1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954-1975)

26 1,3K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 279,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủtịch Hồ Chí Minh chính là nhịp cầu nối gắn kết lực lượng đồng minh chiến lược và các quốc gia láng giềngvới cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước.. Để g

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-VŨ THỊ HỒNG THỊNH

MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN

Trang 2

Công trình đợc hoàn thành tại: Khoa Lịch sử- ĐHKHXH&NV- ĐHQGHN Ngời hớng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Hồng Tung

Phản biện 1: PGS.TS Hồ Khang

Phản biện 2: PGS.TS Võ Kim Cơng

Luận văn đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận thạc sĩ họp

tại: Khoa Lịch sử- trờng ĐHKHXH&NV- ĐHQGHN

Hồi 10 giờ ngày 08 tháng 03 năm 2014

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

- Trung tâm th viện Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam, chiến lược đoàn kết quốc tế là mộttrong những nhân tố góp phần đưa tới thắng lợi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Trên lĩnh vực này, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người vạch ra đường lối chiến lược đoàn kết quốc

tế, Người vừa trực tiếp tham gia những hoạt động thực tiễn- đối nội và đối ngoại- nhằm từng bước kiến tạo

và mở rộng mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược

Thực tiễn lịch sử trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đã kiểm nghiệm trí tuệ Hồ Chí Minhtrong việc giương cao ngọn cờ chính nghĩa, thức tỉnh lương tri nhân loại, biến điều này thành một lực lượngthực hiện đoàn kết quốc tế “Việt Nam- Hồ Chí Minh” đã trở thành ngọn cờ vẫy gọi tăng cường sức mạnhcho phong trào phản chiến của các tầng lớp xã hội Mỹ nói riêng và nhân dân thế giới nói chung, cũng như sựhình thành trên thực tế một mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược vì độclập tự do của dân tộc mình và cũng vì độc lập, tự do hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới Chủtịch Hồ Chí Minh chính là nhịp cầu nối gắn kết lực lượng đồng minh chiến lược và các quốc gia láng giềngvới cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng cụ thể hóa chiến lượcđoàn kết quốc tế để gánh nặng đè lên vai dân tộc Việt Nam nhẹ bớt khi nhận được tình cảm, tấm lòng củabạn bè khắp năm châu Bạn bè thế giới không chỉ chi viện, giúp đỡ Việt Nam về vật chất mà còn tích cựcủng hộ phong trào chống chiến tranh xâm lược Việt Nam về tinh thần Từ người lao động đến tầng lớp thanhthiếu niên, từ những nhà lãnh đạo đến những nhân vật hoạt động chính trị, xã hội nổi tiếng khắp nơi trên thếgiới đã đứng lên phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ Chính sự tin tưởng, hết lòngủng hộ của bè bạn năm châu trong một mặt trận thống nhất như thế, đã góp phần đưa cuộc kháng chiếnchống đế quốc Mỹ của dân tộc Việt Nam đến thắng lợi trọn vẹn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế còn là một trong những nội dung quan trọng, xuyên suốt

có quyết định tới diễn tiến của những sự kiện tiêu biểu, có khi mang tính bước ngoặt của chiến tranh Chínhbởi vậy, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế sẽ là một định hướng đúng đắn để hiểu sâuhơn về cuộc “chiến tranh Đông Dương lần thứ hai” đặt trong diễn tiến của Chiến tranh Lạnh

Để góp phần vào việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, và làm rõ thêm tiến trình của công cuộc

kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc từ 1954 đến 1975, chúng tôi chọn vấn đề: “Một số nội dung cơ

bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”

(1954-1975) làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình Hy vọng rằng, những quan điểm tư tưởng chỉ đạo cụ thể của HồChí Minh để thực hiện đoàn kết quốc tế sẽ gợi mở cho công tác mở rộng hợp tác quốc tế hiện nay cái nhìn cụthể hơn về sự việc, sự kiện, về cách đánh giá, phương pháp xử lý các mối quan hệ phức tạp, đa chiều theo tưtưởng Hồ Chí Minh

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nhìn một cách khái quát, các công trình có liên quan đến đề tài nghiên cứu được phân bố theo cácnhóm sau đây:

Trang 4

2.1 Nhóm những công trình khoa học về lịch sử Việt Nam, lịch sử Đảng của các học giả trong nước đề cập đến công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc và đề tài nghiên cứu

Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam ghi dấu trong lịch sử dân tộc như một trongnhững thắng lợi vẻ vang nhất, đã và vẫn tiếp tục được nhận thức, và nghiên cứu chuyên sâu Bài học về đoànkết quốc tế, tập hợp, mở rộng mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc đãđược nhận định nhất quán và đề cao ở cả tầm vóc đóng góp vào chiến thắng đã qua và tiền đề cho nhữngchiến thắng ngày hôm nay, mai sau của đất nước Các học giả với có những công trình liên quan: Lê NgọcNgọc Dũng, Phạm Xuân Nam, Văn Tiến Dũng, Trần Nhâm, Trần Văn Quang, Nguyễn Đình Ước, NguyễnQuốc Dũng, Trịnh Vương Hồng, Phạm Khắc Lãm, Tường Hữu, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, VănTiến Dũng, Đinh Nho Liêm, Lưu Văn Lợi, Trịnh Ngọc Thái, Hồ Sơn Đài, Bùi Đình Thanh, Nguyễn KhắcHuỳnh…

Trong số đó, nổi bật là công trình Hậu phương lớn, tiền tuyến lớn trong kháng chiến chống Mỹ, cứu

nước 1954-1975, (Nxb Từ điển Bách Khoa Hà Nội, 2005), chủ biên Phan Ngọc Liên Công trình này đã

dành hẳn một dung lượng thích đáng để tập hợp những nghiên cứu của nhiều tác giả trong nước phản ánh về

đề tài nghiên cứu trên những mặt riêng lẻ và tính tới thời điểm xuất bản Chính bởi vậy, công trình có ý nghĩa

lớn ở sự kế thừa khi triển khai nghiên cứu đề tài Bên cạnh đó, công trình Cuộc kháng chiến chống Mỹ của

Việt Nam tác động những nhân tố quốc tế của Nguyễn Khắc Huỳnh, mặc dù trong suốt quá trình phân tích,

lập luận từ đầu tới cuối đều không chỉ đích danh chiến lược đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh, nhưng lô gíctrình bày lại toát lên đóng góp to lớn, không thể phủ nhận của chiến lược đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh

Ở phần kết luận, tác giả đã nhấn mạnh lại ba nhân tố đưa đến sự giúp đỡ to lớn của bè bạn năm châu chocông cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam Đặc biệt, nhân tố tiên quyết đã đưa tới thắng lợi trong cuộcchiến anh dũng của nhân dân Việt Nam, đã được khẳng định, chính là đường lối đoàn kết quốc tế và sự ứng

xử khôn khéo của Trung ương Đảng LĐVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh

Cũng phải kể tới một số nghiên cứu chuyện khảo đã công bố trên các tạp chí khoa học trong nước

có nội dung phản ánh về đề tài nghiên cứu

Phạm Hồng Tung có bài: Phong trào hòa bình, phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam ở

CHLB Đức, đăng trên Nghiên cứu lịch sử số 11 năm 2009; và bài “Hồ Chí Minh và cuộc chiến tranh ở Việt Nam” trong hồi tưởng của Khrushchev, đăng trên Nghiên cứu lịch sử số 9, năm 2008 Tác giả đã từ phương

pháp phân tích đa chiều để đạt đến hiệu quả khảo sát chiều sâu, chiều rộng cũng như khía cạnh đa diện củavấn đề nghiên cứu Trên cơ sở này tác giả đã đưa đến những cách nhìn mới cho một vấn đề nghiên cứu tưởngchừng đã cũ

Bên cạnh đó còn là những chuyên luận có liên quan của các học giả: Lê Mậu Hãn, Mai Văn Bộ, VũKhoan, Trịnh Vương Hồng, Nguyễn Minh Đức, Triệu Quang Tiến, Nguyễn Trọng Phúc, Nguyễn VănQuyến, Nguyễn Cơ Thạch… Một phần nội dung các công trình có sơ bộ khái quát, đánh giá về hoạt động, tưtưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh mở rộng mặt trận nhân dân thế giới để thực hiện đoàn kết quốc tế

2.2 Những công trình nghiên cứu về chủ đề đoàn kết quốc tế, đối ngoại, ngoại giao của Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Trang 5

Xin điểm lại đây tên những học giả gắn với những công trình tiêu biểu nhất: Xuân Thuỷ, Tôn QuangPhiệt, Ung Văn Khiêm, Nguyễn Thị Tình, Chu Đức Tính, Nguyễn Minh Hương, Nguyễn Viết Chung,Nguyễn Duy Trinh, Mai Văn Bộ, Nguyễn Duy Niên, Hoàng Thu Giang, Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn ĐìnhBin, Nguyễn Xuân, Lưu Văn Lợi, Nguyễn Dy Niên, Nguyễn Thị Tình, Nguyễn Thuý Đức, Phạm ThuýNgân, Phạm Bình Minh, Nguyễn Văn Sự, Nguyễn Ngọc Trường, Đặng Đình Quý, Bùi Văn Hùng…

Và những luận án tiến sỹ liên quan của các học giả: Phạm Hồng Chương, Nguyễn Xuân Thông, TrầnMinh Trưởng, Lương Viết Sang, Nguyễn Văn Bạo…

Đặc biệt là luận án tiến sĩ của học giả Hoàng Trang, được bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ

Chí Minh, năm 1995, có tên: Chiến lược đại đoàn kết của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ kháng

chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975 Tác giả đã đề cập đến việc đoàn kết các lực lượng, các quốc gia đấu

tranh cho độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và ủng hộ nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Mỹ trong suốt haithập kỷ được điều hành bởi Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh

Các công trình này đã cung cấp những tổng kết, đánh giá quan trọng về vai trò của sách lược mởrộng Mặt trận nhân dân thế giới nói riêng, của chiến lược đoàn kết quốc tế nói chung, đồng thời đề cập đếnnhiều sự kiện hoạt động, chỉ đạo của Hồ Chí Minh trên lĩnh vực nghiên cứu

Những công trình nghiên cứu trực tiếp về Hồ Chí Minh với công tác đối ngoại và các cuốn sáchphản ánh trực tiếp những tư tưởng, tiểu sử, sự nghiệp của Người (giai đoạn từ 1954-1969) có liên quan tới đềtài nghiên cứu:

Hồ Chí Minh: Về nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước, (Nxb Sự thật, 1967); Hồ Chí Minh: Đoàn kết,

đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công !, (Nxb Sự thật, 1973); Hồ Chí Minh: Dân tộc Việt Nam ta là một dân tộc anh hùng, (Nxb Sự thật, 1975); Hồ Chí Minh: Kết hợp chặt chẽ lòng yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản, (Nxb Sự Thật, 1978); Bộ sách: Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, 10 tập

(xuất bản 2008) và Hồ Chí Minh: Toàn tập, gồm 12 tập (xuất bản 1996) và 15 tập (xuất bản 2011) là những

công trình nghiên cứu công bố gần đây của tập thể tác giả Viện Hồ Chí Minh, thuộc Học viện Chính Hành chính Quốc gia, đã cung cấp cho chúng tôi nhiều sự kiện hoạt động, tư tưởng của Chủ tịch Hồ ChíMinh

trị-Viện Quan hệ Quốc tế: Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao, (Nxb, trị-Viện Quan hệ Quốc tế

Hà Nội, 1990); Hồ Chí Minh- Người chiến sỹ kiên cường của phong trào giải phóng dân tộc và phong trào

cộng sản và công nhân quốc tế, (Nxb Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1990); Học viện Quan hệ Quốc tế: Kỷ yếu Hội thảo khoa học: 50 năm Ngoại giao Việt Nam, 1995…

Bên cạnh đó là những tổng kết công cuộc kháng chiến chống Mỹ nói chung, và chiến lược đoàn kếtquốc tế nói chung của những lãnh tụ, học giả lớn: Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê KhảPhiêu, Trần Văn Giàu, Phạm Văn Trà, Trần Đình Huỳnh, Hoàng Chí Bảo, Đặng Quốc Bảo, Phùng Hữu Phú,Bùi Đình Phong, Vũ Dương Huân, Nguyễn Khánh Bật, Phạm Ngọc Anh, Nguyễn Bá Linh, Đặng Văn Thái,Phan Ngọc Liên…

2.3 Nhóm những công trình nghiên cứu về lịch sử quan hệ quốc tế và cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam của các học giả nước ngoài

Trang 6

Các công trình là ấn phẩm sách của học giả nước ngoài: Harry S Ashmore, W.C.Baggs: Misson to

Hanoi, (G.P.Putnam’son, New York, 1968); Dainel S.Papp: Vietnam: The view from Washington, (Mc Farland, Co INC, North Carolina, 1981); Georges C Herring: The secret Diplomancy of the Vietnam war: the Negotianting Volumes of the Pentagon Papers, (University of Texas Press, Austin,

Moscow-Paking-1983); Quang Zhai: China & The Vietnam wars, 1950-1975 (The University of North Carolina Press, 1999); Mart Atwood Lawrence: The Vietnam War- A concise internation history, (Oxford University Press, 2008); William S Turley: The Second Indochina war- A concise political and military history (Rowman &

Littlefield Publishers, INC, 2009)…

Trong đó, nổi bật là hai cuốn “The War at home: Vietnam and the American People 1964-1968” của Thomas Powere, “The movement: A History of the American New Left, 1959-1972” của Irwin Unfer (1974)

đã giới thiệu khái quát về phong trào đấu tranh của nhân dân Mỹ ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ViệtNam, phản đối sự xâm lược của chính phủ Mỹ

Ngoài ra, còn phải kể đến những chuyên khảo trong mảng đề tài về Chiến tranh lạnh, một trong

những bối cảnh quốc tế tác động rất lớn đến cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ

XX Năm 2010, Cambridge University Press đã tập hợp xuất bản những tư liệu quý về Cold War, trong đó cónhiều bài tạp chí liên quan tới lịch sử kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam của các học giả:Thomas Perry Thornton, P J Honey, A M Halpern, King Chen, Jan S Prybyla, Kurt L London, H G.Nicholas, Jay Tao, W E Willmott, Michael Yahuda, Phan Thien Chau, Jean Lacouture, King C.Chen1…

Những chuyên luận xuất bản trong thời điểm cuộc chiến tranh Việt Nam đang tiếp diễn, chính vìvậy, các học giả tập trung vào quan điểm chiến lược và sách lược cách mạng của cả Việt Nam và Mỹ, đồngthời cũng không bỏ qua sự đánh giá về những chính thể quốc tế có nhiều ít tác động tới tình hình chiến sựtrên chiến trường như Liên Xô hay Trung Quốc v.v… Từ những nhìn nhận và đánh giá có tính thực chứng,dường như, kết cục của chiến sự đã được dự báo trước trong một số nghiên cứu Tính chính nghĩa của côngcuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam sẽ chiến thắng và những hành động xâm lược, leo thang chiếntranh phi nghĩa của Mỹ dù có tới mức nào, nhất định cũng sẽ bị thất bại

Khi chiến tranh đã kết thúc thì kết cục thắng-bại của cuộc chiến vẫn tiếp tục được các thế hệ sử gianghiên cứu với những chuyên luận của: Gareth Proter, Steve Chan, Phillip B.Davidson, Ronald H Spector,Jean Lacouture, Carlyle A Thayer, Ilya V.Gaiduk, Xiaoming Zhang, Ed.P.Lowe2…

Cũng phải kể thêm những nghiên cứu đạt kết quả trong những năm bắt đầu cho một thế kỷ mới- thế

kỷ XXI, của: Robert Scott, King C.Chen, Paul Ham, Mao Lin, Nicholas Khoo, Predik Logevall, VojtechMastny, Svetlana Savranskaya and William Taububman, Shu Qiang Zhai3 …

Nhìn nhận một cách khái quát phải khẳng định rằng những công trình chuyên khảo trên có nội dungphản ánh “cuộc đụng đầu lịch sử” trên bán đảo Đông Dương, nơi có thể coi là tâm điểm nóng của diễn trìnhcuộc Chiến tranh Lạnh Bằng phương pháp nghiên cứu nghiêng về sử học thực chứng và khai thác nhiềunguồn sử liệu đa dạng, các học giả Đông, Tây đã góp thêm cái nhìn đa chiều về những khó khăn đến từ bốicảnh khách quan, và cũng từ đó, để nhìn ra những thuận lợi cũng như khó khăn khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đãtiến hành xác lập và thực thi chiến lược đoàn kết quốc tế cho cách mạng Việt Nam Mặc dù vậy, xét về tổng

1 2 3 Tham khảo Pierre Asselin trong CD tài liệu: Cambridge History of the Clod War, 2012

Trang 7

thể thì các công trình chuyên khảo của sử gia nước ngoài nói chung, hầu như chưa thẳng thắn thừa nhận mộttrong những nguyên nhân dẫn tới sự thất bại của đế quốc Mỹ ở Việt Nam chính là sự ủng hộ, đoàn kết củanhân dân thế giới thành một mặt trận giúp nhân dân Việt Nam chống đế quốc xâm lược

Thêm vào đó, không thể không kể tới một số lượng không nhỏ những cuốn sách của học giả nướcngoài đã được dịch ra và xuất bản bằng tiếng Việt có thể liệt kê ra đây: Ma-Đơn-len Riffô, HăngriKitsinggiơ, Giôdép Amtơ, Pitơ A.Pinlơ, N.Bớt sét, Hoàng Tranh, Maicơn Máclia, Nguyễn Tiến Hưng vàGiêrơn L.Sedơ, Gabrien Côncô, Giăng Bápmit và Rốcselơ, Philíp B.Đavítsơn, Rô bớt S.Mc Namara, Ilya V.Gaiduk, George C.Herring, H.V Schadler, Ron Moreau, Mark Mc Donald, Kari Huus, Craig Thomas, NeilSheehan, Bernard Fall, William Colby, Nguyễn Khắc Viện, Joe Allen, Nguyễn Phú Đức…

Các ấn phẩm khoa học này đã cung cấp nhiều sự kiện và cách đánh giá khác nhau, cũng như cảmhứng cho nghiên cứu viên khi nghiên cứu đề tài thuộc phạm trù hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong đó

có liên quan gián tiếp hoặc trực tiếp đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và bối cảnh, tiến trình của cuộc kháng chiếnchống Mỹ cứu nước Điển hình như những tư tưởng và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện đoànkết với nhân dân Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ, XHCN ở khu vực và thế giới đã được ghi nhận

thành biên niên biểu rõ ràng trong các công trình nghiên cứu của: Hoàng Tranh: Hồ Chí Minh với Trung

Quốc (Nxb Sao Mới Bắc Kinh, 1990) hay Ilya V Gaiduk: Liên bang Xô Viết và chiến tranh Việt Nam ; hoặc

N.Bớt sét: Tam giác Trung Quốc-Campuchia-Việt Nam và Pitơ A.Pinlơ: Nước Mỹ và Đông Dương từ

Rudơven đến Níchxơn (Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1986)…Nhưng tựu chung lại, sự phản ánh của các

công trình này về đề tài đang quan tâm vẫn chưa đạt tới sự khái luận, toàn diện, mà chỉ đơn lẻ phản ánh phầnnào những khía cạnh riêng Nhiều cách nhìn nhận vấn đề của các sử gia phương Tây còn có lúc chủ quan,phiến diện

Nhìn tổng thể, các công trình sử học trong và ngoài nước, khi tiến hành khai thác nhân tố đoàn kếtquốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng, chỉ đề cập đến những khía cạnh riêng lẻ, có thể xét trên tiêuchí nào đó là tiêu biểu cho sự ủng hộ của nhân dân thế giới cho cuộc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nướccủa dân tộc Nhưng ngay cả khi đề cập về mặt trận nhân dân thế giới, các công trình cũng chỉ đề cập chủ yếu,trọng tâm vào mặt trận nhân dân Mỹ đã giúp đỡ, tác động tới tiến trình chiến tranh Việt Nam ra sao - phảnánh trong ngoại diên của khái niệm “phong trào phản chiến”- mà chưa đề cập một cách khái quát, tổng lượcđến những sự ủng hộ của các thành phần khác trong mặt trận nhân dân thế giới thực tế đã diễn ra trong lịch

sử Những công trình nghiên cứu này cũng chưa đề cập đầy đủ, sâu sắc đến tư tưởng và những chỉ đạo, hoạtđộng thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng, mở rộng ảnh hưởng tích cực của sự đoànkết quốc tế

Chính vì vậy, mặc dù là đề tài đã được nghiên cứu khá phổ biến, nhưng lại thiếu một chuyên luận đềcập toàn diện và sâu sắc đến các chiều cạnh của vấn đề

3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu

3.1 Mục đích

Mục đích của công trình này là nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ những nội dung cơ bản của tưtưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong thời kỳ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975),đồng thời phân tích, đánh giá vai trò, tác động của tư tưởng và những hoạt động của Hồ Chí Minh trong quá

Trang 8

trình hình thành, phát triển của mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết, ủng hộ nhân dân Việt Nam kháng chiến,cứu nước.

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên, nghiên cứu có các nhiệm vụ sau:

- Bằng các phương pháp nghiên cứu lịch sử và các phương pháp của Hồ Chí Minh học làm sáng tỏ

tư tưởng mang tầm chiến lược, sách lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong giai đoạn1954-1975 Qua các sự kiện hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy phương pháp xử lý các vấn đềquốc tế có sự khái quát về phong cách, tư tưởng, vị thế và những đóng góp của Người

- Sưu tầm, xác minh sử liệu và trình bày một cách hệ thống các hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minhbao gồm hoạt động trực tiếp của Người và những hoạt động đối ngoại do Người chỉ đạo nhằm hình thành,

mở rộng mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống đế quốc Mỹ và thực hiện đoàn kết quốc tế

- Góp phần làm sáng tỏ, phong phú, đầy đủ hơn nội dung và đóng góp của mặt trận nhân dân toànthế giới, từ Âu sang Á, tới Châu Phi, Mỹ Latinh…(nòng cốt là mặt trận nhân dân Mỹ), ủng hộ Việt Namchống đế quốc Mỹ xâm lược

4 Nguồn tư liệu

Những nguồn tư liệu chủ yếu được khai thác và sử dụng trong nghiên cứu gồm:

4.1 Các bài nói, bài viết phản ảnh tư tưởng và hoạt động thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong

Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử (10 tập), và Hồ Chí Minh toàn tập (15 tập mới xuất bản với nhiều bài mới

được bổ sung) sẽ là nguồn sử liệu gốc cho phép đi sâu nghiên cứu về tư tưởng và hoạt động thực tiễn củaChủ tịch Hồ Chí Minh trong lịch sử

4.2 Các văn kiện của Đảng và Nhà nước Việt Nam về đường lối đối ngoại, các thư từ trao đổi, cônghàm, bị vong lục của Nhà nước và Chính phủ Việt Nam với các đối tác nước ngoài trong thời gian diễn racuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)

4.3 Các chuyên khảo, luận văn, các công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước viết

về quan hệ quốc tế, công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, về chiến lược đoàn kết quốc tế, hoạt độngđối ngoại, ngoại giao, về sự nghiệp, con người và tư tưởng Hồ Chí Minh Nguồn sử liệu này sẽ được tổnghợp, xác định mức độ tin cậy, và được sử dụng có chọn lọc trong nghiên cứu, luận văn

Nhưng dù cố gắng thì việc tiếp xúc, thu thập sử liệu, tài liệu ở các phòng tư liệu, thư viện, từ cácnguồn mở trong và ngoài nước vẫn không thể đầy đủ, bởi vấn đề nghiên cứu ở tầm vĩ mô, do vậy, chất lượngcủa nghiên cứu sẽ không tránh khỏi những hạn chế nhất định

5 Giới hạn vấn đề và phương pháp nghiên cứu

5.1 Giới hạn vấn đề

Như tên của đề tài, chúng tôi nghiên cứu về những tư tưởng chỉ đạo hoạt động đối ngoại của Chủtịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ 1954-1975 để thực hiện đoàn kết quốc tế, nội dung của chiến lược này

và những đóng góp của nó trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam

Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi chỉ đề cập đến những sự kiện tiêu biểu nhất

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 9

Trong quá trình thực hiện đề tài, trên cơ sở tuân thủ phương pháp luận mác-xít trong nghiên cứu lịch

sử, bên cạnh việc sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lô-gíc phù hợp với yêu cầu nghiên cứu từngvấn đề của đề tài, chúng tôi đồng thời sử dụng phương pháp thống kê, so sánh theo lịch đại và đồng đại, kếthợp với phương pháp nghiên cứu trong Hồ Chí Minh học… nhằm làm sáng tỏ các luận điểm đưa ra lý giảitrong công trình

6 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn

- Làm rõ những cơ sở hay nền tảng hình thành chiến lược đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ ChíMinh Phân tích khoa học để rút ra kết luận: Yếu tố bên trong- chủ quan hay bên ngoài- thuộc về khách quan

đã có vai trò quyết định nổi bật tới chiến lược đoàn kết quốc tế vào thắng lợi của công cuộc kháng chiếnchống Mỹ của dân tộc Việt Nam

- Bằng các sự kiện lịch sử của diễn trình cuộc kháng chiến, của những sự kiện tiêu biểu mà nhân dânthế giới ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam, nghiên cứu làm rõ nội dung hình thành, phát triển và vai trò cũng nhưđóng góp của tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong công cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹcủa dân tộc Việt Nam và cả ngày nay

- Tái hiện lại một cách hệ thống những tư tưởng, hoạt động thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minhtrong khoảng thời gian 15 năm (1954-1969) Trên cơ sở này khái luận sâu sắc hơn nữa một ghi nhận tronglịch sử rằng: lãnh tụ Hồ Chí Minh đã thực sự trở thành biểu tượng quy đồng các cuộc đấu tranh liên kết thànhphong trào đấu tranh và hướng tâm tới một Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống đế quốc Mỹ

- Nghiên cứu góp phần tổng hợp thêm những luận điểm cơ bản trong tư tưởng đối ngoại thực hiệnđoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh Đây cũng là những vấn đề có ý nghĩa thiết thực, mang tính thời

sự, phục vụ cho công cuộc vận động hợp tác khu vực và quốc tế trong công cuộc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam đặt trong bối cảnh không kém phần phức tạp của quan hệ quốc tế hiện nay

7 Bố cục của luận văn: Luận văn gồm 02 chương:

Chương 1 Chiến lược đoàn kết quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ (1954-1965).Chương 2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong thời kỳ 1965-1975

Trang 10

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CHIẾN LƯỢC ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI

KỲ (1954-1965) 1.1 Bối cảnh lịch sử của chiến lược đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian 1954-1959

1.1.1 Những yếu tố trong nước tác động tới chiến lược đoàn kết quốc tế

Ngay sau sự phân định của Hiệp nghị Geneve, đế quốc Mỹ, đã bắt đầu chiến tranh Việt Nam vớinhững tính toán về một chiến lược phản ứng linh hoạt bằng biện pháp “ngăn chặn” toàn cầu và leo thangcuộc chiến Xuất phát từ quan điểm thể hiện của thuyết Đôminô và cũng là bản chất chủ nghĩa đế quốc Mỹ là

tự cho mình có quyền tối cao định đoạt cho mọi dân tộc phải theo hình ảnh của Mỹ lựa chọn

Trước sự xâm lược này, Việt Nam bị tạm thời chia cắt và nằm trong số những nước bị chia cắt từsau Chiến tranh thế giới thứ hai: Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Đức Hai chế độ xã hội đối lập ở haivùng của mỗi nước thể hiện mâu thuẫn cơ bản nhất của thời đại: mâu thuẫn giữa CNXH và CNTB Cácnước bị chia cắt là hình ảnh thu nhỏ của cuộc đấu tranh trên thế giới sau Chiến tranh thế giới II Tuy nhiên,

ở Triều Tiên, ở Đức, ở Trung Quốc không diễn ra cuộc đụng đầu lịch sử quyết liệt giữa hai thế lực đối lập

của thời đại như ở Việt Nam, bởi sự tác động chống chéo của các quan hệ quốc tế đối với mỗi nước làkhác nhau

1.1.2 Những yếu tố quốc tế tác động tới chiến lược đoàn kết quốc tế

Trong quan hệ quốc tế thời điểm này, Mỹ không chỉ lo sợ nguy cơ cộng sản tràn như “làn sóng đỏ”

mà còn lo ngại nguy cơ “cộng sản đoàn”, ở đây là đoàn kết, cho nên đã rất coi trọng đối ngoại Trong đó, cácmũi ngoại giao quan trọng nhất mà Mỹ nhằm vào là Liên Xô và Trung Quốc, hai địch thủ lớn nhất của Mỹ,hai đồng minh chủ yếu của Việt Nam Đối với Mỹ, nhiệm vụ ngoại giao với hai nước này là kiềm chế, giữchân hai nước không trực tiếp can thiệp vào chiến tranh, tác động để hai nước giảm giúp Việt Nam, lợi dụngmâu thuẫn giữa hai nước để làm suy yếu “hậu phương quốc tế” của Việt Nam và khi cần thì vận dụng vai tròcủa hai nước trong việc thực hiện các ý đồ của Mỹ

Những yếu tố tiêu cực trong hệ thống XHCN cũng được Mỹ lợi dụng để thực hiện âm mưu xâm lượcViệt Nam, đánh phá PTGPDT nhưng Mỹ không thể ngăn chặn sự động viên, ủng hộ và giúp đỡ to lớn củacác nước XHCN và của PTGPDT cho cách mạng Việt Nam Tin tưởng ở sự nghiệp chính nghĩa của dân tộcmình, tin ở xu thế thời đại, từng bước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triển khai chiến lược đoàn kết quốc tế, tố cáochính sách xâm lược, hành động phi nghĩa của đế quốc Mỹ, đồng thời thể hiện nguyện vọng hòa bình, độclập, tự do chính đáng của nhân dân Việt Nam và quyền tự bảo vệ thiêng liêng của mình trước dư luận toànthế giới Bằng thực tiễn cuộc đấu tranh hùng và chính nghĩa của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh và dân tộc ViệtNam đã từng bước quy tụ, tập hợp được các lực lượng hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội trên toàn thế giới, kể

cả nhân dân Mỹ ủng hộ cuộc đấu tranh chống xâm lược của mình, cô lập cao độ đế quốc Mỹ và từng bướcgiành thắng lợi

Như thế, công cuộc kháng chiến chống Mỹ mà dân tộc Việt Nam phải thực hiện đã mang ý nghĩacủa bối cảnh quốc tế, thời đại lớn lao Chính vì vậy, yêu cầu tiên quyết để công cuộc kháng chiến này tất

Trang 11

thắng phải bắt nguồn từ việc phát huy hiệu quả chiến lược, sách lược đoàn kết quốc tế theo tư tưởng của Chủtịch Hồ Chí Minh Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế hình thành và hoàn thiện đã trở thành đườnglối chiến lược của cách mạng Việt Nam từ đầu đến giữa thế kỷ XX.

1.2 Sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và những hoạt động thực tiễn của Người nhằm kiến lập đoàn kết quốc tế từ năm 1954 đến năm 1959

1.2.1 Đoàn kết Việt-Xô-Trung, đoàn kết XHCN

Sự chỉ đạo đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là việc xác lập những nguyên tắc và chính sáchđối ngoại mới Đây cũng là điều kiện tiên quyết để phá vỡ thế cô lập, mở rộng quan hệ ngoại giao khu vực vàquốc tế, tạo ra môi trường thuận lợi để đón nhận sự giúp đỡ của các nước anh em, mặt khác làm tăng uy tínViệt Nam trên trường quốc tế

Đường lối ngoại giao có định hướng, có trọng tâm một mặt biểu thị sự tôn trọng và khẳng định xuhướng gắn kết với phe XHCN của nhà nước VNDCCH, mặt khác cho thấy sự đánh giá đúng đắn về vai tròcủa hai nước lớn Xô-Trung

Trên các diễn khác nhau, lãnh tụ Hồ Chí Minh cũng tích cực tham gia vận động để mở rộng khôngngừng quy mô, lực lượng của chiến lược đoàn kết, hữu nghị quốc tế Bên cạnh những cuộc viếng thăm, Chủtịch Hồ Chí Minh cùng Đảng và Chính phủ Việt Nam còn có nhiều hoạt động góp phần củng cố và tăngcường tình đoàn kết với các Đảng, Chính phủ và nhân dân các nước XHCN như tham dự ngày Quốc khánh,

dự Đại hội Đảng của các nước anh em, gửi điện mừng những dịp trọng đại thậm chí là kết nghĩa và thi đuagiữa các tổ chức kinh tế-xã hội của Việt Nam và các nước XHCN khác

Thắng lợi thu được từ hoạt động ngoại giao của Hồ Chí Minh chẳng những làm tăng uy tín Việt Namtrên trường quốc tế, góp phần củng cố tình đoàn kết trong hệ thống XHCN và phong trào cộng sản, mà cònlàm cho quan hệ Việt - Xô, Việt - Trung trở lại gắn bó hơn, giảm bớt những nghi ngờ, hiểu lầm đáng tiếc

1.2.2 Đoàn kết với các nước dân chủ nhân dân và ba nước Đông Dương

Các cuộc viếng thăm hữu nghị với các nước Ấn Độ, Mianma, Inđônêxia mà Hồ Chí Minh đã thựchiện sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 thể hiện tầm nhìn xa rộng của Người khi đã đưa đất nướcbước những bước đầu tiên hòa vào sức mạnh của thời đại

Trên cơ sở có quan hệ hữu hảo với các nước sáng lập Phong trào Không liên kết, cùng với uy tín củamình, Việt Nam nhanh chóng nhận được sự ủng hộ hoàn toàn của các nước mới trỗi dậy (GANEFO) ở cảchâu Á, châu Phi, và Mỹ La Tinh Đây là sự chuẩn bị quan trọng cho việc xúc sự hình thành một mặt trậnnhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống đế quốc Mỹ, góp phần củng cố hòa bình ở Châu Á và thế giới

Riêng về quan hệ đoàn kết với Lào và Campuchia, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có ý kiến chỉ đạo làmdịu đi tình hình căng thẳng khu vực, tránh đối đầu dẫn đến đổ vỡ, sa vào âm mưu của thế lực đế quốc

Sự đoàn kết ủng hộ đó của quốc tế với cách mạng Việt Nam càng phát triển khi nhân dân miền Namthực hiện cuộc Đồng Khởi thắng lợi

Qua bốn năm kiên trì đấu tranh thi hành hiệp đinh Giơnevơ (1954-1959) thì đây cũng được coi làthời kỳ phức tạp nhất - một thời kỳ vừa nghiên cứu tìm tòi, thể nghiệm vừa thăm dò phản ứng và tập hợp lựclượng, đề hoạch định đường lối, chủ trương, phương pháp cách mạng mới Chủ tịch Hồ Chí Minh vàĐLĐVN chủ trương thực hiện thống nhất Việt Nam trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hoà

Trang 12

bình Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn bày tỏ sự lạc quan về khả năng sức ép của dư luận thế giới sẽ buộc miềnNam phải thực thi hiệp định và bầu cử sẽ diễn ra Là lãnh tụ cao nhất của dân tộc, Hồ Chủ tịch đã xem xétmột cách biện chứng tất cả điều kiện chủ quan và khách quan lúc bấy giờ đều không thuận lợi cho việc tiếnhành một cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam, Đảng và nhân dân Việt Nam đã phải cân nhắc, lựa chọnnhiều phương án khác nhau sao cho giải phóng được miền Nam mà vẫn bảo vệ được miền Bắc xã hội chủnghĩa, tập hợp được lực lượng trong nước, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của quốc tế - đặc biệt là Liên

Xô, Trung Quốc Người đã chỉ đạo thực hiện một đường lối đối ngoại có định hướng (thắt chặt quan hệ vớicác nước XHCN); có trọng tâm (hai nước Liên Xô và Trung Quốc); đồng thời coi trọng việc mở rộng quan

hệ với các nước Á – Phi - Mỹ Latinh, chú ý đặc biệt với hai nước láng giềng Lào và Campuchia Tất cả cácmối quan hệ giữa Việt Nam với nước ngoài luôn đảm bảo nguyên tắc tự chủ, bình đẳng và cùng có lợi, trên

cơ sở không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Người đã trực tiếp tham gia hoạt động kiến tạo và mởrộng quan hệ đối ngoại với một nhịp độ sôi động, từ Đông sang Tây và đạt kết quả tích cực trên tất cả cácmặt kinh tế, chính trị, ngoại giao

Nhìn chung lại, hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian từ tháng 7-1954 đếntháng 9-1960 (tức là từ sau Hội nghị Giơnevơ đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III), đã đạt được kết quảrất to lớn và toàn diện, trên cả phạm vi khu vực và phạm vi thế giới

1.3 Chủ tịch Hồ Chí Minh với những hoạt động nêu cao chính nghĩa hòa bình, thực hiện đoàn kết quốc tế và vận động nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ xâm lược từ năm 1960 đến năm 1964

1.3.1 Tình hình trong nước và những diễn biến trong quan hệ quốc tế ảnh hưởng đến cách mạng Việt Nam (1961-1965)

Đế quốc Mỹ đã khai thác triệt để mâu thuẫn Xô-Trung nhằm khống chế Đông Dương và Đông Nam

Á Mỹ đã đặt vấn đề Nam Việt Nam như là một thách thức cần giải quyết

Việc thực hiện đường lối chống Mỹ, tới thời điểm này, tiếp tục diễn ra trong bối cảnh quốc tế khôngmấy thuận lợi vì sự bất đồng ngày càng gay gắt giữa Liên Xô, Trung Quốc, và sự phân liệt bè phái trongphong trào cộng sản, công nhân quốc tế Mâu thuẫn trong phong trào cộng sản quốc tế ngay lập tức được đếquốc Mỹ lợi dụng triệt để nhằm chống phá phong trào cách mạng Việt Nam, leo thang, mở rộng chiến tranhxâm lược trên phạm vi cả nước

Tiến hành mở rộng chiến tranh trên cả hai miền Nam-Bắc của Việt Nam, L.Johnson và bộ tham mưucủa Nhà Trắng còn phạm sai lầm khi đánh giá về tình hình Việt Nam và Đông Dương trong tương quan sosánh lực lượng với Mỹ, cũng như mối quan hệ quốc tế giữa Đông Dương với các lực lượng yêu chuộng hòabình tiến bộ trên thế giới Nổi bật là xu hướng “ly tâm”, các quốc gia mới hồi phục sau chiến tranh như Pháp,Anh, Nhật đang từng bước đấu tranh với Mỹ để khôi phục vị trí của mình Đây là nhân tố thuận lợi đối vớinhân dân Việt Nam trong quá trình tập hợp lực lượng, thành lập mặt trận nhân dân thế giới chống xâm lược

Mỹ Thêm vào đó, cùng với sự lớn mạnh của các lực lượng thuộc “thế giới thứ ba”, “phong trào không liênkết”, lực lượng yêu hòa bình và tiến bộ xã hội trong các nước tư bản, trong đó có nhân dân Mỹ, ngày càngphát triển Đây chính là những trở lực rất lớn mà Johnson và phe “diều hâu” không thể lường tính hết đượckhi phát động “chiến tranh cục bộ” ở Việt Nam

Trang 13

Cho đến khi giặc Mỹ gây chiến tranh phá hoại ở miền Bắc (8-1964) và cho quân đổ bộ vào miềnNam (3-1965) thì nhiệm vụ xây dựng hậu phương miền Bắc đã được chuẩn bị chu đáo để đối phó với sự leothang chiến tranh của đế quốc Mỹ, sẵn sàng đánh Mỹ, thắng Mỹ.

Chủ động nắm bắt những diễn biến về tình hình thế giới, Đảng LĐVN dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã có những đối sách hợp lý sáng tạo, khoét sâu vào điểm yếu của đế quốc Mỹ, đoàn kết tậphợp lực lượng đưa sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam lên tầm cao mới

1.2.2 Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo xử lý về mối quan hệ Việt-Trung; Việt-Xô trong tác động của mối quan hệ Trung-Xô

Sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ của dân tộc Việt Nam phải tiếp tục tăng cường và củng cố tìnhđoàn kết hữu nghị, tranh thủ sự giúp đỡ và hợp tác chặt chẽ với Liên Xô, Trung Quốc

Đảng LĐVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh, một mặt kêu gọi toàn dân tộc nêu cao tinh thần độc lập, tựchủ, tự lực cánh sinh, mặt khác ra sức hoạt động nhằm góp phần ngăn ngừa sự chia rẽ và duy trì tình đoànkết giữa các nước XHCN, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của cả Liên Xô và Trung Quốc đối với công cuộcxây dựng và chiến đấu của dân tộc mình

Mặc dù lập trường đúng đắn này của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở một số thời điểm nhạy cảm của quan

hệ Xô-Trung chưa được tất cả các bên ghi nhận, đánh giá và tiếp thu đúng mức Nhưng phải khẳng địnhrằng, tất cả những nỗ lực, cố gắng đó của Người đã được lịch sử lên tiếng và ghi nhận Tiếng nói chânthành xuất phát từ mong muốn đoàn kết và thái độ không khoan nhượng của Hồ Chí Minh trong cuộc đấutranh bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin cũng chiếm được tình cảm của bạn bè quốc tế, tạo raniềm tin và thiện cảm đối với cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam

Từ 1961-1965, quan hệ Việt Nam với Trung Quốc, cũng có nhiều vấn đề phức tạp, chủ yếu bị ảnhhưởng bởi những nhân tố xuất phát từ mâu thuẫn Trung - Xô; những nảy sinh đáng lo ngại trong quan hệTrung - Mỹ và sự áp đặt mang tư tưởng dân tộc Đại Hán trong quan hệ quốc tế của Trung Quốc

Quan điểm của Hồ Chí Minh trong quan hệ ngoại giao giữa hai nước Việt-Trung, là xây dựng tinhthần đoàn kết, trước sau như một, vun đắp thành mối quan hệ hữu nghị đặc biệt

Chính sách lớn là giữ cân bằng trong quan hệ với hai nước, không đứng về bên này chống bên kia,tránh mọi biểu hiện và động thái có thể gây hiểu lầm Việt Nam trọng bên này hơn bên kia được Chủ tịch HồChí Minh định hướng tới từng công tác nhỏ Điện chúc mừng, điện cảm ơn, các phát biểu long trọng, ViệtNam đều tính toán sao cho cân nhau, không gây cảm giác bên trọng, bên sơ Việt Nam không tham gia cáchoạt động của bên này mà bên kia không tán thành Liên Xô và Trung Quốc chân thành giúp, Việt Nam trântrọng, nhưng cái gì nhận, cái gì không, nhận của ai… Hồ Chủ tịch cùng với cách mạng Việt Nam đã tínhtoán, cân nhắc kỹ

Với bề dày kinh nghiệm và uy tín của một chiến sỹ cộng sản lão thành, Chủ tịch Hồ Chí Minh đãlàm hết sức mình để bảo vệ phe XHCN, hàn gắn rạn nứt Trung-Xô, bởi đó không chỉ là trách nhiệm đối vớiphong trào cộng sản quốc tế, mà còn có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ViệtNam Sự đoàn kết của phe XHCN đã là chỗ dựa vững chắc, là hậu phương rộng lớn, là nhân tố kiềm chế sựliều lĩnh của đế quốc Mỹ

Ngày đăng: 07/04/2015, 19:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w