địa vị pháp lý của thẩm phán trong tố tụng hình sự trước yêu cầu cải cách tư pháp
Trang 1Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang thực hiện cải cách t pháp một cách toàn diện Điềunày tạo cho ngành Toà án Việt Nam nhiều cơ hội song cũng đặt ra nhiềuthách thức Thêm vào đó, Việt Nam đã và sẽ tham gia hoặc ký kết các công
ớc, điều ớc quốc tế song phơng và đa phơng Do đó, đòi hỏi hệ thống phápluật bao gồm cả luật nội dung và luật tố tụng cần đợc hoàn thiện Thực tiễntrên đây đã đặt ra cho thẩm phán Việt Nam không những cần phải có kiếnthức sâu rộng trong nhiều lĩnh vực luật nội dung mà còn phải hiểu biết và
áp dụng thành thạo luật tố tụng liên quan để giải quyết các loại tranh chấp
Ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW vềChiến lợc Cải cách t pháp đến năm 2020 Nghị quyết xác định Tòa án giữvai trò trung tâm trong hệ thống t pháp, hoạt động của Tòa án là trọng tâmcủa hoạt động t pháp Đây là bớc phát triển mới về nhận thức lý luận tronglĩnh vực t pháp nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IX với mục tiêu xây dựng Nhà nớc pháp quyền XHCN của dân, do dân, vìdân Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định nhiệm vụ: “Cảicách t pháp khẩn trơng, đồng bộ, lấy cải cách hoạt động xét xử làm trungtâm, ”[3, tr 127]
Căn cứ Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụtrọng tâm công tác t pháp trong thời gian tới, Tòa án đã tiến hành xét xửtheo hớng nâng cao vai trò tranh tụng, đảm bảo quyền của bị cáo và nhữngngời tham gia tố tụng Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của BộChính trị xác định rõ nhiệm vụ cải cách t pháp đến năm 2020 là phải nângcao chất lợng hoạt động của các cơ quan t pháp Trọng tâm là xây dựnghoàn thiện tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân, đổi mới việc tổ chứcphiên toà xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của ngờitiến hành tố tụng theo hớng đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh,nâng cao chất lợng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu độtphá của hoạt động t pháp
Trang 2Thực hiện Nghị quyết của Đảng, ngành Tòa án Việt Nam đang thực
sự đổi mới về tổ chức và hoạt động, tăng cờng quản lý, nâng cao năng lựccủa đội ngũ thẩm phán để đáp ứng yêu cầu cải cách t pháp
Gắn liền với hoạt động của Tòa án là Thẩm phán Thẩm phán là mộttrong số những ngời tham gia tố tụng giữ vai trò then chốt trong quá trìnhcải cách t pháp nói chung, đặc biệt là việc thực hiện các mục tiêu mà Nghịquyết đã đề ra
Vị trí, vai trò của Thẩm phán trong tố tụng hình sự là một nội dungrất quan trọng, một mắt xích không thể thiếu trong công cuộc cải cách tpháp hiện nay Do vậy, việc nghiên cứu về địa vị pháp lý của thẩm phántrong tố tụng hình sự là một việc làm cần thiết góp phần thực hiện thànhcông cuộc cải cách t pháp ở nớc ta trong điều kiện xây dựng Nhà nớc phápquyền Việt Nam XHCN
Việc xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự có
ý nghĩa quan trọng, xét cả dới góc độ lý luận và thực tiễn Bởi điều đókhông những góp phần vào việc xây dựng một hệ thống lý luận về hoạt
động t pháp nói chung và tổ chức, hoạt động của các chức danh t pháp nóiriêng mà còn góp phần xây dựng các văn bản pháp luật về Tòa án, về Thẩmphán cũng nh việc hớng dẫn, chỉ đạo hoạt động nghiệp vụ của ngành Tòa
án Trong tố tụng hình sự, chế định địa vị pháp lý của Thẩm phán không chỉliên quan và ảnh hởng đến tổ chức và hoạt động của Tòa án mà còn liênquan đến những chế định quan trọng khác Vì thế, có thể nói rằng hiệu quảcủa thủ tục tố tụng hình sự phụ thuộc một phần không nhỏ vào việc xác
định đúng đắn địa vị pháp lý của thẩm phán trong tố tụng hình sự
Trong khoa học pháp lý hiện nay, mô hình lý luận về địa vị pháp lýcủaThẩm phán trong tố tụng hình sự vẫn cha đợc xây dựng một cách thốngnhất, còn nhiều bất cập Nguyên tắc độc lập xét xử cha đợc thực hiện đầy
đủ, vẫn còn nhiều vớng mắc trong hoạt động tố tụng của thẩm phán khi giảiquyết các vụ án hình sự, làm cho hiệu quả xét xử của tòa án cha cao
Vì vậy, em đã chọn đề tài: Địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố“
tụng hình sự trớc yêu cầu cải cách t pháp ” để làm Khóa Luận tốt nghiệp.Thông qua đề tài này, em muốn làm rõ thêm vị trí, vai trò, trách nhiệm,
Trang 3quyền hạn của thẩm phán trong tố tụng hình sự, từ đó đề xuất một số kiếnnghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm phán trong côngcuộc cải cách t pháp, nâng cao hiệu quả xét xử của tòa án.
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích nghiên cứu đề tài là đề xuất các giải pháp nhằm góp phầnhoàn thiện các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phántrong quá trình xét xử, đáp ứng yêu cầu cải cách t pháp
Để đạt đợc mục đích nghiên cứu trên, Khóa Luận có nhiệm vụ:
- Phân tích các đặc điểm của các mô hình tố tụng hình sự qua đó thấy
rõ đợc địa vị pháp lý của Thẩm phán tơng ứng với từng mô hình tố tụng
- Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩmphán trong tố tụng hình sự ở nớc ta thời gian vừa qua
- Nêu rõ nội dung, yêu cầu cải cách t pháp đối với tòa án nói chung
và Thẩm phán nói riêng để từ đó đóng góp hoàn thiện quy định về địa vịpháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu là các quy định của pháp luật về địa vị pháp lýcủa Thẩm phán trong tố tụng hình sự theo pháp luật Việt Nam từ năm 1945
đến nay, hoạt động của thẩm phán trong thực tiễn xét xử Khóa Luận cótham khảo kinh nghiệm tố tụng hình sự của một số nớc
Khóa Luận chỉ giới hạn việc nghiên cứu địa vị pháp lý của Thẩmphán ở giai đoạn xét xử vụ án hình sự
4 Phơng pháp nghiên cứu của luận văn
Khóa Luận sử dụng phép biện chứng duy vật, các luận điểm t tởng vềxây dựng nhà nớc pháp quyền, cải cách t pháp Ngoài ra còn sử dụng phơngpháp nghiên cứu: phân tích, tổng hợp, thống kê hình sự
5 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chơng:
Chơng 1 Khái quát chung về sự hình thành và phát triển của chế
định Thẩm phán trong pháp luật Việt Nam
Chơng 2 Những quy định của Bộ luật tố tụng hiện hành về địa vị
pháp lý của Thẩm phán trong xét xử vụ án hình sự
Trang 4Chơng 3 Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt
động của Thẩm phán trớc yêu cầu cải cách t pháp ở Việt Nam
Trang 5chơng 1 khái quát chung về sự hình thành
và phát triển của chế định thẩm phán trong
pháp luật việt nam
1.1 Khái niệm Thẩm phán.
Địa vị pháp lý nói chung theo Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý
thông dụng là tổng thể các điều kiện pháp lý mà pháp luật đòi hỏi để xác“
định cho một chủ thể có khả năng tham gia quan hệ pháp luật một cách
độc lập ”
Theo từ điển Luật học xuất bản năm 2006 thì địa vị pháp lý của chủthể pháp luật là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với chủ thểpháp luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật Là sự thể hiện thànhmột tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lậpcũng nh giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình.Thông qua địa vị pháp lý có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thểpháp luật khác, đồng thời có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủthể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật [37, tr 244]
Tố tụng hình sự đợc chia ra nhiều giai đoạn khác nhau Tơng ứng vớimỗi giai đoạn đó có các cơ quan tiến hành tố tụng Các cơ quan tiến hành tốtụng gồm có: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án Trong mỗi cơ quantiến hành tố tụng, pháp luật quy định những ngời có thẩm quyền thực hiệncác hành vi tố tụng theo quy định của BLTTHS Và những ngời đó đợc gọi
là những ngời tiến hành tố tụng với địa vị pháp lý rất khác nhau
Những ngời tiến hành tố tụng này có chức năng nhiệm vụ và quyềnhạn riêng nhng đều có trách nhiệm là phát hiện nhanh chóng chính xác và
xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm,không làm oan ngời vô tội
Tại toà án, những ngời tiến hành tố tụng gồm có: Chánh án, PhóChánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm, Th ký toà án Thẩm phán ở ViệtNam bao gồm: thẩm phán TANDTC, thẩm phán TAND cấp tỉnh, thẩm phánTAND cấp huyện và thẩm phán TAQS các cấp
Trang 6Công việc xét xử của thẩm phán đợc coi là một nghề, nghề xét xử.Theo từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản khoa học xã hội, 1994 đã định
nghĩa: "nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội" Nghề thẩm phán là nghề đại diện cho quyền lực t pháp, quyền lực nhà nớc, là "tợng trng cho khát vọng của mọi tầng lớp, giai cấp trong xã hội về chân, thiện, mỹ về một hệ thống tiêu chí đạo đức: sống làm ngời" [29, tr
37] Thẩm phán nhân danh nhà nớc để đa ra phán quyết và khi bản án cóhiệu lực pháp luật thì tất cả mọi cơ quan nhà nớc, các tổ chức và mọi côngdân đều phải chấp hành
Thẩm phán còn đợc hiểu theo nghĩa là một chức danh t pháp Cho
đến nay ở nớc ta cha có văn bản pháp luật nào của nhà nớc quy định về kháiniệm chức danh t pháp Có quan điểm cho rằng những ngời nào trực tiếpthực hiện quyền lực t pháp thì mới là chức danh t pháp Do vậy chức danh tpháp bao gồm Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Th ký Toà án, Hội
thẩm, Thẩm tra viên GS.TS Võ Khánh Vinh thì cho rằng "chức danh t pháp bao gồm những ngời thực thi nhiệm vụ trong các cơ quan t pháp (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) đợc đào tạo kỹ năng thực hành nghề và hành nghề theo một chuyên môn nhất định, có danh xng, đợc bổ nhiệm hoặc thừa nhận theo pháp luật khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn và điều kiện xác định theo quy định của pháp luật." [15, tr 43] Trong các chức
danh t pháp thì Thẩm phán đợc xác định là một chức danh t pháp quantrọng và có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện quyền t pháp
Nh vậy, chúng ta có thể rút ra khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm
phán là tổng thể các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ pháp lý của thẩm phán khi tiến hành các hành vi tố tụng đợc pháp luật quy định.
Từ khái niệm trên, chúng ta có thể nhận thấy, nội hàm địa vị pháp lýcủa Thẩm phán trong tố tụng hình sự đợc phản ánh và thể hiện ở những ph-
ơng diện:
- Các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò của thẩm phán trong tốtụng hình sự
Trang 7- Các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phántrong tố tụng hình sự.
1.2 Vị trí, chức năng của Thẩm phán trong Tố tụng hình sự
Trong hoạt động xét xử của Tòa án, Thẩm phán là nhân tố cơ bản.Thẩm phán là ngời đợc bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm
vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền củaTòa án Thẩm phán là cán bộ, công chức trong Tòa án, có vị trí vai trò chủyếu trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của Tòa án Vị trí của Thẩmphán đợc nhìn nhận tự sự vân hành và phát triển, đảm bảo vai trò của Tòa
án đợc thực hiện trên thực tiến
Kết quả hoạt động của toà án là sản phẩm của toàn bộ hoạt động tpháp Toà án thực hiện đợc chức năng xét xử của mình thông qua hoạt độngcủa những con ngời cụ thể Trong toà án có rất nhiều chức danh nh Thẩmphán, Th ký tòa án, Thẩm tra viên, Cán bộ văn phòng, Nhng chỉ có duynhất Thẩm phán mới đợc pháp luật trao cho quyền xét xử Cho dù bộ máycủa toà án đợc tổ chức quy mô đến mấy thì tất cả những yếu tố đó điều chỉphục vụ cho hoạt động xét xử Trớc đây, khi cha có sự tách biệt giữa baquyền t pháp, hành pháp và lập pháp, thì nhà vua chính là quan toà, là ng ờixét xử tối cao Đến khi cách mạng t sản ra đời đã tạo ra một cuộc cáchmạng mới về t tởng Chính điều này đã hình thành nên một nhánh quyềnlực độc lập, đó là quyền t pháp và cũng từ đó hình thành nên một đội ngũquan chức mới trong bộ máy nhà nớc Đó là những con ngời làm công tác tpháp nói chung và công tác xét xử nói riêng
Hoạt động xét xử của toà án đợc thực hiện thông qua HĐXX trong
đó Thẩm phán là nhân vật trung tâm Thẩm phán là những ngời có vai tròchủ yếu trong công tác xét xử Thông qua hoạt động xét xử của mình, Thẩmphán góp phần vào việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi íchcủa nhà nớc, của xã hội, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự, nhânphẩm của ngời dân Mỗi một phán quyết của Thẩm phán có thể dẫn tới chỗcông dân, pháp nhân đợc hởng quyền và lợi ích hoặc phải gánh chịu cácnghĩa vụ nhất định Đặc biệt là trong lĩnh vực hình sự, phán quyết của Thẩmphán dẫn đến hậu quả pháp lý vô cùng nghiêm trọng đối với ngời bị kết án
Trang 8Sai lầm trong hoạt động xét xử của thẩm phán sẽ dẫn đến tình trạng xử oan,sai Điều này không chỉ ảnh hởng đến một cá nhân mà có thể làm giảmlòng tin của quần chúng nhân dân vào sự công bằng của xã hội, vào phápluật của nhà nớc ta.
Khác với các công việc khác, để đa ra đợc một phán quyết thấu tình
đạt lý, Thẩm phán phải huy động nhiều tố chất trong một con ngời Đó là sự
am hiểu về pháp luật, sự hiểu biết về thực tế, tích luỹ kiến thức về xã hội,
tâm sinh lý của từng cá thể, lơng tâm của ngời Thẩm phán "Cơ sở của các phán quyết là pháp luật, nhng kết quả của các phán quyết có công bằng, vô
t và khách quan hay không đòi hỏi mỗi Thẩm phán phải có cái tâm trong sáng"[21 tr 38] Chỉ khi nào có sự kết hợp giữa trình độ chuyên môn nghiệp
vụ và đạo đức nghề nghiệp của ngời Thẩm phán thì lúc đó mới đảm bảo chophán quyết của thẩm phán thấu tình đạt lý Khi xét xử ngời Thẩm phán phải
có niềm tin nội tâm, đó là niềm tin vào công lý Bởi vì, cho dù hệ thốngpháp luật có hoàn hảo, đầy đủ đến đâu chăng nữa thì cũng sẽ không bao giờ
dự liệu hết đợc mọi tình huống xẩy ra trong thực tế Thậm chí quy định củapháp luật còn chống chéo, không đồng bộ Song khi xét xử Thẩm phán vẫnphải đảm bảo nguyên tắc xét xử đúng ngời, đúng tội và đúng pháp luật Và
đặc biệt là phải đảm bảo công lý Trong con mắt của ngời dân, toà án khôngchỉ là bảo vệ pháp luật mà còn là biểu tợng của công lý, sự công bằng xã
hội Khi phải đối mặt với quan toà, với công đờng ngời dân chờ đợi sự công minh, sáng suốt Toà án là ngời đại diện của công lý và quan toà là cán cân công lý [15, tr 23].
Qua phân tích trên, chúng ta nhận thấy vai trò trung tâm của thẩmphán trong hoạt động xét xử cũng nh trong hoạt động t pháp hình sự
1.2.1 Quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán
Quyền hạn của Thẩm phán đợc thể hiện nh sau:
- Đây là những yêu cầu cụ thể do Nhà nớc đặt ra đối với chức danhThẩm phán và đợc quy định trong Hiến pháp, BLTTHS, Pháp lệnh Thẩmphán và Hội thẩm nhân dân
Trang 9- Quyền hạn của Thẩm phán còn đợc hiểu là trách nhiệm, là nghĩa vụpháp lý mà Thẩm phán phải thực hiện trong hoạt động xét xử.
Luôn đi đôi song hành với Trách nhiệm là quyền hạn Đây là quyềnnăng pháp lý mà pháp luật quy định cho Thẩm phán để thực hiện chức năngxét xử trong tố tụng hình sự
Về nguyên tắc, Trách nhiệm, quyền hạn của Thẩm phán phải đợc xác
định đầy đủ trên cơ sở vai trò, vị trí, chức năng nhiệm vụ của Thẩm phántrong Tố Tụng hình sự Mặt khác, chúng phải đợc pháp luật quy định cụ thể
rõ ràng và chặt chẽ Có nh vậy mới đảm bảo cho thẩm phán hoàn thành hiệuquả nhiệm vụ xét xử của mình, tránh tình trạng tùy tiện hay lạm dụngquyền hạn trong thực tiễn xét xử
Trong mỗi một giai đoạn lịch sử phát triển đất nớc,Trách nhiệm,quyền hạn của Thẩm phán cũng có những thay đổi song vẫn dựa trên nhữngnguyên tắc chung của Tố Tụng hình sự và nhằm mục đích phục vụ chứcnăng xét xử đúng ngời đúng tội, đúng pháp luật
1.3 Mối quan hệ của Thẩm phán trong hoạt đông Tố Tụng
Vị trí vai trò của thẩm phán đợc thể hiện trong mối quan hệ nội bộcủa toà án (mối quan hệ bên trong) và mối quan hệ với các chức danh tpháp khác (mối quan hệ bên ngoài)
- Xét về mối quan hệ bên trong: trong nội bộ cơ quan Toà án, Thẩmphán có rất nhiều mối quan hệ nh quan hệ với lãnh đạo, quan hệ với Thẩmphán khác, quan hệ với th ký và các cán bộ khác của Toà án Tất cả các mốiquan hệ này đều thể hiện vị trí trung tâm của Thẩm phán
+ Quan hệ giữa lãnh đạo toà án với Thẩm phán: xét về bản chất đây
là quan hệ quản lý hành chính Một cơ quan đoàn thể nào cũng cần có tổchức và hoạt động theo một quy chế nhất định Chánh án, Phó Chánh án lànhững ngời lãnh đạo, quản lý toàn bộ mọi mặt của cơ quan Toà án sao cho
đảm bảo hoạt động của Toà án với vai trò là một cơ quan nhà nớc Trongmối quan hệ này, Thẩm phán chỉ với t cách là nhân viên, cán bộ trong cơquan Thẩm phán phải chịu sự phân công của lãnh đạo Chánh án, PhóChánh án chỉ có thể quản lý về mặt con ngời còn về lĩnh vực nghiệp vụ thìkhông thể can thiệp vào công việc của Thẩm phán
Trang 10+ Quan hệ giữa Thẩm phán với nhau: mối quan hệ này phát sinhtrong hoạt động xét xử của Thẩm phán Và do đó, đây là quan hệ mang tínhchất Tố Tụng Thẩm phán đợc hoàn toàn độc lập không bị phụ thuộc vàobất cứ ai cho dù là lãnh đạo toà án Bản thân Chánh án, Phó Chánh án cũng
là Thẩm phán Khi tham gia hoạt động tố tụng thì các Thẩm phán đều cónhững quyền và nghĩa vụ giống nhau theo quy định của Tố Tụng NếuHĐXX có năm thành viên, trong đó có hai Thẩm phán thì một Thẩm phán
là lãnh đạo toà án thì khi biểu quyết quyết định hình phạt, ý kiến của Thẩmphán lãnh đạo Toà án cũng chỉ là một lá phiếu và chỉ đợc biểu quyết với tcách là Thẩm phán
+ Mối quan hệ với hội thẩm: Hội thẩm là những ngời đại diện chonhân dân tham gia vào hoạt động xét xử với mục đích đảm bảo tính dânchủ Hội thẩm là những ngời đợc bầu và chịu sự phân công của Chánh án
Họ không phải cán bộ Toà án Công tác hội thẩm là công tác kiêm nhiệm.Hội thẩm cũng có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ, tham gia xét xử Khi xét
xử vụ án, mọi vấn đề phải đợc Thẩm phán và hội thẩm thảo luận và thôngqua tại phòng nghị án Khi giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trìnhxét xử cũng nh khi quyết định bản án, hội thẩm ngang quyền với thẩmphán, để cùng với Thẩm phán đa ra một bản án đúng ngời, đúng tội, đúngpháp luật Mối quan hệ giữa thẩm phán và hội thẩm là mối quan hệ độc lập.Tính độc lập ở đây thể hiện trên hai phơng diện: độc lập với các cá nhânkhác và độc lập với chính những thành viên trong HĐXX Mặc dù vậy,trong hoạt động xét xử vị trí của Thẩm phán vẫn là trung tâm Điều này thểhiện trong toàn bộ quá trình xét xử Thẩm phán luôn giữ vai trò chủ đạo
điều khiển phiên toà từ phần thủ tục đến phần tuyên án
+ Quan hệ giữa Thẩm phán và Th ký Tòa án: theo quy định củaBLTTHS thì th ký là ngời tiến hành tố tụng bao gồm những ngời đợc xếpvào ngạch công chức "Th ký Toà án" và những ngời đợc xếp ngạch côngchức "chuyên viên pháp lý", "Thẩm tra viên" đợc Chánh án phân công tiếnhành Tố Tụng Th ký toà án có các chức năng: giúp Thẩm phán trong côngtác chuẩn bị phiên toà khi cần thiết, trớc khi bắt đầu phiên toà, phổ biến nộiquy phiên Tòa (điều 171 BLTTHS 2003), báo cáo danh sách những ngời đ-
Trang 11ợc triện tập hợp lệ, ghi biên bản phiên toà Tất cả các công việc trên của th
ký đều nhằm mục đích phục vụ cho công tác xét xử của thẩm phán Mặc dù
là ngời giúp việc cho Thẩm phán để phục vụ phiên toà nhng th ký tiến hànhcác hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật và theo sự phân công củaChánh án, chịu trách nhiệm trớc pháp luật và Chánh án về những hành vicủa mình
- Xét về mối quan hệ bên ngoài: hoạt động xét xử của Thẩm phánkhông chỉ bó hẹp trong mối quan hệ nội bộ cơ quan Tòa án mà cần phảiduy trì mối quan hệ với các chức danh t pháp khác
+ Quan hệ giữa thẩm phán và kiểm sát viên: Kiểm sát viên tham gia
tố tụng với hai chức năng chính là thực hành quyền công tố và Kiểm sátviệc tuân theo pháp luật góp phần bảo đảm cho pháp luật đợc chấp hànhnghiêm chỉnh và thống nhất Kiểm sát viên tham gia tố tụng theo sự phâncông và chỉ đạo trực tiếp của Viện trởng viện kiểm sát Hiệu quả xét xử của
Toà án phụ thuộc phần nhiều vào hoạt động của kiểm sát viên "Phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, ngời bào chữa, " (Nghị quyết 08-NQ/TW) Căn cứ vào kết quả điều tra, kiểm sát
viên có quyền lập bản cáo trạng, có quyền xét hỏi, tranh luận, rút toàn bộhay một phần quyết định truy tố tại phiên toà Tại phiên Tòa, kiểm sát viên
có trách nhiệm chứng minh tính có căn cứ của nội dung truy tố bằng cách
đa ra những chứng cứ, căn cứ pháp lý, lập luận để buộc tội bị cáo, đồng thờibác bỏ các chứng cứ, quan điểm lập luận của bị cáo, ngời bào chữa Trên cơ
sở đó, kiểm sát viên đa ra kết luận, đề nghị và yêu cầu cụ thể đối vớiHĐXX Kiểm sát viên không có quyền thay đổi nội dung buộc tội theo h-ớng tăng nặng đối với bị cáo Việc thay đổi nội dung buộc tội của kiểm sátviên chỉ đợc phép nếu điều đó không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo vàkhông vi phạm quyền bào chữa của bị cáo Ngoài ra, Kiểm sát viên cònkiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên toà Đây là hai chức năng gắn bóchặt chẽ với nhau, trong đó, chức năng Kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong xét xử hỗ trợ cho chức năng thực hành quyền công tố Các chức năngnày của viện kiểm sát đợc kiểm sát viên thực hiện thông qua hoạt động
Trang 12tranh tụng tại phiên toà Ngay cả sau khi phiên toà kết thúc, Kiểm sát viênvẫn còn phải tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của mình, kiểm sát tính hợp pháp
và có căn cứ của bản án mà HĐXX đã tuyên và biên bản phiên toà Nếuphát hiện có vi phạm pháp luật, Kiểm sát viên có quyền yêu cầu toà án khắcphục những vi phạm đó hoặc báo cáo Viện trởng viện kiểm sát kháng nghịtheo trình tự phúc thẩm
Qua phân tích nhiệm vụ quyền hạn của Kiểm sát viên, có thể nhậnthấy mối quan hệ giữa Thẩm phán và Kiểm sát viên là mối quan hệ phốihợp nhng có sự kiểm tra, giám sát lẫn nhau Mặc dù BLTTHS không quy
định cụ thể sự phối hợp này tuy nhiên đây là hai chức danh t pháp chủ yếutrong tố tụng hình sự để tìm ra sự thật khách quan của vụ án Mỗi một khâulàm tốt sẽ tạo tiền đề, điều kiện để khâu sau đạt hiệu quả cao Công tác xét
xử của toà án đạt hiệu quả phải phụ thuộc vào yếu tố con ngời Cho dù phápluật có hoàn hảo mà trình độ, ý thức của những ngời tiến hành Tố Tụngkhông có thì cũng không đạt đợc hiệu quả mong muốn Sự phối hợp ở đâykhông có nghĩa là thông đồng để đa ra phán quyết sai lầm, bỏ lọt tội phạm
Sự phối hợp ở đây là tạo điều kiện cho cả Thẩm phán và Kiểm sát viên hoànthành nhiệm vụ của mình Phối hợp đợc thể hiện cả về hình thức lẫn nộidung
+ Quan hệ giữa Thẩm phán và các chức danh bổ trợ T pháp kháctrong hoạt động Tố Tụng: diễn biến phiên toà đợc tiến hành theo ba chứcnăng cơ bản của Tố Tụng hình sự là buộc tội (do cơ quan điều tra, việnkiểm sát thực hiện), gỡ tội (do luật s, ngời bào chữa đảm nhiệm) và chứcnăng xét xử (do HĐXX thực hiện) Trong nhiều vụ án, để đánh giá chínhxác, đúng đắn, khách quan các tình tiết, sự kiện phức tạp, các cơ quan điềutra, công tố, xét xử phải huy động sự hỗ trợ của các cơ quan, tổ chứcchuyên môn có thể cung cấp, xác minh các tài liệu có giá trị chứng cứ (ví
dụ nh cơ quan công chứng) hoặc có thể cung cấp các kết luận giám địnhkhoa học, chuyên môn sâu trong các lĩnh vực khác nhau (ví dụ nh giám
định t pháp) Hoạt động bổ trợ t pháp là hoạt động hỗ trợ cho cơ quan tpháp thực hiện tốt chức năng, quyền hạn của mình Các chức danh bổ trợ tpháp bao gồm có giám định viên, luật s, công chứng viên Mỗi một chức
Trang 13danh này đều có vai trò, quyền và nghĩa vụ đặc trng riêng nhng có điểmchung là hoạt động của các chức danh này là cần thiết, tạo điều kiện thểhiện sự dân chủ, khách quan trong phán quyết của thẩm phán Luật s là ng-
ời bào chữa hoặc ngời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên thamgia tố tụng theo quy định của pháp luật Việc tham gia tố tụng của luật s làyếu tố ảnh hởng nâng cao hiệu quả xét xử của toà án Luật s giữ vai trò rấtquan trọng trong tranh tụng, đại diện cho bên gỡ tội đối đáp với kiểm sátviên giữ quyền công tố tại phiên toà để làm sáng rõ nội dung vụ án Đối vớicông tác giám định, các giám định viên sử dụng kiến thức chuyên môn củamình để đa ra kết luận trong lĩnh vực nào đó Từ những kết luận đó, HĐXXxem xét để áp dụng pháp luật cho đúng và đảm bảo tính khách quan củabản án Nếu công tác giám định không chính xác sẽ làm sai lệch hồ sơ dẫn
đến phán quyết của toà án không có chất lợng cao, nhiều khi gây ra oan,sai Ngời giám định, luật s là ngời tham gia Tố Tụng Chính với t cách TốTụng nh vậy nên giữa thẩm phán và luật s, giám định viên có sự độc lậptrong hoạt động Tố Tụng Mối quan hệ giữa thẩm phán với Kiểm sát viên,
Điều tra viên khác với mối quan hệ giữa Thẩm phán và luật s, giám địnhviên Sự khác biệt này xuất phát từ vị trí tố tụng của các chức danh này Đây
là sự khác biệt về bản chất Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên lànhững ngời tiến hành Tố Tụng có trách nhiệm chứng minh tội phạm, tìm ra
sự thật khách quan của vụ án Trong khi đó thì luật s, giám định viên không
có nghĩa vụ này Họ tham gia Tố Tụng với quyền là làm sáng rõ vụ án đểbảo vệ lợi ích cho thân chủ của mình Đây là quyền chứ không phải là nghĩa
vụ Quan hệ giữa Thẩm phán với luật s, giám định viên chỉ phát sinh trongnhững vụ án cụ thể Nếu vụ án đó không đòi hỏi phải có kết quả giám địnhhoặc không có luật s tham gia thì mối quan hệ này không xuất hiện
1.4 Lịch sử hình thành và phát triển của đội ngũ Thẩm phán ở nớc ta từ Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay.
1.4.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1980
Cách mạng tháng Tám thành công, bộ máy chế độ thực dân phongkiến bị xoá bỏ , Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời Để nâng caohiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ kịp thời các quyền và lợi
Trang 14ích hợp pháp của công dân, Nhà nớc ta đã ban hành một loạt các văn bảnpháp luật hình sự và tố tụng hình sự Đó là các Sắc lệnh số 33/SL ngày13/9/1945 và Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/02/1946 về thành lập các Toà ánquân sự; Sắc lệnh ngày 10 - 10 - 1945 về tổ chức các đoàn luật s; Sắc lệnh
là văn bản pháp lý đầu tiên quy định một cách đầy đủ và tơng đối hoànchỉnh về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong xét xử các vụ án hình sự Cácvăn bản pháp luật này là một bớc ngoặt lớn trong lịch sử lập pháp của nớc tavới một nền t pháp nhân dân của chế độ mới
Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 đã thiết lập hệ thống toà án gồm:toà án sơ cấp, toà án đệ nhị cấp và toà thợng thẩm Thẩm phán đợc chia làmhai ngạch: thẩm phán sơ cấp làm việc ở toà sơ cấp, thẩm phán đệ nhị cấplàm việc ở toà đệ nhị cấp và toà thợng thẩm Các Thẩm phán đệ nhị cấp lạichia thành hai loại: Thẩm phán xét xử và Thẩm phán buộc tội Thẩm phánxét xử có thể đợc chuyển sang làm Thẩm phán buộc tội và ngợc lại
Theo Sắc lệnh này, thẩm phán có quyền hạn rất lớn trong xét xử Mặc
dù quy định về sự tham gia của Phụ thẩm "khi xét xử ngoài Chánh án chủ toạ phiên toà còn có hai phụ thẩm" nhng quyền hạn của phụ thẩm còn hạn chế "ông Chánh án hỏi ý kiến của Phụ thẩm về tội trạng các phạm nhân và
về hình phạt rồi tự mình quyết định"(điều 27 sắc lệnh 13).Thẩm phán là
ng-ời quyết định sau khi hỏi ý kiến của Phụ thẩm Ngoài ra Chánh án còn cóquyền tuyên phạt đối với hai phụ thẩm Trong thời kỳ này nguyên tắc toà ánxét xử tập thể và biểu quyết mới chỉ manh nha xuất hiện thông qua phiên
toà đại hình Điều 31 Sắc lệnh quy định:"sau khi nghe các bị can, ngời làm chứng, cáo trạng của ông biện lý và sau cùng nghe lời bàn cãi của các bị
Trang 15can, ông Chánh án, hai thẩm phán và hai phụ thẩm nhân dân lui vào phòng nghị án để cùng xét xử về tất cả các vấn đề thuộc về tội trạng, hình phạt, trờng hợp tăng tội, giảm tội".
Ngoài ra, Sắc lệnh 51/SL ngày 17 tháng 4 năm 1946 còn quy định về
quyền và nghĩa vụ của thẩm phán nh: "ông Chánh án chủ toạ phiên toà có nhiệm vụ điều khiển cuộc thẩm vấn và bảo vệ trật tự phiên toà", "ông Chánh án nếu cần có thể mở phiên toà ngoài trụ sở của Toà án, nơi cách
xa toà", "mỗi khi tuyên án tử hình, Chánh án bắt buộc phải báo cho tội nhân biết rằng hắn có quyền xin ân giảm và hỏi hắn có muốn đệ đơn xin không".
Những quy định về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong thời kỳ đầucủa Nhà nớc ta là cơ sở ban đầu cho việc hoàn thiện hoạt động xét xử saunày Hiến pháp đầu tiên của Nhà nớc Việt nam Dân chủ Cộng hoà (đợcQuốc hội thông qua ngày 9/11/1946) đã ghi nhận một số nguyên tắc cơ bảncủa pháp luật nớc ta, trong đó bao gồm cả các nguyên tắc của Tố Tụng hình
sự Đó là các nguyên tắc: các phiên toà đều phải công khai, trừ những trờnghợp đặc biệt; trong khi xét xử các viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật,các cơ quan khác không đợc can thiệp, Sắc lệnh 13 và Hiến pháp 1946 đãxác định toà án là cơ quan t pháp của nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà, giữmột vị trí độc lập trong tổ chức bộ máy nhà nớc
Đến tháng 5 năm 1950, nhà nớc ta thực hiện cuộc cải cách t pháp đầutiên Sắc lệnh 85/SL đợc ban hành Toà án có sự thay đổi, phụ thẩm nhândân đổi thành hội thẩm nhân dân Trong xét xử hội thẩm nhân dân ngangquyền với thẩm phán
Sau khi giành đợc thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dânPháp xâm lợc năm 1954, nớc ta bớc vào một giai đoạn mới cùng một lúcphải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lợc: xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miềnBắc và đấu tranh giải phóng dân tộc ở miềm Nam tiến tới thống nhất đất n-
ớc Những thay đổi cơ bản của đất nớc và xã hội đòi hỏi cần phải có các vănbản pháp luật mới để kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh
Trang 16Hiến pháp năm 1959 và các văn bản pháp luật khác của Nhà nớc ta nóichung và văn bản pháp luật tố tụng hình sự nói riêng đợc ban hành trongthời gian này đã kịp thời đáp ứng đợc nhu cầu phát triển của xã hội theo h-ớng dân chủ hoá các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 1959, Quốc hội đã banhành Luật tổ chức toà án nhân dân ngày 14.7.1960 Theo Luật này thì hệthống toà án gồm có: Toà án nhân dân tối cao, Toà án nhân dân địa phơng,các Toà án quân sự Trong trờng hợp đặc biệt Quốc hội thành lập các toà án
đặc biệt Nhiệm vụ của công tác xét xử trong thời kỳ này là bảo vệ chế độdân chủ nhân dân, bảo vệ trật tự xã hội, tài sản công cộng và quyền lợi hợppháp của nhân dân góp phần đảm bảo sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất n-
ớc Tuy nhiên thời kỳ này cha có văn bản Tố Tụng nào quy định riêng vềquyền và nghĩa vụ của Thẩm phán Song qua các văn bản pháp luật đóchúng ta cũng xác định đợc địa vị của Thẩm phán trong tố tụng Điều này
đợc thể hiện ở các nguyên tắc tố tụng nh: sự độc lập và chỉ tuân theo phápluật của toà án trong đó có thẩm phán và hội thẩm nhân dân, hội thẩm quânnhân Hội thẩm khi tham gia xét xử ngang quyền với Thẩm phán; Toà ánxét xử tập thể và quyết định theo đa số, Thẩm phán theo chế độ bầu Đặcbiệt thông qua trình tự xét xử hình sự tại Bản hớng dẫn về trình tự xét xử sơthẩm về hình sự đợc ban hành kèm theo thông t 16 - TATC ngày 27.9.1974của Toà án nhân dân tối cao, có thể thấy rõ về quyền và nghĩa vụ của Thẩmphán trong phiên toà Tại phiên toà sơ thẩm, chủ toạ phải kiểm tra căn cớccủa bị cáo, ngời bị hại, nguyên đơn dân sự, ngời có trách nhiệm bồi thờng
và những ngời có tài sản, quyền lợi liên quan đến việc phạm pháp; giảithích quyền và nghĩa vụ để những ngời tham gia tố tụng biết; giới thiệuthành viên HĐXX, đại diện Viện kiểm sát, ngời bào chữa, ngời phiên dịch,
th ký phiên toà; phải đảm bảo phần xét hỏi, tranh luận và giữ gìn trật tựphiên toà Tại phần xét hỏi, chủ tọa hỏi trớc, các hội thẩm hỏi bổ sung ởphần nghị án, HĐXX cùng thảo luận và biểu quyết theo đa số Thẩm phánchủ tọa phiên tòa sẽ tuyên đọc bản án
Trang 17Bằng bản hớng dẫn này, hoạt động của Thẩm phán trong việc giảiquyết vụ án hình sự đã đợc hớng dẫn chi tiết và thống nhất trong phạm vi cảnớc Các quy định này hầu nh đợc giữ nguyên khi ban hành Bộ luật TốTụng hình sự năm 1988.
Nh vậy, vị trí trung tâm trong xét xử của Thẩm phán đã đợc khẳng
định Thẩm phán là ngời điều khiển phiên toà với nhiều trọng trách vừachứng minh tội phạm, vừa quyết định hình phạt, vừa đảm bảo phiên toà diễn
ra đúng luật định Thẩm phán còn phải giúp đỡ hội thẩm nắm đợc pháp luật,
đờng lối, chính sách, đồng thời phải tích cực phát huy vai trò của hội thẩmkhi tham gia phiên toà
1.4.2 Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992
Sau khi thống nhất đất nớc, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp năm
1980, Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1981 Tiếp đó, BLTTHS năm
1988 đã cụ thể hoá các quy định về tổ chức và hoạt động của toà án bằngcách quy định một cách hệ thống các vấn đề cơ bản của Tố Tụng hình sự,trong đó có hoạt động của Thẩm phán Một số nguyên tắc của tố tụng hình
sự đợc quy định trong Bộ luật liên quan trực tiếp tới hoạt động của Thẩmphán, đó là nguyên tắc Toà án xét xử công khai, xét xử tập thể và quyết
định theo đa số, chế độ xét xử có hội thẩm tham gia, khi xét xử Thẩm phán
và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Điều 1 Luật tổ chức toà án
nhân dân năm 1981 quy định Trong phạm vi chức năng của mình, Toà án“
nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, ” Nh vậy quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong giai đoạn này đã đợc mở rộng, cụ thể hơn, cao cả và nặng nề hơn.[21, tr84].
Bộ luật Tố Tụng hình sự năm 1988 quy định cụ thể các quyền vànhiệm vụ của Thẩm phán khi giải quyết một vụ án hình sự trong giai đoạnchuẩn bị xét xử, tại phiên toà và sau khi xét xử
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán có nhiệm vụ:
Trang 18- Nghiên cứu hồ sơ để xem xét những vấn đề cần chứng minh trong
vụ án, việc định tội danh có đúng hay không
- Giải quyết khiếu nại và yêu cầu của ngời tham gia Tố Tụng
- Tiến hành những việc khác để mở phiên toà nh triệu tập ngời thamgia phiên toà, trích xuất bị cáo đang bị tạm giam,
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán phải ra một trong số cácquyết định sau: quyết định đa vụ án ra xét xử, quyết định trả hồ sơ để điềutra bổ sung, tạm đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án Trớc đây theo bản hớng dẫncủa Toà án nhân dân tối cao về trình tự sơ thẩm hình sự (kèm theo Thông t
số 16 – TATC ngày 27/9/1974) thì trong những trờng hợp cần yêu cầu
điều tra bổ sung hoặc cần thay đổi biện pháp ngăn chặn, tạm đình chỉ hoặc
đình chỉ tố tụng thì Toà án phải họp trù bị với Viện kiểm sát rồi mới raquyết định Nay Bộ luật Tố Tụng hình sự không quy định họp trù bị là mộtthủ tục bắt buộc cho nên đây chỉ là việc phối kết hợp giữa các cơ quan tốtụng Theo Thông t liên ngành số 01- TT/LN ngày 08 -12- 1988 của Toà ánnhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hớng dẫn thi hành một
số quy định trong Bộ luật Tố Tụng hình sự thì những trờng hợp cần trao đổilà:
- Khi Toà án thấy cần trả hồ sơ để Viện kiểm sát điều tra bổ sung,
đổi tội danh nặng hơn hoặc áp dụng khung hình phạt nặng hơn
- Khi Toà án thấy cần đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án
- Khi cần nhập hoặc tách vụ án
- Khi cần chuyển vụ án cho Toà án khác giải quyết
- Khi chuẩn bị xét xử vụ án điểm hoặc vụ án phức tạp
- Các trờng hợp cần thiết khác
Nh vậy so với quy định trớc đây, sự độc lập trong việc giải quyết vụ
án hình sự đã rõ và cụ thể hơn, chặt chẽ hơn
Trang 19Về trình tự tố tụng xét xử tại phiên toà không có nhiều thay đổi sovới Bản hớng dẫn năm 1974 Đây là giai đoạn quan trọng nhất của trình tự
tố tụng Việc xét xử phải đảm bảo nguyên tắc công khai, liên tục, trực tiếp
và bằng lời nói, có hội thẩm tham gia, xét xử tập thể và quyết định theo đa
số Theo khoản 2 điều 181 BLTTHS năm 1988thì: Chủ toạ hỏi trớc rồi đến các hội thẩm nhân dân, sau đó đến kiểm sát viên, ngời bào chữa Thực tế
cho thấy, thời kỳ này, vai trò của Thẩm phán và HĐXX rất quan trọng Tạiphiên toà, Thẩm phán vừa là ngời làm sáng tỏ nội dung vụ án, vừa là ngờibuộc tội vừa là ngời gỡ tội Vai trò của kiểm sát viên tại phiên toà mờ nhạt.Phần tranh luận đợc quy định riêng tại chơng XX, song việc tranh luận cònnặng về hình thức Mục đích của việc tranh luận là để cho những ngời thamgia tranh luận phân tích, đánh giá việc phạm tội một cách toàn diện Nhnghiệu quả thực tế của việc tranh luận tại các phiên toà là không cao, chỉmang tính hình thức Kết thúc phần tranh luận, HĐXX vào phòng nghị án
và ra tuyên án Tất cá các giai đoạn này điều đợc quy định cụ thể tại các
điều 196, điều 197, điều 198, điều 199 và điều 200 BLTTHS 1988
Với vị trí và vai trò của Toà án trong Tố Tụng hình sự nh đã nêu trên,pháp luật đã giành cho Thẩm phán những quyền năng pháp lý đặc biệt đồngthời cũng là những trách nhiệm nặng nề trớc pháp luật Ngoài ra, pháp luật
tố tụng hình sự còn quy định các điều kiện bảo đảm cho thẩm phán có thểhoàn thành đợc vai trò và chức năng của mình trong Tố Tụng hình sự Đó làcác quy định cụ thể trong BLTTHS năm 1988 nh: Khi xét xử Thẩm phán vàhội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 17); Toà án xét xử tậpthể và quyết định theo đa số (Điều 18); Việc xét xử của Toà án đợc tiếnhành công khai, mọi ngời đều có quyền tham dự (Điều 19); Xét xử trựctiếp, bằng lời nói và liên tục (Điều 159); Trong trờng hợp vụ án có tính chấtnghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử có thể gồm hai Thẩm phán và
ba hội thẩm (Điều 160);
Các nhiệm vụ, quyền hạn và nghĩa vụ của Thẩm phán trong Tố Tụnghình sự đợc xác định trên cơ sở chức năng của nó Chúng phải phù hợp với
Trang 20nhau thì Thẩm phán mới thực hiện tốt chức năng xét xử trong Tố Tụng hìnhsự.
Phân tích các quy định của BLTTHS năm 1988 về nhiệm vụ, quyềnhạn và nghĩa vụ của Toà án trong tố tụng hình sự, có thể thấy rằng ngoàinhiệm vụ xét xử Thẩm phán còn có nhiệm vụ buộc tội Cho nên giai đoạnnày vai trò của thẩm phán rất lớn Tuy nhiên cũng có hạn chế đôi khi Thẩmphán lại làm thay công việc của kiểm sát viên Do vậy, mục tiêu vô t kháchquan của Thẩm phán tại phiên toà bị ảnh hởng vì mất sự cân bằng giữa bênbuộc tội và bên bào chữa
1.4.3.Giai đoạn từ năm 2002 đến nay
Qua thực tiến thi hành Luật tổ chức Toà an nhân dân năm 1992 đếnnăm 2002 cho thấy, nhiều quy định trong Luật cần đợc nghiên cứu, sửa đổi
để tạo cơ sở pháp lý cho việc hoàn thiện tổ chức hệ thống Toà án nhân dân,nhằm đảm bảo cho Toà án nhân dân thực hiện tốt chức năng của mình.Chính vì vậy, Đảng và Nhà nớc ta cũng đã định ra những hớng lớn về đổimới tổ chức và hoạt động của hệ thống Toà án nhân dân
Ngày 02/04/2002 tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá X đã thông quaLuật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 Việc ban hành đạo Luật này làmột bớc cải cách t pháp lớn đối với ngành Toà án nhân dân Đó là việc thay
đổi việc quản lý các Toà án nhân dân địa phơng và các Toà án quân sự về tổchức từ Bộ trởng Bộ t pháp có sự phối hợp chặt chẽ với Chánh án Toà án tốicao quản lý có sự phối hợp chặt chẽ với Hội đồng nhân dân địa phơng và BộQuốc phòng
So với luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1992, trong Luật tổ chứ Toà
án nhân dân năm 2002 đã quy định bổ sung về sự giám sát của nhân dân
đối với Thẩm phán; quy định về mối quan hệ giữa Thẩm phán với các cơquan, tổ chức và công dân Khi thực hiện quyền hạn và nhiểm vụ của mình,Thẩm phán có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nớc, Uỷ ban Mặt trận, các tổchức xã hội khác, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân
Theo quy định tại Điều 2 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002, hệthống Toà án nớc ta bao gồm: Toà án nhân dân tối cao; các Toà án nhân
Trang 21dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng; các Toà án nhân dân quận ,huyện, thị xã, thành phố trực thuộc; các Toà án quân sự; các Toà án khác doluật định Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lậpToà án đặc biệt.
Trên cơ sở quy định của Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002,ngày 04/10/2002, Uỷ ban thờng vụ Quốc đã ban hành Pháp lệnh số 02 vềThẩm phán và Hội thẩm nhân dân
Theo quy định tại Điều 2, pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhândân năm 2002, Thẩm phán Toà án nhân dân nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam gồm có: Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Thẩm phán Toà ánnhân dân cấp tỉnh bao gồm Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ơng; Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện bao gồmThẩm phán Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;Thẩm phán Toà án quân sự các cấp bao gồm Thẩm phán Toà an quân sựtrung ơng đồng thời là Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Thẩm phán Toà
án quân sự cấp khu bao gồm Thẩm phán Tòa án quân sự quân khu và tơng
đơng; Thẩm phán Toà án quân sự khu vực
Hiện nay, cải cách t pháp là vấn đề đang đợc quan tâm hàng đầu.Công tác t pháp hiện nay có những chuyển biến rõ nét về chất, tạo cơ sởvững chắc cho công cuộc cải cách t pháp, các văn bản pháp luật về cải cách
t pháp đợc ban hành từng bớc và có lộ trình nhất định:
+ Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về
một số nhiểm vụ trọng tâm công tác t pháp trong thời gian tới
+ Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 của Bộ chính trị về
chiến lợc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nă 2010,
Trang 22và đội ngũ t pháp nói riêng trong sạch, liêm khiết đảm bảo đợc lòng tin
trong quần chúng nhân dân về một nhà n“ ớc phục vụ ”
Chơng 2 quy định của bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về đia vị pháp lý của thẩm phán trong xét xử
vụ án hình sự
Trang 232.1 Những nguyên tắc hoạt động của Thẩm phán trong xét xử vụ
ời đã có tội, phải bắt mặc áo tù, bị xích tay (thậm chí cả cùm chân) Trongquá trình tẩm vấn có Thẩm phán luôn có thái độ quát nạt, không cho bị cáotrình bày đầy đủ các tình tiết của vụ án theo logic mà họ muốn đòi hỏi chỉtra lời “ có” hoặc “không”, thờng đặt câu hỏi “ bị cáo hãy trình bày về hành
vi phạm tội của mình”, “bị cáo đã nhận thức đợc tội lỗi của mình cha”.Thẩm phán khi thẩm vấn luôn có những câu giáo huấn đối với bị cáo Bản
án thờng dùng ngôn từ mang tính miện thị nh y, thị, kể “ tất cả mọi ng …” Chính vì có
quan niệm không đúng đắn nh vậy mà Thẩm phán không muốn nghe lờitrình bày của bị cáo Khi họ thực hiện quyền tự bào chữa có thể bị “chụpmũ” cho rằng bị cáo thái độ chống đối, chống tội Có không ít phiên toàthấy Thẩm phán và Kiểm sát viên đạp bàn, vung tay, cắt ngang lời trình bàyhoặc không cho bị cáo nói theo ý họ, nhất là những khi bị cáo bào chữa cho
sự vô tội của mình
Có những phiên toà có nhiều nhà báo tham dự, quay phim chụp ảnh
đến mức làm ảnh hởng tâm lý khai báo của bị cáo và những ngời tham gia
tố tụng, đa tin, ảnh , bình luận một cách quá đáng trên cac phơng tiện thôngtin địa chúng theo hớng không còn nghi ngờ gì về tội phạm của bị cáo trongkhi chính Toà án cha kết án Lẽ ra với t cách là Chủ toạ phiên tòa Thẩmphán phải hạn chế nhà báo hoạt động quá mức, bảo đảm không khí trangnghiêm của một phiên tòa hình sự, không tạo ra tâm lý nghi ngại cho ngờitham gia tố tụng hình sự
Trang 24Nguyên tắc này đã đợc quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988
Không ai có thể bị coi là có tội và phai chịu hình phạt khi ch
kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật ” Tiếc rằng hàng chục năm qua
nhiều phiên toà vẫn diễn ra trong không khí nh trên Không khí ấy đã trởthành tiềm thức của ngời dân tham dự phiên toà và họ nghĩ rằng đó là cungcách tiến hành một phiên xét xử đối với tội phạm, rằng tội phạm đáng bị đối
xử nh vậy Ngời tam dự phiên tòa trong nhiều trờng hợp không đồng tìnhvới Hội đồng xét xử nhẹ nhàng khi thẩm vấn, thận trọng khi tranh luận Nếu
có luật s bào chữa cho sự vô tội của bị cáo thì phần lớn trờng hợp bị phản
đối, thận chí bị đe doạ
2.1.2 Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Đây là nguyên tắc chủ đạo trong xét xử của Toà án, không những đốivới vụ án hình sự mà còn đối với các loại án khác Ngày nay hầu nh tất cảcác quốc gia thực hiện nguyên tắc xét xử đợc giao cho các Thẩm phán độclập và chỉ tuân theo pháp luật Trong giai đoạn xây dựng Nhà nớc phápquyền thì nguyên tắc này càng đòi hỏi tôn trọng và thực hiện trên thực tế.Toà án độc lập nh thế nào? Điều 2 Hiến pháp năm 1992 đợc sửa đổi năm
2001 quy định “ tất cả mọi ng… quyền lực nhà n ớc là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nớc trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, t pháp ” Trong điều kiện Toà án phải báo cáo công tác và
chịu sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân đại phơng, thì tính độclập của Toà án rõ ràng bị hạn chế, kèm theo đó là tính độc lập của Thẩmphá Việc xây dựng Nhà nớc pháp quyền đòi hỏi phải tăng cờng tính độclập của Toà án hơn nữa
Bên cạnh việc phải chịu sự giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhândân địa phơng, Toà án còn phải chịu giám sát lãnh đạo của Đảng Đây làmột tất yếu khách quan, vì Đảng cầm quyền phải vạch ra đờng lối cho đấtnớc và nắm đợc hoạt động của bộ máy nhà nớc, Toà án không nằm ngoài số
đó
Đảng lãnh đạo Nhà nớc thông qua đờng lối chính trị và giới thiệu
Đảng viên tham gia vào các chức danh của Nhà nớc Điều này có ảnh hởng
Trang 25đến tình hình độc lập của Thẩm phán khi xét xử Tất nhiên không thể cóToà án phi chính trị, hoạt động của Toà án phải thể hiện bản chất giai cấpsâu sắc Nhng việc tạo ra một cơ chế độc lập cho Thẩm phán trong mối liên
hệ với Đảng cầm quyền là điều cần thiết Mặc dù cấp uỷ Đảng không canthiệp trực tiếp vào việc giải quyết vụ án cụ thể, nhng tuỳ thuộc vào yêu cầu
đấu tranh phòng chống tội phạm ở địa phơng trong từng giai đoạn mà cấp
uỷ đòi hỏi việc xử án hình sự theo hớng nghiêm khắc hơn đối với một số tộiphạm cụ thể Trong trờng hợp này, Thẩm phán vừa phải phục vụ nhiệm vụchính trị ở địa phơng vừa phải căn cứ vào pháp luật để xét xử theo mặt bằngchung ở phạm vi cả nớc Mâu thuẫn này có làm ảnh hởng đến tính độc lậpcủa Thẩm phán
Sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xét xử còn thông qua côngtác tổchức Các Thẩm phán khi bổ nhiệm mới hay tái bổ nhiệm đều phải có
ý kiến thỏa thuận của Ban trờng vụ cấp ủy cho nên họ có thái độ rất thậntrọng khi giữ mối quan hệ với cấp ủy Đảng, một điều ảnh hởnh khá lớn đếntính độc lập của Thẩm phán Hầu hết Thẩm phán là đảng viên và sinh hoạt
đảng phụ thuộc cấp ủy địa phơng thông qua quản lý đảng viên và công tackiểm tra đảng của cán bộ cấp ủy đã tác động gián tiếp đến hoạt động xét xửcủa Thẩm phán Đây là lý do xác đáng để thành lập Tòa án khu vực khôngphụ thuộc vào đơn vị hành chính nh hiện nay
Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật đợc hiểu làpháp luật quy định nh thế nào thì Thẩm phán phải làm và có quyền làm
đúng nh vậy Loại trừ kha năng hiểu sai hoặc cố ý làm trái luật vì đây là vấn
đề năng lực đạo đức nghề nghiệp, phần còn lại không đợc làm đúng phápluật Vấn đề này một phần do tính độc lập của Thẩm phán có lúc cha đợc
đảm bảo, mặt khác do cơ chế vận hành của bộ máy Tòa án Các cấp Tòa án
hiện nay vẫn còn tồn tại việc gọi là duyệt án và thỉnh thị án “ tất cả mọi ng ” “ tất cả mọi ng ” Thực ra
đây là việc cần thiết để ngời lãnh đạo Tòa án nắm bắt đợc nội dung vụ án để
có thể điều hành hoạt động xét xử, cũng là giúp Thẩm phán báo cáo quan
điểm xử lý vụ án trớc ngời có trách nhiệm và rà soát lại quan điểm bằng ýkiến tập thể, thông qua đó mà tránh đợc sai lầm không đáng có Việc làmnày còn có tác dụng hạn chế sự tùy tiện của Thẩm phán Theo luật Tổ chức
Trang 26Tòa án nhân dân thì Chánh án Tòa án nhânh dân địa phơng báo cáo côngtác trớc Hội đồng nhân dân cùng cấp(Điều 31, Điều33) Nếu Chánh ánkhông nắm bắt và chỉ đạo đợc quan điểm xét xử thì không đảm bảo đợcpháp chế thống nhất ngay trong Tòa án cấp mình bởi vì sẽ có đờng lối xử lý
khác nhau giữa các Thẩm phán khác nhau Việc duyệt án “ tất cả mọi ng ” trớc khi xét xử
đơng nhiên và bắt buộc ở các Tòa án nếu xét về lề lối làm việc Nhiều Thẩm
phán cho rằng duyệt án “ tất cả mọi ng ” xong coi nh vụ án đã đợc xử xong và quan điểm
nh vậy là bất di bất dịch Lại có những vị Chánh án thông qua việc duyệt “ tất cả mọi ng
án ” mà áp đặt quan điểm, bắt buộc Thẩm phán phải trung thành với quan
điểm đó Trờng hợp kết quả xét xử khác đi mà không xin ý kiến trở lại trớckhi quyết định đợc xem nh vi phạm quy tắc nghề nhiệp Cả hai thái độ tâm
lý này đều trái với mong muốn của nhà lập pháp khi cố gắng tạo ra khảnăng độc lập và chỉ tuân theo pháp luật cho Thẩm phán và Hội thẩm nhândân
Việc thỉnh thị án “ tất cả mọi ng ” trong xét xử vụ án hình sự trong những năm qua
có giảm so với trớc đây phần vì các quy định của pháp luật đợc ban hành
đầy đủ, văn bản hớng dấn kịp thời, phần khác do năng lực trình độ chuyênmôn của Thẩm phán đợc nâng cao Nhng cho dù ở giai đoạn lịch sử nào thì
thỉnh thị án
“ tất cả mọi ng ” vẫn là điều cần thiết Vì Tòa án cấp trên ngoài việc giám đốc
xét xử Tòa án cấp dới còn có chức năng hớng dẫn và bảo đảm áp dụngthống nhất pháp luật trong ngành và địa phơng của mình (Điều 22, Điều 29Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2002) Khi Tòa án cấp sơ thẩm vớngmắc về căn cứ pháp luật hay quan điểm giải quyết vụ án nh việc có đủ căn
cứ buộc tội, có bị truy tố hay không hoặc có khả năng kết tội gì thì thờng cóbáo cáo xin ý kiếm Tòa án cấp trên Tòa án cấp trên mà trực tiếp những ng-
ời chuyên làm công tác giám đốc thẩm nghiên cứu hồ sơ và đa ra quan
điểm đối với vụ án Quan điểm này đợc khẳng định bởi một tập thể có tráchnhiệm của Tòa án ( ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh) Mặc dù
về nguyên tắc điều đó không phải là bắt buộc nhng nó đợc sử dụng nh một
chiếc gậy chỉ huy
“ tất cả mọi ng ” đối với Thẩm phán hội đông xét xử có tâm lý cho rằng
hớng dẫn của Tòa án cấp trên là đúng đắn và không còn thận trọng cần thiếtkhi đánh giá chứng cứ ở phiên tòa dẫn đến quyết đinh sai lầm bởi vì có
Trang 27những chứng cứ mới xuất hiện mà cấp hớng dấn cha đợc biết Cũng không
ít trờng hợp khi vụ án đợc xét xử lại ở cấp phúc thẩm bởi Tòa án chuyêntrách thì quan điểm bị đánh giá khác so với hớng dẫn của ủy ban Thẩmphán trớc đây, thậm chí chính ủy ban Thẩm phán cũng không đánh giá lạiquan điểm
Nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân “ tất cả mọi ng theo pháp luật ” còn bị ràng buộc bởi mối quan hệ giữa họ với những ngời
tham gia tố tụng Các mối quan hệ xã hội, làng xóm, bạn bè (không thuộctrờng hợp phải từ chối hoặc thay đổi) cũng ảnh hởng rất nhiều đến kết quáet
xử, làm cho Thẩm phán trong nhiều trờng hợp không làm đúng nh quy địnhcủa pháp luật Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử thì hay bị tráchmóc đời thờng Do ảnh hởng bởi các quan hệ xã hội mà xét xử theo hớng
giảm nhẹ đến mức không không tuân theo pháp luật “ tất cả mọi ng ” là điều xảy ra phổ
biến ở các cấp Tòa án nh việc xử dới mức thấp nhất của khung hình phạt,cho hởng án treo mà không có căn cứ Năm 2002 Tòa án nhân dân cấp tỉnh
và Tòa án nhân dân tối cao đã phải hủy để tăng hình phạt chính theo trình tựgiám đốc thẩm với 87 trờng hợp trong cả nớc Theo Báo cáo tổng kết công
tác Tòa án năm 2005 khẳng định Một số tr “ tất cả mọi ng ờng hợp, việc cho bị cáo đợc ởng án treo ở Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm còn thiếu căn cứ” Để
h-giảm bớt áp lực này cho Thẩm phán cần học tập kinh nghiệm của cha ông
là không làm quan ở quê h “ tất cả mọi ng ơng mình, không lấy vợ ở nơi mình làm quan và không làm quan ở đâu quá lâu” Điều này liên quan đến công tác tổ chức
và luân chuyển cán bộ mà Nghị quyết trung ơng 3 khóa VIII của Đảng đã
nêu: Căn cứ nhu cầu công tác, sở tr “ tất cả mọi ng ờng cán bộ, cấp ủy Đảng lập kế hoạch luân chuyển cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý giữa các vùng, các ngành và các cấp nhằm sử dụng hiệu quả và tạo nên sự đồng bộ trong đội ngũ cán bộ ”.
2.1.3 Nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số.
Xét xử tập thể đòi hỏi của nền t pháp dân chủ và trong thực tiễn chabao giời bị vi phạm Nhng việc quyết định theo đa số còn có vấn đề bất cập.Hội thẩm khi tham gia xét xử vì nhận thức sai lầm hay do bị tác động màbiểu quyết không đúng vấn đề đợc quy định, Hội thẩm lại chiếm đa số nên
Trang 28bản án đợc tuyên theo hớng đó Cũng có trờng hợp Thẩm phán vì muốn ápdụng tội danh hay hình phạt nhẹ hơn nhng lai thuyết phục Hội thẩm biểuquyết đa số theo hớng đó, còn bản thâm Thẩm phán thì biểu quyết ngợc lại(nhằm trốn tránh trách nhiệm sau này) để rồi tuyên bản án rõ ràng là khônghợp lý.
Tuyên án theo đa số là cơ chế đơng nhiên của việc xét xử tập thể, nóichung là đa ra kết quả đúng nếu không có sự tác động trái chiều Quyết
định theo đa số cũng có thể dẫn kết quả cha đúng, điều này sẽ đợc khắcphục bằng cấp xét xử cao hơn do chính Thẩm phán, Chủ tọa hay Tòa án cấptrên phát hiện khi kiểm tra giám đốc thẩm Kết luận của Chánh án Toà án
nhân dân tối cao tại Hội nghị tổnh kết ngành Tòa án năm 1990 có nêu: “ tất cả mọi ng Một số vụ án xét xử sai là do có tình trạng Hội thẩm nhân dân có thể và bị tác động không đúng đã buộc Thẩm phán phải tuyên án theo biểu quyết đa
số, Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa không đồng ý với ý kiến bởi vì không
đúng pháp luật, nhng giải thích thuyết phục không đợc” Quan điểm chính
thức của Chánh án Tòa an nhân dân tối cao là bắt buộc Thẩm phán phảituyên án theo đa số vì đó là quy định của pháp luật Nếu Thẩm phán thấy rõràng quyết định nh vậy là sai thì có thể đề nghị Viện kiểm sát kháng nghịtheo trình tự phúc thẩm hay báo cáo Tòa án cấp trên khắc phục sai lầm
2.2 Những quyền hạn và nghĩa vụ cua Thẩm phán khi tham gia xét xử vụ án hình sự.
Thẩm phán với t cách thực hiện chức năng xét xử, thay mặt Hội đồngxét xử tuyên án nhân danh nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyết
định một ngời có tội hay không có tội, quyết định loại và mức hình phạt đốivới ngời có tội Để Thẩm phán có thể thực hiện đợc chức năng này, Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định cụ thể về quyền hạn, trách nhiệmcủa Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ an hình sự
Xuất phát từ những nguyên tắc của Hiến pháp về bảo vệ quyền lợicủa Nhà nớc, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Luật Tố tụnghính sự quy định trình tự xứt xử vụ án hình sự đảm bảo đúng ngời, đúng tội,
đúng pháp luật, Vì vậy, việc xét xử án hình sự có thể trải qua nhiều giai
đoạn khác nhau từ xé xử sơ thẩm đến xét xử phúc thẩm Trờng hợp phát
Trang 29hiện có sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ ánhoặc khi phát hiện những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dungcủa bản án hoặc quyết định mà Tòa án không thể biết đợc khi ra bản ánhoặc quyết định đó thì bản án đã có hiệu lực pháp luật vẫn đợc đa ra xemxét theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm nhằm xác định lại tính có căn
cứ và hợp pháp của bản án hình sự mà Tòa án đã tuyên với ngời phạm tội.Tuy nhiên, không phải tất cả các vụ án hình sự đều trải qua các giai đoạnnói trên Vụ án đa ra xét xử sơ thẩm là bắt buộc, còn xét xử phúc thẩm,giám đóc thẩm, tái thẩm thì tùy thuộc vào những căn cứ của các kháng cáo,kháng nghị theo thẩm quyền và theo luật định để xác định cần thiết haykhông cần thiết viêc Tòa án cấp trên mở phiên tòa xem xét lại bản án hoặcquyết định của Tào án sơ thẩm cha có hiệu lực pháp luật Quyền hạn vàtrách nhiệm của Thẩm phán đợc thể hiện rõ nét ở mỗi trình tự xét xử vụ ánhình sự
2.2.1 Quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán trong quá trình chuẩn bị xét xử.
Chuẩn bị xét xử là bớc cần thiết của giai đoạn xét xử Chuẩn bị xét
xử vụ án hình sự nhằm đa ra những điều kiện đảm bảo cho việc xét xử tạiphiên tòa đợc diễn ra thuận lợi, đúng quy định của pháp luật Quá trình nàycũng quyết định rất nhiều đến chất lợng xét xử tại phiên toà
Đối với việc chuẩn bị cho xét xử sơ thẩm vụ án hình sự: Chuẩn bị choviệc xét xử vụ án hình sự nhằm đa ra phiên tòa những việc cha đợc điều tra
đầy đủ hoặc không đợc khởi tố vụ án hình sự Chuẩn bị xét xử đợc bắt đầu
từ khi Tòa án nhận hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng của Viện kiểm sátchuyển sang Thẩm phán đợc phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự cónhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ vụ án trớc khi mở phiên tòa và quyết định mộtloạt các công việc về thủ tục cũng nh nội dung để chuẩn bị tiến tới mởphiên tòa xét xử
Khoản 1, Điều 39, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: Thẩm phán đ “ tất cả mọi ng
-ợc phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự có nhiệm vụ và quyền hạn sau
đây: nghiên cứu hồ sơ vụ án trớc khi mở phiên tòa ”.
Trang 30Khỏa 1, Điều 176, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: Sau khi nhận “ tất cả mọi ng
hồ sơ thụ lý vụ án, Thẩm phán đợc phân công chủ tọa phiên tòa có nhiệm
vụ nghiên cứu hồ sơ, giải quyết các khiếu nại và yêu cầu những ngời tham gia tố tụng và tiến hành nhng việc khác cần thiết cho việc mở phiên tòa ”.
Sau khi hồ sơ vu án đợc thụ lý, Chán án Tòa án phân công ngayThẩm phán là chủ tọa phiên tòa Để đảm bảo cho việc xét xử đúng thẩmquyền, tránh đợc những chi phí không cần thiết, Thẩm phán đợc phân côngchủ tọa phiên tòa sau khi nhân đợc hồ sơ vụ án cần xác định ngay vụ án nàythuộc thẩm quyền xét xử của mình hay không Nếu vụ án thuộc thẩm quyềncủa mình thì tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung Ngợc lại, nếu thấyrằng vụ án này không thuộc thẩm quyền của mình thì đề nghị với Chánh ánTòa án chuyển vụ án cho Tòa án có thẩm quyền
Nghiên cứu hồ sơ vu án và tiến hành đánh giá, đối chiếu với cácchứng cứ đã thu thập đợc trong hồ sơ vụ án vừa có trọng tâm, trọng điểm;vừa tổng quát, toàn diện sẽ giúp cho Thẩm phán xác định đợc phơng hớngxét hỏi, điều tra thêm và đinh hớng việc giải quyết, xét xử vụ án đúng phápluật khi tiến hành công khai
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 176, Bộ luật Tố tụng hình sự năm2003: Trong thời gian ba mơi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, bốnmơi ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, hai tháng đối với tội rất nghiêmtrọng, ba tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận hồsơ vụ án, Thẩm phán đợc phân công Chủ tọa phiên tòa phải ra một trongnhững quyết định nh sau: a) Đa vụ án ra xét xử; b) Trả hồ sơ để điều tra bổsung; c) Đình chỉ vụ án; d) Tạm đình chỉ vụ án
Nếu qua nghiên cứu hồ sơ vụ án mà thấy răng vụ án đủ chứng cứchứng minh tội phạm thì Thẩm phán đợc phân công Chủ tạo phiên tòa
Quyết định đa vụ án ra xét xử: Trong thời hạn mời năm ngày, kể từ ngày có
quyết định đa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trong trờng hợp có
lý do chính đáng thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn ba mơingày Căn cứ vào quyết định đa vụ án ra xét xử, Thẩm phán quyết định triệutập những ngời cần xét hỏi đến phiên tòa
Trang 31Nếu trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, thấy rằng cần phải xemxét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sungtại phiên tòa đợc, hoặc thấy rằng bị cáo phạm tội khác hoặc có đồng phạmkhác, hoặc phát hiện có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục Tố tụng, Thẩm
phán ra Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung Quyết định này đợc gửi
cho Viện kiểm sát Trong thời hạn mời năm ngày sau khi nhân lại hồ sơ từViên kiểm sát, Thẩm phán đợc phân công chủ tọa phiên tòa phải ra quyết
định đa vụ án ra xét xử
Nếu trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, thấy có các căn cứ quy định tại
Điều 160, Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị can bị bện tâm thầm hoặc bệnh hiểmnghèo khác có chứng nhận Hội đồng giám định pháp y hoặc cha xác định
đợc bị cáo hoặc không biết rõ đợc bị cáo đang ở đâu thì Thẩm phán ra
Quyết định tạm đình chỉ vụ án, nếu thấy có: 1 Căn cứ quy định tại Khoản 2
Điều 105, Bộ luật Tố tụng hình sự; 2 Căn cứ quy định tại các điểm: 4, 5, 7
Điều 107, Bộ luật Tố tụng hình sự; 3 Hoặc khi Viện kiểm sát rút toàn bộ
quyết định truy tố trớc khi mở phiên tòa thì Thẩm phán ra Quyết định đình chỉ vụ án.
Đối với việc chuẩn bị xét xử phúc thẩm Thẩm phán Chủ tạo phiêntòa cùng các Thẩm phán khác phải nghiên cứu hồ sơ vụ án Tòa án cấp phúcthẩm xem xét nôi dung kháng cáo, kháng nghị Nếu xét thấy cần thiết thìTòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo,kháng nghị của bản án Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án các Thẩm phán phảinghiên cứu toàn bộ vụ án về chứng cứ cũng nh việc áp dụng pháp luật vànhững vấn đề khác có kháng cáo, kháng nghị cũng nh các vấn đề khôngkháng cáo, kháng nghị vì việc quyết định các vấn đề khác trong cùng một
vụ án liên quan với nhau Để chuển bị cho việc xét xử phúc thẩm, không chỉ
có Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa mà các Thẩm phán khác cũng phải nghiêncứu hồ sơ vụ án Các Thẩm phán không những chỉ kiểm tra những chứng cứ
đã đợc cấp sơ thẩm xem xét mà còn có quyền xem xét chứng cứ mới mà
ng-ời có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị cung cấp và những chứng cứ doViện kiểm sát điều tra bổ sung Trong quá trình chuẩn bị cho việc xét xửphúc thẩm, nếu thấy có các căn cứ của việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ