Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh theo Luật hình sự Việt Nam – một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Con người là vốn quý của xã hội, là đối tượng hàng đầu được luật hình
sự nói riêng cũng như pháp luật nói chung bảo vệ Bảo vệ con người trước hết
là bảo vệ tính mạng, sức khỏe, bảo vệ nhân phẩm, danh dự và tự do của họ, vì
đó là điều có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với con người
Trong các khách thể nói trên tính mạng của con người là một trongnhững khách thể quan trọng nhất, vì lẽ đó không chỉ pháp luật của các quốcgia mà pháp luật quốc tế đều coi quyền sống con người là thiêng liêng không
ai được xâm phạm Luật hình sự Việt Nam từ trước đến nay đều xác địnhhành vi xâm phạm tính mạng con người là hành vi có tính nguy hiểm rất cao
và quy định những khung hình phạt rất nghiêm khắc Tuy vậy, các hành vixâm phạm tới tính mạng con người cũng có mức độ nguy hiểm cho xã hộikhác nhau Có những hành vi xâm phạm tính mạng con người có một số tìnhtiết làm giảm đi một cách đáng kể mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội, giếtngười trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là một trong những trườnghợp đó Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là tộidanh mới được quy định tại Điều 95, BLHS 1999 Tuy tội phạm được thựchiện trong hoàn cảnh khả năng nhận thức và kiềm chế hành vi của ngườiphạm tội bị hạn chế và chính nạn nhân cũng là người có lỗi nhưng vì tội phạm
đã xâm hại đến khách thể quan trọng được luật hình sự bảo vệ đó là tính mạngcon người mà nguyên nhân xuất phát từ hành vi trái pháp luật nghiêm trọngcủa nạn nhân dẫn đến hành vi giết người của người phạm tội
Việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn, phân tích rõ nhữngdấu hiệu pháp lý, phát hiện, đồng thời đề xuất các kiến nghị giải quyết nhữngvướng mắc trong thực tiễn có liên quan đến tội giết người trong trạng thái tinhthần bị kích động mạnh luôn luôn là vấn đề cần thiết và có nhiều ý nghĩa
Chính vì lẽ đó, chúng tôi chọn đề tài: “Tội giết người trong trạng thái tinh
thần bị kích động mạnh theo Luật hình sự Việt Nam – một số vấn đề lý luận và thực tiễn” làm để tài cho khóa luật tốt nghiệp của mình.
Trang 22 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích nghiên cứu của khóa luận này là làm rõ những dấu hiệupháp lý, đường lối xử lý và phân tích những cơ sở lý luận và thực tiễn cùngvới những hạn chế, vướng mắc xung quanh tội giết người trong trạng thái tinhthần bị kích động mạnh từ đó góp phần hoàn thiện những quy định của phápluật hình sự Việt Nam về tội phạm này
- Nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận:
Về lý luận: Nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý, đường lối xử lý của tộigiết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đồng thời phân biệt tộinày với một số tội phạm khác
Về thực tiễn: phát hiện những vướng mắc, phân tích những cơ sở lýluận và thực tiễn đồng thời đề xuất các kiến nghị để hoàn thiện quy định luậthình sự về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Khóa luận nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tội giết người trongtrạng thái tinh thần bị kích động mạnh dưới góc độ của luật hình sự
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài:
Khóa luận được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận khoa họccủa chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp sử dụng cácphương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích, tổng hợp,phương pháp lịch sử
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì khóagồm 2 chương và 8 mục:
Chương 1: Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnhtheo Bộ luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến tội giếtngười trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Trang 3CHƯƠNG 1 TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH
ĐỘNG MẠNH THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Là một trường hợp đặc biệt của tội giết người, vì vậy, để hiểu rõ kháiniệm của “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” (Điều 95BLHS) thì trước hết chúng ta tìm hiểu về khái niệm “tội giết người”
Về khái niệm của tội giết người hiện nay có nhiều quan điểm khácnhau Cụ thể:
Theo bản chuyên đề tổng kết thực tiễn xét xử loại tội giết người banhành kèm theo Công văn số 452-HS2 ngày 10/08/1970 của Tòa án nhân dân
tối cao thì: “Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật” (1)
Tuy nhiên cũng có quan điểm khác cho rằng “tội giết người là hành vi trái pháp luật của người đủ năng lực trách nhiệm hình sự cố ý tước bỏ quyền sống của người khác”.(2)
Cả hai quan điểm đưa ra đều chưa hợp lý ở chỗ: Chưa đề cập đến dấuhiệu năng lực trách nhiệm hình sự và dấu hiệu độ tuổi của chủ thể “tội giếtngười” (quan điểm thứ nhất) hoặc chỉ đề cập đến dấu hiệu năng lực tráchnhiệm hình sự mà không đề cập đến dấu hiệu độ tuổi (quan điểm thứ hai), để
khắc phục những hạn chế này, quan điểm thứ ba cho rằng: “Tội giết người là hành vi cố ý gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định thực hiện” (3)
1() “Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự”, phần các tội phạm của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Nhà xuất bản Pháp lý, năm 1992, trang 83; Đinh Văn Quế “Trách nhiệm hình sự đối với hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người”, nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, năm 1994, trang 12
2() Thạc sĩ Trần Văn Luyện, “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, Năm 2000,tr67
3() Đỗ Đức Hồng Hà, Luận án tiến sĩ luật học “Tội giết người trong Bộ luật hình sự Việt Nam”,tr38
Trang 4“Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” được quyđịnh tại Điều 95, BLHS năm 1999 như sau:
“1 Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2 Giết nhiều người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm”
Từ quy định tại Điều 95 BLHS cho thấy “tội giết người trong trạng tháitinh thần bị kích động mạnh” đòi hỏi người phạm tội khi thực hiện hành biphạm tội phải ở trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Trạng thái tinhthần bị kích động mạnh là tình trạng ý thức bị hạn chế tức thời ở mức độ cao
do không chế ngự được tình cảm dẫn đến sự hạn chế đáng kể khả năng kiểmsoát và điều khiển hành vi Tình trạng tinh thần bị kích động mạnh có thể làtình tiết làm giảm nhẹ một cách đáng kể mức độ của tính nguy hiểm cho xãhội của hành vi phạm tội Do vậy tình tiết này có thể được quy định là tình tiếtđịnh khung hình phạt giảm nhẹ hoặc có thể là tình tiết định tội cho tội nhẹhơn so với tội của trường hợp bình thường BLHS 1985 quy định tình trạngtinh thần bị kích động mạnh là trường hợp định khung hình phạt giảm nhẹ của
“tội giết người” và “tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏecủa người khác” Trong BLHS năm 1999 các trường hợp này được tách rathành các tội danh riêng, đó là “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kíchđộng mạnh” và “tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củangười khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”(1)
Theo Nghị quyết 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phánTANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định phần các tội phạm của BLHS
năm 1985 thì “tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình Sự kích động mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm
1() PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa; PGS.TS Lê Thị Sơn -“Từ Điển Pháp luật Hình sự” tr247,248.
Trang 5trọng của nạn nhân gây nên” Cá biệt, có trường hợp, do hành vi trái pháp
luật của nạn nhân có tính chất đè nén áp bức tương đối nặng nề, lặp đi lặp lại,
sự kích động đó đã âm ỉ, kéo dài, đến thời điểm nào đó hành vi trái pháp luậtcủa nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bị kích động không tự kiềm chếđược, nếu tách riêng sự kích động mới này thì không coi là kích động mạnhnhưng nếu xét cả quá trình phát triển của sự việc thì lại được coi là mạnh hoặcrất mạnh
Từ những phân tích ở trên có thể đưa ra định nghĩa về tội giết ngườitrong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh như sau:
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là hành vi
cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác trong trạng thái người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người đó.
1.2 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
1.2.1 Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong Luật hình sự Việt Nam trước khi ban hành BLHS năm 1999
Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, để kịp thời đáp ứng yêu cầuđấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thờicộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành Sắc luật số 03/SL ngày15/03/1976 quy định về tội phạm và hình phạt (sau tháng 12/1976 văn bảnnày được áp dụng cho các nước) Tại Điều 5 của Sắc luật này có quy định cáctội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người Tuynhiên Sắc luật này cũng chỉ dừng lại ở việc nêu tội danh chứ chưa phân biệt
cụ thể tội giết người với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích độngmạnh Để nhận thức Sắc luật được đúng đắn và để việc áp dụng được thốngnhất, ngày 15/04/1976 Bộ tư pháp ban hành Thông tư số 03/BTP-TT hướng
Trang 6dẫn thi hành Sắc luật số 03-SL/1976 trong đó hướng dẫn cụ thể tội giết người.Điểm 2 mục B của Thông tư này xác định:
“ Cố ý giết người là một tội đặc biệt nghiêm trọng do đó được quy định hình phạt cao hơn các tội phạm cùng loại quy định ở Điều 5 Sắc luật này:
Cố ý giết người thì bị phạt từ 15-20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình Trường hợp ít nghiêm trọng hoặc có những tình tiết giảm nhẹ thì bị xử dưới 15 năm tù Trường hợp ít nghiêm trọng hoặc có những tình tiết giảm nhẹ thì bị xử dưới 15 năm tù Trường hợp ít nghiêm trọng hoặc có những tình tiết giảm nhẹ là:
- Giết người trong trường hợp tinh thần bị kích động quá mạnh ”
Như vậy, ở thời điểm này, trường hợp giết người trong trạng thái tinh
thần bị kích động mạnh được coi là phạm tội ít nghiêm trọng và là một tình
tiết giảm nhẹ đặc biệt của tội giết người, có thể bị xử dưới 15 năm tù.
Trong BLHS năm 1985, “tội giết người” được quy định tại Điều 101 và
“tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” được quy định
tại Khoản 3 Điều này như một trường hợp phạm tội có tình tiết giảm nhẹ
đặc biệt của tội giết người : “ Phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người đó thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm”
1.2.2 Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong BLHS năm 1999
Trong BLHS năm 1999, “tội giết người trong trạng thái tinh thần bịkích động mạnh” được quy định thành một tội danh độc lập tại Điều 95 vớinội dung:
“1 Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù tứ sáu tháng đến ba năm.
Trang 72 Giết nhiều người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm”.
So với BLHS năm 1985 thì quy định về “tội giết người trong trạng tháitinh thần bị kích động mạnh” tại Điều 95 BLHS năm 1999 có những điểmmới:
- Thứ nhất, BLHS năm 1999 đã tách trường hợp giết người trong trạngthái tinh thần bị kích động mạnh ra khỏi tội giết người và quy định thành mộttội danh độc lập với các khung hình phạt riêng
- Thứ hai, trên cơ sở quy định thành một tội danh độc lập, BLHS năm
1999 tiếp tục phân hóa trách nhiệm hình sự các trường hợp giết người trongtrạng thái tinh thần bị kích động mạnh có các mức độ nguy hiểm cho xã hộikhác nhau Nếu như trước đây BLHS năm 1985 quy định trường hợp “giếtngười trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” chỉ có một khung hìnhphạt là bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm thì trong BLHS năm 1999 với tưcách là một tội danh độc lập “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kíchđộng mạnh” quy định hai khung hình phạt là: khung cơ bản có hình phạt tù từsáu tháng đến ba năm còn khung tăng nặng với trường hợp giết nhiều ngườithì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm
1.3 Dấu hiệu pháp lý của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Theo quy định tại Điều 95 BLHS “tội giết người trong trạng thái tinhthần bị kích động mạnh có những dấu hiệu pháp lý đặc trưng như sau:
1.3.1 Khách thể của tội phạm
Trong bất cứ chế độ xã hội có giai cấp nào, Nhà nước cũng đều xác lập,bảo vệ, củng cố và thúc đẩy sự phát triển của những quan hệ xã hội, phù hợpvới lợi ích của giai cấp thống trị bằng sự hỗ trợ của các quy phạm pháp luật,trong đó có các quy phạm pháp luật hình sự Trong Luật Hình sự Việt Nam,những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và có thể bị tội phạm xâm hại
Trang 8là những quan hệ được xác định trong khái niệm tội phạm, đó là: “Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, những lĩnh vực khác trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” (khoản 1 Điều 8 BLHS 1999) Trong số những quan hệ xã hội đã
được xác định này tính mạng con người là một trong những khách thể có tầmquan trọng đặc biệt Hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích độngmạnh là một trong những hành vi xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của conngười, đến quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của người
khác từ đó có thể xác định khách thể của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đó là quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người Đây là một trong những khách thể quan trọng nhất
được luật hình sự bảo vệ
* Về đối tượng tác động của tội phạm:
Cũng như tội giết người, đối tượng tác động của tội giết người trongtrạng thái tinh thần bị kích động mạnh là chủ thể của các quan hệ xã hội Đó
là những người đang sống, những người đang tồn tại trong thế giới kháchquan Tuy vậy, đối tượng tác động của hai tội này cũng có điểm khác nhau.Nếu đối tượng của tội giết người (Điều 93) là bất kì ai thì đối tượng của tộigiết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95) chỉ có thể làngười có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng xâm hại tới các lợi ích của ngườiphạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội Việc xác định đúngkhách thể và đối tượng của tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc xácđịnh tội danh, xử lý tội phạm phù hợp với mức độ phạm tội
1.3.2 Mặt khách quan của tội phạm
Cũng giống như các tội phạm khác khi được thực hiện đều có nhữngbiểu hiện diễn ra hoặc tồn tại ra bên ngoài thế giới khách quan mà con người
có thể nhận biết được “Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động
Trang 9mạnh” cũng có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại ở ngoài thế giới kháchquan, đó là:
- Hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác;
- Hậu quả chết người;
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi tước đoạt trái pháp luật tínhmạng của người khác và hậu quả chết người
Ngoài ra còn có các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành viphạm tội như: công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địađiểm phạm tội… Những dấu hiệu này không được quy định là dấu hiệu bắtbuộc trong mặt khách quan của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kíchđộng mạnh nhưng việc xác định nó có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giátính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội
* Hành vi khách quan của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh:
Hành vi khách quan của tội phạm là xử sự của con người gây ra hoặc
đe doạ gây ra cho xã hội, hành vi phạm tội chỉ có thể được biểu hiện qua haihình thức đó là hành động hoặc không hành động Theo quy định của BLHS
1999, hành vi khách quan của “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kíchđộng mạnh” là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác
Hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác được hiểu làhành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của conngười Hành vi đó có thể được thực hiện bằng những cách thức khác nhaunhư bắn, đâm, chém
Hành vi tước đoạt tính mạng của người khác được coi là hành vi kháchquan của “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” khingười phạm tội thực hiện hành vi phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kíchđộng mạnh Đặc điểm này vừa phản ánh tính nguy hiểm của hành vi phạm tộiđồng thời cũng là đặc điểm cho phép chúng ta phân biệt tội này với các tộikhác mà trước hết là tội giết người (Điều 93 BLHS)
Trang 10Theo hướng dẫn của Nghị quyết 04/HĐTP, ngày 29/11/1986 của Hộiđồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì người bị kích động mạnh về tinhthần là người không còn nhận thức đầy đủ về hành vi của mình như lúc bìnhthường nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức Lúc đó họ mất khả năng tựchủ và không thấy hết được tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội củahành vi của mình Trạng thái tinh thần này của họ chỉ xẩy ra trong chốc lát.Người phạm tội khi thực hiện tội phạm trong trạng thái tinh thần bị kích độngmạnh thường xuất hiện cơn bùng phát về tinh thần, thường biểu hiện các trạngthái tâm lý như: Quá lo sợ, quá hốt hoảng, quá kinh hãi, quá căm tức và quáphẫn nộ Nguyên nhân dẫn tới trạng thái tâm lý này xuất phát từ những hành
vi trái pháp luật của nạn nhân, dưới đây, chúng tôi xin phân tích một số hành
vi chủ yếu để thấy rõ biểu hiện tâm lý của người phạm tội khi có hành vi tráipháp luật của nạn nhân dối với họ hoặc người thân thích của họ:
- Hành vi sỉ nhục hay vu khống người khác: Đây là dạng hành vi xúcphạm tới nhân phẩm, danh dự của người khác, tác động mạnh tới trạng tháitâm lý của của người phạm tội Ví dụ, trường hợp A và B là bạn của nhau, A
vu khống cho rằng B lấy cắp tiền của A, B đã nhiều lần đính chính là B khônglàm điều đó nhưng A vẫn một mực nghi ngờ và đi nói với nhiều người khác
và B cũng đã nhắc nhở A nhiều lần Một lần, B đang đi chơi với bạn gái thì Anói bóng gió rằng B là thằng ăn trộm, ai yêu B thì khổ, quá tức giận, B liềnnhặt đá ném vào đầu A làm A chết Như vậy, hành vi vu khống của A đã tácđộng vào tâm lý của B, đỉnh điểm là khi B đi với người yêu làm cho B cảmthấy bị xúc phạm, căm phẫn dẫn tới hành vi ném đá vào A
- Hành vi dùng bạo lực một cách thô bạo với người khác: Đây là dạnghành vi tác động vào tính mạng, sức khoẻ người khác một cách trái pháp luật
Ví dụ, trường hợp của anh Nguyễn Văn Phương (người phạm tội) là côngnhân của Hợp tác xã nhựa Song Long Gia Lâm khi đang trên đường tới nhàchị gái chơi vào buổi tối thì bị anh Điệp (nạn nhân) bất ngờ từ trong hẻm nhảy
ra chặn đánh (do anh Điệp nhầm lẫn, nhận sai người) Do bị đánh đau nên anh
Trang 11rút dao ra đâm vào ngực trái của nạn nhân làm nạn nhân chết trên đường đicấp cứu (1) Hành vi của anh Điệp là quá bất ngờ lại vào đêm khuya nên đãlàm cho anh Phương hoảng sợ dẫn tới tinh thần bị kích động mạnh nên đãdùng dao châm chết anh Điệp.
- Những mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân và gia đình: Trong thực
tế, có rất nhiều vụ giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnhxuất phát từ mâu thuẫn gia đình, chồng hoặc vợ ngoại tình, chồng đánh đập
vợ, đánh đập con cái, người vợ không làm tròn trách nhiệm làm mẹ, làm vợ…
Ví dụ, trường hợp của bà Hoàng Thị Chai (huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái),
do bị ông Lò Văn Ngàn (chồng) đánh đập thường xuyên nên phải về nhà congái ở nhờ và sau đó được con xây cho riêng 1 nhà ở gần nhà chồng, sau đó bàvẫn tiếp tục bị chồng hành hạ, doạ giết Một lần khi bị chồng cầm dao doạđâm chết thì bà đã chống trả và dùng cây củi tròn dài 1,14m đánh liên tiếpvào người ông Ngàn làm ông chết tại chỗ Hành vi thường xuyên hành hạ,đánh đập vợ của ông Ngàn đã làm cho bà Chai tức giận dồn nén lâu ngày đặcbiệt là khi ông dùng dao doạ đâm chết làm cho bà Chai căm phẫn, hoảng sợnên đã dùng cây củi đập liên tiếp vào người ông Ngàn TAND tỉnh Yên Báicũng đã xác định bà Hoàng Thị Chai do sự dồn nén, ức chế và sợ hãi lâu ngàytrong quá trình chung sống vì thường xuyên bị ông Ngàn chửi bới, đánh đậpnên khi thấy ông Ngàn cầm dao doạ giết mình bà đã bị kích động mạnh màdùng gậy đánh ông Ngàn tới chết (2)
- Hành vi xâm phạm tới tài sản của người khác như đốt cháy, cướp giật,đập phá Đây là hành vi xâm phạm tới tài sản của người phạm tội của nạnnhân, tài sản ở đây thường là tài sản có giá trị lớn về vật chất hoặc tình thần
Ví dụ, trường hợp do mâu thuẫn trong quan hệ xóm giềng nên một lần, nhânlúc thấy xe ô tô của A dựng ngoài sân mà không có người nên B đã lấy mộtthanh sắt đập vào kính, vào gương và cốp xe của A, A đi bên nhà C về thìthấy B đang đập phá ô tô của mình nên tức giận nhảy vào đánh B làm cho B
1() Xem thêm bản án số 1147/HSST ngày 2/10/2002 Toà án nhân dân thành phố Hà Nội.
2() Xem thêm bản án số 41/2009/HSST ngày 16/12/2009 của Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái.
Trang 12chết trên đường đi cấp cứu Hành vi phá hoại tài sản có giá trị lớn của B đãlàm cho A tức giận và có hành động nhảy vào đánh B.
Trường hợp người phạm tội có bị kích động về tinh thần nhưng chưađến mức mất khả năng tự chủ thì không gọi là tinh thần bị kích động mạnh,không thuộc trường hợp giết người trong trạng thái tinh thần bị kích độngmạnh, đối với trường hợp này người phạm tội chỉ được giảm nhẹ hình phạttheo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 46 BLHS
Trên thực tế việc xác định một người có bị kích động mạnh về tinh thầnhay không là một vấn đề phức tạp Bởi trạng thái tâm lý của mỗi người làkhác nhau, cùng một sự việc nhưng người này xử sự khác người kia, có người
bị kích động mạnh về tinh thần nhưng có người lại không bị kích động mạnh
Ví dụ: Cùng một sự việc là thấy vợ có quan hệ bất chính với người khác, anh
A lao tới giết tình nhân của vợ, anh B đệ đơn ly hôn
Như vậy, không có “thước đo” cụ thể nào để xác định một người bịkích động hay kích động mạnh mà chúng ta phải căn cứ vào từng vụ án cụthể, xem xét từng tình tiết của vụ án, nhân thân người phạm tội, điều kiệnsống, quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội…
Nạn nhân của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích độngmạnh là người có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tộihoặc người thân thích của người phạm tội: Hành vi trái pháp luật của nạnnhân đối với người phạm tội phải là hành vi trái pháp luật nghiêm trọng Hành
vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân là những hành vi vi phạm phápluật hình sự, xâm phạm tới lợi ích của người phạm tội hoặc đối với nhữngngười thân thích của người phạm tội Thông thường, những hành vi trái phápluật của nạn nhân xâm phạm tới sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự như hành vi sỉnhục hay vu khống người khác, hành vi dùng bạo lực thô bạo đối với ngườikhác, những mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân và gia đình, hành vi xâm
Trang 13phạm tới tài sản của người khác như đập phá tài sản, đốt cháy, cướp giật haynhững hành vi khác trái với đạo đức xã hội(1)
Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân có thể vi phạm phápluật hình sự, hành chính, lao động, hôn nhân và gia đình… Hành vi trái phápluật nghiêm trọng ở đây có thể cấu thành tội phạm hoặc chưa cấu thành tộiphạm nhưng dù trường hợp nào thì hành vi đó cũng phải có tính chất trái phápluật nghiêm trọng Nếu hành vi của nạn nhân tuy là trái pháp luật nhưngkhông nghiêm trọng, có tính chất nhỏ nhặt thì không thuộc trường hợp này
Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân có thể chỉ là mộthành vi cụ thể và tức thì dẫn đến tình trạng tinh thần bị kích động mạnh củangười phạm tội Nhưng cũng có trường hợp hành vi trái pháp luật nghiêmtrọng của nạn nhân là chuỗi những hành vi khác nhau diễn ra có tính lặp đi,lặp lại trong suốt thời gian dài và liên tiếp tác động đến tinh thần người phạmtội làm cho họ bị dồn nén về mặt tâm lý Đến thời điểm nào đó khi có hành vitrái pháp luật cụ thể xảy ra thì trạng thái tinh thần của người phạm tội bị đẩyđến cao độ và người phạm tội lâm vào trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.Trong trường hợp này, nếu chỉ xét hành vi cụ thể ngay liền trước trạng tháitinh thần bị kích động mạnh sẽ không thấy được sự nghiêm trọng của hành vitrái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân(2)
Ví dụ, trường hợp A mở quán nước trước nhà B, thường xuyên vứt ráctrước cổng nhà B, B đã rất nhiều lần nhắc nhở nhưng A không thay đổi Mộtlần, cả nhà B đang ngồi ăn cơm ngoài sân thì A lại tiếp tục vứt rất nhiều rácbẩn trước cổng nhà B, B ra mắng A thì bị A cãi lại, thách thức làm B tức giậnlấy thanh sắt ở sân đánh vào đầu A, làm A chết Nếu xét từng hành vi cụ thểcủa A thì sẽ không thấy được sự nghiêm trọng của hành vi trái pháp luật mà A
đã thực hiện nhưng hành vi này đã diễn ra thường xuyên, liên tục trong mộtthời gian dài mặc dù đã được B nhắc nhở, đến thời điểm cả nhà B đang ăncơm, A lại vứt rác bẩn vào cổng, bị B mắng A lớn tiếng cãi lại, thách thức
1() Đinh Văn Quế, “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội phạm, tập 1”, Nxb TP.HCM, tr57,58
2() Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, năm 2008, tr380.
Trang 14thì B thực sự tức giận, bị kích động mạnh về tinh thần và dùng thanh sắtđánh A chết.
Một người bị kích động mạnh về tinh thần ngoài trường hợp nạn nhân
có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với họ còn có những trường hợp bịkích động mạnh về tinh thần khi có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng vớingười thân thích của người đó Hiện nay chưa có văn bản nào giải thích chínhthức thế nào là người thân thích của người phạm tội nhưng theo thực tiễn xét
xử có thể hiểu những người thân thích với người phạm tội là những người cóquan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng như: Vợchồng, cha mẹ - con cái, anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ, cùng
mẹ khác cha với nhau, ông bà nội ngoại đối với các cháu, trong thực tiễn xét
xử Tòa án cũng đã công nhận một số trường hợp tuy không phải là quan hệhuyết thống hay quan hệ hôn nhân mà chỉ là quan hệ thân thuộc giống nhưanh chị em ruột, cha mẹ ruột cũng được xác định là người thân thích củanhau(1) Như trong trường hợp mẹ và con nuôi với nhau mặc dù không cóquan hệ huyết thống nhưng cũng có quan hệ nuôi dưỡng, tình cảm với nhau:
Bố mẹ A chết sớm, A được bà C nhận làm con nuôi từ nhỏ, một hôm đang đilàm đồng thì có người gọi “Về nhà ngay! Mẹ của mày bị người ta đánh choquè chân rồi” A vội cầm dao chạy về nhà và biết mẹ mình bị M đánh đangnằm bất tỉnh ở sân trước, A liền chạy sang nhà M chém liên tiếp vào đầu Mlàm M chết ngay tại chỗ Tuy A và bà C không phải có quan hệ huyết thốngnhưng có quan hệ nuôi dưỡng, tình cảm với nhau nên bà C có thể được xem làngười có quan hệ thân thích với A
Nguyên nhân của trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của ngườiphạm tội là hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với ngườiphạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội Không có hành vi tráipháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc người thânthích của người đó thì không có trạng thái tinh thần bị kích động mạnh của
1() Xem thêm Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội phạm, tập1, Nxb
TP.HCM,tr58.
Trang 15người phạm tội Ví dụ trường hợp A đánh B (con của C) bị thương, C nghetin cầm gậy chạy đi tìm A để đánh nhưng không gặp A mà gặp bà M (mẹ củaA) nên C dùng gậy đánh bà M, do vết thương quá nặng nên bà M đã chết trênđường đi cấp cứu Trường hợp này, A mới là người có hành vi trái pháp luậtnghiêm trọng đối với người thân của C làm cho C bị kích động mạnh về tinhthần chứ không phải bà M, nên hành vi giết người của C không phải là giếtngười trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.
Trường hợp người phạm tội tự mình gây nên tình trạng tinh thần bịkích động mạnh rồi giết người cũng không thuộc trường hợp giết người trongtrạng thái tinh thần bị kích động mạnh Ví dụ, A và B cãi nhau, B tức giận điuống rượu, say rồi về cầm dao đi giết A, trường hợp này B sẽ bị xử lý theoĐiều 93 BLHS chứ không áp dụng Điều 95 BLHS, vì hành vi giết A của B là
do B bị say rượu dẫn tới không nhận thức và điều khiển được hành vi chứkhông phải do A và B cãi nhau mà B bị kích động mạnh
* Hậu quả của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Hậu quả được quy định là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP của tội giếtngười trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, đó là hậu quả chết người,
cụ thể là nạn nhân phải chết thì người thực hiện hành vi tước đoạt tính mạngcủa nạn nhân mới bị coi là phạm tội này Theo đó, tội giết người trong trạngthái tinh thần bị kích động mạnh chỉ được coi là hoàn thành khi có hậu quảchết người xảy ra Nếu nạn nhân không chết mà chỉ bị thương tích hoặc tổnhại cho sức khỏe mà thương tật từ 31% trở lên thì người phạm tội bị truy cứutrách nhiệm hình sự về tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” được quyđịnh tại điều 105 BLHS Cũng theo quy định của BLHS, tội giết người trongtrạng thái tinh thần bị kích động mạnh không có giai đoạn chuẩn bị phạm tội,
vì trạng thái tinh thần bị kích động mạnh chỉ có khi có hành vi trái pháp luậtnghiêm trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đối với người thân
Trang 16thích của người đó, sự kích động đó phải có tính đột xuất, nó đến rất nhanh vàcũng qua đi rất nhanh
* Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả của tội phạm
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là tội phạm
có cấu thành vật chất nên hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của cấuthành tội phạm Một người chỉ phải chịu TNHS về tội “Giết người trong trạngthái tinh thần bị kích động mạnh” nếu giữa hành vi khách quan và hậu quảchết người đó có mối quan hệ nhân quả với nhau
Hành vi giết người phải xảy ra tức thời, ngay lúc có hành vi trái phápluật nghiêm trọng của nạn nhân Bởi vì: “Nếu giữa lỗi của nạn nhân và hànhđộng của bị cáo có một khoảng thời gian nhất định thì không thể nói bị cáođang ở trong tình trạng đột xuất bị kích động tinh thần mạnh mẽ đến nỗi họkhông tự chủ được mình nữa”(1)
Như vậy, để xác định người phạm tội có ở trong trạng thái tinh thần bịkích động mạnh hay không chúng ta cần xem xét giữa hành vi giết người vàhậu quả chết người có mối quan hệ nhân quả hay không Nếu giữa chúngkhông có mối quan hệ nhân quả thì bị cáo không bị truy cứu trách nhiệm hình
sự về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mà phạmmột tội khác Ví dụ, trường hợp A đánh con của B bị thương nặng, tức giận Bchạy sang đánh A bị thương, sau đó A được mọi người đưa đi bệnh viện, trênđường đi A bị tai nạn giao thông mà chết thì trường hợp này B không phạmtội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh vì giữa hành viđánh A bị thương của B và hậu quả A bị chết không có mối quan hệ nhân quả
Trang 17và đạt độ tuổi chịu TNHS theo quy định của pháp luật Cũng như các tộiphạm khác, chủ thể của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích độngmạnh là chủ thể thường, chỉ cần là người có năng lực TNHS và đạt độ tuổiluật định.
Năng lực TNHS là năng lực nhận thức và điều khiển hành vi Năng lựcTNHS là điều kiện cần thiết để có thể xác định một người có lỗi hay khôngkhi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Chỉ có người có năng lựcTNHS mới có thể là chủ thể của tội phạm Người có năng lực TNHS là ngườikhi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tínhchất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, có khả năng điều khiển được hành vi
ấy Người có năng lực TNHS theo luật Hình sự Việt Nam là người đạt độ tuổichịu TNHS (Điều 12 BLHS năm 1999) và không thuộc trường hợp ở trongtình trạng không có năng lực TNHS (Điều 13 BLHS năm 1999)(1)
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đòi hỏingười phạm tội cũng phải là người có năng lực TNHS, tức là khi thực hiệnhành vi phạm tội họ có khả năng nhận thức được hành vi tước đoạt trái phápluật tính mạng của người khác là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật ngăn cấm
và họ có khả năng điều khiển, kiềm chế hành vi của mình để không thực hiệnhành vi nguy hiểm đó nhưng họ vẫn thực hiện hành vi phạm tội
Bên cạnh năng lực TNHS, chủ thể của tội giết người trong trạng tháitinh thần bị kích động mạnh cũng phải là người đạt tới độ tuổi nhất định Điều
12 BLHS năm 1999 quy định về tuổi chịu TNHS như sau: “1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm; 2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” Đồng thời cũng theo quy định tại Khoản Điều 8 BLHS năm 1999 thì “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại
1() Trường Đại học Luật Hà Nội, giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, năm 2008, tr115
Trang 18lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù”…
Căn cứ vào tại Điều 12, khoản 2, khoản 3 Điều 8 và Điều 95 BLHS thì
chủ thể của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh làngười có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên Như vậy,những người chưa đạt đến độ tuổi này thực hiện hành vi được quy định tạiĐiều 95 BLHS gây ra hậu quả chết người thì cũng không phải chịu TNHS
1.3.4 Mặt chủ quan của tội phạm
Lỗi là dấu hiện bắt buộc thuộc mặt chủ quan của tội giết người trongtrạng thái tinh thần bị kích động mạnh cũng như trong mặt chủ quan của mọicấu thành tội phạm
Lỗi trong cấu thành tội phạm của tội giết người trong trạng thái tinhthần bị kích động mạnh có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp Căn
cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2, Điều 9 BLHS thì lỗi cố ý trực tiếp của tộigiết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là trường hợp ngườiphạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trướchậu quả chết người có thể hoặc tất yếu xảy ra và vì mong muốn hậu quả chếtngười nên đã thực hiện tội phạm Lỗi cố ý gián tiếp của tội giết người trongtrạng thái tinh thần bị kích động mạnh là trường hợp người phạm tội nhậnthức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả chếtngười có thể xảy ra tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậuquả đó xảy ra
Đối với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thìngười phạm tội thực hiện tội phạm khi có hành vi vi phạm pháp luật nghiêmtrọng của nạn nhân đối với họ hoặc người thân thích của họ làm tinh thần của
họ bị kích động mạnh dẫn tới hành vi phạm tội Người phạm tội không hề có
sự chuẩn bị trước về tinh thần cũng như công cụ, phương tiện phạm tội Dovậy, lỗi của người phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh dù là
Trang 19lỗi cố ý trực tiếp hay gián tiếp đều có đặc điểm chung là lỗi cố ý đột xuất Cố
ý đột xuất là trường hợp người phạm tội vừa có ý định phạm tội đã thực hiện
ngay ý định đó, chưa có sự cân nhắc kỹ Thực tiễn xét xử đã xác nhận “nếu can phạm đã có ý nghĩ và có kế hoạch giết người từ trước, nhưng lúc hành động vì một duyên cớ nào đó có bị kích động hơn lúc bình thường và hành động một cách quyết liệt hơn thì đó cũng không phải là giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” (1) Ví dụ, trường hợp A và H là 2 vợ
chồng đã có với nhau một con 4 tuổi thì giữa hai vợ chồng phát sinh mâuthuẫn nên A bỏ nhà đi làm thuê, còn H thì buôn bán chung với M và giữa họphát sinh tình cảm A đã nhiều lần can ngăn nhưng không được Một hôm Athấy H vào nhà M đến tối chưa về nên A lấy con dao giấu trong người sangnhà M, thấy M đứng ở cổng, A hỏi: Có H trong nhà mày không?” M đáp:
“tao không biết” A đứng ở cổng nhà M chửi H không chịu được đi từ trongnhà M ra đừng sau lưng M vẻ thách thức A lập tức rút dao đâm ngực M, làm
M chết Trường hợp này A đã có ý thức và chuẩn bị phạm tội từ trước, có sựchuẩn bị công cụ, có tính toán trước, A đã lấy dao giấu trong người và sangnhà M Vì vậy, hành vi giết người của A trong trường hợp này không phải làgiết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mà A sẽ bị xử theotội giết người theo Điều 93 BLHS
Khi thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp thì lý trí của người phạm tội biểu hiện như sau: người phạm tội thấy rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội
của hành vi của mình và thấy trước hậu quả của hành vi đó Người phạm tộithấy trước tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình là sự nhận thứcđược tính chất gây thiệt hại cho xã hội của hành vi đang thực hiện trên cơ sởnhận thức được những tình tiết khách quan của nó Người phạm tội thấy trướchậu quả của hành vi là sự dự kiến của người phạm tội về sự phát triển củahành vi đó
1() Toà án nhân dân tối cao, Hệ thống hóa luật lệ Hình sự Việt Nam, năm 1979, tập 1, tr346
Trang 20Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mặc dùngười phạm tội bị hạn chế trong việc thấy trước hậu quả của hành vi giếtngười, vì khi thực hiện hành vi giết người họ đang trong tình trạng tinh thần
bị kích động mạnh nhưng không phải vì thế mà người phạm tội không bị truycứu trách nhiệm hình sự vì lúc đó họ chưa mất hẳn khả năng nhận thức và vẫncòn có thể lựa chọn xử sự khác chứ không phải là hành vi giết người Khithực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp thì ý chí của người phạm tội đượcbiểu hiện là mong muốn hậu quả chết người xảy ra Hậu quả chết người xảy
ra phù hợp với mong muốn của người phạm tội
Khi thực hiện tội phạm với lỗi với lỗi cố ý gián tiếp thì lý trí của người phạm tội biểu hiện như sau: người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm
cho xã hội của hành vi của mình và thấy trước hậu quả có thể xảy ra Ngườiphạm tội không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra, ởđây người phạm tội có thể thấy trước hậu quả chết người nhưng nằm ngoàimục đích và sự quan tâm của họ, người phạm tội không hướng vào hậu quảchết người mà hướng vào mục đích khác, mục đích của hành vi Bởi lẽ khi cóhành vi giết người, người phạm tội đang ở trong trạng thái tinh thần bị kíchđộng mạnh có thể người phạm tội chỉ mong muốn trút bỏ được cơn thù tức dohành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với mình hoặc ngườithân thích của mình
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, mục đích
và động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan củatội phạm
1.4 Đường lối xử lý tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Nghiên cứu đường lối xử lý của tội giết người trong trạng thái tinh thần
bị kích động mạnh chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu đường lối xử lý chung vàđường lối xử lý cụ thể
Trang 21Tại Điều 3 BLHS có quy định về nguyên tắc xử lý phần các tội phạm,theo đó việc xử lý các hành vi xâm phạm tính mạng sức khỏe con người cũngnhư các hành vi phạm tội khác đều phải tuân theo những nguyên tắc nhấtđịnh Những nguyên tắc này được Bộ luật hình sự quy định ở phần chung vàđược áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội cụ thể quy định ở phần tội phạm.
Trong thực tiễn xét xử, khi xác định TNHS Tòa án xem xét tất cả tìnhtiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 48 và
Điều 46 BLHS năm 1999 Nhưng cần phải lưu ý là: “các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự chỉ làm thay đổi mức độ nguy hiểm trong một khung hình phạt chứ không làm thay đổi tính chất của tội phạm” (1) và nếu cáctình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được quy định là dấuhiệu định tội rồi thì không được coi là tình tiết tăng nặng giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự cho chính tội đó nữa
Theo quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS, khi áp dụng hình phạt đốivới người phạm tội, Tòa án không được tự ý xác định thêm những tình tiếttăng nặng quy định tại Điều 48 nhưng Tòa án có thể coi các tình tiết khácchưa được quy định trong Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệmhình sự nhưng phải được ghi rõ trong bản án Vấn đề này được hướng dẫn tạiNghị quyết 01/HĐTP, ngày 19/04/1989 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhândân tối cao Những tình tiết sau đây được coi là những tình tiết giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự khác:
- Bị cáo hoặc vợ, chồng, cha, mẹ, con bị cáo là người có công có nướchoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong những danh hiệuvinh dự như: Anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, nghệ sĩ nhândân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân,thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác;
- Bị cáo là người có nhiều thành tích trong sản xuất, chiến đấu, công tác
đã được nhận huân chương, bằng lao động sáng tạo, bằng khen của chính phủ
1() Đinh Văn Quế , “TNHS đối với các tội xâm phạm tính mạng sức khỏe, nhân phẩm của con người”, Nxb chính trị - Quốc gia 1999
Trang 22hoặc có sáng chế phát minh có giá trị lớn hoặc nhiều năm được công nhận làchiến sĩ thi đua;
- Bị cáo là thương binh hoặc người thân thích như vợ, chồng, bố, mẹhoặc con (con đẻ hoặc con nuôi) là liệt sĩ;
- Bị cáo là người tàn tật bị tai nạn trong lao động hoặc trong công tác;
- Bị cáo sau khi phạm tội đã lập công chuộc tội;
- Người bị hại cũng có lỗi
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cần phải tuân thủ các nguyên tắc sauđây: khi xét xử phải xem xét đầy đủ các dấu hiệu thuộc cấu thành tội phạmcủa tội; chỉ áp dụng hình phạt đối với người phạm một tội mà Bộ luật hình sựquy định; chỉ áp dụng những hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự;không xử phạt quá mức cao nhất của khung hình phạt; đối với hành vi xâmphạm tính mạng, sức khỏe con người không được áp dụng hình phạt tiền dù
đó là hình phạt chính hay là hình phạt bổ sung vì hình phạt tiền sẽ gây tâm lýcoi thường pháp luật, coi thường tính mạng con người, gây rồi loạn trật tự xãhội
Trên đây là đường lối xử lý chung được áp dụng trong quá trình xét xửtất cả các tội phạm, là cơ sở để chúng ta xác định đường lối xử lý cụ thể chotội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh một cách chính xác
với trường hợp người phạm tội có hành vi giết một người trong trạng thái tinhthần bị kích động mạnh với khung hình phạt từ sáu tháng đến ba năm Tronggiới hạn của khung hình phạt này khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ
Trang 23Điều 45 BLHS cân nhắc để lượng hình chính xác Khi có ít nhất hai tình tiếtgiảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS Tòa
án có thể quyết định hình phạt nhẹ hơn so với người phạm tội theo quy địnhtại Điều 47 BLHS Khi có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hoặc cónhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 48 BLHS vàkhông có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tòa án có thể quyết địnhhình phạt cho người phạm tội đến ba năm tù và không được quá ba năm
Khoản 2 Điều 95 quy định: “giết nhiều người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm” Giết nhiều
người theo quy định của Điều luật là trường hợp giết từ hai người trở lên vàgiết nhiều người ở đây có thể là cùng một lần hoặc trong nhiều lần khác nhau
và các lần phạm tội đó phải chưa bị xét xử bằng một bản án đã có hiệu lứcpháp luật của Tòa án Nếu hai người bị giết chỉ có một người có hành vi tráipháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thíchcủa người phạm tội còn những người khác không có hành vi trái pháp luậtnghiêm trọng đối với người phạm tội hoặc những người thân thích của ngườiphạm tội thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội: “Tộigiết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Điều 95 và tội giếtngười theo Điều 93 BLHS Ví dụ sau sẽ cho chúng ta thấy rõ hơn về vấn đềnày: A đang ngồi uống rượu thì nghe hàng xóm báo là vợ A bị B đánh trọngthương, A liền chạy cầm dao chạy sang nhà B hỏi B tại sao đánh vợ mình thìnghe B nói với giọng thách thức, tức giận, A lao vào đòi chém B thì C là hàngxóm của B chạy ra can ngăn, sẵn dao trong tay, A đâm chết C rồi đâm liêntiếp nhiều nhát vào người B C và B đều chết tại chỗ Trong trường hợp này,
B mới là người có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với vợ A chứkhông phải C, C chỉ là người can ngăn hành vi phạm tội của A mà thôi Nên
A sẽ bị xử lý hai tội là tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích độngmạnh (Điều 95) đối với hành vi giết B và tội giết người (Điều 93) đối vớihành vi giết C
Trang 24Tuy nhiên nếu có nhiều người có hành vi trái pháp luật nghiêm trọngđối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích của người phạm tội,nhưng chỉ có một người bị giết chết, còn những người khác bị thương và có tỉ
lệ thương tật từ 31% trở lên thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình
sự về hai tội: “Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”(khoản 1 Điều 95) và “tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” theoĐiều 105 BLHS
Như vậy, theo quy định của Điều 95 BLHS thì cả hai khung hình phạt
áp dụng đối với “Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”
là tù có thời hạn Khi xử lý “Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kíchđộng mạnh” các cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét và cân nhắc thật chínhxác tinh thần của Điều luật để có quyết định đúng đắn, đảm bảo mục đích củahình phạt
1.5 Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với một số tội khác trong BLHS
1.5.1 Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 95 BLHS) với tội giết người (Điều 93 BLHS)
“Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” và “Tộigiết người” đều là tội phạm thuộc nhóm tội xâm phạm tính mạng con người,hai tội phạm này có nhiều điểm giống nhau về các yếu tố cấu thành tội phạm
Về khách thể, hai tội này có khách thể trực tiếp giống nhau là đều xâm phạmđến quyền sống của con người và gây ra cái chết cho nạn nhân Về mặt kháchquan, hai tội đều là tội phạm có cấu thành vật chất, đều đòi hỏi hậu quả chếtngười xảy ra Về mặt chủ quan, cả hai tội phạm đều có thể thực hiện với lỗi
cố ý Chủ thể của tội phạm đều là chủ thể thường Tuy nhiên, về cơ bản haitội này có sự khác nhau Cụ thể: