1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kế toán tiêu thụ hàng bánh kẹo tại Doanh nghiệp tư nhân Hiển Nhung

51 220 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 352,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khoản tiền này được gọi là doanh thu bán hàng, được dùng để bù đắp các khoản chi phí đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh và hình thành nên kết quả của việc tiêu thụ hàng hoá tro

Trang 1

KHOA KẾ TOÁN - KIỂM TOÁN -0о0 -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP(Chuyên ngành kế toán tài chính doanh nghiệp thương mại)

Đề tài :

Kế toán tiêu thụ hàng bánh kẹo tại Doanh nghiệp tư

nhân Hiển Nhung

Giáo viên hướng dẫn : TS Trần Thị Hồng Mai

Trang 2

Hà nội - 2010

Trang 3

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứư đề tài :

Quá trình hội nhập WTO là một thành công lớn, một dấu son quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế nước ta hiện nay Việt nam được đón nhận những mặt hàng từ các nước trên thế giới với mức giá ưu đãi nhất và các doanh nghiệp Việt nam có thêm cơ hội bởi những hợp đồng hợp tác làm ăn từ nhiều bạn hàng trên thế giới Tuy nhiên chính vì có thêm nhiều bạn hàng trên thế giới sẽ kéo theo có nhiều đối thủ cạnh tranh hơn và môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn

vì họ phải từng giây từng phút chạy đua với nhau, chậm một chút thì cơ hội dành cho họ sẽ phải nhường cho đối thủ của mình

Ngày nay, một tổ chức muốn thành công thì sản phẩm và dịch vụ của

họ phải luôn phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng Nghĩa là mọi hoạt động của doanh nghiệp đều phải xuất phát từ nhu cầu.Mà nhu cầu của con người luôn luôn thay đổi theo thời gian, theo mức sống ngày càng cao, theo trình độ nhận thức, an toàn sử dụng, khoa học công nghệ ngày càng phát triển, kỹ năng quản lý thay đổi, ngày càng có nhiều sản phẩm thay thế, người tiêu dùng có nhiều thông tin về thị truờng, chọn lựa…sẽ dẫn đến nhu cầu, thị hiếu, sở thích của người tiêu dùng cũng đa dạng, khác đi.Cùng với sự ra đời của nền kinh tế thị trường đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thương mại phát triển bởi các doanh nghiệp thương mại là cầu nối giữa sản xuất và người tiêu dùng.Quá trình kinh doanh thương mại là quá trình lưu thông hàng hoá trên thị trường, nó bao gồm 3 giai đoạn: mua hàng vào, dự trữ và tiêu thụ thông qua khâu chế biến làm thay đổi hình thái vật chất của hàng hoá Như vậy Tiêu thụ hàng hoá là khâu cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, nó có vị trí đặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp, nó góp phần to lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường hiện nay khâu tiêu thụ hàng hoá của quá trình sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp gắn liền với thị trường, luôn luôn vận động

và phát triển theo sụ biến động phức tạp của các doanh nghiệp Chính vì vậy, công tác tiêu thụ hàng hoá luôn luôn được nghiên cứu, tìm tòi, bổ sung để được

Trang 4

hoàn thiện hơn cả về lý luận lẫn thực tiễn, nhằm mục đích không ngừng nâng cao hiệu quả của kinh doanh, hiệu năng quản lý.

Muốn hoạt động tiêu thụ diễn ra một cách thuận lợi doanh nghiệp phải có chiến lược tiêu thụ hợp lý Bên cạnh đó, tổ chức công tác kế toán tốt là một trong những yếu tố tạo nên hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh à giúp doanh nghiệp vững vàng phát triển.Do đó, em đã lựa chọn

và nghiên cứu đề tài: “Kế toán tiêu thụ hàng bánh kẹo tại doanh nghiệp tư nhân Hiển Nhung” vừa có ý nghĩa về mặt lý luận vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn với

hy vọng đề tài của mình có thể giúp ích không chỉ cho doanh nghiệp mà còn cho nhiều doanh nghiệp khác đang gặp khó khăn trong kinh doanh tìm được hướng đi đúng đắn cho doanh nghiệp của mình

1.3 Mục tiêu nghiên cứư đề tài:

- Hệ thống hoá lý luận về kế toán tiêu thụ

- Khảo sát và phân tích thực trạng kế toán tiêu thụ hàng bánh kẹo tại Doanh nghiệp tư nhân Hiển Nhung

- Đánh giá và đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán tiêu thụ hàng bánh kẹo tại Doanh nghiệp tư nhân Hiển Nhung

1.4 Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài hướng tới công tác kế toán tiêu thụ đối với mặt hàng bánh kẹo của doanh nghiệp tư nhân Hiển Nhung trong quý I năm 2010 Vì vậy việc hoàn thiện kế toán tiêu thụ cũng hướng tới hoàn thiện công tác kế toán bán hàng đối với mặt hàng bánh kẹo của doanh nghiệp tư nhân Hiển Nhung

1.5 Một số khái niệm và phân định nội dung kế toán tiêu thụ:

1.5.1 Một số khái niệm:

Trang 5

* Khái niệm tiêu thụ hàng hoá:

Tiêu thụ hàng hoá là quá trình trao đổi để thực hiện giá trị của hàng hoá, tức là chuyển hoá vốn của doanh nghiệp từ trạng thái của vật chất tiền tệ và hình thành kết quả của bán hàng, trong đó doanh nghiệp giao hàng cho khách hàng và khách hàng trả tiền cho doanh nghiệp theo giá thoả thuận Thông qua quá trình tiêu thụ, nhu cầu của người sử dụng một phần nào đó được thoả mãn và giá trị của hàng hoá đó được thực hiện

Quá trình tiêu thụ cơ bản được chia làm hai giai đoạn:

- Giai đoạn thứ nhất: Đơn vị bán xuất giao hàng cho đơn vị mua thông qua hợp đồng kinh tế đã được ký Đây là quá trình vận động của hàng hoá nhưng chưa xác định được kết quả của việc bán hàng

- Giai đoạn thứ hai: Khi khách hàng nhận được hàng theo đúng chủng loại trên hợp đồng kinh tế, khách hàng trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền Đến đây quá trình bán hàng kết thúc, hàng hoá được coi là tiêu thụ và hình thành kết quả kinh doanh

Những đặc điểm của quá trình tiêu thụ:

- Có sự thoả thuận giữa người mua, người bán vế số lượng, chất lượng chủng loại của hàng hoá trên cơ sở hợp đồng kinh tế

- Có sự thay đổi quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hoá từ người bán sang người mua thông qua quá trình bán hàng

- Người bán giao cho người mua một lượng hàng hoá và nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán Khoản tiền này được gọi là doanh thu bán hàng, được dùng để bù đắp các khoản chi phí đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh và hình thành nên kết quả của việc tiêu thụ hàng hoá trong kỳ của doanh nghiệp

Tiêu thụ hàng hoá bao gồm:

- Tiêu thụ ra ngoài: là việc bán hàng cho các đơn vị khác hoặc cá nhân trong và ngoài doanh nghiệp

- Tiêu thụ nội bộ: là việc bán hàng giữa các đơn vị thành viên cùng trong tổng công ty, tập đoàn

Trang 6

Khi tiêu thụ hàng hoá được thực hiện thì doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước theo luật định tính trên khối lượng sản phẩm tiêu thụ ra ngoài doanh nghiệp hoặc tiêu thụ nội bộ.

Giá bán đơn vị sản phẩm là giá bán thực tế ghi trên hoá đơn GTGT, là căn

cứ để tính doanh thu bán hàng thực hiện được trong kỳ

• Các phương thức tiêu thụ hàng hoá: có 4 phương thức hàng hoá chủ yếu:

+ Phương thức tiêu thụ trực tiếp:

Tiêu thụ trực tiếp là phương thức giao hàng cho người mua trực tiếp tại kho (hoặc trực tiếp tại phân xưởng không qua kho) của doanh nghiệp Hàng hoá khi bàn giao cho khách hàng được khách hàng trả tiền hay chấp nhận thanh toán, số hàng hoá này chính thức coi là tiêu thụ thì khi đó doanh nghiệp bán hàng mất quyền sở hữu về số hàng hoá đó Phương thức này bao gồm bán buôn, bán lẻ:

- Bán buôn: là quá trình bán hàng cho các đơn vị sản xuất các đơn vị kinh doanh thương mại để tiếp tục đưa vào quá trình sản xuất, gia công chế biến tạo ra sản phẩm mới hoặc tiếp tục được chuyển bán Do đó đối tượng của bán buôn rất đa dạng và phong phú có thể là cơ sở sản xuất, đơn vị kinh doanh thương mại trong nước và ngoài nước hoặc các công ty thương mại tư nhân

Đặc trưng của phương thức này là kết thúc nghiệp vụ bán hàng, hàng hoá vẫn nằm trong lĩnh vực lưu thông, chưa đi vào lĩnh vực tiêu dùng Hàng bán theo phương thức này thường là với khối lượng lớn và nhiều hình thức thanh toán

Do đó muốn quản lý tốt thì phải lập chứng từ cho từng lần bán

Khi thực hiện bán hàng, bên mua sẽ có người đến nhận hàng trực tiếp tại kho của doanh nghiệp Khi người nhận đủ số hàng và ký xác nhận trên chứng từ bán hàng thì số hàng đó không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nữa mà được coi là hàng đã bán Khi bên mua trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán thì doanh nghiệp hạch toán vào doanh thu và doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa

vụ Nhà nước

Trang 7

Chứng từ kế toán sử dụng là hoá đơn GTGT hoặc phiếu xuất kho do doanh nghiệp lập, chứng từ này được lập thành 3 liên: 1 liên giao cho người nhận hàng, 2 liên chuyển cho phòng kế toán để làm thủ tục thanh toán

- Bán lẻ: Theo hình thức này, hàng hoá được bán trực tiếp cho người tiêu dùng, bán lẻ là giai đoạn cuối cùng của quá trình vận động hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng Đối tượng của bán lẻ là mọi cá nhân trong

và ngoài nước muốn có một giá trị sử dụng nào đó không phân biệt giai cấp, quốc tịch

Đặc trưng của phương thức bán lẻ là kết thúc nghiệpvụ bán hàng thì sản phẩm rời khỏi lĩnh vực lưu thông đi vào lĩnh vực tiêu dùng giá trị sử dụng của sản phẩm được thực hiện Hàng bán lẻ thường có khối lượng nhỏ, và thanh toán ngay và thường bằng tiền mặt nên thường ít lập chứng từ cho từng lần bán Bán

lẻ được chia làm 2 hình thức:

+ Bán lẻ thu hồi trực tiếp

+ Bán lẻ thu hồi tập trung

+ Phương thức tiêu thụ theo phương thức chuyền hàng chờ chấp nhận:

Căn cứ vào hợp đồng đã ký, đến ngày giao hàng, doanh nghiệp sẽ xuất kho chuyển hàng cho bên mua bằng phương tiên của mình hoặc đi thuê ngoài đến địa điểm đã ghi trong hợp đồng, chi phí vận chuyển này do bên nào chịu tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của hai bên được ghi trong hợp đồng kinh tế Hàng gửi

đi bánvẫn thuộc quyền sở hữư của doanh nghiệp Khi người mua thông báo đã được nhận hàng và chấp nhận thanh toán thì số hàng đó được coi là tiêu thụ, doanh nghiệp hạch toán vào doanh thu

Chứng từ sử dụng trong trường hợp này là hoá đơn GTGT hoặc hoá đơn kiêm phiếu xuất kho do doanh nghiệp lập, chứng từ này được lập thành 4 liên: l liên gửi cho người mua, 2 liên gửi cho phòng kế toán để làm thủ tục thanh toán, 1 liên thủ kho giữ

+ Phương thức bán hàng qua các đại lý (ký gửi)

Hàng hoá gửi bán đại lý bán vẫn thuộc quyền sở hữư của doanh nghiệp và chưa được coi là tiêu thụ Doanh nghiệp chỉ được hạch toán vào doanh thu khi bên nhận đại lý thanh toán tiền hoặc chấp nhận thanh toán Khi bán được hàng

Trang 8

thì doanh nghiệp phải trả cho người nhận đại lý một khoản tiền gọi là hoa hồng Khoản tiền này đuợc coi như một phần chi phí bán hàng và được hạch toán vào tài khoản bán hàng.

Doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp thuế tiêu thụ mà không được trừ đi phần hoa hồng trả cho bên nhận đại lý

*Các trường hợp hàng hoá gửi đi được coi là tiêu thụ:

- Hàng hoá bán xuất hiện trong phương thức bán hàng trực tiếp

- Hàng hoá gửi bán chỉ được coi là tiêu thụ và hạch toán vào doanh thu hàng gửi bán trong các trường hợp sau:

+ Doanh nghiệp nhận được tiền do khách hàng trả

+ Khách hàng đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán

+ Khách hàng đã ứng trước số tiền mua hàng về số hàng sẽ chuyển đến.+ Số hàng gửi bán áp dụng phương thức thanh toán theo kế hoạch thông qua ngân hàng

+Phương thức bán hàng trả góp:

Theo phương thức này, khi giao hàng cho người mua thì lượng hàng chuyển giao được coi là tiêu thụ và doanh nghiệp mất quyền sở hữu lượng hàng

đó Theo phương thức này người mua sẽ trả tiền nhiều lần theo hợp đồng ban đầu

và giá bán bao giờ cũng cao hơn giá bán theo phương thức thông thường Phần chênh lệch này chính là tiền lãi phát sinh do khách hàng trả chậm, trả nhiều lần,

số tiền lãi này sẽ được hạch toán vào tài khoản thu nhập của hoạt động tài chính Doanh nghiệp bán hàng được phản ánh ngay tại thời điểm giao hàng cho khách hàng theo giá bán lẻ bình thường Người mua sẽ thanh toán lần đầu tại thời điểm mua Số tiền còn lại người mua chấp nhận thanh toán dần ở các kỳ tiếp theo và phải chịu một tỷ lệ lãi suất nhất định Thông thường số tiền thanh toán ở các kỳ bằng nhau, trong đó một phần là doanh thu gốc, một phần là lãi suất trả chậm

+Phương thức tiêu thụ nội bộ:

Tiêu thụ nội bộ là việc mua bán sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ giữa các đơn vị chính với các đơn vị trực thuộc hay giữa các đơn vị trực thuộc với nhau trong cùng một công ty, tập đoàn, liên hiệp các xí nghiệp… Ngoài ra tiêu thụ nội

Trang 9

bộ còn bao gồm các khoản sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ xuất biến, tăng, xuất trả lương, thưởng, xuất dùng cho hoạt động sản xuất

Bán hàng là khâu cuối cùngho trong quá trình hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp thương mại, nó chính là quá trình chuyển giao quyền sở hữu về hàng hoá từ tay người bán sang tay người mua để nhận quyền sở hữu tiền tệ hoặc quyền được đòi tiền ở người mua

Về mặt kinh tế, bản chất của bán hàng chính là sự thay đổi hình thái giá trị của hàng hoá Hàng hoá của doanh nghiệp chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ lúc này doanh nghiệp kết thúc một chu kỳ kinh doanh tức là vòng chu chuyển vốn của doanh nghiệp được hoàn thành

Về mặt tổ chức kỹ thuật, bán hàng là quá trình kinh tế bao gồm từ việc tổ chức đến thực hiện trao đổi mua bán hàng hoá thông qua các khâu nghiệp vụ kinh tế

kỹ thuật, các hành vi mua bán cụ thể nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của doanh nghiệp trong việc thực hiện mục tiêu của mình cũng như đáp ứng cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng xã hội

* Kế toán nghiệp vụ bán hàng:

Bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình kinh doanh của một doanh nghiệp thương mại, nó có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.Vì vậy để quản lý tốt nghiệp vụ này, kế toán nghiệp vụ bán hàng cần phải thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

- Ghi chép và phản ánh chính xác kịp thời tình hình bán hàng cả doanh nghiệp cả

về số lượng, cả về trị giá theo từng mặt hàng, nhóm hàng

- Phản ánh và giám đốc chính xác tình hình thu hồi tiền, tình hình công nợ và thanh toán công nợ phải thu ở người mua

- Tính toán chính xác giá vốn hàng hoá tiêu thụ, từ đó xác định kết quả bán hàng

- Cung cấp những thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ phận liên quan, trên cơ

sở đó có những biện pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động kinh doanh, giúp cho ban giám đốc nắm được thực trạng, tình hình tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp mình và kịp thời có những chính sách điều chỉnh thích hợp với thị trường Định kỳ tiến hành phân tích kinh tế đối với hoạt động bán hàng, thu nhập và phân phối kết quả của doanh nghiệp

Trang 10

1.5.2 Phân định nội dung nghiên cứu:

1.5.2.1 Qui định Kế toán bán hàng theo chuẩn mực kế toán:

- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ

- Bảng kê bán lẻ hàng hoá

- Hoá đơn cước phí vận chuyển

- Hoá đơn thuê kho, thuê bãi, thuê bốc dỡ hàng hoá trong quá trình bán hàng

- Hợp đồng kinh tế với khách hàng

- Các chứng từ phản ánh tình hình thanh toán

- Phiếu thu, phiếu chi

- Giấy báo nợ, báo có của ngân hàng

* Tài khoản sử dụng:

Kế toán nghiệp vụ bán hàng trong doanh nghiệp thương mại sử dụng các tài khoản sau:

• Tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”

Tài khoản này dùng để phản ánhdoanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của

DN trong kỳ

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có)

Kết cấu tài khoản:

Bên nợ:

Trang 11

- Thuế XK, Thuế TTĐB của số hàng tiêu thụ

- Thuế GTGT phải nộp của DN tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp

- Doanh thu bán hàng bị trả lại kết chuyển cuối kì

- Giảm giá hàng bán kết chuyển cuối kì

- Cuối kì kết chuyển doanh thu thuần vào TK xác định kết quả

Bên có: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thực tế phát sinh trong kỳTài khoản này cuối kì không có số dư

Tài khoản 511 được chi tiết thành 5 tài khoản cấp 2:

- TK 511 “ Doanh thu bán hàng hoá”

- TK 5112 “Doanh thu bán thành phẩm”

- TK 5113 “ Doanh thu cung cấp dịch vụ”

- TK 5114 “ Doanh thu trợ cấp, trợ giá”

- TK 5117 “Doanh thu kinh doanh bất động sản”

• Tài khoản 512 “ Doanh thu nội bộ”

Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu của số sản phẩm, hàng hoá, dịch

vụ tiêu thụ nội bộ doanh nghiệp

Doanh thu tiêu thụ nội bộ là số tiền thu được do bán hàng hoá, sản phẩm, cung cấp dịch vụ tiêu thụ nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng một công ty, tổng công ty

Kết cấu của tài khoản 512 tương tự như tài khoản 511

Tài khoản 512 có các tài khoản cấp hai sau:

- TK 5121 “Doanh thu bán hàng hoá”

- TK 5122 “Doanh thu bán các thành phẩm”

- TK 5123 “Doanh thu cung cấp dịch vụ”

• Tài khoản 521 “Chiết khấu thương mại”

Tài khoản này dùng để phản ánh khoản chiết khấu thương mại mà doanh nghiệp đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do người mua đã mua hàng của doanh nghiệp với số lượng lớn theo thoả thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc các cam kết về mua, bán hàng

Kết cấu tài khoản:

Trang 12

Bên nợ: Chiết khấu thương mại phát sinh trong kỳ

Bên có: Cuối kỳ kết chuyển toàn bộ số chiết khấu thương mại phát sinh trong

kỳ sang tài khoản 511 để xác định doanh thu thuần

Tài khoản này cuối kỳ không có số dư

Tài khoản 521 có 3 tài khoản cấp 2:

- Tài khoản 5211 “Chiết khấu hàng hoá”

- Tài khoản 5212 “Chiết khấu thành phẩm”

- Tài khoản 5213 “Chiết khấu dịch vụ”

• Tài khoản 531 “Hàng bán bị trả lại”

Tài khoản này sử dụng để phản ánh doanh thu của số hàng hoá đã được xác định là tiêu thụ nhưng vì lí do về chất lượng, mẫu mã, quy cách mà người mua từ chối thanh toán và trả lại cho doanh nghiệp

Kết cấu tài khoản:

Bên nợ: Phản ánh doanh thu của số hàng hoá đã xác định tiêu thụ bị khách hàng trả lại

Bên có: Cuối kỳ kết chuyển doanh thu của sản phẩm hàng hoá đã tiêu thụ bị trả lại trong kỳ để xác định doanh thu thuần

Tài khoản này không có số dư cuối kỳ

• Tài khoản 532 “Giảm giá hàng bán”

Tài khoản này được sử dụng để phản ánh khoản người bán giảm trừ cho người mua do hàng hoá kém phẩm chất, sai quy cách hoặc quá thời hạn ghi trên hợp đồng hoặc hàng hoá bị lạc hậu thị hiếu

Kết cấu tài khoản:;

Bên nợ: Phản ánh khoản giảm giá hàng bán

Bên có: Cuối kỳ kết chuyển toàn bộ số giảm giá hàng bán phát sinh trong kỳ (tính theo doanh thu bán hàng) sang tài khoản 511 để xác định doanh thu thuần

Tài khoản 532 cuối kỳ không có số dư

• Tài khoản 157 “Hàng gửi bán”

Tài khoản này được sử dụng để phản ánh trị giá của hàng hoá gửi cho người mua, giao cho các cơ sở đại lý chưa được chấp nhận thanh toán

Trang 13

Kết cấu tài khoản:

Bên nợ: Phản ánh trị giá thực tế của hàng hoá gửi bán hoặc gửi đại lý bánBên có: Phản ánh trị giá thực tế của số hàng gửi cho người mua, cho các cơ

sở đại lý đã xác định tiêu thụ

Số dư nợ:

- Phản ánh trị giá hàng hoá gởi bán chưa được xác định tiêu thụ đến cuối kỳ

- Phản ánh trị giá hàng bán bị trả lại nhờ bên mua giữ hộ

• Tài khoản 632 “Giá vốn hàng bán”

Tài khoản này được sử dụng để phản ánh trị giá thực tế của số sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đã được xác định tiêu thụ

Kết cấu tài khoản:

Bên nợ:

- Phản ánh giá vốn của sản phẩm hàng hoá tiêu thụ trong kỳ

- Sổ trích lập chênh lệch dự phòng giảm giá hàng tồn kho năm nay cao hơn năm trước

- Trị giá sản phẩm, hàng hoá hao hụt, mất mát sau khi trừ phần cá nhân bồi thường

• Tài khoản 131 “Phải thu của khách hàng”

Tài khoản này được sử dụng để phản ánh số tiền mà doanh nghiệp phải thu của khách hàng do bán chịu hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ và tình hình thanh toán các khoản phải thu của khách hàng Ngoài ra tài khoản 131 còn được sử dụng để phản ánh số tiền doanh nghiệp nhận ứng trước của khách hàng

Kết cấu tài khoản:

Bên nợ:

Trang 14

- Số tiền phải thu của khách hàng về việc bán chịu hàng hoá, sản phẩm trong kỳ.

- Số tiền thừa trả lại khách hàng

Bên có:

- Số tiền khách hàng trả nợ

- Số tiền doanh nghiệp nhận ứng trước của khách hàng

- Khoản giảm trừ tiền hàng cho khách sau khi đã xác định tiêu thụ (giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, chiết khấu thương mại)

- Chiết khấu thanh toán dành cho người mua

Số dư nợ: Số tiền còn phải thu của khách hàng

Số dư có (nếu có): - Số tiền nhận ứng trước của khách hàng

- Số tiền đã thu nhiều hơn số phải thu

Khi lên bảng cân đối kế toán, không được bù trừ số dư nợ và số dư có của tài khoản 131 Số dư nợ được phản ánh ở chỉ tiêu bên tài sản, còn số dư có được phản ánh ở chỉ tiêu bên nguồn vốn

Ngoài ra kế toán nghiệp vụ bán hàng còn sử dụng một số tài khoản sau:

- TK 333 “Thuế và các khoản phải nộp nhà nước”

1.5.2.2 Kế toán bán hàng theo chế độ kế toán hiện hành:

- Giấy báo có của ngân hàng, phiếu thu…

* Các tài khoản kế toán sử dụng:

- TK 511

Trang 15

* Hình thức sổ kế toán: Tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh mà doanh nghiệp

lựa chọn hình thức kế toán phù hợp đáp ứng yêu cầu công tác quản lý , công tác

kế toán và trình độ của đội ngũ nhân viên kế toán.Doanh nghiệp có thể áp dụng một trong bốn hình thức sổ sách kế toán sau :

 Hình thức nhật ký sổ cái : Đặc trưng cơ bản của hình thức sổ kế toán

nhật ký sổ cái là:các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được kết hợp ghi chép theo trình

tự thời gian và theo nội dung kinh tế trên cùng một quyển sổ kế toán tổng hợp duy nhất là nhật ký sổ cái.Căn cứ để ghi vào sổ nhật ký sổ cái là các chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp chứng từ gốc.Hình thức nhật ký sổ cái có ưu điểm là đơn giản,dễ ghi chép và không đòi hỏi trình độ chuyên môn cao nhưng chỉ thích hợp đối với các doanh nghiệp nhỏ,ít tài khoản kế toán

Sơ đồ 1: Trình tự ghi chép sổ kế toán nghiệp vụ bán hàng theo hình

thức nhật ký sổ cái.

Trang 16

Ghi hàng Ngày (Định Kỳ)Ghi Cuối Tháng Hoặc định kỳĐối chiếu

+ Hình thức chứng từ ghi sổ: Đặc trưng cơ bản của hình thức sổ kế toán này

là : căn cứ trực tiếp để ghi sổ kế toán tổng hợp là chứng từ ghi sổ.Hình thức này

có đặc điểm là tách rời việc ghi sổ theo thời gian và việc ghi sổ theo tài khoản trên hai loại sổ khác nhau.Việc ghi sổ kế toán tổng hợp bao gồm :

- Ghi theo trình tự thời gian trên sổ đăng ký chứng từ ghi sổ

-Ghi theo nội dung kinh tế trên sổ cái Các loại sổ sử dụng trong hình thức này bao gồm: Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, sổ cái,các sổ,thẻ kế toán chi tiết

Hình thức này thích hợp với mọi loại hình đơn vị, thuận tiện cho việc áp dụng máy tính.Tuy nhiên việc ghi chép bị trùng lặp nhiều do chứng từ ghi sổ phải lập nhiều, số lượng công tác kế toán ghi chép nhiều nên việc lập báo cáo dễ

bị chậm trễ, nhất là trong điều kiện thủ công

Ctừ Bán Hàng

Sổ Quỹ

Bảng tổng hợp Ctừ Gốc

Nhật ký-Sổ cái

Báo Cáo Tài Chính

Các sổ chi tiết bán hàng

Bảng Tổng Hợp chi tiết

Trang 17

Sơ đồ 2: Trình tự ghi chép sổ kế toán nghiệp vụ bán hàng theo hình

Ghi hàng ngày (Định kỳ)

Ghi cuối tháng (Định kỳ )

Đối chiếu kiểm tra

Hình thức nhật ký chung: Đặc trưng cơ bản của hình thức sổ kế

toán này là:tất cả các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh đều phải được ghi vào

sổ nhật ký theo trình tự thời gian phát sinh nghiệp vụ và định khoản nghiệp vụ đó

, sau đó lấy số liệu trên các nhật ký để ghi sổ cái theo trình tự nghiệp vụ phát sinh

Các loại sổ sử dụng : Sổ nhật ký chung , sổ cái , các sổ , thẻ kế toán chi tiết

Hình thức này có thể vận dụng cho bất kỳ một loại hình doanh nghiệp

nào.Ghi chép đơn giản, thuận tiện cho việc sử dụng máy tính.Nhưng việc kiểm

tra đối chiếu phải dồn nén đến cuối kỳ nên thông tin kế toán có thể không được

Sổ Cái

Bảng cân đối số p.sinh

Báo Cáo Tài Chính

Các Sổ Chi Tiết bán hàng

Bảng tổng hợp chi tiết

Sổ Quỹ

Sổ Đăng Ký

CTGS

Trang 18

Ghi hàng ngày ( Hoặc Định kỳ )

Ghi cuối tháng (Hoặc Định kỳ )Đối chiếu

Hình thức nhật ký chứng từ: Hình thức này thích hợp với các

doanh nghiệp lớn,số lượng nghiệp vụ nhiều.Việc kiểm tra đối chiếu được tiến

hành ngay trên các sổ kế toán.Việc lập báo cáo được kịp thời.Tuy nhiên nó đòi

hỏi trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán phải cao,mặt khác mẫu số phức tạp

không thuận tiện cho việc áp dụng máy vi tính vào công tác kế toán.Hình thức

này có các loại sổ :

- Nhật ký chứng từ, Bảng kê, Sổ cái, Sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết

- Trình tự ghi sổ:Hàng ngày căn cứ vào chứng từ gốc và các bảng phân bổ

để ghi vào các Nhật ký

-Chứng từ, bảng kê, sổ chi tiết có liên quan.Cuối tháng khoá sổ, cộng số liệu

trên các nhật ký chứng từ, kiểm tra, đối chiếu số liệu trên các Nhật ký

-Chứng từ với các sổ kế toán chi tiết, bảng tổng hợp chi tiết có lien quan và

lấy số liệu tổng cộng của các Nhật ký

-Chứng từ vào sổc cái.Đối với kế toán nghiệp vụ bán hàng gồm có các sổ

tổng hợp và các sổ chi tiết sau:

+Bảng kê số 8 “Bảng kê nhập xuất, tồn kho hàng hoá”

+Bảng kê số 11 “Bảng kê thanh toán với người mua”

Chứng Từ bán hàng

Sổ nhật ký chung và các sổ nhật ký đặc biệt khác

Bảng tổng hợp chi tiết

Sổ nhật ký bán

hang,nhật ký thu

tiền

Trang 19

+Bảng kê số 10 “Bảng kê hàng gửi đi bán”

+Bảng kê số 5 “Tập hợp chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp ”

+Nhật ký chứng từ số 8

+Sổ cái TK511, 632, 641, 642, 911…

Ngoài ra kế toán còn sử dụng một số Nhật ký

- Chứng từ, bảng kê có lien quan như: Nhật ký chứng từ số1,2 và số10

Sơ đồ 4: Trình tự ghi sổ kế toán nghiệp vụ bán hàng của hình thức nhật

ký chứng từ.

Ghi hàng ngày (Hoặc định kỳ)

Ghi Cuối Tháng (Hoặc Định kỳ)Đối chiếu

Chứng từ gốc và các bảng phân bổ

Các nhật ký chứng từ

có liên quan

Sổ cái các tài khoản có liên quan

Báo cáo tài chính

Các sổ chi tiết bán hàng

Bảng tổng hợp chi tiếtCác bảng kê có

liên quan

Trang 20

CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TIÊU THỤ HÀNG BÁNH KẸO TẠI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN HIỂN NHUNG

2.1 Phương pháp hệ nghiên cứu các vấn đề

2.1.1 Phương pháp thu thập dữ liệu:

Phương pháp thu thập dữ liệu gồm nhiều phương pháp Nhìn chung khi tiến hành thu thập dữ liệu cho một cuộc nghiên cứu, thường phải sử dụng phối hợp nhiều phương pháp với nhau để đạt được hiệu quả mong muốn.Lựa chọn 2 phương pháp tiêu biểu:

Phương pháp phỏng vấn cá nhân trực tiếp (personal interviews):

- Nội dung phương pháp: Nhân viên điều tra đến gặp trực tiếp đối tượng được điều tra để phỏng vấn theo một bảng câu hỏi đã soạn sẵn

Áp dụng khi hiện tượng nghiên cứu phức tạp, cần phải thu thập nhiều dữ liệu; khi muốn thăm dò ý kiến đối tượng qua các câu hỏi ngắn gọn và có thể trả lời nhanh được

- Ưu nhược điểm:

Do gặp mặt trực tiếp nên nhân viên điều tra có thể thuyết phục đối tượng trả lời, có thể giải thích rõ cho đối tượng về các câu hỏi, có thể dùng hình ảnh kết hợp với lời nói để giải thích, có thể kiểm tra dữ liệu tại chỗ trước khi ghi vào phiếu điều tra Tuy nhiên chi phí cao, mất nhiều thời gian và công sức

Tiến hành ở doanh nghiệp em đã đưa ra một số câu hỏi cho các nhân viên

kế toán trong doanh nghiệp và đã nhận được sự ủng hộ cao của mọi người

2.1.2 Phương pháp phân tích dữ liệu:

Chủ yếu dữ liệu được sử dụng là tài liệu của Doanh nghiệp, đặc biệt là báo cáo tài chính của doanh nghiệp Thông qua đó ta phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp

Phân tích báo cáo tài chính xét theo nghĩa khái quát đề cập tới nghệ thuật phân tích và giải thích các báo cáo tài chính Để áp dụng hiệu quả nghệ thuật này đòi hỏi phải thiết lập một quy trình có hệ thống và logic, có thể sử dụng làm cơ sở

Trang 21

cho việc ra quyết định Trong phân tích cuối cùng, việc ra quyết định là mục đích chủ yếu của phân tích báo cáo tài chính.

Có hai mục đích hoặc mục tiêu trung gian trong phân tích báo cáo tài chính, đồng thời là mối quan tâm cho mọi nhà phân tích thông minh

- Thứ nhất, mục tiêu ban đầu của việc phân tích báo cáo tài chính là nhằm để

"hiểu được các con số" hoặc để "nắm chắc các con số", tức là sử dụng các công

cụ phân tích tài chính như là một phương tiện hỗ trợ để hiểu rõ các số liệu tài chính trong báo cáo Như vậy, người ta có thể đưa ra nhiều biện pháp phân tích khác nhau nhằm để miêu tả những quan hệ có nhiều ý nghĩa và chắt lọc thông tin

từ các dữ liệu ban đầu

- Thứ hai, do sự định hướng của công tác phân tích tài chính nhằm vào việc ra quyết định, một mục tiêu quan trọng khác là nhằm đưa ra một cơ sở hợp lý cho việc dự đoán tương lai Trên thực tế, tất cả các công việc ra quyết định, phân tích tài chính hay tất cả những việc tương tự đều nhằm hướng vào tương lai Do đó, người ta sử dụng các công cụ và kĩ thuật phân tích báo cáo tài chính nhằm cố gắng đưa ra đánh giá có căn cứ về tình hình tài chính tương lai của công ty, dựa trên phân tích tình hình tài chính trong quá khứ và hiện tại, và đưa ra ước tính tốt nhất về khả năng của những sự cố kinh tế trong tương lai

2.2 Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của nhân tố môi trường tới

kế toán tiêu thụ hàng hoá tại Doanh nghiệp Tư nhân Hiển Nhung

2.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán tiêu thụ hàng hoá tại Doanh

nghiệp tư nhân Hiển Nhung

2.2.1.1 Các nhân tố bên trong của doanh nghiệp:

* Quá trình hình thành và phát triển:

Tên công ty: Doanh nghiệp tư nhân Hiển Nhung

Địa chỉ trụ sở chính: Số 54-Vạn An- Thành phố Bắc Ninh

Điện thoại: 02413880596

Doanh nghiệp tư nhân Hiển Nhung được thành lập theo SĐKKD 21.01.000196 D.N.T.N tại Thành phố Bắc Ninh, kinh doanh nhiều nhóm mặt hàng đa dạng cung cấp các dịch vụ tiện ích phục vụ trong và ngoài tỉnh

*Chức năng:

Trang 22

- Đại lý kinh doanh vật liệu xây dựng như sắt, thép, xi măng, gạch xây dựng các loại, buôn bán, thuê và cho thuê máy móc, thiết bị và vật tư chuyên ngành xây dựng, thể dục thể thao, vui chơi giải trí.

- Kinh doanh mua bán cung cấp muối, bột ngọt và các chất phụ gia khác

- Kinh doanh nhà hàng, khách sạn, du lịch, cung cấp các thực phẩm tươi sống phục vụ cho các nhà hàng khách sạn trong và ngoài tỉnh

*Nhiệm vụ: Để đảm bảo thực hiện các chức năng trên Doanh nghiệp đã đề ra một

số nhiệm vụ trước mắt và lâu dài sau:

- Hoàn thành các chỉ tiêu đã đặt ra

- Tiến hành kinh doanh đúng pháp luật, có nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước thực hiện nghiêm chỉnh các hợp đồng kinh tế, hợp đồng mua bán các văn bản mà Doanh nghiệp đã ký kết

- Tự tạo nhiệm vụ, sử dụng nhân viên theo đúng mục đích và có hiệu quả để đảm bảo tự trang trải về mặt tài chính, đảm bảo vốn phục vụ cho hoạt động của Doanh nghiệp không ngừng trệ

- Mở rộng các mặt hàng kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh

- Đổi mới phương thức kinh doanh, đào tạo cán bộ kinh doanh có đủ trình độ và khả năng

*Quy mô:Tổng số vốn điều lệ là 7.000.000.000 đồng ( 7 tỷ Việt Nam Đồng) Vốn điều lệ của công ty được hạch toán thống nhất bằng đơn vị Việt Nam Đồng.Tổng số lao động của doanh nghiệp là 150 nhân viên đều có hợp đồng lao động, hưởng chế độ BHXH, BHYT theo quy chế Doanh nghiệp luôn luôn khích lệ nhân viên bằng các chế độ chính sách đãi ngộ như thưởng, hoa hồng…, động viên kịp thời, đúng lúc góp phần tạo sự an tâm làm việc cho doanh nghiệp

*Đặc điểm sản xuất kinh doanh:

Trong những năm đất nước mới mở cửa buôn bán với sự cạnh tranh mạnh mẽ của nhiều thành phần kinh tế Doanh nghiệp đã khắc phục, phát huy lợi thế để có thể đứng vững trên thị trường đầy biến động, luôn hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch

đã đề ra Để tiếp tục chặng đường phát triển của mình, hiện Doanh nghiệp có những thuận lợi và khó khăn sau:

Thuận lợi:

Trang 23

Doanh nghiệp có lực lượng lao động dồi dào có nhiều kinh nghiệm và nhiệt tình công tác Cán bộ công nhân viên với các bộ phận quản lý, bộ phận kinh doanh được sắp xếp một cách khoa học, hợp lý cùng với sự lãnh đạo của Ban giám đốc

có năng lực KD, từ đó người lao động có thể phát huy hết khả năng của mình vì

sự lớn mạnh của Doanh nghiệp

Doanh nghiệp luôn được sự quan tâm của tỉnh và các ngành có liên qua Doanh nghiệp kinh doanh trên một thị trường đầy tiềm năng phát triển về kinh tế, về du lịch Nhất là vào ngày 18-04 vừa qua tỉnh Bắc Ninh được UNESCO trao bằng văn hoá phi vật thể cho quan họ Bắc Ninh và Ca trù, hứa hẹn tiềm năng du lịch lớn cho tỉnh

Khó khăn:

Nguồn vốn của Doanh nghiệp còn hạn chế chưa đáp ứng đủ nhu cầu kinh doanh của đơn vị- các thiết bị quản lý, phương tiện vận tải quá cũ, lạc hậu Vì vậy việc vận chuyển chưa đáp ứng được nhu cầu về mặt không gian và thời gian cho khách hàng

Các mặt hàng kinh doanh của Doanh nghiệp chịu sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường không chỉ trong nước mà còn với các hàng hoá nhập khẩu đặc biệt là sự tràn lan của hàng hoá rẻ Trung Quốc mẫu mã vừa đẹp, giá thành rẻ khiến nhiều người tiêu dùng tỏ ra quan tâm nhiều hơn

* Đặc điểm tổ chức quản lý của doanh nghiệp:

Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của doanh nghiệp:

Trang 24

Lưu ý: Quan hệ trực tuyến

Phòng kinh doanh: hướng dẫn chỉ đạo các chi nhánh, cửa hàng, xây dựng kế hoạch năm, kế hoạch dài hạn và tổng hợp các báo cáo và tình hình sản xuất kinh doanh trong toàn doanh nghiệp

Trang 25

-Phối hợp các phòng ban trong doanh nghiệp và tổ chức thực hiện có hiệu quả các kế hoạch sử dụng vốn, hàng hoá, kế hoạch tiếp thị, liên doanh liên kết đầu tư dài hạn.

- Trực tiếp triển khai và hướng dẫn các đơn vị thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh nội địa, mở rộng kế hoạch về xuất khẩu, liên kết kinh tế xây dựng cơ bản

-Chuẩn bị thủ tục giúp giám đốc doanh nghiệp giao khách hàng và xét duyệt hoàn thành kế hoạch hàng năm của các chi nhánh, cửa hàng

- Theo dõi công nợ của doanh nghiệp, phản ánh và đề xuất các kế hoạch thu, chi, tiền mặt và các hình thức thanh toán khác Thực hiện quyết toán quý, tháng, năm đúng thời gian Thực hiện các công tác hạch toán kế toán giúp giám đốc doanh nghiệp quản lý chặt chẽ nguồn vốn kinh doanh

- Quản lý và lưu giữ chặt chẽ các sổ sách, chứng từ tài liệu thuộc lĩnh vực tài chính của doanh nghiệp xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ thống kê, kế toán cho đội ngũ cán bộ làm công tác kế toán của doanh nghiệp

Cửa hàng: ở mỗi cửa hàng được bố trí 3 nhân viên Mỗi cửa hàng trưởng chịu trách nhiệm trước giám đốc, phòng kinh doanh về việc tổ chức mua bán, dự trữ hàng hoá Mỗi nhân viên có nhiệm vụ lập đầy đủ các chứng từ nhập kho, xuất kho, viết hoá đơn, bảng kê bán hàng định kỳ gửi lên phòng kế toán doanh nghiệp

và hàng ngày nộp tiền cho thủ quỹ và một người làm nhân viên bán hàng thu tiền Doanh nghiệp có nhiều cửa hàng kinh doanh nhiều mặt hàng đa dạng

Kho: Tại đây hàng hoá được cất giữ và xuất kho cho các cửa hàng, tổ lưu động

và khách hàng khi có yêu cầu của phòng nghiệp vụ Định kỳ nộp các chứng từ nhập và xuất kho hàng hoá lên phòng kế toán Doanh nghiệp có 2 kho

Ngày đăng: 07/04/2015, 17:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Giáo trình Kế toán tài chính trong các doanh nghiệp Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân.Chủ biện: PGS.TS.Nguyễn Thị Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kế toán tài chính trong các doanh nghiệp
Tác giả: PGS.TS.Nguyễn Thị Đông
Nhà XB: Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
1. Giáo trình kế toán tài chính- Đại học Kinh Tế Quốc Dân Khác
2. Giáo trình tổ chức hạch toán kế toán- Đại học Kinh Tế Quốc Dân 3. Chế độ kế toán Việt Nam Khác
6. Hệ thống kế toán doanh nghiệp- Hướng dẫn lập chứng từ kế toán, hướng dẫn ghi sổ kế toán Khác
7. Điều lệ hoạt động Doanh nghiệp tư nhân Hiển Nhung Khác
8. Hệ thống báo cáo và sổ kế toán sử dụng trong Doanh nghiệp Khác
9. Tổ chức và phân công công việc phòng kế toán- Doanh nghiệp tư nhân Hiển Nhung Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức này thích hợp với mọi loại hình đơn vị, thuận tiện cho việc áp  dụng máy tính.Tuy nhiên việc ghi chép bị trùng lặp nhiều do chứng từ ghi sổ  phải lập nhiều, số lượng công tác kế toán ghi chép nhiều nên việc lập báo cáo dễ - Kế toán tiêu thụ hàng bánh kẹo tại Doanh nghiệp tư  nhân Hiển Nhung
Hình th ức này thích hợp với mọi loại hình đơn vị, thuận tiện cho việc áp dụng máy tính.Tuy nhiên việc ghi chép bị trùng lặp nhiều do chứng từ ghi sổ phải lập nhiều, số lượng công tác kế toán ghi chép nhiều nên việc lập báo cáo dễ (Trang 16)
Bảng tổng  hợp Ctừ Gốc - Kế toán tiêu thụ hàng bánh kẹo tại Doanh nghiệp tư  nhân Hiển Nhung
Bảng t ổng hợp Ctừ Gốc (Trang 16)
Sơ đồ 2: Trình tự ghi chép sổ kế toán nghiệp vụ bán hàng theo hình - Kế toán tiêu thụ hàng bánh kẹo tại Doanh nghiệp tư  nhân Hiển Nhung
Sơ đồ 2 Trình tự ghi chép sổ kế toán nghiệp vụ bán hàng theo hình (Trang 17)
Bảng cân đối số phát - Kế toán tiêu thụ hàng bánh kẹo tại Doanh nghiệp tư  nhân Hiển Nhung
Bảng c ân đối số phát (Trang 18)
Sơ đồ 4: Trình tự ghi sổ kế toán nghiệp vụ bán hàng của hình thức nhật - Kế toán tiêu thụ hàng bánh kẹo tại Doanh nghiệp tư  nhân Hiển Nhung
Sơ đồ 4 Trình tự ghi sổ kế toán nghiệp vụ bán hàng của hình thức nhật (Trang 19)
Hình thức ghi sổ kế toán: doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán theo hình - Kế toán tiêu thụ hàng bánh kẹo tại Doanh nghiệp tư  nhân Hiển Nhung
Hình th ức ghi sổ kế toán: doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán theo hình (Trang 27)
Sơ đồ 7: Quy trình luân chuyển chứng từ bán hàng - Kế toán tiêu thụ hàng bánh kẹo tại Doanh nghiệp tư  nhân Hiển Nhung
Sơ đồ 7 Quy trình luân chuyển chứng từ bán hàng (Trang 37)
Bảng kê và Bảng    phân bổ - Kế toán tiêu thụ hàng bánh kẹo tại Doanh nghiệp tư  nhân Hiển Nhung
Bảng k ê và Bảng phân bổ (Trang 41)
Bảng phân bổ - Kế toán tiêu thụ hàng bánh kẹo tại Doanh nghiệp tư  nhân Hiển Nhung
Bảng ph ân bổ (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w