1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá về trách nhiệm của gia đình trong việc bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ em

23 1,2K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá về trách nhiệm của gia đình trong việc bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ em
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 143,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá về trách nhiệm của gia đình trong việc bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ em

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (BVCSGD) là một trong nhữngtruyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, gia đình là tế bào của xã hội, làcái nôi hình thành nhân cách của trẻ , tạo cơ hội cho trẻ em phát triển toàndiện về thể chất và trí tuệ, tinh thần, xứng đáng là chủ nhân tương lai của đấtnước Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội màtrước hết phải là trách nhiệm của gia đình Bên cạch những kết quả đã đạtđược vẫn còn tồn tại những hạn chế trong việc bảo vệ các quyền cơ bản củatrẻ em ở một bộ phận gia đình, do đó việc việc nâng cao trách nhiệm của giađình có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển lành mạnh của trẻ

em Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề này nhóm chúng em xin“Đánh giá

về trách nhiệm của gia đình trong việc bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ em” từ đó đưa ra những phương hướng hoàn thiện vấn đề này.

Khái niệm trẻ em được quốc tế sử dụng thống nhất và đã được đề cập trong Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ năm 1924, Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1959, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1968, Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Công ước Liên hợp quốc

về quyền trẻ em năm 1989, Công ước 138 của Tổ chức lao động quốc tế

(ILO) về tuổi tối thiểu làm việc năm 1976 Ở Việt Nam, từ xưa Luật Hồng

Đức là tên gọi thông dụng của bộ Quốc triều hình luật thời Lê sơ hiện còn

Trang 2

được lưu giữ đầy đủ trong đó có những quy định về quyền trẻ em Tiếp theo phải kể tới Hiến pháp năm 1992, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, Bộ luật hình sự năm 1999 và các vấn đề liên quan tới trẻ em, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Bộ luật lao động liên quan tới trẻ em, Nghị định số 71/2011 NĐ - CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Có thể nói bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em không chỉ là bổn phẩn đạo đức mà còn đựơc nâng lên thành các nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý Nếu như trách nhiệm này được thực hiện tốt ở các gia đình sẽ giảm bớt những gánh nặng cho xã hội và điều quan trọng nhất sẽ hình thành nhân cách tốt đẹp ở trẻ

2 Trách nhiệm của gia đình

Mặc dù là chức năng tự nhiên của gia đình, nhưng Luật bảo vệ, chămsóc và giáo dục trẻ em quy định việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em là tráchnhiệm trước tiên của cha mẹ, người giám hộ Quy định này nhằm đề cao vaitrò của cha mẹ trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em, khắc phục tình trạngcoi nhẹ việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em hoặc khắc phục tập quán chăm sócnuôi dưỡng trẻ em với tâm lý “có gì, hưởng ấy”, làm ảnh hưởng đến sự pháttriển về thể chất, tinh thần của trẻ em

Để cha mẹ thực hiện tốt chức năng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em thìcông tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em phải đẩy mạnh tuyên truyền,vận động để cung cấp kiến thức, kỹ năng trong việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ

em và làm thay đổi hành vi của cha mẹ, đặc biệt đối với thanh niên trước khixây dựng gia đình theo quan niệm "Nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ emcủa cha mẹ còn cao hơn quyền sinh ra chúng"

Gia đình là môi trường của sự phát triển và hạnh phúc của trẻ em, cha

mẹ, các thành viên trong gia đình là nhân tố quyết định và có trách nhiệm tạo

ra môi trường lành mạnh đó Vì vậy, Khoản 2 Điều 24 Luật bảo vệ, chăm sóc

và giáo dục trẻ em quy định “Cha mẹ, người giám hộ, các thành viên lớn tuổikhác trong gia đình phải gương mẫu về mọi mặt cho trẻ em noi theo; có trách

Trang 3

nhiệm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, tạo môitrường lành mạnh cho sự phát triển toàn diện của trẻ em”.

Trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng con là bình đẳng giữa cha và mẹ.Song trên thực tế vẫn có tình trạng một số trẻ em chỉ được cha hoặc mẹ trựctiếp nuôi dưỡng Vì vậy, Khoản 4 Điều 24 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dụctrẻ em quy định “Trong trường hợp ly hôn hoặc các trường hợp khác, ngườicha hoặc người mẹ không trực tiếp nuôi con chưa thành niên phải có nghĩa vụđóng góp để nuôi dưỡng con đến tuổi thành niên, có trách nhiệm chăm sóc,giáo dục con theo quy định của pháp luật”

II Đánh giá trách nhiệm của gia đình trong việc bảo vệ các quyền

cơ bản của trẻ em

Kết quả đạt được

1 Quyền được khai sinh và có quốc tịch

Con người ai cũng mang trong mình những ước mơ, hoài bão Nhữngước mơ đó có thể được hình thành từ khi còn là trẻ nhỏ, giấy khai sinh có ỹnghĩa vô cùng quan trọng để đảm bảo cho những ước mơ đó trở thành hiệnthực mà đầu tiên là được đến trường Khoản 1 Điều 11 Luật bảo vệ, chămsóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốctịch” Theo quy định của pháp luật thì “Cá nhân khi sinh ra có quyền đượckhai sinh" (Điều 29 Bộ Luật Dân sự năm 2005)

Đăng ký khai sinh nhằm xác định họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, nămsinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, quan hệ cha, mẹ, con của một người màđược pháp luật công nhận và làm căn cứ pháp lý chứng minh đó là một cánhân, một chủ thể riêng biệt trong xã hội Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịchgốc của một cá nhân Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về họ,tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc tịch, quan hệcha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó

Khoản 1 Điều 23 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Cha

mẹ, người giám hộ có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn” Theo

Trang 4

quy định, cha mẹ, người giám hộ là người chịu trách nhiệm chính về đăng kýkhai sinh và yêu cầu là việc khai sinh cho trẻ em phải đúng thời gian quyđịnh.

Theo quy định của pháp luật, người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụđăng ký khai sinh khá rộng, bao gồm cá nhân hoặc người được uỷ quyền vànếu người được uỷ quyền là ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, anh chị em củangười uỷ quyền thì không cần phải có văn bản uỷ quyền (Nghị định 83/1998/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch) Điều 14 Nghị định số 158/2005/NĐ-

CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch thì “trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em”.

Tuy nhiên, quyền được khai sinh của trẻ em có được thực hiện hay không,điều đó không do trẻ em mà phụ thuộc vào người lớn có trách nhiệm phảikhai sinh cho trẻ em Trên thực tế, vì nhiều lý do khác nhau mà đã có không ítđứa trẻ mất đi quyền cơ bản đầu tiên này Nhóm em xin đưa ra một số thông

kê : Chỉ tính riêng tại Trung tâm nuôi dạy trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè(TPHCM) đã có 60/379 trẻ em chưa có giấy khai sinh; Trung tâm nuôi dưỡngbảo trợ trẻ em Tam Bình cũng có 20 em chưa có giấy khai sinh Con số đó sẽcao hơn nếu tính hết các trung tâm nuôi dạy bảo trợ trẻ em và các mái ấm, nhà

phục tình trạng chậm đăng ký khai sinh, coi thường thời hạn khai sinh cho trẻ

em, thậm chí còn nhiều trường hợp trẻ em đã được 05 tuổi nhưng vẫn chưa cógiấy khai sinh ở một số địa phương, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ emkhẳng định việc khai sinh phải đúng thời hạn

2 Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng

Điều 12 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cụ thể hóa quy địnhtại Hiến pháp năm 1992 về một trong các quyền cơ bản của trẻ em Đó là

“quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển thể chất, trí tuệ, tinh thần và

Trang 5

đạo đức” Trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng nhằm đáp ứng nhu cầu về vậtchất và tinh thần ở mức cao nhất có thể có, với mức sống ngày càng đượcnâng cao là quyền của trẻ em và mục tiêu phấn đấu chung của gia đình, Nhànước và xã hội Điều 65 Hiến pháp năm 1992 ghi nhận "Trẻ em được giađình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”.

Tuy nhiên cũng tồn tại những con số đáng buồn là tình trạng trẻ emdưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng vẫn còn cao, trung bình gần 30% (nhất là tạicác tỉnh Tây Nguyên và miền núi phía Bắc) Số trẻ nhiễm HIV/AIDS, tínhđến tháng 12-2007, trẻ dưới 13 tuổi chiếm 1,7% (khoảng 2.700 em); trẻ từ 13

- 19 tuổi chiếm 4,5% (khoảng 7.000 em); khoảng 22.000 trẻ mồ côi do bố,

mẹ chết bởi HIV/AIDS Tai nạn thương tích trẻ em xảy ra do rất nhiềunguyên nhân, đặc biệt là tai nạn giao thông (27%), chết đuối (23%) và ngộđộc Một số loại bệnh tật của trẻ em ở lứa tuổi học đường như cận thị, congvẹo cột sống, rối nhiễu tâm trí chưa được các bậc phu huynh chú ý Một sốnhóm đối tượng trẻ em đặc biệt chưa được đưa vào Luật Bảo vệ, chăm sóc vàgiáo dục trẻ em, như trẻ em bị lạm dụng, bạo lực, trẻ em bị tai nạn thươngtích, trẻ em bị ảnh hưởng từ các vụ ly hôn, con nuôi, trẻ em di cư, bị mua bán,trẻ em sống trong các hộ nghèo Vấn đề truyền thông giáo dục, việc phổ biến

kỹ năng bảo vệ và chăm sóc trẻ em ở một bộ phận gia đình còn thiếu chiềusâu, đặc biệt là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa

3 Quyền sống chung với cha mẹ

Điều 13 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em cóquyền sống chung với cha mẹ Không ai có quyền buộc trẻ em phải cách lycha mẹ, trừ trường hợp vì lợi ích của trẻ em” Theo quy định của pháp luật thìcha mẹ có nghĩa vụ và quyền sống chung với con Như vậy, cả cha mẹ và conchưa thành niên đều có quyền sống chung, trừ trường hợp vì lợi ích của trẻem

Quy định này hoàn toàn phù hợp và cụ thể hóa thêm các quy định tạiLuật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành Theo các quy định đó thì:

Trang 6

Quyền sống chung với cha mẹ là quyền tự nhiên, tất yếu và bất khả xâmphạm của mọi trẻ em, kể cả trong trường hợp trẻ em là con riêng của vợ hoặcchồng Trong trường hợp cha mẹ ly hôn, theo quy định tại điều 92 Luật Hônnhân và Gia đình năm 2000, việc giao con chưa thành niên cho cha hoặc mẹchăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt củatrẻ em Về nguyên tắc, trẻ em dưới ba mươi sáu (36) tháng tuổi phải đượcgiao cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng Người không nuôi dưỡng có nghĩa

vụ và quyền thăm nom, chăm sóc con và phải có nghĩa vụ đóng góp nuôidưỡng, giáo dục con

Trường hợp trẻ em được nhận làm con nuôi, thì việc giao nhận connuôi phải tuân theo quy định của pháp luật và phải bảo đảm lợi ích tốt nhấtcủa trẻ em được nhận làm con nuôi Việc nhận trẻ em từ đủ chín tuổi trở lênlàm con nuôi phải được sự đồng ý của trẻ em đó Khoản 2 Điều 25 Luật bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định "Trường hợp trẻ em được nhận làmcon nuôi thì việc giao, nhận trẻ em làm con nuôi, đưa trẻ em ra nước ngoàihoặc từ nước ngoài vào Việt Nam phải tuân theo quy định của pháp luật"

4 Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, nhân phẩm, danh dự

Điều 14 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ emđược gia đình, Nhà nước và xã hội tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể,nhân phẩm và danh dự” Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về các quyềnnày của công dân như sau: Khoản 1 Điều 32 quy định "Cá nhân có quyềnđược bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể"; Điều 37 quy định

“Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luậtbảo vệ” Đây cũng là một trong những quyền cơ bản của công dân đã đượcHiến pháp năm 1992 ghi nhận "Công dân có quyền bất khả xâm phạm vềthân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhânphẩm" (Điều 71)

Các văn bản pháp luật có liên quan đã quy định các quyền được tôntrọng, bảo vệ tính mạng, nhân phẩm, danh dự và các biện pháp chế tài để bảođảm quyền này Chương X Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về người chưa

Trang 7

thành niên phạm tội; Chương XII quy định về các tội xâm phạm tính mạng,sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con người trong đó đã thể hiện nhữngquan điểm nhân đạo, chính sách quan tâm bảo vệ trẻ em và quy định nhữngkhung hình phạt nghiêm khắc đối với những hành vi của người lớn xâmphạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của trẻ em

Tuy nhiên, trong thực tiễn cuộc sống, trẻ em còn nhỏ tuổi và thườngđược coi là người phụ thuộc, nên trong quan hệ của gia đình và xã hội, vẫncòn nhiều cha mẹ, anh chị em và người lớn hay coi thường trẻ em, gọi là “trẻcon”, mắng chửi trẻ em đến mức không tôn trọng nhân phẩm, danh dự của trẻ

em Do vậy, cần tăng cường tuyên truyền, vận động nhằm làm thay đổi quanniệm và hành vi đối xử với trẻ em theo hướng tôn trọng quyền này của trẻem.Tuy nhiên, trong thực tiễn cuộc sống thì việc bảo vệ tính mạng, thân thể,nhân phẩm, danh dự của trẻ em cần thường xuyên được chú trọng để thựchiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn thương tích cho trẻ em Với quanniệm, trẻ em là "trẻ con", "yêu cho roi cho vọt" đã dẫn tới cách xử sự màtrong điều kiện hiện nay được đánh giá là thiếu tôn trọng nhân phẩm, danh dựcủa trẻ em Với lối sống tùy tiện trong sinh hoạt và trong những việc làm cụthể có thể dẫn tới nguy cơ gây tai nạn về tính mạng, nhân phẩm, danh dự củatrẻ em

5 Quyền được chăm sóc sức khoẻ

Khoản 1 Điều 15 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định

“Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ” Khoản 1 Điều 1 Luậtbảo vệ sức khoẻ nhân dân năm 1989 quy định “Công dân có quyền được bảo

vệ sức khoẻ, nghỉ ngơi, giải trí, rèn luyện thân thể; được bảo đảm vệ sinhtrong lao động, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường và được phục vụ vềchuyên môn y tế”

Khoản 1 Điều 27 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định

“Cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm thực hiện những quy định về kiểmtra sức khoẻ, tiêm chủng, khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em” Quy định này

Trang 8

khẳng định trách nhiệm trước tiên thuộc về cha mẹ, người giám hộ và đòi hỏicha mẹ, người giám hộ phải có kiến thức, sự hiểu biết và thực hiện đầy đủcác hướng dẫn, quy định về phòng bệnh và chữa bệnh cho trẻ em.

6 Quyền được học tập

Khoản 1 Điều 16 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định

“Trẻ em có quyền được học tập” Pháp luật nước ta đã khẳng định "Học tập

là quyền và nghĩa vụ của công dân" Mọi công dân không phân biệt điều kiện

và hoàn cảnh đều được bình đẳng về cơ hội học tập, được tạo điều kiện để aicũng được học hành

Khoản 2 Điều 16 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định

“Trẻ em học bậc tiểu học trong các cơ sở giáo dục công lập không phải trảhọc phí” Theo quy định của pháp luật, giáo dục tiểu học là bậc học bắt buộcđối với mọi trẻ em từ sáu tuổi đến mười bốn tuổi (từ lớp 1 đến lớp 5) Vì vậy

" Mọi công dân trong độ tuổi quy định có nghĩa vụ học tập để đạt trình độgiáo dục phổ cập" (Khoản 2 Điều 11 Luật giáo dục năm 2005) Đến năm

2002, đã có 100 % số tỉnh, thành phố hoàn thành giáo dục phổ cập bậc tiểuhọc và 19 tỉnh, thành phố đạt trình độ giáo dục phổ cập bậc trung học cơ sở

"Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện;

có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lýtưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhâncách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc" (Điều 2 Luật giáo dục năm 2005) Với ý nghĩa

đó, trẻ em có quyền được tiếp cận một nền giáo dục cơ bản, có chất lượng đểtrở thành công dân có đức, có tài, nắm chắc khoa học kỹ thuật và công nghệmới phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Khoản 1 Điều 16 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định

“Gia đình, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em thực hiện quyền họctập; học hết chương trình giáo dục phổ cập; tạo điều kiện cho trẻ em theo học

ở trình độ cao hơn”

Trang 9

Theo quy định, trách nhiệm trước tiên thuộc về gia đình mà trực tiếp làcha mẹ, người giám hộ trong việc thực hiện ba nhiệm vụ cụ thể là bảo đảmđiều kiện học tập, học hết chương trình giáo dục phổ cập và điều kiện học ởtrình độ cao hơn đối với trẻ em.

Trách nhiệm của gia đình trong việc bảo đảm điều kiện học tập của trẻnhư chăm sóc, nuôi dưỡng (ăn, mặc, ở, đi lại cho trẻ em); xây dựng gia đìnhvăn hoá (tinh thần thoải mái cho trẻ em); các thành viên trong gia đình gươngmẫu, giúp đỡ, hướng dẫn trẻ em học tập; tạo điều kiện trực tiếp cho trẻ emhọc tập về bảo đảm thời gian học tập ở lớp và tự học ở nhà, cung cấp đủ sách

vở, dụng cụ học tập, bố trí góc học tập, đóng góp các khoản chi phí học tậptheo quy định và phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc giúp đỡ việchọc tập, tu dưỡng đạo đức của trẻ em

Bậc tiểu học là bắt buộc, đây là nghĩa vụ của mỗi công dân, cha mẹ,người giám hộ có trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em học hết chương trình giáodục phổ cập Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sởban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất,thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở

Tri thức là vô hạn, nên nhiệm vụ học, học nữa, học mãi luôn là nghĩa

vụ của công dân, đặc biệt là trẻ em để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhànước ta nhằm tạo ra "một xã hội học tập" Vì vậy, gia đình với vai trò đặc biệtquan trọng phải có trách nhiệm với khả năng cao nhất có thể được để tạo điềukiện cho trẻ em theo học ở trình độ cao hơn Việc học tập của trẻ em khôngchỉ học tập tri thức, kỹ năng mà cả học tập thẩm mỹ, truyền thống, đạo đức,niềm tin và pháp luật thông qua giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình vàgiáo dục xã hội

Hiện nay, việc học tập của trẻ em được gia đình và xã hội đặc biệt quantâm Các bậc phụ huynh đã nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của việc học tậpđối với trẻ Do đó, cha mẹ đã tạo những điều kiện tốt nhất cho việc học tậpcủa trẻ: cho trẻ đi lớp từ khi còn rất nhỏ, theo học những lớp năng khiếu, mua

đồ dùng trang thiết bị phục vụ cho học tập của trẻ…Tuy nhiên, việc nhận thức

Trang 10

tầm quan trọng của việc học đối với trẻ, để từ đó tạo điều kiện tốt nhất cho trẻtrong học tập chỉ được chú trọng tại các thành phố, thị xã nơi có điều kiệnkinh tế - xã hội phát triển; còn tại các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, kinh

tế còn khó khăn, điều kiện vật chất còn thiếu thốn thì nhiều gia đình vẫn coinhẹ việc học tập của trẻ, không tạo điều kiện cho trẻ đi học Ở những vùngnày trẻ em thường phải lao động từ khi còn nhỏ tuổi mà không được đi học.Tâm lý của các bậc phụ huynh thường không muốn cho con đi học vì theo họ,học cũng không để làm gì, chỉ phí cơm gạo ( đặc biệt là với trẻ em gái) Chính

vì vậy, công tác giáo dục ở vùng còn khó khăn cần được đề cao hơn nữa, và

có nhiều biện pháp để thúc đẩy, cũng như để đảm bảo việc thực hiện có hiệuquả quyền học tập của trẻ

7 Quyền vui chơi, hoạt động văn hoá, thể thao

Điều 17 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định “Trẻ em cóquyền vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thểdục, thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi” Vui chơi giải trí là nhu cầu củacon người, song đối với trẻ em thì được pháp luật thừa nhận là một quyền,điều này xuất phát từ đặc điểm của trẻ em và xuất phát từ nhu cầu thực tiễn.Quyền vui chơi giải trí lành mạnh không những là nhu cầu mà còn là điềukiện để trẻ em phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần Thực hiện quyềnvui chơi, giải trí lành mạnh của trẻ em đòi hỏi phải thay đổi quan niệm cũ coi

“vui, chơi, giải trí” là hoạt động của những kẻ “vô công rồi nghề”, những trẻ

“hư”, sang quan niệm mới coi vui chơi, giải trí lành mạnh là một yếu tố để trẻ

em khôn lớn, phát triển tốt hơn về thể chất và tinh thần Các quốc gia trên thếgiới xác định rằng, trong thời đại văn minh trí tuệ thì mọi người, kể cả trẻ em

sẽ phải làm việc nhiều hơn bằng trí óc, làm việc bằng nội lực nhiều hơn laođộng chân tay, nên con người sẽ mỏi mệt hơn, căng thẳng hơn, dễ dẫn đếnstress hơn thì việc vui chơi, giải trí là liều thuốc bổ tạo nên sự thoải mái vềtinh thần, cân bằng về sức khoẻ Vì vậy, thực hiện quyền vui chơi, giải trí củatrẻ em chính là chuẩn bị tâm lý, sự năng động, sự thích nghi trong một xã hộicông nghiệp với hoạt động trí óc là chủ yếu

Trang 11

Vấn đề quan trọng để thực hiện quyền trẻ em về vui chơi, giải trí làviệc tổ chức vui chơi, giải trí một cách khoa học, có văn hoá để mọi trẻ emđều được "chơi mà học, học mà chơi" để trẻ phát triển nhân cách toàn diện.Vui chơi, giải trí gắn liền trong học tập, trong hoạt động văn hoá, nghệ thuật,thể dục, thể thao ở mọi nơi, mọi lúc phù hợp với từng lứa tuổi của trẻ em.Nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của trẻ em và thực hiện quyền trẻ emđược hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao là mục tiêu, biện phápquan trọng của chiến lược con người.

Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, vui chơi, giải tríphải hướng vào mục tiêu bồi dưỡng về trí tuệ, thể lực, đạo đức, tâm hồn, tìnhcảm, lối sống, thế giới quan, nhân sinh quan khoa học, hướng tới chân, thiện,

mỹ Phát huy những giá trị di sản văn hoá, nghệ thuật của dân tộc, đồng thờigiáo dục trẻ em chọn lọc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại Phát hiện và bồidưỡng kịp thời các năng khiếu, tài năng của trẻ em về văn hoá, văn nghệ, thểthao

Các nhà khoa học trên thế giới đều nhất trí rằng, trẻ em phát triển và hìnhthành thể chất, trí tuệ, nhân cách một cách toàn diện một phần là nhờ thamgia các hoạt động vui chơi - giải trí phù hợp Điều 29 Luật Bảo vệ, chăm sóc

và giáo dục trẻ em 2004 đề cập đến trách nhiệm bảo đảm điều kiện vui chơi,giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch như sau:

“1 Gia đình, nhà trường và xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện để trẻ em được vui chơi, giải trí, hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi…”

Hơn nữa, Điều 31 Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em cũng khẳng

định quyền được vui chơi của trẻ em

Nói thế để thấy rằng quyền được vui chơi giải trí, hoạt động văn hóa,nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch của trẻ em là rất quan trọng, ảnh hưởngtrực tiếp đến quá trình phát triển nhân cách cũng như trưởng thành của trẻ.Đối với trẻ em, vui chơi lành mạnh là điều kiện quan trọng và cần thiết giúp

ác em phát triển trí tuệ, rèn luyện kỹ năng sống Tuy nhiên hiện nay sân chơi

Ngày đăng: 03/04/2013, 14:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w