xã hội, thực hiện quản lý nhà nước đối với các hoạtđộng quốc tế của các tôn giáo là một công tác phức tạp, đã, đang đượcĐảng và Nhà nước ta quan tâm và hàng đầu
Những đặc điểm tình hình tôn giáo Việt Nam như đã nói trên làbức tranh toàn cảnh về tôn giáo ở Việt Nam Đó chính là cơ sở thựctiễn để Đảng và Nhà nước hoạch định chủ trương chính sách đối vớitôn giáo
Trang 13Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO HIỆN NAY Ở VIỆT NAM 2.1 Thực trạng quản lý hoạt động tôn giáo hiện nay ở nước ta
2.1.1 Mục tiêu của công tác quản lý tôn giáo trong giai đoạn hiện nay
2.1.2 Nhà nước quản lý các hoạt động tôn giáo thông qua hệ thống pháp luật.
Giai đoạn từ 1945 đến 1954
Thành công của Cách mạng tháng Tám đã đưa lịch sử dân tộcViệt Nam sang một trang sử mới, trang sử của độc lập dân tộc Ngay
từ những ngày đầu mới thành lập nước, vấn đề tôn giáo đã được Đảng
và Nhà nước hết sức quan tâm Những văn bản pháp luật về tínngưỡng, tôn giáo thời kỳ 1945 – 1954 đã khái quát những vấn đề cầnquan tâm, bức thiết trong công tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo,góp phần đặt những viên gạch nền móng đầu tiên cho việc hoạch địnhchủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong các giai đoạn
về sau
Giai đoạn từ 1954 đến 1975
So với giai đoạn 1945 - 1954, pháp luật về tôn giáo giai đoạn
1954 - 1975 đã được bổ sung và hoàn thiện đầy đủ hơn bổ sung nhiềunội dung mới quy định về các hoạt động giáo dục, xuất bản, hoạt độngvăn hóa – xã hội với việc bổ sung các quy định về quyền và nghĩa vụ
Trang 14của tín đồ, nhà tu hành trong hoạt động tôn giáo, về quan hệ giữa chínhquyền nhân dân với tôn giáo, về hoạt động tôn giáo có yếu tố nướcngoài,… đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong việc điều chỉnhchính sách về tôn giáo đáp ứng thực tiễn.
Từ 1975 đến 1990
Giai đoạn này các tổ chức của Phật giáo và Công giáo ở cả haimiền đã được quy tụ, thống nhất thành một mối; đại đa số tín đồ các tôngiáo đều yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước,tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Bêncạnh đó, tổ chức của một số tôn giáo như đạo Cao Đài, Phật giáo HòaHảo, đạo Tin Lành, đạo Hồi chưa được Nhà nước công nhận tư cáchpháp nhân Một số phần tử cực đoan vẫn tiếp tục có những hoạt độngchống phá cách mạng và nhà nước Việt Nam,…
Nhìn chung, các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh cáchoạt động tôn giáo giai đoạn này tuy không nhiều nhưng đã bổ sung,hoàn chỉnh hơn giai đoạn 1954 - 1975 thông qua việc quy định cụ thểnhững nguyên tắc ứng xử đối với các sinh hoạt tôn giáo, cơ sở vật chấtcủa giáo hội, việc đào tạo chức sắc của các tôn giáo, hoạt động quan hệquốc tế của các tôn giáo, quy định quyền hạn, trách nhiệm của các cấpchính quyền đối với tôn giáo,…
Giai đoạn 1990 đến nay
Năm 1986, đất nước ta bước vào giai đoạn đổi mới sâu rộng vàtoàn diện trên mọi lĩnh vực kinh tế đến xã hội Tuy nhiên, thời kỳ đầuđổi mới, những thay đổi trong chính sách của Nhà nước đối với tôn