1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường hoạt dộng thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí”.doc

78 511 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tăng cường hoạt dộng thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí
Tác giả Phùng Thùy Nhung
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài chính
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 801,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tăng cường hoạt dộng thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Cùng với quá trình xây dựng Tổng công ty Dầu khí Việt Nam thành một Tậpđoàn kinh tế mạnh, năm 2000 Công ty Tài chính Dầu khí (PVFC) đã được thành lậpvới nhiệm vụ chiến lược là đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển của ngành Dầukhí Việt Nam và vận hành sinh lời hiệu quả nhất mọi nguồn tài chính của ngành Trên

cơ sở đó, do hạn chế của việc quy định hạn mức tín dụng với các Tổ chức tín dụng và

để tài trợ cho các dự án ngành với giá trị đầu tư ban đầu lên tới hàng nghìn tỷ đồng,hoạt động thu xếp vốn tín dụng đã được triển khai tại Công ty Tài chính Dầu khí nhằmđảm bảo có thể thực hiện được các dự án tốt mang lại hiệu quả cao cho sự phát triểncủa ngành và quốc gia Có thể nói, hoạt động thu xếp vốn cho dự án được coi là nhiệm

vụ trung tâm và hoạt động nền tảng của PVFC

Hơn nữa, cùng với sự lớn mạnh của Công ty Tài chính Dầu khí trong 6 năm vừaqua, hoạt động thu xếp vốn tín dụng dự án cũng đã được Công ty mở rộng đến các đơn

vị, dự án ngoài Tổng Công ty, thuộc nhiều ngành kinh tế khác như điện, than, du lịchcao cấp, xây dựng cầu đường…góp phần đem lại một khoản thu nhập đáng kể choCông ty và nâng cao vị thế của Công ty Tài chính Dầu khí so với các Công ty Tài chínhkhác trực thuộc Tổng Công ty Nhà nước

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hoạt động thu xếp vốn tín dụng dự án,Công ty đã bộc lộ nhiều hạn chế về Quy trình nghiệp vụ, tính chuyên nghiệp, sự phốihợp giữa các đơn vị liên quan, cũng như hoạt động Marketing dòng sản phẩm thu xếpvốn tín dụng Do đó, mặc dù hoạt động thu xếp vốn được coi là nhiệm vụ chính trị và

được ưu tiên hàng đầu của PVFC trong giai đoạn vừa qua nhưng phương châm “không

bỏ sót dự án của ngành dầu khí” vẫn chưa được thực hiện, đồng thời khả năng mở

rộng ra các dự án ngoài ngành cũng chưa nhiều Thực trạng đó đã đặt ra cho Công tyTài chính Dầu khí nhu cầu cấp thiết phải có những giải pháp thích hợp và kịp thời để

có thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Tập đoàn giao phó Chính vì vậy, đề tài

“Tăng cường hoạt dộng thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí” đã

được lựa chọn làm đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp

Trang 2

Nội dung chuyên đề được chia bố cục thành 3 chương Trong đó:

Chương 1: Khái quát những vấn đề cơ bản liên quan đến Công ty Tài chính và hoạt

động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính trực thuộc Tổng Công ty

Chương 2: Thực trạng hoạt động thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí

trực thuộc Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường hoạt động thu xếp

vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí

Trang 3

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THU XẾP VỐN

CHO DỰ ÁN TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH

1.1.1 Khái niệm và phân loại Công ty Tài chính

Sự phát triển của nền kinh tế thị trường và khoa học công nghệ đã kéo theo sựgia tăng về các loại hình dịch vụ tài chính cũng như nhu cầu vốn cho đầu tư sản xuất.Tuy nhiên, Ngân hàng Thương mại với vai trò là một Tổ chức Tài chính trung giankhông thể đáp ứng được đầy đủ tất cả các nhu cầu đó do những hạn chế nhất định trongbản thân hệ thống ngân hàng Điều này dẫn đến đòi hỏi phải có các trung gian tài chínhkhác, chuyên môn hoá trong một số lĩnh vực hoạt động của ngân hàng đồng thời khắc

phục được những hạn chế của NHTM Các Tổ chức Tài chính phi ngân hàng (non – banking financial institution), trong đó có Công Ty Tài chính đã ra đời trong hoàn cảnh

đó Với ưu thế của mình, các Công ty Tài chính đã và đang ngày một lớn mạnh, trởthành những đối thủ cạnh tranh đầy tiềm năng của Ngân hàng Thương mại

Trong cuốn “Tiền tệ Ngân hàng và Thị trường Tài chính”, Fredric S.Miskin đã

xếp các Công ty Tài chính vào nhóm các trung gian đầu tư cùng với các Quỹ tương trợ

để phân biệt với các tổ chức nhận tiền gửi (các Ngân hàng) và các tổ chức tiết kiệm

theo hợp đồng (các Công ty Bảo hiểm) Ông cũng đưa ra nhận định rằng “CTTC là công ty thu hút vốn bằng cách phát hành thương phiếu hoặc cổ phiếu hoặc trái khoán

và dùng tiền thu được để cho vay (thường là các khoản nhỏ) đặc biệt thích hợp với các nhu cầu của các doanh nghiệp và nhà tiêu dùng”.

Federal Reserve lại định nghĩa CTTC là loại hình doanh nghiệp, không phải tổ

chức nhận tiền gửi, mà tài sản chủ yếu là những khoản cho vay

Trang 4

Có người hiểu một cách đơn giản thì Công ty Tài chính là những tổ chức cho

vay không nhận tiền gửi (non – depository lending institutions).

Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về CTTC nhưng nhìn chung CTTC

có những đặc điểm khác biệt so với NHTM như sau:

- Là một trung gian tài chính không nhận tiền gửi dưới 1 năm, không có chứcnăng thanh toán

- CTTC chủ yếu vay những món tiền lớn nhưng lại thường cho vay những móntiền nhỏ - một quá trình hoàn toàn khác so với quá trình của các NHTM, cácNgân hàng này phát hành các món tiền gửi với số lượng tiền nhỏ và sau đóthường cho vay với món tiền lớn

- CTTC nhận vốn bằng cách bán các thương phiếu và phát hành các cổ phiếu

và trái khoán

Cùng với sự phát triển của thị trường tài chính, các CTTC cũng phát triển thành nhiều loại hình với các chức năng khác nhau:

Căn cứ vào đối tượng khách hàng

CTTC bán hàng: Là CTTC thực hiện các món cho vay gián tiếp cho người tiêu

dùng để mua các món hàng từ công ty mẹ hoặc từ một doanh nghiệp sản xuất Sau khingười tiêu dùng thoả thuận và ký một HĐ mua bán trả góp CTTC sẽ mua lại các HĐđó

CTTC người tiêu dùng: Là CTTC trực tiếp cung ứng tín dụng cho các hộ gia

đình, cá nhân để mua sắm hàng hoá tiêu dùng, hầu hết các khoản vay đều được trả góptheo định kỳ Một cách cho vay khác là CTTC cấp thẻ tín dụng cho KH để họ mua sắm

ở hệ thống các cửa hàng bán lẻ

CTTC kinh doanh: Đây là CTTC chuyên cung cấp tín dụng bằng cách mua lại

hoặc chiết khấu các khoản phải thu của doanh nghiệp Ngoài ra công ty còn thực hiện

Trang 5

cung cấp tín dụng cho thuê tài chính, bao thanh toán và cung ứng một số loại tín dụngkhác.

Căn cứ vào hình thức sở hữu

CTTC Nhà nước: Là CTTC do Nhà nước hay doanh nghiệp Nhà nước đầu tư

vốn, thành lập và quản lí hoạt động kinh doanh

CTTC Cổ phần: Là CTTC được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần,

trong đó các cá nhân và tổ chức cùng góp vốn theo quy định của pháp luật

CTTC trực thuộc TCTD:Là CTTC hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân

do một TCTD thành lập bằng vốn tự có của mình, làm chủ sở hữu theo quy định củapháp luật

CTTC liên doanh: Là CTTC được thành lập bằng vốn góp giữa bên Việt Nam

hay nhiều TCTD, doanh nghiệp Việt Nam và bên nước ngoài gồm một hay nhiềuTCTD nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh

CTTC 100% vốn nước ngoài: Là CTTC được thành lập bằng vốn của một hay

nhiều TCTD nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam

Căn cứ vào tính độc lập

CTTC độc lập: Được thành lập là một thực thể độc lập, tự quyết định mọi hoạt

động kinh doanh của mình

CTTC trực thuộc TCT, Tập đoàn: Là một doanh nghiệp thành viên của Tổng

Công ty hoặc Tập đoàn, được thành lập giúp cho Tập đoàn tìm kiếm những nguồn vốn

để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên trong tập đoàn đồng thời

là một trung tâm tài chính của Tập đoàn có tác dụng điều hoà vốn giữa các công tythành viên Dựa vào trình độ chuyên môn của mình, CTTC thuộc Tập đoàn còn cungcấp các dịch vụ tư vấn, quản lý và các biện pháp phòng ngửa rủi ro cũng như các dịch

vụ tài chính khác cho các thành viên Tập đoàn và khách hàng bên ngoài

Trang 6

1.1.2 Vai trò của Công ty Tài chính

CTTC thúc đẩy lưu thông tiền tệ: Vì CTTC là một trung gian tài chính nên hoạt

động của nó đem lại lợi ích cho người đi vay người sử dụng vốn và người cho vay người tiết kiệm Thông qua hoạt động kinh doanh của mình, CTTC thực hiện vai tròđiều hòa các nguồn vốn nhàn rỗi từ nơi “thừa vốn” đến nơi “thiếu vốn” trong nền kinh

-tế, qua đó thúc đẩy quá trình lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế Ngoài ra, CTTC còntạo cơ chế bơm hút tiền một cách hiệu quả và nhanh nhạy, góp phần thúc đẩy nhanh tốc

độ chu chuyển vốn trong nền kinh tế

CTTC là cầu nối chuyển giao thực hiện về mặt kinh tế giữa người sở hữu và sử dụng vốn CTTC có vai trò quan trọng trong việc thực hiện yêu cầu cạnh tranh trong

nền kinh tế thị trường, nó đảm bảo cho các doanh nghiệp có vốn để duy trì quá trìnhsản xuất hay đầu tư nâng cao sức cạnh tranh với các doanh nghiệp khác Chỉ có doanhnghiệp có khả năng sử dụng vốn hiệu quả mới có khả năng tiếp cận được với nguồnvốn của TCTD trong đó có CTTC Như vậy, CTTC đã gián tiếp nâng cao hiệu quả hoạtđộng kinh tế nói chung

1.1.3 Các hoạt động của Công ty Tài chính

Một CTTC thường có các mảng hoạt động chính sau:

Hoạt động huy động vốn

CTTC có thể huy động vốn thông qua hoạt động huy động có tiền gửi từ 1 nămtrở lên của các tổ chức và cá nhân theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Do khôngđược phép huy động các món tiền gửi ngắn hạn nên CTTC còn huy động chủ yếu từcác nguồn khác như phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi (CDs), các loại giấy tờ cógiá; vay vốn từ các TCTD hoặc Tổng Công ty hay Tập đoàn; tiếp nhận vốn uỷ thác từcác TCTD, Chính phủ, tổ chức kinh tế hay các cá nhân trong và ngoài nước Đặc điểmkhác biệt trong phương thức huy động vốn như vậy đã dẫn đến CTTC không được vay

từ cửa sổ chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước giống như NHTM, thậm chí ở Mỹ

CTTC còn không được tham gia hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng (Fedwire).

Trang 7

Nhưng thay vào đó, CTTC không phải duy trì tỉ lệ dự trữ bắt buộc mà chỉ phải duy trìcác quỹ phòng và đảm bảo các tỉ lệ đảm bảo an toàn theo quy định.

Mặt khác, do tính chất của nguồn vốn huy động được như trên nên chi phí huyđộng vốn (lãi suất huy động) của CTTC thường cao hơn NHTM vì các khoản vay màCTTC huy động được chủ yếu là trung và dài hạn, mức độ rủi ro cao

- Cho vay theo thời hạn: cho vay ngắn hạn (dưới 12 tháng), cho vay trung hạn(từ 12 – 60 tháng) và cho vay dài hạn (trên 60 tháng);

- Cho vay theo uỷ thác của các tổ chức khác;

- Cho vay thấu chi, có hạn mức, cho vay thế chấp bằng tài sản

Ngoài ra, CTTC còn cung cấp tín dụng dưới các hình thức khác như chiết khấu,tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu, giấy tờ có giá ngắn hạn; bảo lãnh, leasing,factoring

Hoạt động đầu tư

Hoạt động huy động vốn và tín dụng là hai hoạt động cơ bản và cố hữu của một

tổ chức tài chính trung gian Bên cạnh đó, đầu tư cũng là một trong những mảng hoạtđộng quan trọng của CTTC vì hoạt động đầu tư mang lại lợi nhuận và uy tín cho CTTCtrên thị trường tài chính Cụ thể, CTTC thường có 2 mảng đầu tư lớn:

Trang 8

- Đầu tư vốn cho các dự án, doanh nghiệp: CTTC sử dụng nguồn vốn tự có của

mình hoặc nguồn vốn uỷ thác đầu tư để đầu tư vào các dự án nhất định hoặc đầu tưtrực tiếp vào các doanh nghiệp trong và ngoài nước dưới hình thức góp vốn liên doanhhoặc mua cổ phần

- Đầu tư chứng khoán và các giấy tờ có giá: chứng khoán là một tài sản hấp

dẫn cho hoạt động đầu tư của bất kỳ một tổ chức tài chính hay cá nhân nào Đầu tưchứng khoán vừa đem lại lợi nhuận của CTTC, vừa giúp cho công ty đa dạng hoá đượcdanh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro cho công ty Danh mục chứng khoán của một công

ty tài chính cũng rất đa dạng, gồm phần lớn là các chứng khoán ít rủi ro như trái phiếukho bạc đến cả cổ phiếu của các công ty tiềm năng

Các hoạt động khác

Ngoài hoạt động huy động vốn, tín dụng, đầu tư, CTTC còn thực hiện các hoạtđộng khác như kinh doanh ngoại hối, vàng; quản lý các ngân quỹ; tư vấn và thu xếpvốn doanh nghiệp; tư vấn cổ phần hoá, tư vấn tiền gửi; thẩm định và tài thẩm định; môigiới đầu tư; đại lý phát hành các giấy tờ có giá Trong đó, hoạt động thu xếp vốn cho

dự án mặc dù là một hình thức dịch vụ tài chính còn chưa được phổ biến nhưng có ýnghĩa lớn với CTTC, đặc biệt là CTTC trực thuộc Tổng Công ty, Tập đoàn

Trong khuôn khổ bài viết này tác giả chỉ đi sâu vào nghiên cứu hoạt động thu

xếp vốn cho dự án của CTTC trực thuộc Tổng Công ty

thuộc Tổng Công ty

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động thu xếp vốn cho dự

án tại Công ty Tài chính trực thuộc Tổng Công ty

Có thể nói hoạt động thu xếp vốn cho dự án được hình thành trên cơ sở đặcđiểm riêng biệt của CTTC trực thuộc Tổng công ty hoặc Tập đoàn

Trang 9

Tương tự như các tổ chức tài chính trung gian khác, CTTC trực thuộc TổngCông ty cũng thực hiện cho vay vì đây là một trong những hoạt động truyền thống củacác Tổ chức tín dụng Tuy nhiên, hoạt động tín dụng đơn thuần không phải là mục tiêuhàng đầu của việc ra đời CTTC trong Tổng công ty mà mục tiêu chủ yếu là chuyênmôn hoá các hoạt động tài chính, nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quả các hoạt độngtài chính của Tổng Công ty và các đơn vị thành viên thông qua các nghiệp vụ tài chínhthích hợp Do đó, dự án ngành là đối tượng cho vay chủ yếu của hoạt động tín dụng tạiCông ty Tài chính Song, loại hình cho vay dự án lại có độ rủi ro cao nhất do thời gian

dự án là lâu dài, lượng vốn đầu tư ban đầu rất lớn (thường lên đến vài tỷ USD), các dự

án đã được cấp vốn có thể bị hoãn do điều kiện thời tiết hoặc không đủ nguyên vậtliệu…Do tính chất phức tạp của dự án mà các doanh nghiệp, chủ đầu tư khó có thể tựmình thu xếp được khoản vốn vay lớn như vậy với chi phí vốn tối ưu Hơn nữa, việctìm kiếm nguồn vốn tài trợ đòi hỏi phải có am hiểu về thị trường tài chính, có mối quan

hệ, uy tín với các tổ chức tín dụng

Trong khi đó, so với các Ngân hàng thương mại, CTTC có số vốn điều lệ thấphơn nhiều, các khoản cho vay lại bị khống chế bởi hạn mức tín dụng theo Quy định củaNHNN dẫn đến khả năng cung cấp vốn tín dụng của CTTC nhỏ hơn nhu cầu vốn đầu

tư dự án Bù lại, CTTC có trình độ chuyên môn trong việc tìm kiếm nguồn vốn, amhiểu dự án ngành về mặt kỹ thuật, và là một tác nhân của thị trường tài chính Rõ ràng,hoạt động thu xếp vốn ra đời là phù hợp với quy luật cung cầu, đem lại lợi ích kinh tếcho Tổng Công ty cũng như CTTC thuộc Tổng Công ty trong vai trò là một doanhnghiệp hoạch toán độc lập

Như vậy, có thể hiểu “Thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính thuộc Tổng công ty là hoạt động trong đó Công ty Tài chính tiến hành với tư cách là trung gian giữa bên vay và bên cho vay nhằm đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu vốn vay của dự án Khách hàng của thu xếp vốn là chủ đầu tư dự án, bao gồm Tổng Công

ty, các đơn vị thành viên trong Tổng Công ty, các đơn vị khác cùng ngành kinh tế

kỹ thuật và các ngành khác”.

Trang 10

Phân tích một số đặc điểm của hoạt động thu xếp vốn sẽ cho ta hiểu rõ hơn vềkhái niệm thu xếp vốn cho dự án và vai trò của nó:

Hoạt động thu xếp vốn mang tính trung gian: Nếu như trong hoạt

động tín dụng, một tổ chức tài chính là trung gian đứng giữa người cho vay - người tiếtkiệm và người vay – người sử dụng, giúp họ chuyển vốn từ người này sang người kiathì hoạt động thu xếp vốn còn mang tính chất tính trung gian “hơn” hoạt động tín dụng.CTTC đứng ra thực hiện một tập hợp các nghiệp vụ nhằm thu xếp một khoản vốn tíndụng cho khách hàng bằng cách đưa ra các phương án tài trợ dự án để chủ đầu tư cóthể lựa chọn Như thế, CTTC là cầu nối vốn giữa khách hàng và các cá nhân, tổ chứckinh tế (chủ yếu là các tổ chức tín dụng khác) để đáp ứng một lượng vốn nhất định theonhu cầu của khách hàng Với cùng một yêu cầu đặt ra là phải có một lượng vốn tíndụng cho dự án, nếu đứng trên góc độ của chủ đầu tư thì đó là hình thức huy động vốn,còn đứng trên góc độ của CTTC thì đó được xem là một hoạt động thu xếp vốn chokhách hàng, tức là CTTC được khách hàng uỷ quyền đại diện, thay mặt khách hànglàm việc với các TCTD khác để thu xếp khoản vốn theo yêu cầu Như vậy, hoạt độngthu xếp vốn đã trở thành một kênh cung cấp hàng hoá cho các NHTM, giúp cho thịtrường tài chính được mở rộng, bao trùm được nhu cầu vốn của xã hội, và vận hành cóhiệu quả hơn

Hoạt động thu xếp vốn mang tính “tín dụng”: Tín dụng là quan hệ

vay mượn, bao gồm cả cho vay và đi vay Ở đây, hoạt động thu xếp vốn là việc Công

ty Tài chính tìm kiếm một khoản vốn vay cho chủ đầu tư dự án chứ không phải là mộthoạt động đầu tư Tính tín dụng còn được thể hiện rõ ràng hơn trong trường hợp CTTCthu xếp vốn tín dụng cho dự án bằng nguồn vốn của mình Khi đó, quan hệ giữa CTTC

và chủ đầu tư dự án là quan hệ vay mượn trực tiếp (các nguồn vốn mà CTTC tìm kiếm

để thu xếp cho khách hàng sẽ được trình bày ở phần sau)

Trang 11

Hoạt động thu xếp vốn là một loại hình dịch vụ tài chính: Do đó,

nó mang tính vô hình, không ổn đinh, khó xác định chất lượng, tính không lưu giữđược và tính không thể tách rời khỏi nguồn gốc

Thu nhập của việc cung cấp loại hình dịch vụ này được tính bằng phí.Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt hoạt động thu xếp vốn và hoạt động cho vayđơn thuần Thu nhập của hoạt động cho vay là tiền lãi, lãi suất được tính dựa trên 3 yếu

tố (1) Chi phí cơ hội của khoản tiền vay, (2) Giá trị theo thời gian của tiền và (3) Mức

độ rủi ro thu nợ Trong khi đó, phí là khoản tiền “trả công” cho Công ty Tài chính đãthực hiện các giao dịch để thu xếp thành công vốn cho khách hàng và các chi phí liênquan đến quản lý khoản vay trong quá trình giải ngân và thu nợ Thông thường có 2cách tính phí:

Bảng 1.1: Cách tính phí của hoạt động thu xếp vốn tại Công ty Tài chính

Cách tính Tính bằng một số tiền cụ thể nhất định

(một tỷ lệ phần trăm trên tổng giá trịthu xếp)

Tính trên cơ sở mức phí thu xếp(một tỉ

lệ phần trăm) trên tổng dư nợ thực tế

360

Trang 12

Hoạt động thu xếp vốn có đối tượng là các dự án trung và dài hạn

có mức độ rủi ro cao: Chính vì các dự án thường có tổng số vốn đầu tư ban đầu là rất

lớn nên một Tổ chức tín dụng không thể đáp ứng nhu cầu vay vốn của dự án mà cần cómột trung gian đứng ra dàn xếp số vốn đó cho khách hàng từ nhiều nguồn khác nhau,đồng thời đây cũng là biện pháp giảm thiểu rủi ro cho các nhà tài trợ thông qua việc đadang hoá các nguồn tài trợ Ngược lại, hoạt động thu xếp vốn không thích hợp với cáckhoản vay ngắn hạn vì (1) Những khoản vay này thường dùng để tài trợ cho tài sản lưuđộng, nhu cầu vay vốn không lớn và khả năng của một Tổ chức tín dụng hoàn toàn cóthể đáp ứng mà không vi phạm các quy định của pháp luật về đảm bảo tỷ lệ an toàn tốithiểu, (2) Hoạt động thu xếp vốn cần nhiều thời gian để tiến hành giao dịch, thu xếpcác khoản vay, thẩm định và quản lý khoản vay, do đó không thích hợp cho nhữngkhoản vay có thời hạn dưới 1 năm

Hoạt động thu xếp vốn đòi hỏi các dịch vụ tư vấn tài chính đi kèm: Bên cạnh việc được Công ty Tài chính thu xếp đủ vốn và kịp thời, chủ đầu tư còn

được tư vấn về các phương án tài trợ vốn tín dụng sao cho lãi suất là cạnh tranh, giảmthiểu chi phí trả cho khoản vay, thuận tiện và nâng cao hiệu quả dự án đầu tư Chứcnăng tư vấn của hoạt động thu xếp vốn còn được thể hiện ở chỗ CTTC có trách nhiệmđến cùng đối với dự án thông qua việc hỗ trợ kịp thời, có hiệu quả đối với các vấn đềphát sinh trong quá trình giải ngân cho dự án; đồng thời cung cấp dịch vụ tư vấn quản

lý khoản vay (chịu trách nhiệm về các giao dịch thu gốc, thu lãi) và sử dụng hiệu quảcác nguồn vốn; dàn xếp thuê mua tài chính…

1.2.2 Nguồn vốn cho hoạt động thu xếp vốn dự án

Một trong những nội dung quan trọng của hoạt động thu xếp vốn cho dự án làtìm kiếm nguồn vốn để tài trợ cho khách hàng Sơ đồ sau đây sẽ minh họa các nguồnvốn mà CTTC có thể huy động được:

Trang 13

Sơ đồ 1.1: Nguồn vốn cho hoạt động thu xếp vốn

chính đưa ra các phương án thu xếp vốn cho dự án Khi nhận được giấy đề nghị yêucầu thu xếp vốn của chủ đầu tư, CTTC phải tính xem bản thân Công ty có thể cho vaybao nhiêu và lãi suất cho vay như thế nào? Vì điều này phụ thuộc vào quy mô vốn điều

lệ cũng như hạn mức tín dụng theo quy định Tiếp đó là CTTC sẽ phải tìm kiếm nguồnvốn bên ngoài để có thể cung cấp đủ số vốsn thu xếp theo yêu cầu của khách hàng

Vốn tự có của CTTC bao gồm nguồn vốn huy động, vốn chủ sở hữu và cácnguồn khác Trong đó, nguồn vốn huy động là nguồn vốn quan trọng và chiếm một tỷtrọng lớn trong tổng nguồn vốn Nó được huy động bằng cách nhận tiền gửi kỳ hạn từ

1 năm trở lên của các cá nhân, tổ chức, phát hành các giấy tờ có giá như kỳ phiếu, tráiphiếu, chứng chỉ tiền gửi (CDs), và vốn vay từ các TCTD khác

cá nhân, tổ chức (2)

Nguồn vốn

từ các Tổ chức Tín dụng trong

và ngoài nước (3)

Trang 14

(2) Nguồn vốn thứ 2 mà CTTC có thể huy động để thu xếp vốn cho dự án lànguồn vốn uỷ thác cho vay từ các cá nhân, Tổ chức kinh tế Đây là một nguồn vốn chủyếu và quan trọng phục vụ cho hoạt động thu xếp vốn của Công ty Tài chính.

Uỷ thác cho vay được hiểu là bên uỷ thác giao vốn cho CTTC thông quaHợp đồng uỷ thác cho vay để Công ty Tài chính trực tiếp cho vay đến các đối tượngkhách hàng

Đối với các TCTD, đây là nghiệp vụ để họ có thể giải quyết vấn đề hạn mứctín dụng khi cho vay Nhờ nghiệp vụ uỷ thác cho vay, không những Công ty Tài chính

có thể huy động được một lượng vốn lớn với thời hạn dài cho các dự án, mà các Ngânhàng thương mại cũng có thể tiếp tục cho vay những dự án tốt, mang lại hiệu quả kinh

tế cao thông qua CTTC Đồng thời, đây cũng là một kênh để các Ngân hàng thươngmại tiếp cận được với dự án ngành, đòi hỏi phải có sự am hiểu nhất định về ngành khithẩm định dự án cho vay

Ngoài ra, CTTC thường nhận vốn uỷ thác cho vay từ Chính phủ, Tổng công

ty và các đơn vị thành viên để cho vay dự án Như thế, CTTC có thể thực hiện đượcmục tiêu đặt ra của mình là vận hành có hiệu quả các nguồn vốn của ngành, kinh doanh

nó trên thị trường tài chính

(3) CTTC thường huy động nguồn vốn từ các TCTD khác để thu xếp vốn tín

dụng cho dự án Tuy nhiên, để tài trợ cho một dự án có tổng mức đầu tư ban đầu lớn,thông thường các Tổ chức tín dụng thường hùn vốn với nhau để cho vay dự án dướihình thức đồng tài trợ Theo Quy chế 154/1998/QĐ – NHNN về đồng tài trợ của các

Tổ chức tín dụng của Thống đốc NHNN VN có quy định: “Việc đồng tài trợ của các TCTD là quá trình cho vay - bảo lãnh của một nhóm TCTD (từ 2 trở lên) cho một dự

án, do một TCTD làm đầu mối phối hợp các bên tài trợ để thực hiện, nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả trong hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp và của TCTD”.

Trang 15

Đồng tài trợ được áp dụng trên cơ sở:

- Nhu cầu vốn vay hoặc bảo lãnh để thực hiện dự án vượt giới hạntối đa cho phép cho vay hoặc được phép bảo lãnh của một TCTD;

- Nhu cầu phân tán rủi ro của các TCTD;

- Khả năng nguồn vốn của một TCTD không đáp ứng được nhu cầuvốn của dự án

hợp vốn, đồng bảo lãnh, và kết hợp 2 phương thức đó Trong phạm vi nghiên cứu hoạtđộng thu xếp vốn của Công ty Tài chính, ta chỉ xét đến phương thức cho vay hợp vốn

mà Công ty Tài chính tham gia cho vay như là một thành viên đồng tài trợ

đồng tài trợ, nghĩa là Công ty Tài chính không được làm TCTD đầu mối để quản lý, tổchức đồng tài trợ, giải quyết các vấn đề chung phát sinh của các bên tài trợ Khi có nhucầu vay vốn dự án của khách hàng, Công ty Tài chính phải mời chào các đơn vị đồngtài trợ và nhờ 1 Ngân hàng thương mại khác đứng ra làm đầu mối đồng tài trợ, có tráchnhiệm tổ chức Hội đồng thẩm định dự án chung, soạn thảo Hợp đồng đồng tài trợ vàquản lý các bên tham gia tài trợ

1.2.3 Quy trình thu xếp vốn cho dự án

Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ đề nghị thu xếp vốn của khách hàng Bộ hồ sơ thu

xếp vốn bao gồm: Giấy đề nghị thu xếp vốn; hồ sơ pháp lý; hồ sơ kinh tế (chứng minhkhả năng tài chính của chủ đầu tư); hồ sơ dự án; hồ sơ về đảm bảo tiền vay (nếu vay cóđảm bảo bằng tài sản)

Trong trường hợp có lí do để từ chối thu xếp vốn, Công ty Tài chính phảithông báo với khách hàng dưới hình thức công văn chính thức hoặc từ chối miệng

Trang 16

Sơ đồ 1.2: Quy trình thu xếp vốn

Bước 2: Thu thập thông tin, đánh giá khách hàng và thẩm định dự án.

Ngay sau khi nhận được đủ hồ sơ đề nghị thu xếp vốn của khách hàng, cán bộ thu xếpvốn tiến hành thẩm định và lập báo cáo thẩm định trình Lãnh đạo Phòng nghiệp vụ

Trong báo cáo thẩm định, CBTXV đề xuất việc có hay không thực hiện dịch

vụ thu xếp vốn cho khách hàng (có nêu rõ lý do) Lãnh đạo Phòng nghiệp vụ có tráchnhiệm xem xét báo cáo thẩm định và quyết định việc kết thúc giao dịch thu xếp vốnhoặc tiếp tục lập phương án thu xếp vốn

Trong quá trình thẩm định dự án, ngoài các vấn đề cần thẩm định về mục tiêu

dự án, thẩm định kỹ thuật, thẩm định công nghệ; mối quan tâm lớn nhất của cán bộ thu

1 Tiếp nhận hồ sơ đề nghị thu xếp vốn của khách hàng Hướng dẫn khách hàng hoàn thiện hồ sơ

4 Ký kết HĐ thu xếp vốn, và các HĐ liên quan khác (HĐ đồng tài trợ, HĐ uỷ thác cho vay, HĐ tín dụng…)

3 Lập phương án thu xếp vốn

2 Thu thập thông tin, đánh giá khách hàng, và thẩm định dự án

5 Thực hiện HĐ, theo dõi và thu phí thu xếp vốn

6 Thanh lý các HĐ, kết thúc và lưu hồ sơ

Trang 17

xếp vốn là các chỉ tiêu thẩm định tài chính dự án Các chỉ tiêu này được trình bày ở hộp 1.1:

Hộp 1.1: Các chỉ tiêu thẩm định tài chính dự án

1 Gía trị hiện tại ròng (NPV)

- Khái niệm: NPV là chênh lệch giữa tổng giá trị hiện tại ròng là chênh lệch giữa

tổng giá trị hiện tại của các dòng tiền thu được trong từng năm thực hiện dự án với tổng

số vốn đầu tư bỏ ra được hiện tại hoá

- Ý nghĩa: NPV phản ánh giá trị tăng thêm cho chủ dự án đầu tư NPV mang giá trị

dương nghĩa là việc thực hiện dự án sẽ tạo ra giá trị tăng thêm cho chủ đầu tư; hay nóicách khác, dự án không những bù đắp đủ vốn đầu tư bỏ ra, mà còn tạo lợi nhuận; lợinhuận này còn được xem xét trên cơ sở giá trị thời gian của tiền Ngược lại, nếu NPV

âm có nghĩa là dự án không đủ bù đắp vốn đầu tư, đem lại thua lỗ cho chủ đầu tư

2 Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR)

- Khái niệm: Tỷ suất hoàn vốn nội bộ là trường hợp đặc biệt của lãi suất chiếu khấu

ở đó NPV bằng không

- Ý nghĩa: IRR được xác định dựa trên giả định các dòng tiền thu được trong các

năm được tái đầu tư với lãi suất bằng lãi suất chiết khấu Tuy nhiên nhược điểm của chỉtiêu này là lãi suất chiết khấu sẽ thay đổi trong các năm, thể hiện chi phí cơ hội của chủđầu tư trong từng năm sẽ thay đổi

3 Chỉ số doanh lợi (PI)

- Khái niệm: Chỉ số doanh lợi (profit index) là chỉ số phản ánh khả năng sinh lợi của

dự án, tính bằng tổng giá trị hiện tại của các dòng tiền trong tương lai chi cho vốn đầu

tư bỏ ra ban đầu

- Công thức:

Trang 18

 

n

i i

- Ý nghĩa: PI cho biết một đồng vốn đầu tư bỏ ra sẽ tạo ra bao nhiêu đồng thu nhập.

Thu nhập này chưa tính đến chi phí vốn đầu tư đã bỏ ra Chỉ tiêu này khắc phục được

nhược điểm của dự án có thời hạn khác nhau hay vốn đầu tư khác nhau PI càng cao thì

dự án càng dễ được chấp nhận, nhưng tối thiểu phải bằng lãi suất chiết khấu

4 Thời gian hoàn vốn (PP)

- Khái niệm: Thời gian hoàn vốn đầu tư là thời gian để chủ đầu tư thu hồi được số

vốn đầu tư vào dự án

- Công thức:

Số vốn đầu tư còn lại cần được thu hồi

PP = n +

Dòng tiền ngay sau mốc hoàn vốn

(Trong đó, n là năm ngay trước năm thu hồi đủ vốn đầu tư)

- Ý nghĩa: PP cho biết sau bao lâu dự án thu hồi đủ vốn đầu tư; do vậy, PP cho biết

khả năng tạo thu nhập của dự án từ khi thực hiện đến khi thu hồi đủ vốn

5 Độ nhạy của dự án: Thực chất độ nhạy của dự án không phải là một chỉ tiêu thẩm

định tài chính của dự án nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định mức độrủi ro của dự án Phân tích độ nhạy của dự án là chỉ ra chính xác các chỉ tiêu tài chínhtrên thay đổi như thể nào (thường là NPV hoặc IRR) khi các biến đầu vào thay đổi

Bước 3: Lập phương án thu xếp vốn Cán bộ thu xếp vốn tiến hành khảo

sát nguồn và lập phương án thu xếp vốn Việc lập phương án thu xếp vốn được dựatrên cơ sở 3 nguồn có thể huy động như trình bày ở trên Các cán bộ thu xếp vốn sẽ gửivăn bản hoặc giao dịch bằng miệng để chào mời các Tổ chức khác tham gia tài trợ cho

dự án Thư mời phải có các nội dung chủ yếu về dự án như tên dự án, chủ đầu tư, tổngnguồn vốn đầu tư, đánh giá về tính khả thi của dự án và phương thức trả nợ Trongtrường hợp chưa có cam kết chính thức bằng văn bản của các chủ nguồn về việc cam

Trang 19

kết tài trợ (trường hợp có sử dụng nguồn khác ngoài nguồn của Công ty Tài chính chovay trực tiếp), cán bộ tín dụng có trách nhiệm lập ít nhất một phương án thu xếp vốn

dự phòng

Bước 4: Ký hợp đồng thu xếp vốn Sau khi có văn bản cam kết hợp tác tài

trợ vốn tín dụng dự án từ phía các cá nhân, tổ chức kinh tế; đồng thời phương án thuxếp vốn mà Công ty Tài chính đưa ra được khách hàng chấp nhận Công ty Tài chính

và chủ đầu tư sẽ ký kết Hợp đồng thu xếp vốn HĐ thu xếp vốn thường có 4 nội dungchính:

- Điều 1: Nội dung công việc bao gồm các điều khoản về số tiền thu xếp;

thời hạn khoản vay; lãi suất vay vốn; đảm bảo khoản vay; phí thu xếp vốn(cách tính phí; thời gian thu phí; phương thức thu phí; đồng tiền thu phí).Lãi suất vay vốn ở đây là thể hiện phương án vay vốn mà PVFC cung cấpcho khách hàng Trong quá trình tìm kiếm nguồn tài trợ cụ thể, lãi suất này

có thể được thay đổi Lãi suất vay vốn chính thức được ký kết trong Hợpđồng tín dụng giữa bên tài trợ và bên vay vốn

- Điều 2: Trách nhiệm của bên nhận tài trợ: Cung cấp đầy đủ và kịp thời tài

liệu, thông tin liên quan đến nhu cầu vốn, phương án sử dụng vốn vay vàphương án tài trợ; Hợp tác cũng bên thu xếp vốn soạn thảo và hoàn thiệnHợp đồng tín dụng; thanh toán phí cho bên thu xếp; …

- Điều 3: Trách nhiệm của bên thu xếp vốn: Đảm bảo thu xếp vốn đúng tiến

độ, hỗ trợ bên nhận tài trợ các vấn đề phát sinh liên quan đến việc giảingân, thu nợ, thu lãi và các tranh chấp phát sinh trong quá trình bên nhậntài trợ thực hiện Hợp đồng tín dụng

- Điều 4: Hiệu lực của Hợp đồng

Bên cạnh hợp đồng thu xếp vốn, đơn vị đầu mối thu xếp vốn còn có tráchnhiệm giúp đỡ các bên tham gia tài trợ dự án soạn thảo hợp đồng tín dụng, giúp đơn vịtài trợ ký kết hợp đồng uỷ thác cho vay (nếu có)

Trang 20

Như vậy, HĐ thu xếp vốn giống như 1 cam kết của PVFC sẽ thu xếp vốncho khách hàng theo phương án thu xếp vốn mà PVFC đưa ra Còn các điều khoản cụthể để thi hành về tín dụng: lãi suất, hình thức giải ngân, trả gốc lãi…sẽ được ấn định

và có hiệu lực trong Hợp đồng tín dụng giữ bên tài trợ và bên nhận tài trợ

Bước 5: Thu phí thu xếp vốn Trên cơ sở các hợp đồng đã ký kết và các

giấy tờ liên quan (Khế ước nhận nợ của Bên vay…), phòng nghiệp vụ sẽ theo dõi quátrình giải ngân để làm cơ sở tính phí và thông báo thu phí cho khách hàng, thôngthường trước 07 ngày thu khoản phí đó (nêu rõ số tiền, thời gian và phương thức thuphí, và chỉ định số tài khoản mà bên nhận tài trợ sẽ phải chuyển phí đến)

Bước 6: Thanh lý hợp đồng Sau khi Công ty Tài chính và khách hàng thực

hiện thanh lý hợp đồng, cán bộ thu xếp vốn chuyển toàn bộ hồ sơ liên quan vào kholưu trữ tài liệu theo quy định hiện hành

1.2.4 Chỉ tiêu đánh giá hoạt động thu xếp vốn cho dự án

Để đánh giá bất kỳ một hoạt động nào, người ta thường đánh giá trên 2 mặt:mặt chất và mặt lượng, tương ứng với các tiêu chí định tính và các tiêu chí định lượng

Công ty Tài chính

Các tiêu chí nói trên được xác định căn cứ vào kế hoạch của từng Công ty Tàichính Tăng cường hoạt động thu xếp vốn nghĩa là các tiêu chí số lượng nói trên đạtđược kế hoạch đề ra hàng năm và tăng theo thời gian

Trang 21

1.2.4.2 Các chỉ tiêu định tính

Đánh giá mặt chất của hoạt động thu xếp vốn bao gồm các tiêu chí sau:

Quyền lợi của khách hàng được đảm bảo tối ưu: Nếu quan niệm khách

hàng của hoạt động thu xếp vốn bao gồm người nhận tài trợ và người tài trợ thì khiCông ty Tài chính với tư cách là trung gian thu xếp vốn cho chủ đầu tư phải đảm bảolợi ích của cả hai bên Chủ đầu tư khi sử dụng dịch vụ thu xếp vốn của Công ty phảinhận được đủ số vốn theo yêu cầu và quá trình giải ngân phải được Công ty sắp xếpsao cho đáp ứng được tiến độ thi công của dự án Đối với bên tài trợ, bên thu xếp vốnphải có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin về dự án và chủ đầu tư để có thể raquyết định đúng đắn Như vậy, chỉ tiêu về thời gian hoàn thành dịch vụ cung ứng vốntín dụng cho dự án có thể được coi là sự tiến bộ về mặt chất của hoạt động thu xếp vốncho dự án

Quy trình hoạt động thu xếp vốn chặt chẽ: Quy trình thu xếp vốn phải

được thiết kế sao cho có thể tiên liệu những vấn đề có thể phát sinh trong quá trìnhthực hiện để kịp thời điều chỉnh, đồng thời phải đảm bảo tính chặt chẽ, logic để giảmthiểu rủi ro Trong đó, khâu lập phương án thu xếp vốn cần phải được chú trọng vì thuxếp vốn là hoạt động trung gian, nếu bên CTTC ký hợp đồng đồng ý thu xếp vốn chokhách hàng nhưng khi mời chào các TCTD tham gia tài trợ mà không có kết quả sẽlàm giảm uy tín của bên thu xếp vốn

Khả năng bao quát của hoạt động thu xếp vốn tới các ngành nghề, thành phần kinh tế: một trong những vấn đề cần quan tâm ở đây là dự án thuộc thành

phần kinh tế, thuộc lĩnh vực ngành nghề nào? Trước hết đối với một CTTC trực thuộcTCT thì dự án mà bên thu xếp vốn thực hiện chủ yếu là các dự án thuộc Tổng công ty

và các đơn vị thành viên Tuy nhiên, hoạt động thu xếp vốn sẽ không được coi là mởrộng nếu chỉ dừng lại ở đó CTTC cần dựa vào mối quan hệ được hình thành sẵn có đểthực hiện hoạt động thu xếp vốn cho các dự án thuộc các TCT, Tập đoàn khác nữa

Trang 22

Mở rộng mạng lưới thu xếp vốn tới các Tổ chức Tín dụng trong nước:

hoạt động thu xếp vốn không chỉ được đánh giá về sự gia tăng về quyền lợi của kháchhàng, mức độ chặt chẽ của quy trình hoạt động thu xếp vốn, các ngành nghề mà CTTCtham gia thu xếp vốn cho dự án mà bao gồm cả sự tham gia của các TCTD khác với tưcách là bên tham gia tài trợ cho dự án Dự án càng lớn, đòi hỏi mức vốn đầu tư ban đầucàng lớn thì càng có sự tham gia tài trợ của nhiều thành phần kinh tế, cá nhân, tổ chứckinh tế và đặc biệt là huy động vốn từ các TCTD Như vậy, muốn cho hoạt động thuxếp vốn phát triển thì phải đa dạng hoá các hình thức tài trợ hay nói cách khác, đa dạnghoá các nguồn có thể huy động

Công ty Tài chính trực thuộc Tổng Công ty

Khả năng đáp ứng các chỉ tiêu đánh giá hoạt động thu xếp vốn cho dự án đòihỏi rất nhiều điều kiện Trong khi đó, phải khẳng định rằng thu xếp vốn là một dịch vụtài chính, được hình thành nhờ sự gia tăng về cung và cầu của thị trường, do đó, cácđiều kiện thúc đẩy, tăng cường hoạt động thu xếp vốn dự án sẽ được phân chia thành 2loại: các điều kiện về phía cung, và các điều kiện từ phía cầu

1.3.1 Các diều kiện phía cung (phía Công ty Tài chính)

a) Chất lượng nhân sự

Không phải ngẫu nhiên mà bất cứ doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triểntrong nền kinh tế thị trường cũng phải hết sức coi trọng yếu tố con người Vì con ngườichẳng những là yếu tố cấu thành nên doanh nghiệp mà còn góp phần vận hành doanhnghiệp, quyết định sự thành bại của doanh nghiệp Thu xếp vốn dự án là một loại hìnhdịch vụ tài chính Vì vậy, quá trình cung ứng dịch vụ thu xếp vốn không chỉ đòi hỏicán bộ thu xếp vốn phải nắm vững nhu cầu thị trường và thị yếu của khách hàng màcòn phải có một trình độ chuyên môn nhất định mới có thể thẩm định, lựa chọn và theodõi các dự án hiện thời, hay tìm kiếm các dự án mới hấp dẫn và có khả năng thu hútnhà tài trợ Đồng thời cán bộ thu xếp vốn phải có sự nhạy bén, năng động, sáng tạo và

Trang 23

linh hoạt để thích ứng kịp thời với những thay đổi của thị trường tài chính, những thayđổi trong chính sách, pháp luật và những tiến bộ trong công nghệ hiện đại Muốn vậy,Ban lãnh đạo Công ty cần phải coi trọng công tác tuyển dụng và đánh giá thực hiệncông việc thường xuyên, liên tục Mặt khác, cần giúp nhân viên của mình đạt được cácmục tiêu cá nhân của họ Mỗi cá nhân có mục tiêu riêng của mình Đó có thể là mụctiêu lương bổng, thăng tiến, hoặc đào tạo Nếu lẵng quên mục tiêu cá nhân của nhânviên, năng suất lao động cũng như việc hoàn thành công tác sẽ giảm

Ngoài ra, do đối tượng của thu xếp vốn là những dự án lớn tiềm ẩn rủi ro rấtcao, vì vậy công tác thẩm định và quản lý tín dụng phải được đặt lên hàng đầu Để việcthẩm định đạt hiệu quả dự án chính xác đòi hỏi cán bộ tín dụng phải có trình độ chuyênmôn cao và kiến thức am hiểu về ngành nghề lĩnh vực của khách hàng Đặc biệt đối vớihoạt động thu xếp vốn là một hoạt động mang tính trung gian, Công ty Tài chính vớivai trò là bên thu xếp vốn cho khách hàng càng cần phải thể hiện khả năng chuyênnghiệp trong các lĩnh vực kinh tế, bởi đây chính là yếu tố khác biệt của loại hình dịch

vụ này

b) Hoạt động Marketing

Đối với xu hướng phát triển kinh tế như hiện nay thì Marketing giữ vai trò vôcùng quan trọng Marketing là cầu nối giữa mọi hoạt động của doanh nghiệp với thịtrường, có nghĩa là đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hướng theonhu cầu thị trường và coi nhu cầu thị trường là đích đến của mọi hoạt động trong doanhnghiệp Marketing còn đặc biệt có ý nghĩa hơn đối với một loại hình mới phát triểnnhen nhóm như hoạt động thu xếp vốn Do đó, bằng việc xây dựng cho mình một chínhsách Marketing riêng, Công ty Tài chính có thể xác định được thị trường mục tiêu chosản phẩm thu xếp vốn của mình, từ đó hoàn thiện dịch vụ thu xếp vốn cho dự án để cóthể đáp ứng nhu cầu thị trường tốt hơn các đối thủ cạnh tranh Các hoạt động giao tiếp,khuyếch trương trong Chính sách Marketing sẽ góp phần làm tăng sự nổi tiếng củadịch vụ, kích thích sự tiêu dùng thử, làm tăng mức độ trung thành của khách hàng hiệntại, đồng thời thay đổi cấu trúc thị trường cho phù hợp với khả năng cung ứng dịch vụ,

Trang 24

là cho sự tham gia của khách hàng trong quá trình chuyển giao dịch vụ được dễ dànghơn.

c) Chất lượng thẩm định dự án

Dự án dù được chuẩn bị, phân tích kỹ lưỡng đến đâu vẫn thể hiện tính chủ quancủa nhà phân tích và lập dự án, do đó, không thể trách khỏi những khiếm khuyết trongquá trình thực hiện Vì vậy, để có thể khẳng định chắc chắn hơn mức độ hợp lý, hiệuquả và tính khả thi của dự án và quyết định đầu tư thì Công ty Tài chính cần tiến hànhcông tác thẩm định dự án Nghĩa là phải tiến hành rà soát, kiểm tra lại một cách khoahọc, khách quan và toàn diện mọi nội dung của dự án và liên quan đến dự án (kỹ thuật,kinh tế xã hội, tài chính) nhằm khẳng định tính hiệu quả cũng như tính khả thi của dự

án Như vậy, chất lượng thẩm định sẽ quyết định nhiều đến việc đảm bảo tính hiệu quảcủa việc tài trợ cho các dự án, từ đó tác động đến quyết định tài trợ dự án của bản thânCông ty Tài chính, khả năng mời chào các nhà tài trợ khác, cũng như uy tín của Công

ty Tài chính vì Công ty Tài chính sẽ phải đại diện cho chủ đầu tư tiến hành các giaodịch tìm kiếm nguồn tài trợ

Hơn nữa, việc thẩm định càng có ý nghĩa quan trọng khi CTTC thu xếp vốn cho

dự án bằng vốn tự có của mình hoặc nguồn vốn uỷ thác cho vay Chất lượng thẩm định

dự án sẽ ảnh hưởng đến mức độ an toàn của các khoản vay Tăng cường hoạt động thuxếp vốn không chỉ gia tăng về số lượng các dự án được thu xếp vốn tín dụng mà còn là

sự nâng cao về độ an toàn, giảm thiểu rủi ro cho các nhà tài trợ

Tuy nhiên, khó khăn trong công tác thẩm định dự án không phải là vấn đề kỹthuật tính toán mà chính là khâu thu thập và xử lý số liệu đầu vào Công tác thẩm địnhphải được đảm bảo thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời Ví dụ, các thông tin liênquan đến dự án xây dựng cầu đường như giá cả của nguyên vật liệu đầu vào, xu hướngbiến động của các yếu tố đó ở Việt Nam và trên thế giới… Các thông số đầu vàokhông chính xác, các yếu tố trong phân tích độ nhạy biến thiên ngoài dự kiến đều lànhững nguyên nhân dẫn đến sai lệch trong kết quả thẩm định Chính vì vậy, để nâng

Trang 25

cao chất lượng công tác thẩm định dự án, Công ty Tài chính cần hết sức coi trọng khâuthu thập và xử lý dữ liệu đầu vào.

d) Uy tín và mạng lưới hoạt động của Công ty Tài chính trên thị trường tài chính

Do đặc thù của hoạt động thu xếp vốn dự án là bên thu xếp vốn là trung gian,cầu nối vốn giữa chủ đầu tư và các nhà tài trợ vốn tín dụng Do đó, uy tín và mối quan

hệ của bên thu xếp vốn với các đối tượng trên nhất thiết phải đủ lớn và đa dạng

Thứ nhất, về mức độ uy tín, uy tín được thể hiện ở sự tin tưởng của các bên

nhận tài trợ và bên tài trợ đồng ý cho CTTC là đầu mối thu xếp vốn Mặc dù các chủ

dự án không thể thông thạo bằng các CTTC trong vấn đề thu hút vốn trên thị trường tàichính nhưng một khi CTTC ký kết Hợp đồng thu xếp vốn cho khách hàng thì phải thựchiện được, nếu không sẽ ảnh hưởng đến tiến độ và thời gian thi công của dự án Khôngchỉ đối với chủ đầu tư mà sự uy tín còn phải được thể hiện đối với các nhà tài trợ dự án.Bởi vì các nhà tài trợ cho vay dự án thông qua trung gian là bên thu xếp vốn nên họ cầnphải biết được vốn của họ được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả, quá trình giải ngân

và thu nợ phải được sự giám sát theo dõi của bên thu xếp vốn

Thứ hai, về mạng lưới hoạt động của CTTC trên thị trường tài chính Điều này

có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với một nhà cung cấp dịch vụ trung gian Bên thuxếp vốn cần phải có mối quan hệ tốt, lâu dài với các TCTD, các nhà tài trợ lớn để khi

có nhu cầu vốn bên thu xếp có thể đáp ứng kịp thời cho khách hàng Mạng lưới này

còn là kênh thông tin hữu hiệu để cung cấp thông tin cho CTTC trong việc quản lýkhoản vay sau khi thu xếp thành công

1.3.2 Các điều kiện phía cầu (phía ngoài Công ty Tài chính)

a) Khả năng tài trợ dự án của các doanh nghiệp

Trước hết, loại hình doanh nghiệp của khách hàng vay vốn ảnh hưởng tớiphương thức tài trợ cho dự án Hiện nay có rất nhiều phương thức tài trợ cho dự ánkhác nhau: Chủ đầu tư tự tài trợ, tài trợ thông qua tín dụng trung – dài hạn, tài trợ

Trang 26

thông qua thuê tài sản, tài trợ thông qua cấp phát vốn hay tài trợ kết hợp Mỗi loại hìnhdoanh nghiệp phù hợp với phương thức tài trợ khác nhau.

Các doanh nghiệp tư nhân thường tự tài trợ độc lập cho dự án của mình hoặcgóp vốn đầu tư cho dự án Nếu doanh nghiệp không đủ khả năng về vốn tự có, phươngthức tài trợ được lựa chọn sẽ là thông qua tín dụng trung – dài hạn Các TCTD có thểcấp tín dụng độc lập cho các khách hàng quy mô phù hợp với khả năng cho vay củamình Tuy nhiên, với những dự án lớn, nhu cầu vốn vay của khách hàng vượt quá giớihạn tín dụng cho phép hoặc vượt quá khả năng cho vay của một TCTD, phương thứctìm kiềm nguồn tài trợ từ nhiều TCTD thông qua hình thức tín dụng hợp vốn được sửdụng Phương thức này phù hợp với các doanh nghiệp quy mô lớn, các công ty tậpđoàn xuyên quốc gia Hơn nữa, với xu hướng cổ phần hoá, tư nhân hoá như hiện naythì hình thức cấp phát vốn cho dự án bằng nguồn Ngân sách nhà nước đối với các TCTNhà nước, các doanh nghiệp độc quyền ngành tỏ ra không hiệu quả và sẽ giảm dầntrong tương lai, buộc các Tập đoàn lớn này phải tự mình tìm kiếm nguồn vốn trên thịtrường tài chính Như vậy, trong tương lai, nhu cầu vốn tín dụng sẽ là rất lớn, tạo thịtrường cho hoạt động thu xếp vốn phát triển

b) Mục tiêu, đường lối phát triển kinh tế xã hội của Quốc gia

Mục tiêu, đường lối phát triển kinh tế xã hội của Quốc gia có tác động lớn tớibất kỳ hoạt động của các tổ chức kinh tế nói chung và Tổ chức tín dụng nói riêng; nócàng có ý nghĩa đối với hoạt động thu xếp vốn mà đối tượng khách hàng là chủ đầu tưcủa các dự án lớn Chẳng hạn, nếu trong những năm tới, định hướng phát triển củaQuốc gia là chú trọng tới một số ngành công nghiệp mũi nhọn thì tức là nhu cầu vốnđầu tư cho ngành đó phải rất lớn bao gồm vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng sảnxuất kinh doanh Điều đó kéo theo sự gia tăng của các dự án đầu tư, và do đó tạo

“hàng hoá” cho các TCTD

Xu hướng phát triển của hoạt động thu xếp vốn của CTTC trực thuộc Tổngcông ty còn phụ thuộc vào chiến lược phát triển của Tổng công ty, tổng số vốn đầu tưvào ngành công nghiệp mà TCT hoạt động kinh doanh trong từng giai đoạn

Trang 27

Chương 2

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THU XẾP VỐN

CHO DỰ ÁN TẠI CÔNG TY TÀI CHÍNH DẦU KHÍ

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Thực hiện chủ trương xây dựng Tổng công ty Dầu khí Việt nam thành Tập đoànkinh tế lớn mạnh, thông qua Quyết định số 04/2000/QĐ – VPCP, Chính phủ đã chophép Tổng công ty Dầu khí Việt nam thành lập Công ty Tài chính Dầu khí - Một địnhchế tài chính 100% vốn của Tổng công ty Công ty Tài chính Dầu khí có tên giao dịchquốc tế là Petro Vietnam Finance Company (PVFC), là tổ chức tín dụng phi ngân hàng,

và là một doanh nghiệp thành viên hạch toán kinh tế độc lập PVFC hoạt động dưới sựquản lý của Tổng công ty về chiến lược phát triển, tổ chức nhân sự và quy chế tàichính, đồng thời chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước theo quy định của pháp luật

hiện hành nhằm thực hiện nhiệm vụ chiến lược là đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển của ngành Dầu khí Việt Nam và vận hành hiệu quả nhất mọi nguồn vốn của các tổ chức tín dụng, các đơn vị, tổ chức, cá nhân trong Tổng công ty trên nguyên tắc sinh lợi Sự ra đời của PFVC là một mốc quan trọng, thể hiện tầm nhìn mới

trong chiến lược phát triển của ngành Dầu khí cũng như trong định hướng tăng trưởngbền vững của nền kinh tế Việt Nam trong thế kỉ mới

Chức năng chủ yếu của Công ty Tài chính Dầu khí được quy định tại Điều 4

Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Công ty Tài chính Dầu khí:

thuộc Tổng Công ty và các tổ chức, cá nhân khác;

thành viên của Tổng công ty và các tổ chức cá nhân khác;

Trang 28

 Phát hành tín phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giákhác để huy động vốn trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật;

công ty, các đơn vị thành viên và các tổ chức cá nhân khác theo uỷ quyền;

cả vốn uỷ thác đầu tư của Nhà nước, Tổng công ty, các đơn vị thành viên thuộc Tổngcông ty và các tổ chức cá nhân khác;

Hội đồng quản trị và Thống đốc NHNN cho phép

Hiện nay, PVFC có một mạng lưới hoạt động tương đối lớn so với quy mô của

một CTTC, chủ yếu nằm ở các trung tâm tài chính tiền tệ và dầu khí lớn của Việt Nam,gồm:

và 33 Trương Công Định, Phường 3, Thành phố Vũng Tàu, Thành phố Đà Nẵng

Ngày 3/1/2007 Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã ban hành các Quyết định về việcthành lập Công ty Tài chính Dầu khí – Chi nhánh Nam Định, Chi nhánh Cần Thơ, Chinhánh Thăng Long và Chi nhánh Sài Gòn

Với tôn chỉ hành động “Tầm nhìn tăng trưởng – Cam kết vững chắc – Thành công tài chính” , trong 6 năm qua, Công ty đã không ngừng phát triển các loại hình

kinh doanh và dịch vụ tài chính tiền tệ cả bề rộng lẫn bề sâu, phấn đấu đưa loại hìnhkinh doanh này thành một thế mạnh của TCT từ sau năm 2005 Trong đó việc thu xếpvốn tín dụng cho các dự án của TCT luôn được đặt lên hàng đầu Ngoài ra công ty cònhết sức chú trọng việc xây dựng văn hoá Công ty, phát triển nguồn nhân lực và hiện đạihoá hệ thống công nghệ thông tin tài chính ngân hàng Tất cả những hoạt động đókhông nằm ngoài mục tiêu chung là góp phần xây dựng TCT thành một tập đoàn kinh

tế vững mạnh trên tất cả các lĩnh vực Công nghiệp – Thương mại – Tài chính

Trang 29

2.1.2 Mô hình tổ chức

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của PVFC

Ban giám đốc PVFC

Khối văn phòng

Khối kinh doanh

3 Phòng dịch vụ tín dụng cá nhân

4 Phòng dịch vụ tài chính

5 Phòng Quản lý vốn Uỷ thác Đầu tư

6 Phòng đầu tư

7 Ban chứng khoán

1 Văn phòng Công ty

Hội đồng quản trị

Trang 30

2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh

Cũng giống như một Công ty Tài chính thông thường, hoạt động của Công tyTài chính Dầu khí bao gồm 3 mảng chủ yếu: Huy động vốn; Tín dụng; Và các hoạtđộng khác bao gồm: đầu tư, kinh doanh vàng và ngoại tệ, tư vấn tài chính…Trong đó,nguồn thu từ hoạt động tín dụng luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu của PVFC(doanh thu từ tín dụng hàng năm đưa lại chiếm 30% tổng doanh thu từ các hoạt độngcủa toàn Công ty) Ba năm đầu sau khi thành lập, khách hàng trong ngành của PVFCchiếm tỷ trọng 90% về cơ cấu vốn và mang lại nguồn thu chủ đạo cho hoạt động tíndụng của Công ty Cho đến nay, từ 9 khách hàng tín dụng trong ngành ban đầu, PVFC

đã là người bạn đồng hành của hơn 300 khách hàng thuộc các lĩnh vực ngành nghềtrọng yếu, phù hợp với định hướng phát triển tín dụng của PVFC

114.540.25195.088.202

185.300.756164.951.525

418.114.941314.484.309

2 Thu nhập ngoài lãi (4.485.903) (13.518.174) (12.048.516

)

(88.755.084)

- Thu ngoài lãi

- Chi ngoài lãi

34.381.71038.867.613

19.340.99332.859.167

29.498.48141.546.998

7.608.30996.363.393

5 Thu nhập sau thuế 3.510.340 5.933.875 8.300.716 4.363.654

(Nguồn: Báo cáo tài chính của PVFC)

Trang 31

Qua bảng kết quả kinh doanh ta thấy trong 4 năm liên tiếp, thì Công ty Tàichính Dầu khí đều hoạt động có lãi, lợi nhuận sau thuế qua các năm tăng dần lên, trừnăm 2005, thu nhập sau thuế có giảm vì thuế thu nhập phải nộp quá nhiều và chi ngoàilãi lớn hơn nhiều so với các năm trước Bằng chứng là, năm 2002 lợi nhuận sau thuếđạt 3,5 tỷ đồng, đến năm 2003 tăng 1,7 lần (5,9 tỷ đồng) và năm 2004 tăng 1,4 lần sovới năm 2003 (8.3 tỷ đồng) Đây tuy không phải là 1 con số lớn so với các Tổ chức Tíndụng Nhà nước nhưng là một kết quả tốt so với 1 công ty mới đi vào hoạt động.

- Cho vay ngắn, trung và dài hạn các doanh nghiệp

- Thực hiện cấp bảo lãnh cho các doanh nghiệp;

- Tổ chức triển khai hoạt động Bao thanh toán cho các doanh nghiệp

Trang 32

- Thực hiện việc dàn xếp tài chính và nhận uỷ thác quản lý tài sản cho thuê

Hiện nay, Phòng Thu xếp vốn và Tín dụng Doanh nghiệp được chia thành 04 tổ chức năng:

Thứ nhất, với quy mô kiêm tốn của một Công ty Tài chính trực thuộc Tổng

Công ty so với các trung gian tài chính khác trên thị trường, PVFC gặp khó khăn khi sửdụng vốn tự có để tài trợ cho các dự án trong ngành với tổng mức đầu tư lên tới hàngnghìn tỷ đồng do những quy định về đảm bảo an toàn của NHNN Theo đó, một Tổchức Tín dụng chỉ được tài trợ tối đa 15% vốn điều lệ cho một khách hàng trong khivốn điều lệ của Công ty lúc mới thành lập chỉ đạt 100 tỷ VND (từ ngày 01/01/2007 đãnâng lên 3000 tỷ VND) Hơn nữa, PVFC cũng không thể sử dụng tất cả số vốn tự có đểcho vay dự án của ngành Dầu khí vì số lượng các dự án thì nhiều, thời gian dự án dàicũng như số vốn tín dụng cần huy động cho mỗi dự án là rất lớn, kéo theo mức độ giatăng rủi ro khi qui mô vốn cho vay lớn

Trong khi đó, mục tiêu thành lập PVFC là cung cấp vốn cho nhu cầu đầu tưphát triển của Tổng Công ty và các đơn vị thành viên, hoạt động thu xếp vốn tín dụngcho dự án ra đời có ý nghĩa trong việc có thể hoàn thành nhiệm vụ chính trị mà TổngCông ty giao phó, đồng thời giải quyết được những hạn chế về qui mô tín dụng củamột Công ty Tài chính

Bảng 2.3: Vốn điều lệ của PVFC

Trang 33

Thời gian Vốn điều lệ của PVFC ( tỷ đồng)

Thứ hai, đối với bản thân PVFC, thu xếp vốn cho dự án còn là một sản phẩm

tài chính mang lại doanh thu cho PVFC Đó là thu nhập từ phí thu xếp vốn, lãi từ hoạtđộng tín dụng trực tiếp cung cấp cho dự án Đây cũng là một kênh giúp cho PVFC mởrộng được hoạt động tín dụng và tư vấn tài chính của mình Hơn nữa, trong xu hướngcạnh tranh khốc liệt như hiện nay, đặc biệt trong lĩnh vực Ngân hàng Tài chính thì việcmỗi một Tổ chức tín dụng tìm cho mình một đường lối phát triển riêng là rất cần thiết.PVFC dựa vào khả năng của mình đã chủ trương coi hoạt động thu xếp vốn là hoạtđộng nền tảng của Công ty, hoạt động này vừa mang tính khác biệt, mới mẻ đối với thịtrường tài chính, vừa có thể phát huy được hết tiềm năng của Công ty Rõ ràng, hoạtđộng thu xếp vốn là hoạt động tổng hợp, đòi hỏi sự tham gia của nhiều lĩnh vực: tư vấntài chính, tín dụng, quản lý vốn uỷ thác, dòng tiền…

Điều này được minh hoạ rõ hơn thông qua mối liên hệ giữa hoạt động thu xếpvốn cho dự án với các phòng ban của PVFC Khi nhận được giấy đề nghị thu xếp vốncủa chủ dự án, cán bộ thu xếp vốn phải xem xét tất cả các nguồn lực của PVFC để cóthể đưa ra các phương án thu xếp vốn tối ưu cho khách hàng Ví dụ, Phòng Quản lýdòng tiền sẽ xem xét xem số vốn tự có của Công ty là bao nhiêu, số dư có trong tàikhoản của Công ty ở các NH cũng như hạn mức tín dụng của các NH, TCTD khác đốivới chủ dự án là bao nhiêu để có thể kêu gọi vốn đồng tài trợ; Phòng Quản lý vốn uỷthác đầu tư sẽ khai thác và tìm kiếm các cơ hội có vốn Uỷ thác cho vay từ các NH, Tổchức kinh tế, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam, các Công ty Dầu khí thành viên; PhòngThẩm định độc lập sẽ giúp cán bộ thu xếp vốn thẩm định tài chính dự án hoặc tái thẩmđịnh, lập Hội đồng thẩm định…

Trang 34

Từ những phân tích nói trên, ta nhận thấy rằng hoạt động thu xếp vốn tín dụng

dự án có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với sự phát triển của các ngành kinh tế lớn

của PVFC trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới, nhất là trên thị trường tàichính

2.2.2 Các hình thức thu xếp vốn

Để tiến hành thu xếp vốn tín dụng cho một dự án, PVFC phải xem xét các điềukiện của dự án, khả năng cung vốn của Công ty cũng như các nhà tài trợ để đưa rađược các phương án thu xếp vốn hiệu quả cho khách hàng Chính vì thế, hình thức thuxếp vốn cho các dự án khác nhau hiếm khi giống nhau về nhà tài trợ, tỷ lệ tham gia gópvốn cho dự án, lãi suất cho vay, phí thu xếp và cách thức tài trợ dự án…(Trong mụcnày, tác giả chỉ bàn đến các bước thực hiện cho đến khi thu xếp được khoản vốn yêucầu của khách hàng, nghĩa là đến khi ký kết được HĐ tín dụng giữa Bên tài trợ và Bênnhận tài trợ)

Tuy nhiên, nhìn chung thì hiện nay PVFC cung cấp 3 hình thức thu xếp vốn Sựkhác nhau giữa 3 hình thức này sẽ được giải thích thông qua quyền và nghĩa vụ củacác bên tham gia, các loại hợp đồng được ký kết, và hình thức thu phí thu xếp

thu xếp vốn

Chủ dự án

Trang 35

2.2.1.1 PVFC nhận uỷ thác đàm phán, ký kết các hợp đồng tín dụng với các nhà tài trợ trong và ngoài nước cho các chủ đầu tư dự án.

Đây là hình thức thu xếp trong đó, PVFC toàn quyền thay mặt cho chủ đầu tưtìm kiếm nguồn tài trợ mà không dùng vốn của mình để tài trợ cho dự án Phí thu xếp

được tính theo cách 2, phí trả từng kỳ và dựa trên số dư nợ thực tế (xem bảng 1.1)

Các loại hợp đồng được ký kết:

chủ đầu tư

Có thể hiểu rõ hơn hình thức thu xếp vốn mà PVFC chỉ đảm đương vai trò của người thu xếp tài chính thông qua phân tích quá trình PVFC đã thu xếp vốn cho dự án Tàu dịch vụ đa năng 2 như thế nào?

Dự án Tàu dịch vụ đa năng 2 là một dự án của Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầukhí (PTSC), đơn vị thành viên của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam Dự án này đượcđầu tư nhằm để mua và kinh doanh tàu dịch vụ đa năng AHTS, loại 5000 – 6000 HP,thực hiện nhiệm vụ chuyên chở các thiết bị, vật tư, nhân lực từ căn cứ trong bờ ra giànkhoan và ngược lại, cùng các dịch vụ khác như: trực chống cháy, trực cứu hoả, trựcứng cứu sự cố dầu tràn, hỗ trợ tàu dầu, di chuyển giàn khoan…

Dự án có tổng số vốn đầu tư là 12.650.000 USD Trong đó, tiền mua tàu12.500.000 USD, vốn lưu động là 150.000 USD PTSC dự kiến các nguồn vốn có thểhuy động để đầu tư cho dự án bao gồm: nguồn vốn tự cân đối của PTSC là 2.530.000USD và uỷ quyền cho PVFC thu xếp số vốn còn lại: 10.120.000 USD

PVFC đã tiến hành phân tích dự án tiền khả thi, thẩm định dự án, xem xét công

nợ và quan hệ của khách hàng với PVFC và các TCTD khác trước khi ký kết hợp đồngthu xếp vốn:

Trang 36

Thẩm định dự án: Theo kết quả tính toán thì dự án Tàu dịch vụ đa năng 2

là một dự án khả thi Chỉ số hiện tại ròng của dự án đạt 1.595.000 USD với suất thu hồinội bộ là 7.91%, néu doanh nghiệp dùng toàn bộ thu nhập sau thuế và khấu hao để trả

nợ thì dự án có thời gian trả nợ chỉ khoảng 4 năm Ngoài ra, dự án còn được bảo lãnhcủa Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam

Bảng 2.4 Chỉ tiêu tài chính chủ yếu của dự án Tàu đa năng 2

(Nguồn: Hồ sơ dự án Tàu đa năng 2)

Mặt khác khi đánh giá mức độ chịu đựng tác động có thể xảy ra trong thời gian

vận hành dự án, thông qua tính toán độ nhạy với giả định các thông số của dự án thayđổi, dự án luôn luôn đảm bảo hiệu quả với NPV luôn dương trong mọi tình huống,NPV giảm đến mức thấp nhất đạt 45.630 USD khi doanh thu giảm 10%, tuy vậy giáthuê tàu trên thế giới và tại Việt Nam thời điểm bấy giờ luôn duy trì ở mức ổn định

Ngoài ra, thị trường dịch vụ tàu thuyền là tiềm năng, nhu cầu về tàu dịch vụ dầukhí còn rất lớn và lâu dài Các mỏ đang khai thác Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, và tới đây

là mỏ Lan Tây – Lan Đỏ và các mỏ mới được phát triển được đưa vào khai thác thì nhucầu về tàu dịch vụ dầu khí sẽ tăng và công ty sẽ phải đi trước để chuẩn bị đón nhận thời

cơ này bằng việc đầu tư thêm tàu dịch vụ Việc sử dụng tàu của Việt Nam có ưu điểmhơn so với sử dụng tàu của nước ngoài vì nguồn nhân lực tại chỗ rẻ hơn với lấy từ cácnước khác, phí huy động là thấp, đây chính là ưu thế của PTSC

Trang 37

Bảng 2.5: Độ nhạy của dự án Tàu đa năng 2

Điều kiện NPV ($) IRR (%) Thời gian trả nợ

(năm)

Thời gian hoàn vốn (năm)

Khi doanh thu tăng

Khi doanh thu giảm

(Nguồn: Hồ sơ dự án Tàu đa năng 2)

Công nợ và quan hệ với PVFC, Tổ chức tín dụng: PTSC là một đơn vị

thành viên của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam, là khách hàng của PVFC ngay từ khimới thành lập Do đặc điểm các dự án đầu tư của PTSC đòi hỏi lượng vốn lớn, PTSCkhông thể tự đầu tư toàn bộ các dự án của mình Từ năm 2000 – 200, PTSC đã cónhiều dự án vay vốn trực tiếp hoặc qua uỷ thác của PVFC với dư nợ lớn: khoảng 126 tỷđồng Tuy nhiên, dự án qua sự thu xếp vốn mà PVFC không đóng vai trò của người tàitrợ còn chưa nhiều (trước đó, PVFC đã thu xếp vốn cho dự án cầu thuỷ lực bằng hìnhthức này với giá trị thu xếp 770.000 USD) PTSC, do có cơ sở tài chính mạnh nên trả

Trang 38

Thời hạn: 84 tháng kể từ ngày PTSC rút khoản vốn đầu tiên đến ngày trả

hết nợ gốc và lãi, trong đó thời gian ân hạn là 12 tháng, thời gian trả nợ gốc là

72 tháng

Lãi suất vay vốn: SIBOR 6 tháng + 1,4%/ năm

Hình thức đảm bảo khoản vay: Thư bảo lãnh của Petro Vietnam cho

100% giá trị khoản vay ( bao gồm cả nợ gốc là nợ lãi)

Mức phí thu xếp khoản vay: 0,2%/ năm ( đã bao gồm VAT)

Với những điều khoản trên, PVFC đã thu xếp vốn cho PTSC bằng cách mờichào nhà tài trợ là Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam, tuy nhiên số vốn cho vay được

ký kết trong Hợp đồng tín dụng giữa VCB và PTSC chỉ là 9.400.000 USD, lãi suấtkhông thay đổi

Hình thức thu xếp vốn này khá đơn giản do PVFC chỉ thực hiện duy nhất 1 vai trò là người thu xếp tài chính chứ không tham gia với tư cách là người cho vay dự án bằng vốn của mình Nhưng bù lại, PVFC vẫn phải theo dõi quá trình giải ngân và thu

nợ của hai bên để tính toán mức phí thu hàng kỳ vì phí thu xếp theo hình thức này thường được tính dựa vào số dư nợ thực tế Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng Ngoại thương và PTSC, hợp đồng này do PVFC giúp PTSC soạn thảo.

2.2.1.2 PVFC cấp tín dụng trực tiếp cho dự án bằng nguồn vốn của Công

ty hoặc nguồn vốn uỷ thác của TCT, và các tổ chức tài chính, tín dụng khác

Với hình thức này, PVFC vừa đóng vai trò là người thu xếp vốn, vừa là nhà tàitrợ chính thức và trực tiếp cho dự án vì Hợp đồng tín dụng vay vốn cho dự án được kýkết giữa PVFC và Chủ đầu tư Tuy nhiên, nếu PVFC tài trợ cho dự án thông qua nguồn

uỷ thác cho vay của các tổ chức khác thì về bản chất, nhà tài trợ cho dự án lại chính là

tổ chức đó

Các loại Hợp đồng được ký kết:

Trang 39

 Hợp đồng thu xếp vốn (nếu có)

dự án (bên uỷ thác) Phí thu xếp vốn được tính theo cách 1, phí trả 1 lần duy nhất và được tính dựa

trên tổng số giá trị thu xếp (xem bảng 1.1) Tuy nhiên, việc có thu khoản phí này hay

không còn phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể PVFC sẽ thu khoản phí này nếu có

ký Hợp đồng thu xếp vốn Để tránh việc có 2 loại HĐ là HĐ thu xếp vốn và HĐ tíndụng giữa PVFC và chủ đầu tư, thông thường PVFC không thu khoản phí trên từ chủ

dự án mà khoản phí này được tính toán vào trong mức lãi suất cho vay mà PVFC thoảthuận với chủ dự án trong HĐ tín dụng ( HĐ tín dụng tài trợ dự án trung và dài hạn bắtbuộc phải được ký kết) Như vậy, ngoài lãi suất mà bên vay phải trả cho PVFC thì chủ

dự án sẽ không phải trả thêm phí thu xếp khoản vay cho PVFC

Mặt khác, trong trường hợp PVFC thu xếp vốn cho khách hàng thông quanguồn vốn uỷ thác thì PVFC còn được hưởng phí uỷ thác, đó là khoản chênh lệch giữalãi suất uỷ thác (đối với bên nhận uỷ thác – PVFC) và lãi suất cho vay (đối với bên vay

- chủ dự án) Phí uỷ thác cho vay cũng được coi là một loại phí thu xếp vốn của PVFC

Để thuận tiện cho quá trình thực hiện hoạt động thu xếp vốn, hiện nay, PVFCcũng đã soạn thảo được một Quy trình tiếp nhận và cho vay vốn uỷ thác tương đốihoàn chỉnh:

Ngày đăng: 19/09/2012, 15:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Cách tính phí của hoạt động thu xếp vốn tại Công ty Tài chính - Tăng cường hoạt dộng thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí”.doc
Bảng 1.1 Cách tính phí của hoạt động thu xếp vốn tại Công ty Tài chính (Trang 11)
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của PVFC - Tăng cường hoạt dộng thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí”.doc
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của PVFC (Trang 29)
Bảng 2.4. Chỉ tiêu tài chính chủ yếu của dự án Tàu đa năng 2 - Tăng cường hoạt dộng thu xếp vốn cho dự án tại Công ty Tài chính Dầu khí”.doc
Bảng 2.4. Chỉ tiêu tài chính chủ yếu của dự án Tàu đa năng 2 (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w