các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Trang 1đề tài nghiên cứu khoa học cấp trờng
Các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Chủ nhiệm
TS Nguyễn Minh Đoan
Những ngời tham gia thực hiện
1 TS Lê Mai Anh- Đại học Luật Hà Nội
2 TS Nguyễn Minh Đoan- Đại học Luật Hà Nội
3 TS Nguyễn Thị Hồi - Đại học Luật Hà Nội
4 TS Lê Vơng Long - Đại học Luật Hà Nội
5 ThS Nguyễn Văn Năm - Đại học Luật Hà Nội
6 PGS TS Thái Vĩnh Thắng - Đại học Luật Hà Nội
7 ThS Đặng Minh Tuấn - Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội
8 ThS Nguyễn Minh Tuấn - Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội
Hà Nội - 2005
Mục lục
Mở đầu
Một số vấn đề lý luận cơ bản về nguyên tắc pháp luật
Khái niệm và đặc điểm của nguyên tắc pháp luật xã hộichủ nghĩa
Các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Namtrong điều kiện đổi mới và hội nhập quốc tế
Các nguyên tắc kinh tế của pháp luật xã hội chủ nghĩa ViệtNam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Các nguyên tắc chính trị của pháp luật xã hội chủ nghĩaViệt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Các nguyên tắc xã hội của pháp luật xã hội chủ nghĩa ViệtNam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Các nguyên tắc đạo đức của pháp luật xã hội chủ nghĩaViệt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Trang 2Các nguyên tắc t tởng của pháp luật xã hội chủ nghĩa ViệtNam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Các nguyên tắc pháp lý của pháp luật xã hội chủ nghĩaViệt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Thực tiễn thực hiện các nguyên tắc pháp luật ở Việt Namhiện nay
Những phơng hớng cơ bản hoàn thiện các nguyên tắc phápluật xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
Những ảnh hởng của quá trình mở cửa, hội nhập và toàncầu hoá đối với các nguyên tắc pháp luật Việt Nam
Danh mục tài liệu tham khảo
A mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Mỗi hệ thống pháp luật đều đợc thiết lập dựa trên hệ các nguyên tắc phápluật nhất định Có thể nói, các nguyên tắc pháp luật nh xơng sống làm giá đỡ chotoàn bộ hệ thống pháp luật Các nguyên tắc pháp luật là những t tởng chỉ đạo nộidung, quá trình xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật Ngoài ra chúng còn cótác dụng nh chất kết dính tạo ra sự liên kết và thống nhất giữa các bộ phận của hệthống pháp luật Vì vậy, việc xác định và thực hiện các nguyên tắc pháp luật xãhội chủ nghĩa phù hợp sẽ có ảnh hởng rất lớn tới hiệu quả của hệ thống pháp luật,tới công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, quyền, lợi ích của nhân dân Ngợc lại,nếu việc xác định hoặc thực hiện các nguyên tắc pháp luật không chính xác,không tốt sẽ có ảnh hởng xấu đến các hoạt động xây dựng, thực hiện pháp luật vàxét đến cùng sẽ ảnh hởng không tốt đến sự phát triển kinh tế, chính trị- văn hoá,xã hội của đất nớc và đời sống của nhân dân
Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế để xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật Việt Nam cho phù hợp với điều kiện và tình hình mới thì trớc hếtphải xác định đúng, chính xác nội dung các nguyên tắc pháp luật Do vậy, việcnghiên cứu những nguyên tắc cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời
kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế là rất cần thiết, góp phần hoàn thiện những t tởng,quan điểm phù hợp để chỉ đạo quá trình xây dựng, hoàn thiện và phát triển hệthống pháp luật cũng nh quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật trong tình hình
và điều kiện mới Khi đã có một hệ thống các nguyên tắc pháp luật phù hợp, cácquy phạm pháp luật sẽ đợc ban hành, thực hiện và áp dụng trên cơ sở của nhữngnguyên tắc đó, và điều đó cũng có nghĩa là hiệu quả điều chỉnh pháp luật sẽ caohơn, công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc sẽ đạt đợc nhiều thành tích hơn vì mụctiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trang 3Các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới
và hội nhập quốc tế đã và đang đợc nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở
những góc độ khác nhau Một số công trình nh: Giáo trình lý luận nhà nớc và pháp luật của Trờng Đại học Luật Hà Nội, Nxb T Pháp 2005; Giáo trình lý luận chung về nhà nớc và pháp luật của Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội 2003; “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Công an nhân dân 2003 của TS Lê
Minh Tâm.v.v đã nghiên cứu, đề cập tới vấn đề này Các công trình nói trên đãtiếp cận và nghiên cứu về các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam ởnhững mức độ khác nhau Tuy nhiên, cha có công trình nào nghiên cứu đầy đủ vàsâu sắc về các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổimới, hội nhập quốc tế, xây dựng nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa
và xây dựng nhà nớc pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
nhà nớc pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Các phơng pháp nghiên cứu đợc chú ý hơn là phơng pháp phân tích, tổnghợp và so sánh
4 Mục đích và phạm vi nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu:
Đề tài đợc nghiên cứu với mục đích tìm hiểu một cách khách quan, khoahọc và tơng đối đầy đủ về những nguyên tắc cơ bản của pháp luật xã hội chủnghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế
Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần hoàn thiện và phát triển hơn lý luận vềnguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa nói riêng, lý luận về nhà nớc và phápluật xã hội chủ nghĩa nói chung, giúp cho việc giảng dạy về bản chất, vai trò vànhững nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới vàhội nhập quốc tế đợc chính xác, khoa học và phù hợp hơn Kết quả nghiên cứucũng đồng thời góp phần để hoạt động thực tiễn xây dựng, thực hiện và bảo vệpháp luật ở nớc ta đúng đắn và có hiệu quả cao hơn trong điều kiện hiện nay
Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài có nội dung nghiên cứu rộng và khá phức tạp, nhng trong khuôn khổcủa một đề tài nghiên cứu khoa học cấp trờng nên các tác giả chỉ tập trungnghiên cứu những nội dung cơ bản sau:
+ Phân tích làm rõ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về các nguyên tắc củapháp luật xã hội chủ nghĩa và những đặc điểm của chúng trong thời kỳ đổi mới
và hội nhập quốc tế của Việt Nam
+ Xem xét thực tiễn thực hiện các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủnghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
+ Phơng hớng hoàn thiện các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩaViệt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
+ Tìm hiểu khái quát nội dung các nguyên tắc cơ bản của pháp luật xã hộichủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Trang 41.1 Khái niệm nguyên tắc pháp luật
Các nguyên tắc pháp luật là những t tởng cơ bản chỉ đạo toàn bộ hoạt
động xây dựng và thực hiện pháp luật của nhà nớc và công dân, t tởng xuyên suốt nội dung của hệ thống pháp luật.
Nguyên tắc pháp luật là những t tởng cơ bản do nhà nớc xây dựng hoặcthừa nhận, do đó phản ánh ý chí của nhà nớc, thuộc khái niệm thợng tầng kiếntrúc Tính cơ bản của những t tởng tạo nên các nguyên tắc pháp luật, song sựphân biệt của nguyên tắc pháp luật so với các nguyên tắc khác là ở chỗ những t t-ởng cơ bản thuộc nguyên tắc pháp luật đặt nền tảng cho toàn bộ hoạt động xâydựng, thực hiện và áp dụng pháp luật
Nguyên tắc pháp luật là nền tảng của hệ thống pháp luật, là sợi chỉ đỏxuyên suốt toàn bộ hệ thống pháp luật Một hệ thống pháp luật từ đơn giản đếnphức tạp, đều đợc thiết lập dựa trên những nguyên tắc pháp luật nhất định Hệthống pháp luật đợc thiết lập dựa trên hệ thống các nguyên tắc pháp luật, do đó,nguyên tắc pháp luật nh hệ thống xơng cốt làm giá đỡ cho toàn bộ hệ thống phápluật Trong hệ thống pháp luật luôn tồn tại những nguyên tắc pháp luật
Montesquieu đã từng viết trong Lời tựa cuốn Bàn về tinh thần pháp luật: “Trớc tiên, tôi xem xét ngời đời, và tôi tin rằng trong vô số luật lệ và phong tục rất khác nhau, con ngời không chỉ tuân theo nó một cách ngẫu hứng.
Tôi đã đề ra những nguyên tắc, tôi thấy các trờng hợp cá biệt đều theo nguyên tắc Lịch sử các dân tộc chỉ là những sự nối tiếp và mỗi luật lệ cá biệt đều liên quan đến một luật lệ khác, hoặc là luật lệ thuộc vào một quy luật chung hơn”1
1.2 Đặc điểm của nguyên tắc pháp luật.
- Nguyên tắc pháp luật thể hiện tính chủ quan, đồng thời lại là sự phản
ánh những quy luật khách quan
Nguyên tắc pháp luật thể hiện tính chủ quan, bởi vì nguyên tắc pháp luật lànhững t tởng do con ngời đặt ra, làm cơ sở cho việc ban hành, xây dựng hoặcthực hiện pháp luật Trong mỗi thời kỳ, mỗi nhà nớc, mỗi giai cấp lại thiết lậphoặc thừa nhận những nguyên tắc pháp luật khác nhau phụ thuộc vào ý chí củanhà nớc, giai cấp đó Chẳng hạn, nguyên tắc pháp chế, bình đẳng hay bảo đảmcác quyền con ngời không tồn tại hoặc có tồn tại nhng chỉ đợc áp dụng một cáchrất hình thức, đơn lẻ ở các nhà nớc chiếm hữu nô lệ và phong kiến
Bản thân pháp luật đã phản ánh tính chủ quan, thì nguyên tắc pháp luật càngthể hiện tính chủ quan hơn, bởi vì nguyên tắc pháp luật có một vai trò rất quantrọng trong việc định hớng toàn bộ hệ thống pháp luật Do đó, các nhà nớc thờngrất quan tâm đặt ra hoặc thừa nhận những nguyên tắc pháp luật nhất định, và ởnhững mức độ khác nhau, những nguyên tắc pháp luật đó phản ánh lợi ích, ý chí
Trang 5của nhà nớc đó Chẳng hạn, trong nhà nớc chủ nô nói chung, giai cấp chủ nô cóquyền quản lý nô lệ nh một loại tài sản là một nguyên tắc cơ bản để xây dựng cácquy phạm pháp luật có liên quan đến đời sống của ngời nô lệ Các nhà nớc t sảncũng đề ra hoặc thừa nhận những nguyên tắc pháp luật phản ánh ý chí chủ quancủa nhà nớc hoặc giai cấp thống trị ở nhà nớc đó Xét trên phơng diện về tính giaicấp, thì nguyên tắc pháp luật thể hiện tính giai cấp sâu sắc
Mặc khác, nguyên tắc pháp luật cũng phản ánh những quy luật chung của
đời sống xã hội Pháp luật là những quy tắc để điều chỉnh các quan hệ xã hội, do
đó pháp luật bao giờ cũng phản ánh các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh Nhìn ởphơng diện tổng quát hơn, những nguyên tắc pháp luật cũng phản ánh đối tợng
điều chỉnh là các quan hệ xã hội Sự thay đổi về bản chất trong xã hội dẫn đến sựthay đổi của pháp luật cũng nh các nguyên tắc pháp luật Mối quan hệ này làquan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thợng tầng, trong đó các nguyên tắc phápluật thuộc khái niệm kiến trúc thợng tầng Do vậy, các điều kiện về kinh tế, xãhội quyết định sự hình thành và phát triển của các nguyên tắc pháp luật Mỗi mộtchế độ kinh tế – xã hội trong một hình thái kinh tế xã hội sẽ xác lập những bảnchất của hệ thống pháp luật cũng nh những nguyên tắc pháp luật trong hệ thống
đó Ngay cả trong một hình thái kinh tế – xã hội, nguyên tắc pháp luật cũng ờng xuyên thay đổi phụ thuộc vào sự thay đổi của mối quan hệ đó
th-Sự phản ánh của nguyên tắc pháp luật đối với các quy luật xã hội kháchquan có đặc trng so với sự phản ánh của các quy phạm pháp luật thông thờng.Các quy phạm pháp luật thông thờng phản ánh rất cụ thể các quan hệ xã hội đangtồn tại Trong khi đó, các nguyên tắc pháp luật lại thờng phản ánh những quan hệxã hội rất nền tảng, phản ánh những quy luật xã hội tơng đối cơ bản Nếu nhữngquan hệ xã hội nền tảng, những quy luật xã hội cơ bản làm nền tảng cho tổng thểcác quan hệ xã hội, thì các nguyên tắc pháp luật lại làm cơ sở cho toàn bộ hệthống pháp luật Do pháp luật phản ánh những quan hệ xã hội cụ thể, nên nó th-ờng rất hay thay đổi Xã hội là hết sức đa dạng, thay đổi không ngừng, nên cácquy phạm pháp luật thờng cũng rất hay thay đổi Trong trờng hợp này, hoàn toànkhông sai khi nói rằng pháp luật là cái đuôi của cuộc sống, hàm ý rằng pháp luậtthờng đi sau cuộc sống Có tác giả đã từng ví rằng, xã hội cần chỗ nào thì phápluật điều chỉnh chỗ đó, và nhà làm luật nh là ngời vá săm, thủng chỗ nào thì váchỗ đấy, chứ ai đi vá những chỗ vẫn còn nguyên vẹn! Điều này tạo nên tính bấtcập của hệ thống pháp luật, bởi vì tính không ổn định của pháp luật làm hạn chếvai trò điều chỉnh của nó trong xã hội Có nhiều cách thức để khiến hệ thốngpháp luật trở nên ổn định hơn Một trong những cách đó là xây dựng hệ thốngnhững nguyên tắc pháp luật Điều quan trọng nhất làm sao các nguyên tắc phápluật này phản ánh đợc những mối quan hệ xã hội cơ bản nhất, những quan luật xãhội nền tảng nhất Khi mà xã hội không ngừng thay đổi, thì các quan hệ xã hộinền tảng đó vẫn ở đó, vẫn không thay đổi hoặc ít thay đổi Khi đó, các quy phạmpháp luật có thể thay đổi, nhng những nguyên tắc pháp luật vẫn tồn tại, thay đổimột cách từ từ, làm nền tảng cho toàn bộ hệ thống pháp luật luôn biến độngkhông ngừng Do đó, các nguyên tác pháp luật luôn có tính ổn định, và nó làm cơ
sở cho sự ổn định của hệ thống pháp luật Hệ thống pháp luật ổn định, bởi vì nó
đợc thiết lập bởi hệ thống xơng sống vững chắc làm nền tảng Hơn nữa, khi đã cómột hệ thống các nguyên tắc pháp luật, các quy phạm pháp luật sẽ đợc ban hành,thực hiện và áp dụng trên cơ sở của những nguyên tắc đó, và điều đó cũng làmnên tính ổn định của hệ thống pháp luật
Nguyên tắc pháp luật cũng phụ thuộc vào các yếu tố khác của kiến trúc ợng tầng nh nhà nớc, chính thể, chính trị, văn hóa Nhà nớc luôn có vai trò đặc
Trang 6th-biệt trong việc xác lập hay thừa nhận các nguyên tắc pháp luật Trong giai đoạnhiện nay, cùng là nhà nớc dân chủ, song mỗi nhà nớc lại vạch ra những nguyêntắc pháp luật khác nhau Vai trò của nhà nớc với những u thế của quyền lực nhànớc thể hiện tính chủ quan trong việc xác lập các nguyên tắc pháp luật Trong cácyếu tố thuộc khái niệm hình thức nhà nớc, chính thể cũng có vai trò u thể trong
việc xác định các nguyên tắc pháp luật Trong cuốn Bàn về tinh thần pháp luật,
Montesquieu đặc biệt lu tâm về mối liên hệ của pháp luật với bản chất chính trị,trong đó chính thể là yếu tố cốt lõi ông nói pháp luật đợc rút trực tiếp từ trongbản chất của chính trị, mà chủ yếu ở bản chất của ba chính thể khác nhau: Chínhthể dân chủ, quân chủ và chuyên chế Các luật hay các nguyên tắc pháp luật cũng
đợc rút ra từ những chính thể đó2
Ngoài ra, các nguyên tắc pháp luật còn có mối quan hệ với rất nhiều yếu tố
khác nhau Trong cuốn Bàn về Tinh thần pháp luật, Montesquieu đã phác họa
“tinh thần pháp luật”, hay có thể đợc hiểu là các nguyên tắc pháp luật dựa trên
rất nhiều mối liên hệ từ chính trị, chính thể, lực lợng phòng thủ, lực lợng tấncông, hiến pháp, công dân, thu nhập công cộng, khí hậu tự nhiên, đất đai, phongtục, tập quán, thơng mại, sử dụng tiền tệ, dân số, tôn giáo, chính sách đối ngoại,trật tự các sự vật 3
Từ những phân tích ở trên cho thấy, nếu nhà nớc xây dựng hoặc thừa nhậncác nguyên tắc pháp luật không phản ánh đợc các mối liên hệ trên hoặc khôngphản ánh đợc các quy luật khách quan của đời sống xã hội, thì các nguyên tắcpháp luật đó sẽ là một lực cản rất lớn trong đời sống xã hội, đặc biệt khi mà cácnguyên tắc pháp luật không đơn thuần là một quy tắc pháp luật, mà có là tiền đềcho toàn bộ hệ thống pháp luật Một nguyên tắc pháp luật tiêu cực sẽ làm cho cả
hệ thống pháp luật bị ảnh hởng Ngợc lại, các nguyên tắc pháp luật phản ánh
đúng các quy luật khách quan thì nó sẽ định hớng hệ thống pháp luật đi theo quyluật đó, từ đó thúc đẩy sự phát triển của xã hội
- Các nguyên tắc pháp luật có thể đợc quy định trong pháp luật Nhng cũng
có thể các nguyên tắc không đợc quy định trực tiếp trong pháp luật mà tồn tại trong học thuyết pháp lý, trong thực tiễn đời sống chung của mọi ngời, đợc thực hiện nh những phơng châm chỉ đạo chung trong quá trình áp dụng pháp luật 4
Trong nhiều nhà nớc, các nguyên tắc pháp luật đợc ghi nhận rõ trong cácvăn bản pháp luật Chẳng hạn, Hiến pháp Việt Nam quy định các nguyên tắc cơbản của pháp luật nh nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, mọi ngời bình đẳngtrớc pháp luật, nguyên tắc Đảng lãnh đạo Ngày nay, hầu hết các nhà nớc đềughi nhận những nguyên tắc cơ bản trong các văn bản pháp luật, đặc biệt là hiếnpháp Hiến pháp luật cơ bản của nhà nớc, có giá trị pháp lý tối cao, do đó, việcghi nhận các nguyên tắc pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc làm cơ sởcho toàn bộ các hoạt động xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật, là cơ sở chotoàn bộ hệ thống pháp luật Hầu hết Hiến pháp các nớc hiện nay đều thừa nhậncác nguyên tắc pháp luật cơ bản nh nguyên tắc bảo đảm các quyền con ngời, xâydựng nhà nớc pháp quyền, nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc mọi ngời bình đẳngtrớc pháp luật, nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc đảm bảo tính tối cao của hiếnpháp Trong mỗi ngành luật, pháp luật lại có những nguyên tắc cụ thể, do đó, cácvăn bản pháp luật trong từng ngành luật cũng ghi nhận các nguyên tắc trong từngngành luật Thậm chí, trong từng văn bản pháp luật cũng xác định các nguyên tắc
cụ thể cho từng chế định, từng nhóm các quan hệ xã hội cần phải đợc điều
Trang 7chỉnh Việc ghi nhận các nguyên tắc pháp luật tại các văn bản pháp luật có ýnghĩa tạo ra sự thống nhất trong việc xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật.
Cũng có những nguyên tắc không đợc ghi nhận trong hệ thống pháp luật màchỉ đợc thừa nhận trọng các học thuyết pháp lý Nhiều nhà nớc t sản hiện naykhông ghi nhận nguyên tắc phân quyền song trên thực tế đây là một học thuyết lý
đợc thừa nhận phổ biến nh một nguyên tắc cơ bản của luật hiến pháp
Phần nhiều các nguyên tắc đợc thừa nhận chung trong thực tiễn xây dựng,thực hiện và áp dụng pháp luật Những nguyên tắc pháp luật tiêu cực thờngkhông đợc quy định trong hệ thống pháp luật Trong các nhà nớc bóc lột, nguyêntắc bảo vệ lợi ích giai cấp thống trị thờng không đợc nhắc đến trong các văn bảnpháp luật, song đây lại là một nguyên tắc cơ bản trong các nhà nớc bóc lột ở nhànớc ta, mặc dù nguyên tắc quyền lực nhà nớc đợc phân công, phối hợp giữaquyền lập pháp, quyền hành pháp và t pháp chỉ đợc chính thức ghi nhận bởi Hiếnpháp Việt Nam sửa đổi năm 2001, nhng nguyên tắc này đã đợc thể hiện từ Hiếnpháp năm 1992 Những nguyên tắc này đợc hình thành từ thực tiễn pháp luật Cóthể đến một thời điểm nào đó, nhà làm luật sẽ luật hóa các nguyên tắc này trong
hệ thống pháp luật nh là nguyên tắc phân công, phối hợp quyền lực trong Hiếnpháp 1992 sửa đổi Mặc dù, các nguyên tắc pháp luật thể hiện tính chủ quan củanhà làm luật, nhng hầu hết các nguyên tắc pháp luật đợc hình thành từ thực tiễnchính trị, xã hội, pháp luật Các nguyên tắc này phản ánh đợc những quy luật củaxã hội, do đó có khả năng phù hợp với các quan hệ xã hội, nên cũng có đời sốngdài hơn, thúc đẩy các quan hệ xã hội phát triển
- Các nguyên tắc pháp luật không bất biến mà thay đổi không ngừng
Cũng giống nh pháp luật, nguyên tắc pháp luật phản ánh sự tồn tại, pháttriển của các quan hệ xã hội, do đó nguyên tắc pháp luật phải thay đổi để phù hợpvới các quan hệ xã hội luôn thay đổi đó Cùng với sự phát triển của các quan hệxã hội, nhiều nguyên tắc pháp luật mới ra đời Ngày nay, các nguyên tắc phápluật hiện đại đã khẳng định ở nhiều hệ thống pháp luật nh nguyên tắc công bằng,bình đẳng, pháp chế, bảo đảm tính tối cao của hiến pháp, bảo đảm các quyền conngời Nhiều nguyên tắc đợc biết đến trong các nhà nớc trớc đây nh bảo vệ giaicấp địa chủ, phong kiến quý tộc không còn đợc thừa nhận trong các nhà nớc hiện
đại nữa
Nh trên đã phân tích, so với pháp luật thì nguyên tắc pháp luật có tính bềnvững hơn, bởi vì nguyên tắc pháp luật phản ánh những mối quan hệ chung hơn, cơbản hơn Việc thay đổi những nguyên tắc pháp luật thờng diễn ra trong một thờigian dài với sự biến chuyển của nhiều học thuyết và thực tiễn pháp luật Việc thay
đổi chính trị, hay chính thể thờng dẫn đến việc vạch ra những nguyên tắc pháp luậtmới phù hợp với chế độ chính trị hay chính thể đó Sự thay đổi đó làm nhằm đổimới các nguyên tắc pháp luật đã lỗi thời, và các nhà khoa học pháp lý thờng rấtquan tâm đến việc nghiên cứu để đổi mới các nguyên tắc pháp luật phù hợp với đờisống thực tiễn pháp luật đặt ra Việc đổi mới các nguyên tắc pháp luật thờng có ýnghĩa hơn là việc đổi mới bản thân một quy phạm hay một văn bản pháp luật, vì
đổi mới một nguyên tắc có thể dẫn đến sự đổi mới của cả một hệ thống các quyphạm hay văn bản pháp luật, từ việc xây dựng cho đến việc thực hiện và áp dụngpháp luật Tuy thay đổi, nhng cũng giống nh pháp luật, sự thay đổi của nguyên tắcpháp luật luôn đảm bảo tính kế thừa, tức là nguyên tắc pháp luật sau thờng kế thừa
ít nhiều các nguyên tắc pháp luật trớc đó Có nhiều nguyên tắc pháp luật ngày nay
đợc kế thừa từ trong thời kỳ cổ đại Nguyên tắc dân chủ, bình đẳng, công bằng lànhững nguyên tắc pháp luật cơ bản ngày nay nhng chúng đợc kế thừa từ thời kỳ sơ
Trang 8khai của pháp luật Nguyên tắc phân quyền cũng đợc kế thừa từ những t tởng pháp
lý có từ trong nền dân chủ cổ đại Phơng Tây
1.3 Các mối liên hệ cơ bản của các nguyên tắc pháp luật.
- Quan hệ giữa nguyên tắc pháp luật và pháp luật:
Nguyên tắc pháp luật là cơ sở, tiền đề cho toàn bộ hoạt động xây dựng,thực hiện và áp dụng pháp luật, tức là nó là kim chỉ nam cho các hoạt động xâydựng, thực hiện và áp dụng pháp luật Hay nói cách khác pháp luật đợc ban hành,thực hiện và áp dụng trên tinh thần chung của nguyên tắc pháp luật Do đó,nguyên tắc pháp luật có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc hệ thống hóa pháp luật.Trong những nhà nớc đầu tiên nh nhà nớc chiếm hữu nô lệ và phong kiến, việcxây dựng một hệ thống pháp luật nhiều khi không theo những nguyên tắc phápluật chặt chẽ, ổn định cũng là một nguyên nhân cơ bản khiến hệ thống pháp luậtrất cục bộ, tản mạn và không thống nhất Điều này đã dần dần đợc cải thiện tronglịch sử phát triển hệ thống pháp luật Trong thời đại ngày nay, khi mà hệ thốngpháp luật ngày càng phức tạp, thì nguyên tắc pháp luật ngày càng có vai trò hơn.Nếu thiếu các nguyên tắc pháp luật, hệ thống pháp luật sẽ khó mà đợc hệ thốnghóa, và do đó sẽ gây rất nhiều khó khăn cho công tác xây dựng, thực hiện và ápdụng pháp luật Để tạo ra sự thống nhất trong hệ thống pháp luật hết sức phứctạp, ngày nay nhiều nớc đặt ra rất nhiều các nguyên tắc pháp luật: Nguyên tắcpháp luật chung cho toàn bộ hệ thống pháp luật; nguyên tắc pháp luật riêng chotừng ngành luật, từng chế định pháp luật, từng văn bản pháp luật; Nguyên tắcpháp luật áp dụng đối với chủ thể xây dựng pháp luật, chủ thể thực hiện pháp luật
và chủ thể áp dụng pháp luật
Bản thân các nguyên tắc pháp luật sẽ trở thành pháp luật nếu chúng đợcluật hóa Nh trên đã phân tích, nhiều nguyên tắc pháp luật đợc quy định rõ ràngtrong hệ thống pháp luật Tuy nhiên, khác với các quy phạm pháp luật, cácnguyên tắc pháp luật thờng không đặt rõ ràng các quy tắc xử sự của hành vi, màthờng làm cơ sở cho việc ban hành, thực hiện và áp dụng các quy phạm pháp luật.Nói nh thế không có nghĩa là nguyên tắc pháp luật không đặt ra quy tắc xử sựcủa hành vi, vì nếu hiểu theo nghĩa khái quát, thì việc đặt ra cơ sở cho việc banhành, thực hiện hay áp dụng các quy phạm pháp luật cũng là xác lập các quy tắc
xử sự của hành vi rồi Trong nhiều trờng hợp, nguyên tắc pháp luật cũng có khảnăng xác định rõ các quy tắc xử sự của hành vi Ví dụ, nguyên tắc bảo đảm dùngtiếng dân tộc thiểu số tại phiên tòa là một nguyên tắc cơ bản của ngành luật tốtụng của chúng ta Nguyên tắc này mang ý nghĩa của việc xác lập tắc xử sự rõràng Các nguyên tắc khác của ngành luật tố tụng hình sự nh xét xử có hội thẩm,hội thẩm và thẩm phán ngang quyền; quyết định theo đa số; bảo đảm quyền bàochữa của bị can, bị cáo, không ai bị coi là có tội cho tới khi có bản án kết tội củatòa án có hiệu lực pháp luật là những nguyên tắc pháp luật xác định rõ quy tắc
xử sự của hành vi Trong những trờng hợp này, nguyên tắc pháp luật vừa lànhững quy phạm pháp luật, đồng thời lại đặt cơ sở cho việc ban hành, thực hiệnhay áp dụng các quy phạm pháp luật khác, nói cách khác, trong nhiều trờng hợp,một quy phạm pháp luật trở thành một nguyên tắc pháp luật
Nh vậy, nhìn chung, nguyên tắc pháp luật có tính khái quát hơn là phápluật nói chung, nhng cũng có trờng hợp nguyên tắc pháp luật là một quy phạmpháp luật Điều quan trọng nhất là ở chỗ các nguyên tắc pháp luật đặc cơ sở choviệc ban hành, thực hiện và áp dụng pháp luật Với ý nghĩa nh vậy, nguyên tắcpháp luật có vai trò làm cho hệ thống pháp luật đợc ban hành, thực hiện và ápdụng một cách thống nhất Nguyên tắc pháp luật là sợi chỉ đỏ xuyên suốt hệthống pháp luật phức tạp và rộng lớn Một hệ thống pháp luật bao giờ cũng tồn
Trang 9tại những nguyên tắc pháp luật nh là xơng sống của hệ thống pháp luật đó Do
đó, nguyên tắc pháp luật là cơ sở làm cho việc ban hành, thực hiện và áp dụngpháp luật đợc dễ dàng, thống nhất và hiệu quả hơn
Nguyên tắc pháp luật còn đợc coi là những bổ khuyết quan trọng cho phápluật nếu nh không có quy phạm pháp luật điều chỉnh Hệ thống pháp luật khôngbao giờ là hoàn thiện, mà bao giờ cũng có những lỗ hổng, do đó cần phải côngnhận áp dụng tơng tự pháp luật Trong trờng hợp không có quy phạm pháp luật,nhiều quốc gia chấp nhận áp dụng các nguyên tắc pháp luật thay thế cho sự khiếmkhuyết của các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội bị bỏ ngỏ
Các nguyên tắc pháp luật trong các học thuyết cũng đợc viện dẫn nh là mộtloại nguồn pháp luật quan trọng trong việc áp dụng pháp luật Ví dụ, trong hệthống pháp luật Anh - Mỹ (Common Law), các thẩm phán thờng viện dẫn đến rấtnhiều học thuyết pháp lý, đặc biệt là các học thuyết nổi tiếng đã đợc công nhận
nh là những nguyên tắc pháp luật để áp dụng cho một vụ việc Ngày nay, trong các
hệ thống pháp luật khác, ngời ta cũng rất đề cao các nguyên tắc pháp luật trongcác học thuyết nh là một loại nguồn pháp luật quan trọng ở Việt Nam, việc ápdụng nguyên tắc tơng tự chỉ đợc thừa nhận trong các ngành luật nh dân sự, hônnhân và gia đình
Trong hệ thống pháp luật, các quy phạm hiến pháp thờng trở thành nhữngnguyên tắc pháp luật, vì hiến pháp là đạo luật cơ bản đặt cơ sở cho việc xây dựngcác văn bản, các quy định pháp luật khác ở Nhà nớc Việt Nam, đối tợng điềuchỉnh của hiến pháp rất rộng, nên hiến pháp càng có cơ sở nền tảng cho toàn bộ
hệ thống pháp luật của chúng ta
- Nguyên tắc pháp luật và đạo đức, truyền thống:
Trong mối quan hệ với đạo đức, ở chừng mực nhất định, pháp luật là sựphản ánh đạo đức, là sự chắt lọc của đạo đức, hay nói cách khác thì pháp luật cónền móng là đạo đức Chính những nền mong cối lõi nhất của đạo đức đó trong
hệ thống pháp luật sẽ trở thành những nguyên tắc pháp luật quan trọng Nhữngnguyên tắc pháp luật quan trọng đợc xã hội loài ngời biết đến phần lớn có nguồngốc từ đạo đức, ví dụ nguyên tắc dân chủ, bình đẳng, công bằng, bảo vệ quyền cánhân, bảo vệ lẽ phải Nói rộng ra thì nguyên tắc pháp luật có mối quan hệ rấtchặt chẽ với các quy phạm xã hội, nhng trong đó, đạo đức là một loại quy phạmxã hội mà nó có mối liên hệ gần gũi nhất Việc thừa nhận áp dụng tập quán phápchính là một nguyên tắc pháp luật trong hệ thống pháp luật Anh- Mỹ, đồng thời
nó cũng phản ảnh một t duy pháp luật phản ánh những quy tắc của đạo đức, của
đời sống xã hội Đạo đức không thể phản ánh đợc hết trong pháp luật, và tậpquán pháp đợc coi nh là một bổ khuyết rất quan trọng
Nguyên tắc pháp luật cũng có quan hệ rất gẫn gũi với truyền thống Truyềnthống có tác động rất lớn đến hệ thống pháp luật, mà thể hiện rõ nhất thông quanhững nguyên tắc pháp luật Những truyền thống của một dân tộc, một nhà nớcthờng động lại ở các nguyên tắc pháp luật cơ bản Sự tồn tại của các hệ thốngpháp luật lớn trên thế giới là sự thừa nhận sự ảnh hởng của truyền thống đối vớipháp luật Hệ thống pháp luật Anh- Mỹ đặc trng với nguyên tắc án lệ có nguồngốc từ những truyền thống từ xa xa Hệ thống pháp luật Châu âu với sự đề caoluật thành văn gắn liền với truyền thống pháp luật La mã cổ đại Pháp luật đạohội gắn liền với Kinh Côran, một truyền thống tôn giáo lâu đời Xuất phát từ thựctiễn pháp luật nh vậy, nhiều ngời đã đề nghị sử dụng các khái niệm nh truyềnthống pháp luật, văn hóa pháp luật thay cho khái niệm hệ thống pháp luật Điều
đó thể hiện mối quan hệ giữa pháp luật và truyền thống văn hóa, mà sự thể hiện
rõ ràng nhất trong pháp luật là các nguyên tắc pháp luật lớn
Trang 10- Quan hệ giữa nguyên tắc pháp luật và nhà nớc:
Nhà nớc thờng đặt ra hoặc thừa nhận các nguyên tắc pháp luật làm cơ sởcho hệ thống pháp luật Mặc khác, trong nhà nớc dân chủ, các nguyên tắc phápluật lại trở thành những giới hạn của quyền lực nhà nớc Đây là sự khác nhau cơbản giữa pháp luật của nhà nớc dân chủ và pháp luật của nhà nớc chuyên chế.Nhà nớc chuyên chế sử dụng pháp luật để cai trị xã hội, còn nhà nớc dân chủkhông chỉ dùng pháp luật để quản lý xã hội, mà pháp luật lại quay lại kiểm soátnhà nớc Trong nhà nớc dân chủ, pháp luật thể hiện ý chí của nhân dân, tuynhiên, nhân dân không thể kiểm soát đợc toàn bộ hệ thống pháp luật, do đó nhândân trực tiếp hoặc thông qua ngời đại diện để đặt ra những nguyên tắc pháp luật,
và những nguyên tắc pháp luật này trở thành cơ sở cho các quy phạm sau này Và
nh thế, nhà nớc đã bị kiểm soát bởi các nguyên tắc pháp luật Thờng thì nhà nớcrất dễ dàng để sửa đổi một quy phạm pháp luật thông thờng, nhng đối với cácnguyên tắc pháp luật thì lại khác Việc thay đổi hoặc đa ra những nguyên tắcpháp luật mới thờng phải đợc thực hiện thông quan những thủ tục pháp lý rất chặtchẽ mà nhà nớc phải tuân thủ Ví dụ, thủ tục sửa đổi Hiến pháp thờng phải đợcthực hiện thông qua những thủ tục rất ngặt nghèo – thông qua Quốc hội lập hiếnhoặc quốc hội hai viện với tỷ lệ phiếu đa số tuyệt đối, trng cầu dân ý Những thủtục ngặt nghèo nh là những giới hạn quyền lực nhà nớc nhằm chống lại mọi sựlạm dụng quyền lực nhà nớc để đảm bảo các quyền dân chủ của cá nhân
1.4 ý nghĩa của nguyên tắc pháp luật.
Những đặc điểm của nguyên tắc pháp luật cũng đã thể hiện đợc ý nghĩa,vai trò của nguyên tắc pháp luật Để tổng hợp lại, có thể liệt kê một số ý nghĩa cơbản sau của nguyên tắc pháp luật:
- Làm cơ sở cho việc xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật;
- Hệ thống hóa pháp luật làm tiền để đề thiết lập một hệ thống pháp luậtchặt chẽ và thống nhất;
- Định hớng pháp luật hoặc hệ thống pháp luật theo những mục đích củanhà nớc hoặc của những nhà làm luật;
- Bổ khuyết cho pháp luật với tính cách nh là một loại nguồn pháp luật;
- Là những giới hạn (hạn chế) đối với quyền lực nhà nớc trong nhà nớcpháp quyền
2 Một số nguyên tắc pháp luật xuyên suốt lịch sử pháp luật và đặc
điểm của nguyên tắc pháp luật trong từng kiểu pháp luật.
2.1 Một số nguyên tắc pháp luật xuyên suốt lịch sử phát triển của pháp luật
Sự ra đời của pháp luật là một hiện tợng xã hội đặc biệt trong sự phát triểncủa loài ngời Qua bao thời kỳ lịch sử, nội dung và diện mạo của pháp luật đãthay đổi rất nhiều Tuy nhiên, có những nguyên tắc pháp luật tồn tại từ xa xa cho
đến ngày nay, có thể gọi là những nguyên tắc pháp luật xuyên suốt lịch sử phápluật Sự tồn tại của những nguyên tắc pháp luật này xuất phát từ những đặc trngchung, bản chất cơ bản của pháp luật Những nguyên tắc đó tồn tại và phát triểncho đến ngày nay, mặc dù tính chất, sự thừa nhận phổ biến của các nguyên tắcnày có thể khác nhau trong các thời kỳ lịch sử Mặc dù có sự khác nhau, nhngphải khẳng định rằng chúng đã và sẽ tồn tại
- Pháp luật thể hiện bản chất chính trị
Tính chính trị của pháp luật đợc hiểu là pháp luật đợc rút ra từ bản chấtchính trị, là sự phản ánh các lợi ích của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Trong
sự đa dạng, đấu tranh giữa các lợi ích, pháp luật luôn đại diện, phản ánh rõ ràng
Trang 11nhất cho lợi ích của những ngời cai trị trong xã hội, mà theo chủ nghĩa Mác, đó
đợc gọi là tính giai cấp của pháp luật Tính chính trị của pháp luật vừa là bản chất
của pháp luật vừa là một nguyên tắc pháp luật Đây là một nguyên tắc pháp luậtbởi vì nó là cơ sở cho toàn bộ việc xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật
Nguyên tắc này thờng không đợc quy định trong hệ thống pháp luật, mà nó
đợc nhà nớc thừa nhận một cách gián tiếp thông qua các hoạt động ban hành,thực hiện và áp dụng pháp luật Nhà nớc ban hành pháp luật để thừa nhận nhữnglợi ích của giai cấp thống trị, đồng thời bằng những biện pháp pháp lý để bảo vệnhững lợi ích đó trong đời sống xã hội Việc áp dụng, thực hiện pháp luật cũngluôn luôn đợc đặt dới cơ sở của nguyên tắc này
Nguyên tắc pháp luật này là một nguyên tắc pháp luật khá trừu tợng vàkhông rõ ràng Tính không rõ ràng là ở chỗ nó không đợc ghi nhận cụ thể trong
hệ thống pháp luật, mặc khác nó cũng không đợc công khai thừa nhận trong xãhội Trong bất kỳ nhà nớc nào, pháp luật luôn luôn đợc nhắc đến nh một đại lợngcủa tất cả mọi ngời, của xã hội Nhng trên thực tế thì lại không phải bao giờ cũng
nh vậy, mà nền tảng của hệ thống pháp luật chính là những lợi ích chính trị đó.Hơn nữa, mỗi một nhà nớc, một kiểu nhà nớc lại thực hiện nguyên tắc này ởnhững mức độ khác nhau, phụ thuộc vào bản chất nhà nớc
Sự mâu thuẫn và tranh giành quyền lực giữa các tầng lớp, giai cấp khácnhau trong xã hội là một quy luật xã hội, và những mâu thuẫn đó đợc biểu hiện ởkiến trúc thợng tầng, đặc biệt là nhà nớc và pháp luật Pháp luật có dân chủ haykhông, pháp luật có phục vụ xã hội và bảo vệ các quyền cá nhân hay không, phápluật có công bằng hay không phụ thuộc rất nhiều vào bản chất của các quan hệxã hội Trong những mối quan hệ mẫu thuẫn đó, Chủ nghĩa Mác cho rằng mốiquan hệ giai cấp, mẫu thuẫn và đấu tranh giai cấp là quan hệ cơ bản quyết định
sự tồn tại và phát triển của nhà nớc và pháp luật
Do đó, là một nguyên tắc pháp luật trong nhà nớc, song sự biểu hiện củanguyên tắc này lại rất khác nhau, phụ thuộc vào từng kiểu nhà nớc trong từnghình thái kinh tế xã hội Trong các nhà nớc chiếm hữu nô lệ và phong kiến, tínhchính trị của pháp luật đợc biểu hiện ở chỗ pháp luật công khai trong việc bảo vệlợi ích của giai cấp nắm quyền trong xã hội, do đó pháp luật thể hiện sự bất bình
đẳng rõ rệt Cùng với các phong trào cách mạng đòi quyền dân chủ và sự pháttriển của tri thức nhân loại, nhà nớc ngày càng phản ánh tính dân chủ và côngbằng hơn Trong nhà nớc dân chủ t sản, pháp luật đã có bớc chuyển biến hết sứcquan trọng trong việc đảm bảo dân chủ và sự công bằng trong xã hội Tính chínhtrị của pháp luật t sản là thể hiện qua sự thỏa hiệp giữa các tầng lớp, giai cấp hếtsức phức tạp và mâu thuẫn trong lòng xã hội Nhà nớc bằng công cụ pháp luậtbảo đảm trật tự pháp luật trong những quan hệ phức tạp và mẫu thuẫn đó Phápluật không thể chỉ phản ánh lợi ích của một tầng lớp, giai cấp này, mà pháp luậtphải phản ánh đợc tính đa dang của các lợi ích trong xã hội Nhà nớc xã hội chủnghĩa ra đời cùng với hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa đảm bảo quyền lựcthống nhất thuộc về nhân dân
- Pháp luật thể hiện vai trò xã hội
Bên cạnh tính giai cấp, pháp luật cũng bảo đảm lợi ích chung của toàn xãhội Nhà nớc nào cũng quan tâm ở những mức độ khác nhau trong việc đảm bảonhững lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng trong việc ban hànhhay áp dụng pháp luật Tính xã hội là một nguyên tắc pháp luật hình thành ngay
từ khi pháp luật ra đời Nguyên tắc pháp luật này thể hiện bản chất của pháp luật.Pháp luật đáp ứng những nhu cầu của xã hội với tính cách là các chuẩn mực chocác hành vi trong xã hội, do đó pháp luật luôn phản ánh những lợi ích của xã hội
Trang 12Pháp luật ngày càng thể hiện vai trò xã hội nhiều hơn, tức là phản ánh lợi ích, nhucầu của toàn xã hội nhiều hơn xuất phát từ bản chất của nhà nớc và xã hội
- Nguyên tắc công bằng của pháp luật
Ngay từ khi pháp luật mới ra đời, ngời ta đã coi pháp luật là một đại lợngphân xử công bằng giữa con ngời với nhau Từ xa xa, ngời ta đã nhờ đến sự phánxét của pháp luật để giải quyết các tranh chấp, mẫu thuẫn trong xã hội Quan tòa,ngời sử dụng và áp dụng pháp luật để phán xét về các tranh chấp hoặc mâu thuẫn,
đợc coi là biểu tợng của sự công bằng Vì lẽ đó, vai trò của các tòa án đã đợckhẳng định từ rất lâu trong lịch sử Để bảo đảm tính công bằng trong việc ápdụng pháp luật, ngời ta thờng quan tâm đến sự công minh và độc lập của thẩmphán trong xét xử
Pháp luật là khuôn mẫu của các hành vi, cách ứng xử trong xã hội Đã làkhuôn mẫu, cách ứng xử phổ biến cho xã hội, thì pháp luật cần phải đảm bảo tínhcông bằng trong việc thực hiện và áp dụng pháp luật Ngay từ thời kỳ cổ đại,
pháp luật đã đợc coi là một đại lợng công bằng Theo Aristot, “công lý chính là các quy phạm, pháp luật hành động một cách công bằng – tức là hành động theo pháp luật”5 Tuy vậy, Aristot cũng cho rằng pháp luật phản ánh bản chất nhànớc, do đó phản ánh những lợi ích khác nhau trong xã hội, ví nh mối quan hệgiữa ngời giàu và ngời nghèo Trong hầu hết sự phân loại các thể chế nhà nớc lúcbấy giờ, khi bàn về nhà nớc cộng hòa dân chủ, các học giả cổ đại Phơng tây đềucho rằng pháp luật phải phản ánh đợc sự công bằng, lợi ích của công dân và xãhội Trong trờng hợp ngợc lại, chế độ đó sẽ là độc tài Aristot cũng nói rằng chế
độ dân chủ sẽ chuyển hóa thành chế độ độc tài nếu ý chí đợc điều tiết bằng phápluật bị thay thế bởi ý chí cá nhân tùy tiện Các t tởng chính trị – pháp lý cổ đạiTrung Hoa cũng đợc biết đến với t pháp gia với các đại diện nh Quản Trọng, Th-
ơng Ưởng, Hàn Phi Tử Các nhà t tởng pháp gia cho rằng pháp luật là công cụcai trị xã hội tốt nhất, và để làm đợc điều đó, pháp luật phải đảm bảo sự côngbằng, thởng phạt nghiêm minh Mặc dù còn có những hạn chế, song nhng t tởng
và một số thực tế chính trị – pháp lý đã cho thấy bình đẳng là một nguyên tắcnguyên thủy từ thời kỳ cổ đại, cho dù nguyên tắc này chủ yếu thể hiện về mặt t t-ởng Tuy vậy, những t tởng đó đã đặt tiền đề hết sức quan trọng cho việc pháttriển t tởng công bằng, dân chủ của pháp luật trong các thể chế sau này, đặc biệt
là ở các thể chế dân chủ t sản và xã hội chủ nghĩa
2.2 Đặc điểm của nguyên tắc pháp luật trong mỗi kiểu pháp luật
- Các nguyên tắc của pháp luật chủ nô:
Các nguyên tắc của pháp luật chủ nô có cơ sở từ chế độ chiếm hữu nô lệ, thừanhận sự cai trị tuyệt đối của chủ nô đối với nô lệ Pháp luật chỉ coi chủ nô là côngdân có đầy đủ quyền hành, còn nô lệ chỉ là một loại tài sản của chủ nô Nhiều quy
định pháp luật ghi nhận rõ tình trạng bất bình đẳng giữa chủ nô và nô lệ Pháp luật
có những quy định rất nghiêm khắc để bảo vệ quyền t hữu của chủ nô Tuy nhiên,nhiều nguyên tắc pháp luật không đợc ghi thành văn bản mà chủ yếu đợc nhà nớcthừa nhận thông qua các tập quán bất thành văn Các nguyên tắc pháp luật thời kỳnày còn lạc hậu phù hợp với chế độ kinh tế- xã hội lúc bấy giờ
- Các nguyên tắc của pháp luật phong kiến
Nhà nớc phong kiến, về bản chất, vẫn là nhà nớc chuyên chế, nên cácnguyên tắc pháp luật trong kiểu nhà nớc này vẫn thể hiện tính chuyên chế, bất bình
Trang 13đẳng và lạc hậu Pháp luật vẫn bảo vệ đặc quyền của giai cấp phong kiến, ghi nhậnnhững hình phạt rất tàn bạo đối với những hành vi xâm phạm trật tự xã hội.
- Các nguyên tắc của pháp luật t sản
Có thể nói, pháp luật t sản ra đời là một bớc ngoặt trong lịch sử phát triểncủa pháp luật So sánh với các kiểu pháp luật ở giai đoạn trớc, pháp luật t sản đã
có rất nhiều những nguyên tắc, đặt nền móng cho sự phát triển của pháp luật chotới tận ngày nay Hệ thống pháp luật t sản đợc thiết lập dựa trên những hệ thốngcác nguyên tắc pháp luật hết sức chặt chẽ Có những nguyên tắc pháp luật chungbao trùm toàn bộ hệ thống pháp luật, có những nguyên tắc pháp luật trong từngngành luật, từng chế định pháp luật hoặc từng bộ luật Chẳng hạn, các nguyên tắcdân chủ, công bằng, bình đẳng trớc pháp luật; nguyên tắc công dân đợc làm tấtcả những gì mà pháp không cấm, nhà nớc chỉ đợc làm những gì mà pháp luật chophép
- Các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Pháp luật xã hội chủ nghĩa là một kiểu pháp luật mới do vậy các nguyêntắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa ngoài việc kế thừa và phát huy những nguyêntắc pháp luật tốt đẹp, phù hợp của các thời kỳ trớc còn có những sự phát triển rấtmạnh vì lợi ích của nhân dân Các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa cónhững đặc điểm cơ bản nh: Bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; thể hiệntính nhân đạo, vì con ngời; thực hiện việc giải phóng con ngời khỏi áp bức bóclột, sự bất công và những lệ thuộc khác; dân chủ rộng rãi đối với nhân dân; củng
cố khối đại đoàn kết toàn dân; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Khái niệm và đặc điểm
của nguyên tắc pháp luật x hội chủ nghĩaã hội chủ nghĩa
TS Nguyễn Minh Đoan
1 Khái niệm nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa
Pháp luật của các nhà nớc đều đợc thiết lập dựa trên những nguyên tắcnhất định, đó là những t tởng chỉ đạo có tính chất xuất phát điểm, thể hiện sựtoàn diện và có ý nghĩa bao quát, quyết định sự đúng đắn về nội dung, chất lợng
và hiệu quả của pháp luật, của quá trình xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật.Các nguyên tắc pháp luật là nền tảng của hệ thống pháp luật luôn thấm nhuầnxuyên suốt toàn bộ hệ thống pháp luật, nói cách khác, mỗi hệ thống pháp luật
đều đợc thiết lập dựa trên hệ các nguyên tắc pháp luật nhất định, do đó, hệ cácnguyên tắc pháp luật nh giá đỡ cho toàn bộ hệ thống pháp luật Ngoài ra chúngcòn có tác dụng nh chất kết dính tạo ra sự liên kết và thống nhất giữa các bộ phậncủa hệ thống pháp luật
Các nguyên tắc pháp luật luôn giữ vai trò chỉ đạo, định hớng cho toàn bộcơ chế điều chỉnh pháp luật, chúng có ảnh hởng rất lớn tới ý thức pháp luật, phápchế, trật tự pháp luật và văn hoá pháp lý trong xã hội Ngoài ra chúng còn có ảnhhởng tới chất lợng và hiệu quả của pháp luật và nh vậy xét đến cùng thì cácnguyên tắc pháp luật có ảnh hởng tới địa vị, lợi ích của lực lợng cầm quyền nóiriêng, sự tồn tại và phát triển của cả xã hội nói chung Do vậy, không chỉ là cơ sởcho việc ban hành pháp luật, các nguyên tắc pháp luật còn chỉ đạo cả việc thựchiện và áp dụng các quy phạm pháp luật Các nguyên tắc pháp luật là một bộphận cấu thành quan trọng của pháp luật, chúng có tính ổn định, bền vững, ít thay
đổi hơn so với các quy phạm pháp luật Bởi chúng gắn liền với bản chất của phápluật, phản ánh những mối quan hệ giai tầng, những điều kiện kinh tế, chính trị, xã
Trang 14hội cơ bản của xã hội, những quy luật quan trọng nhất của hình thái kinh tế- xãhội tơng ứng Chính sự ổn định của các nguyên tắc pháp luật sẽ tạo cơ sở cho sự
ổn định của cả hệ thống pháp luật ở một góc độ khác, nguyên tắc pháp luật còn
đợc coi nh một loại nguồn của pháp luật, đặc biệt là khi thực tiễn áp dụng phápluật thiếu hụt các quy phạm pháp luật cụ thể dẫn đến phải áp dụng pháp luật theonguyên tắc tơng tự pháp luật Trong trờng hợp này nguyên tắc pháp luật đã thaythế cho các quy phạm pháp luật cụ thể để giải quyết những vụ việc thiếu hụt phápluật, mà những "lỗ hổng" trong pháp luật thì hầu nh lúc nào cũng có, chúng ta chỉ
có thể làm giảm bớt chứ không thể loại bỏ hoàn toàn chúng đợc
Các nguyên tắc pháp luật vừa mang tính chủ quan vừa mang tính kháchquan Chúng do nhà nớc (con ngời) đặt ra và có vai trò rất quan trọng trong việc
định hớng xây dựng và phát triển của toàn bộ hệ thống pháp luật Các nhà nớc luônquan tâm tới việc đặt ra hoặc thừa nhận những nguyên tắc pháp luật nhất định chophù hợp với mỗi thời kỳ phát triển và ở những mức độ khác nhau, những nguyêntắc pháp luật luôn phản ánh lợi ích và thể hiện ý chí nhà nớc của lực lợng cầmquyền trong xã hội đó Tính khách quan của nguyên tắc pháp luật thể hiện ở chỗchúng luôn phản ánh những quy luật chung của đời sống xã hội và nội dung củachúng do các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội quyết định Nguyên tắc pháp luậtthuộc thợng tầng kiến trúc pháp lý, nên các điều kiện về kinh tế, xã hội quyết
định sự hình thành và phát triển của các nguyên tắc pháp luật Mỗi chế độ kinhtế- xã hội sẽ xác lập cho mình một hệ các nguyên tắc pháp luật nhất định Dovậy, các nguyên tắc pháp luật cũng vừa thể hiện tính giai cấp, tính chính trị sâusắc, vừa thể hiện tính xã hội rộng lớn Sự phát triển và thay đổi của xã hội sẽ dẫn
đến sự thay đổi của các nguyên tắc pháp luật Sự phát triển của các nguyên tắcpháp luật làm cho mỗi kiểu pháp luật ngoài những nguyên tắc chung lại có nhữngnguyên tắc riêng của mình, phản ánh bản chất và những đặc điểm về kinh tế,chính trị, xã hội, t tởng của xã hội hiện tại
Các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống những t tởng cơ bản
có liên quan chặt chẽ với nhau chỉ đạo nội dung, quá trình xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật xã hội chủ nghĩa vì lợi ích của nhân dân lao động
Kế thừa và phát triển những nguyên tắc pháp luật của các thời đại trớc cácnguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa là những t tởng mang tính khoa học nhất,chúng phản ánh những quy luật khách quan của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xãhội, các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và những điều kiện khác của đất nớc cần
đợc điều chỉnh bằng pháp luật ở mỗi giai đoạn phát triển nhất định Những nguyêntắc pháp luật xã hội chủ nghĩa thờng đợc thể hiện thông qua nội dung đờng lốichính sách của Đảng Cộng sản, trong nội dung, tinh thần các chính sách phápluật, trong các học thuyết chính trị- pháp lý, các văn bản pháp luật, các quy địnhpháp luật mà nhà nớc xã hội chủ nghĩa ban hành, trong đó tập trung nhất là hiếnpháp và các văn bản luật quan trọng Những nguyên tắc pháp luật đợc quy địnhtrong hiến pháp (những nguyên tắc hiến định) đợc xem là cơ sở để xây dựng vàhình thành các nguyên tắc pháp luật trong các văn bản pháp luật khác
Các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình thành và phát
triển trên cơ sở của chủ nghĩa Mác- Lênin và t tởng Hồ Chí Minh- "là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa mác- Lênin vào điều kiện cụ thể của nớc ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt
đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại"(1) Sự hình thành và pháttriển của các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam có sự kế thừa, phát
Trang 15triển những nguyên tắc của pháp luật nói chung, những thành tựu, những nguyêntắc pháp luật tiến bộ mà loài ngời đã đạt đợc trong lĩnh vực điều chỉnh pháp luật
ở các thời đại trớc, đặc biệt là những nguyên tắc pháp lý tiến bộ của pháp luật tbản chủ nghĩa Trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã
nhấn mạnh: "Con đờng đi lên của nớc ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thợng tầng t bản chủ nghĩa, nhng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt đợc dới chế độ t bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ…"(1)Trong lĩnh vực pháp luật chúng ta đã tiếp thu, kế thừa
và phát triển các nguyên tắc của pháp luật t sản nh nguyên tắc pháp chế, nguyêntắc bình đẳng của công dân trớc pháp luật
Các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa luôn định hớng và đợc vậndụng trong cơ chế điều chỉnh pháp luật ở tất cả các giai đoạn của quá trình điềuchỉnh pháp luật từ hoạt động xây dựng pháp luật cho đến hoạt động thực hiện và
áp dụng pháp luật, kể cả hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý vì lợi ích củanhân dân lao động Chính nhờ sự chỉ đạo của các nguyên tắc pháp luật xã hội chủnghĩa mà các quy định pháp luật xã hội chủ nghĩa luôn có sự gắn kết chặt chẽ và
sự thống nhất nội tại rất cao, đồng thời thể hiện sâu sắc bản chất dân chủ, nhân
đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa Chúng làm cho các quy phạm trong một chế
định pháp luật thống nhất, các chế định pháp luật trong một ngành luật thốngnhất, các ngành luật trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa thống nhất Mởrộng hơn các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa cũng làm cho pháp luật của
các nớc xã hội chủ nghĩa nói chung có sự thống nhất căn bản với nhau Mặt khác,
các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa cần đợc áp dụng linh hoạt trongmỗi lĩnh vực, mỗi thời kỳ sao cho phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của mỗi nớckhác nhau Trong quá trình thực hiện chúng thì không nên quá máy móc, cứngnhắc, tùy theo yêu cầu của vấn đề cụ thể đặt ra mà chú trọng đến nguyên tắc nàyhay nguyên tắc khác một cách hợp lý Chẳng hạn, đối với ngành luật này nguyêntắc này là quan trọng, song đối với ngành luật khác thì nguyên tắc khác lại quantrọng hơn hay ở giai đoạn này phải chú trọng nguyên tắc này nhiều hơn, ở giai
đoạn khác lại nhấn mạnh nguyên tắc khác Trong quá trình phát triển và hoànthiện phụ thuộc vào tình hình thực tế của mỗi nớc mà nội dung các nguyên tắccủa pháp luật sẽ có những thay đổi nhất định và cũng có thể xuất hiện thêmnhững nguyên tắc pháp luật mới
Việc xác định và thực hiện các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa phùhợp sẽ làm cho hệ thống pháp luật có hiệu quả cao, công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội đạt đợc nhiều thành tích, quyền, lợi ích của nhân dân đợc mở rộng
và nâng cao Ngợc lại, nếu việc xác định hoặc thực hiện các nguyên tắc pháp luậtkhông chính xác, không tốt sẽ có ảnh hởng xấu đến các hoạt động xây dựng, thựchiện pháp luật và xét đến cùng sẽ ảnh hởng không tốt đến sự phát triển kinh tế,chính trị- văn hoá, xã hội của đất nớc và đời sống của nhân dân Chẳng hạn, nộidung của một số nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ nềnkinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp đợc xây dựng và áp dụng một cách nóngvội, cứng nhắc, không phù hợp với thực tế đã làm cho nhiều quy định pháp luậtcao hơn so với tình hình, điều kiện kinh tế- xã hội của đất nớc, khó đi vào cuộcsống dẫn đến hiệu lực và hiệu quả pháp luật không cao Có thể nói ở thời kỳ này
chúng ta đã “mắc sai lầm chủ quan, nóng vội, không tôn trọng, thậm chí làm trái quy luật khách quan, đồng thời lại bảo thủ, trì trệ, nên đã duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp … khiến cho nền kinh tế lâm vào tình trạng khó khăn
Trang 16kéo dài, lạm phát triền miên, giá cả không ổn định, đời sống bấp bênh, các giá trị đạo đức, tinh thần bị sói mòn, tiêu cực phát triển”(1)
Các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới, hộinhập, xây dựng nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhànớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đã thểhiện đờng lối đổi mới của Đảng và Nhà nớc Việt Nam về con đờng đi lên chủnghĩa xã hội ở nớc ta trong giai đoạn hiện nay là sự phát triển quá độ lên chủnghĩa xã hội bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa, nhng tiếp thu, kế thừa những thành
tựu mà nhân loại đã đạt đợc ở các thời đại trớc Đây "là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đờng, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ Trong những lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra sự đan xen và đấu tranh giữa cái mới và cái cũ"(2) Vìvậy, những nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam cần đợc vận dụngmột cách mềm dẻo, vì lợi ích thiết thực của đất nớc, của những ngời dân lao độngViệt Nam Chẳng hạn, trong điều kiện hiện nay chúng ta không thể áp dụng mộtcách cứng nhắc là xác lập và củng cố chế độ sở hữu về t liệu sản xuất nhằm thực
hiện một nền kinh tế quốc dân kế hoạch hoá tập trung mà phải "xuất phát từ thực tế của nớc ta và là sự vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trng của thời kỳ quá độ"1), với các hình thức tổ chức sảnxuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tnhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng
Các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới vàhội nhập quốc tế đã có những thay đổi cho phù hợp với tình hình mới nhằm chỉ
đạo quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, quá trình thực hiện và ápdụng pháp luật ở Việt Nam phát triển theo những phơng hớng cơ bản là: Thừanhận sự tồn tại và phát triển của nhiều hình thức sở hữu về t liệu sản xuất, nhiềuthành phần kinh tế; xây dựng nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa;chủ động hội nhập quốc tế; mở rộng hơn các thiết chế dân chủ, những hình thứcdân chủ; xây dựng nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân,trong đó quyền lực nhà nớc là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa cáccơ quan nhà nớc trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và t pháp;dân chủ hoá hoạt động của bộ máy nhà nớc; nâng cao quyền tự chủ của địa ph-
ơng, của cấp dới theo hớng phân cấp, phân quyền mạnh mẽ hơn; ghi nhận ngàycàng nhiều các quyền tự do dân chủ cho nhân dân; mở rộng phạm vi điều chỉnhcủa pháp luật lên các quan hệ xã hội; công bằng, nhân đạo, vì con ngời; bảo vệquyền công dân bằng con đờng t pháp; nâng cao an toàn pháp lý cho các tổ chức
và các cá nhân trong và ngoài nớc; đẩy mạnh pháp điển hoá pháp luật, hoàn thiệncác ngành luật; mở rộng tính công khai, minh bạch của pháp luật; mở cửa và hộinhập, hài hoà hoá pháp luật, từng bớc thu hẹp và tiến tới xoá bỏ sự khác biệt vềmột số chính sách và quy định pháp luật của Việt Nam với pháp luật của các nớckhác và với pháp luật quốc tế
Việc đổi mới, hoàn thiện các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa ViệtNam hiện nay phải đợc thực hiện một cách sáng tạo, nhng phải bảo đảm những
yêu cầu cơ bản: thứ nhất, phải tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh
tế-xã hội của đất nớc trên cơ sở giải phóng mọi năng lực, phát huy mọi tiềm năngcủa đất nớc làm cho dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh,
đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân; thứ hai,
Trang 17bảo đảm định hớng xã hội chủ nghĩa trong sự phát triển của đất nớc trên tất cảcác phơng diện kinh tế, chính trị, văn hoá- xã hội
2 Đặc điểm của các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội: "Do nhân dân lao động làm chủ;
có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lợng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các t liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con ngời đợc giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; các dân tộc trong nớc bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nớc trên thế giới"(1) Do vậy, các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa cónhững đặc điểm cơ bản sau:
2.1 Luôn đề cao chủ quyền nhân dân.
Sự nghiệp cách mạng ở các nớc xã hội chủ nghĩa là của nhân dân, do nhândân và vì nhân dân Trong chủ nghĩa xã hội nhân dân là chủ thể của quyền lực dovậy, mọi công việc lớn, có ý nghĩa quan trọng phải do nhân dân quyết định; cácthiết chế chính trị trong xã hội do nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp lập ra và phảichịu sự kiểm tra giám sát của nhân dân; các tổ chức này đều đợc thành lập vàhoạt động để thực hiện quyền lực của nhân dân vì lợi ích của nhân dân Trong đónhà nớc xã hội chủ nghĩa là biểu hiện tập trung nhất của quyền lực nhân dân,
đồng thời là công cụ hữu hiệu nhất để thực hiện chủ quyền nhân dân Nhân dânkhông chỉ tham tổ chức và thực hiện quyền lực mà còn có quyền kiểm tra, giámsát hoạt động của những ngời, những cơ quan thay mặt nhân dân để thực hiệnquyền lực nhân dân Khi nhà nớc thực sự là của nhân dân, do nhân dân thì khi đó
nhà nớc sẽ vì nhân dân Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: " bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân…"(1) Hiến pháp và pháp luậtcủa tất cả các nớc xã hội chủ nghĩa đều quy định nguyên tắc tất cả quyền lực nhànớc thuộc về nhân dân Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nớc thông qua hệ thốngcác cơ quan đại biểu do nhân dân trực tiếp bầu ra và chịu trách nhiệm trớc nhândân
Thông qua pháp luật nhà nớc xã hội chủ nghĩa luôn tạo điều kiện để nhândân tham gia quản lý nhà nớc và quản lý xã hội; ghi nhận và mở rộng nhiều thiếtchế dân chủ, những hình thức thực hiện dân chủ trong xã hội; xác lập mối quan
hệ đúng đắn giữa các tổ chức chính trị trong xã hội trên cơ sở của nguyên tắc dânchủ xã hội chủ nghĩa; công khai hoá các hoạt động nhà nớc và xã hội, thực hiệnchủ trơng: "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"; mở rộng các quyền tự do,dân chủ cho nhân dân; trừng trị nghiêm minh mọi hành vi xâm hại tới các quyền
H 1991, tr.8-9
Trang 18ời, phấn đấu vơn lên làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thânmình; mang lại cho mỗi ngời lao động khả năng nh nhau trong cống hiến và hởngthụ bằng chính năng lực, sự lao động và cống hiến của bản thân
Với tinh thần quốc tế vô sản, những ngời vô sản không chỉ mong muốngiải phóng ngời lao động trong đất nớc mình mà luôn tích cực ủng hộ các phongtrào đấu tranh giải phóng của các dân tộc, của những ngời lao động trên phạm vitoàn thế giới Điều này càng thể hiện tính nhân đạo, tiến bộ của pháp luật xã hộichủ nghĩa trong việc góp phần vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thếgiới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
2.3 Luôn củng cố khối đại đoàn kết toàn dân vì hoà bình, độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Đoàn kết là truyền thống quý báu và là bài học lớn của cách mạng xã hộichủ nghĩa: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thànhcông" Các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa luôn ghi nhận và thể hiện tinhthần đại đoàn kết dân tộc, tập hợp mọi lực lợng phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu n-
ớc mạnh; thực hiện chính sách đối ngoại vì hoà bình, hợp tác và hữu nghị với tấtcả các nớc; trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, đoàn kếtvới các nớc xã hội chủ nghĩa, với tất cả các lực lợng đấu tranh vì hoà bình, độclập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản luôn là đảm bảo cao nhất cho chế độ xãhội chủ nghĩa bởi mục đích của Đảng là xây dựng chủ nghĩa xã hội, đem lại cuộcsống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việcphụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân Sự nghiệp cách mạng mà nhân dân tiếnhành sẽ không thể thắng lợi nếu không có vai trò lãnh đạo của Đảng Vì lẽ đótrong tất cả các hoạt động quan trọng của nhà nớc và xã hội pháp luật xã hội chủnghĩa luôn ghi nhận, củng cố bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối vớinhà nớc và xã hội xã hội chủ nghĩa
2.4 Không ngừng phát triển, hoàn thiện vì các mục tiêu dân chủ, nhân
đạo, vì hạnh phúc của con ngời.
Các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa luôn không ngừng đợc hoànthiện và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa vì các mụctiêu dân chủ, nhân đạo vì hạnh phúc của con ngời Trong chủ nghĩa xã hội conngời là giá trị cao quý nhất, mọi cố gắng của nhà nớc và xã hội đều phải nhằmmục đích phục vụ con ngời, vì lợi ích và hạnh phúc của con ngời Do vậy, tronghoạt động xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật, nhà nớc xã hội chủ nghĩaluôn thấm nhuần t tởng chỉ đạo là bảo vệ tính mạng, danh dự, sức khoẻ và nhânphẩm cho mỗi ngời Mọi ngời sống với nhau trong tình thân ái, đoàn kết, giúp đỡlẫn nhau cùng tiến bộ trên tinh thần "mỗi ngời vì mọi ngời, mọi ngời vì mỗi ng-ời" Tạo mọi điều kiện để mỗi ngời có thể phát huy cao nhất và tốt nhất nhữngkhả năng của mình, tự quyết định hạnh phúc của mình Mục đích của pháp luật làkhông ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xãhội Các biện pháp trách nhiệm pháp lý đợc quy định không có mục đích gây đaukhổ về thể xác, hành hạ con ngời hoặc hạ thấp nhân phẩm của họ mà phải vừa
đảm bảo sự trừng phạt phù hợp với những hậu quả mà họ đã gây ra cho xã hội,vừa đảm bảo sự giáo dục, cải tạo chủ thể vi phạm pháp luật để họ có thể trở lạivới cuộc sống lơng thiện cùng các chủ thể khác trong xã hội Có sự kết hợp giữagiáo dục, thuyết phục và cỡng chế trong các cách thức tác động pháp luật lên cácquan hệ xã hội
3 Phân loại các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa
Pháp luật xã hội chủ nghĩa có rất nhiều các nguyên tắc khác nhau nên
Trang 19cũng có rất nhiều cách để phân chia chúng thành các nhóm khác nhau tuỳ theocách tiếp cận của chủ thể phân chia Và đơng nhiên sự phân chia và xác định têngọi các nguyên tắc pháp luật theo cách nào thì cũng chỉ mang tính chất tơng đối
mà thôi, vì: thứ nhất, giữa các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa luôn có mối
liên hệ mật thiết với nhau, nội dung của chúng luôn đan xen nhau nhiều khi khó
có thể tách bạch một cách rạch ròi; thứ hai, các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ
nghĩa luôn có sự vận động, phát triển không ngừng cho phù hợp với sự vận động,phát triển của xã hội và mức độ vận dụng các nguyên pháp luật ở mỗi nớc, mỗigiai đoạn cũng khác nhau Chúng ta có thể phân loại các nguyên tắc pháp luật xãhội chủ nghĩa theo một số cách sau:
a) Theo tính chất và mục đích của các nguyên tắc có thể chia các nguyên
tắc pháp luật thành: Các nguyên tắc chung mang tính chất chính trị- xã hội và các
nguyên tắc pháp lý đặc thù
+ Các nguyên tắc chung của pháp luật: là những nguyên tắc luôn phản ánh
một cách trực tiếp chế độ xã hội chủ nghĩa, chúng đợc đặt ra nhằm xác định rõnhững nguyên lý, t tởng chỉ đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa là thiết lập, củng
cố và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, nhằm đa lại cuộc sống ấm no, hạnh phúccho nhân dân lao động Chẳng hạn, các nguyên tắc nh bảo đảm sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản trong các hoạt động nhà nớc, nguyên tắc xác lập và bảo vệ chế độ
sở hữu xã hội chủ nghĩa Các nguyên tắc chung của pháp luật luôn chỉ đạo, quánxuyến toàn bộ hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa
+ Các nguyên tắc pháp lý đặc thù của pháp luật: là những nguyên tắc thể
hiện rõ bản chất và những đặc trng của pháp luật, chúng đợc đặt ra nhằm giải đápvấn đề có tính đặc thù là hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa sẽ củng cố và bảo
vệ chế độ xã hội chủ nghĩa nh thế nào Chẳng hạn, nh nguyên tắc pháp chế,nguyên tắc bảo đảm tính kịp thời, đồng bộ, tính phù hợp, tính khả thi của hệthống pháp luật Về cấu trúc, các nguyên tắc pháp lý đặc thù đợc phân chia theophạm vi hiệu lực của pháp luật thành các nguyên tắc liên ngành luật (Chẳng hạn,nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trớc pháp luật; khi xét xử Thẩm phán vàHội thẩm nhân dân độc lập, chỉ tuân theo pháp luật ) và nguyên tắc của ngànhluật (Chẳng hạn, nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng; nguyên tắc cá biệt hoátrách nhiệm hình sự )
b) Nếu phân chia theo phạm vi chỉ đạo của các nguyên tắc pháp luật đối
với hệ thống pháp luật sẽ có: Các nguyên tắc chung; các nguyên tắc liên ngành;các nguyên tắc của ngành luật, thậm chí có nguyên tắc của từng văn bản phápluật
+ Các nguyên tắc pháp luật chung: là những nguyên tắc liên quan đến toàn
bộ hệ thống pháp luật, các hoạt động pháp luật ở bất kỳ một lĩnh vực nào Chẳnghạn, nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc công bằng xã hội, nguyên tắc nhân đạo,nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa luôn liên quan đến tất cả các ngành luậttrong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa
+ Các nguyên tắc pháp luật liên ngành: là những nguyên tắc liên quan đến
hai hoặc một số ngành luật Chẳng hạn, nguyên tắc việc xét xử ở toà án do Thẩmphán và Hội thẩm nhân dân thực hiện; nguyên tắc khi xét xử các thẩm phán vàhội thẩm nhân dân độc lập, chỉ tuân theo pháp luật là nguyên tắc của cả ngànhluật tố tụng hình sự lẫn ngành luật tố tụng dân sự và pháp luật về tổ chức và hoạt
động của toà án
+ Các nguyên tắc pháp luật của ngành luật: là những nguyên tắc chỉ liên
quan tới một ngành luật Ngoài những nguyên tắc chung, mỗi một ngành luật
Trang 20trong hệ thống pháp luật còn đợc chỉ đạo bởi một số những nguyên tắc đặc thùcủa ngành luật đó Chẳng hạn, nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng; nguyêntắc tự nguyện kết hôn trên cơ sở tình yêu chỉ liên quan đến luật hôn nhân và gia
đình Còn ngành luật hình sự Việt Nam có những nguyên tắc đặc thù nh nguyêntắc trách nhiệm cá nhân; nguyên tắc có lỗi; nguyên tắc cá thể hoá hình phạt
c) Nếu phân chia theo lĩnh vực của đời sống xã hội mà các nguyên tắc
pháp luật chỉ đạo sẽ có đợc: Nhóm nguyên tắc kinh tế; nhóm nguyên tắc chínhtrị; nhóm nguyên tắc đạo đức; nhóm nguyên tắc xã hội; nhóm nguyên tắc t tởng;nhóm nguyên tắc pháp lý
+ Nhóm nguyên tắc kinh tế của pháp luật: là những nguyên tắc liên quan
đến việc xác lập, củng cố và phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, nhằm mục
đích làm cho dân giàu, nớc mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất vàtinh thần của nhân dân Chẳng hạn, nguyên tắc xác lập và bảo vệ chế độ sở hữuxã hội chủ nghĩa, củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy quá trìnhxã hội hoá t liệu sản xuất, nâng cao đời sống của nhân dân lao động; nguyên tắc
"làm theo năng lực, hởng theo lao động"
+ Nhóm nguyên tắc chính trị của pháp luật: là những nguyên tắc liên quan
đến việc xác lập, củng cố chính quyền nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân thamgia quản lý nhà nớc và quản lý xã hội, tự quyết định lấy vận mệnh và xu hớngphát triển của đất nớc mình Chẳng hạn, nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc vềnhân dân; nguyên tắc bảo đảm sự ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xãhội
+ Nhóm nguyên tắc đạo đức của pháp luật: là những nguyên tắc xác định
ý thức, trách nhiệm, bổn phận của mỗi con ngời trong xã hội xã hội chủ nghĩa
tr-ớc nhà ntr-ớc, xã hội và nhân loại nói chung, trtr-ớc gia đình và bản thân nói riêng Chẳng hạn, nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa; nguyên tắc sự thống nhất giữaquyền và nghĩa vụ của nhà nớc, xã hội và công dân; củng cố tinh thần quốc tế vôsản, tình yêu tổ quốc, lòng tự hào dân tộc, bảo vệ gia đình
+ Nhóm nguyên tắc xã hội của pháp luật: là những nguyên tắc nhằm đề
cao con ngời lao động, đảm bảo cho mỗi ngời có điều kiện phát triển toàn diện vềmọi mặt, thực hiện sự công bằng xã hội Chẳng hạn, nguyên tắc bảo vệ quyền,
tự do, lợi ích chính đáng của ngời lao động, bảo đảm an toàn cho mỗi ngời, tôntrọng quyền con ngời, những giá trị nhân phẩm, đạo đức của mỗi ngời; tạo điềukiện thuận lợi cho sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân; nguyên tắc công bằngxã hội
+ Nhóm nguyên tắc t tởng của pháp luật: là những nguyên tắc nhằm bảo
vệ những giá trị văn hoá, tinh thần trong xã hội, tạo điều kiện để mỗi ngời dân cóthể tiếp cận, tiếp thu và hởng thụ những giá trị văn hoá, tinh thần của dân tộc vànhân loại theo quan điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học Chẳng hạn, nguyêntắc tôn trọng tự do t tởng, tự do tín ngỡng; xây dựng thế giới quan khoa học cộngsản chủ nghĩa trong pháp luật và trong các hoạt động pháp luật, chống mọi quan
điểm cực đoan, giáo điều, xa rời thực tiễn và những quan điểm chống chủ nghĩaxã hội
+ Nhóm nguyên tắc pháp lý của pháp luật: là những nguyên tắc thể hiện
bản chất của pháp luật xã hội chủ nghĩa, chúng bảo đảm cho quá trình điều chỉnhpháp luật đợc tiến hành thuận lợi, chính xác, có hiệu quả cao nhằm đạt đợcnhững lý tởng của chủ nghĩa xã hội trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xãhội Chẳng hạn, nguyên tắc bảo đảm tính kịp thời, đồng bộ, phù hợp của hệ thốngpháp luật và tính khả thi của các quy định pháp luật; bảo đảm sự bình đẳng của
Trang 21mọi công dân trớc pháp luật; nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa hội chủ nghĩa Việt Nam trong điều kiện đổi mới và hội nhập quốc tế
PGS.TS.Thái Vĩnh Thắng
1.KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI CÁC NGUYấN TẮC PHÁP LUẬT
Thuật ngữ nguyờn tắc cú nguồn gốc từ thời La Mó cổ đại là “ Principium”
cú nghĩa là cơ sở, cốt lừi, nền tảng Trong khoa học phỏp lý hiện đại, nguyờn tắcphỏp luật được hiểu là những tư tưởng chỉ đạo, những định hướng cơ bản trongviệc xõy dựng và hoàn thiện hệ thống phỏp luật Cú thể vớ nguyờn tắc phỏp luậtđối với việc xõy dựng và hoàn thiện hệ thống phỏp luật như phương của sợi dõydọi mà người thợ xõy sử dụng để kiểm tra phương thẳng đứng của bức tường.Việc xỏc định đỳng đắn cỏc nguyờn tắc phỏp luật của một quốc gia giỳp choquốc gia đú đỏnh giỏ chớnh xỏc thực trạng của hệ thống phỏp luật của quốc giamỡnh, nhận rừ được những ưu điểm, hạn chế của hệ thống phỏp luật thực tại vàxỏc định được những phương hướng đỳng đắn để nhanh chúng khắc phục nhữnghạn chế, hoàn thiện hệ thống phỏp luật
Cỏc nguyờn tắc của phỏp luật thụng thường được xem xột trờn tất cả cỏcphương diện chớnh trị, kinh tế, văn húa - xó hội, đạo đức, phong tục tập quỏn,quan hệ đối nội và đối ngoại
Cú thể phõn chia cỏc nguyờn tắc phỏp luật thành ba loại : cỏc nguyờn tắcchung - nguyờn tắc của toàn bộ hệ thống phỏp luật , cỏc nguyờn tắc liờn ngành -nguyờn tắc ỏp dụng cho một số ngành luật và cỏc nguyờn tắc riờng - nguyờn tắcđặc thự của từng ngành luật
1.1 Cỏc nguyờn tắc chung bao gồm:
- Phỏp luật phải thể hiện ý chớ của tất cả cỏc tầng lớp nhõn dõn lao động;
- Mọi cụng dõn bỡnh đẳng trước phỏp luật;
- Tụn trọng và bảo vệ cỏc quyền cụng dõn và quyền con người;
- Đảm bảo tớnh tối cao của Hiến phỏp;
- Đảm bảo vai trũ lónh đạo của Đảng cộng sản;
- Đảm bảo sự bỡnh đẳng và đoàn kết giữa cỏc dõn tộc;
- Đảm bảo tớnh cụng bằng xó hội của phỏp luật;
- Phỏp luật phải được xõy dựng và phỏt triển một cỏch toàn diện, đồng bộ,phự hợp với điều kiện kinh tế xó hội của đất nước, xu thế hội nhập quốc tế vàtoàn cầu hoỏ;
- Đảm bảo tớnh ổn định tương đối của hệ thống phỏp luật;
- Đảm bảo tớnh minh bạch của phỏp luật;
1.2 Cỏc nguyờn tắc liờn ngành bao gồm cỏc nguyờn tắc như:
- Khi xột xử cỏc thẩm phỏn độc lập và chỉ tuõn theo phỏp luật - nguyờntắc liờn ngành hiến phỏp, tố tụng hỡnh sự , tố tụng dõn sự và tố tụng hành chớnh
Trang 22-Nguyên tắc bình đẳng và tự do thỏa thuận ý chí khi tham gia quan hệpháp luật - nguyên tắc liên ngành của các ngành luật thuộc lĩnh vực tư pháp nhưluật dân sự, luật thương mại, luật lao động, luật hôn nhân và gia đình.
- Nguyên tắc các cơ quan nhà nước cấp dưới phải thi hành các mệnh lệnhcủa các cơ quan nhà nước cấp trên - nguyên tắc liên ngành của các ngành luậtthuộc lĩnh vực công pháp…
- Nguyên tắc không ai có thể bị bắt, nếu không có quyết định của toà án,
quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát - nguyên tắc liên ngành Luật hiếnpháp và Luật tố tụng hình sự
- Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có một bản án kết tội của
cơ quan toà án đã có hiệu lực pháp luật - nguyên tắc liên ngành Luật hiến pháp
1.3 Các nguyên tắc riêng của từng ngành luật:
Nguyên tắc riêng của từng ngành luật là các nguyên tắc đặc thù của từngngành luật Dưới đây là các nguyên tắc đặc thù của một số ngành luật
1.3.1 Luật hôn nhân và gia đình có các nguyên tắc đặc thù sau đây:
- Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, các tôn giáo, giữangười theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam vớingười nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ;
- Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình;
- Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con,giữa con trai và con gái, giữa con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoàigiá thú
- Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp
đở các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ
1.3.2 Luật lao động có các nguyên tắc đặc thù sau đây:
- Nguyên tắc bảo hiểm xã hội;
- Nguyên tắc bảo vệ người lao động;
- Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động;
- Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động;
- Nguyên tắc giao kết thoả ước lao động tập thể;
- Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động
1.3.3 Luật đất đai có các nguyên tắc đặc thù sau đây:
- Nguyên tắc đất đai thuộc quyền sở hữu của nhà nước;
- Nguyên tắc nhà nước thống nhất quản lý đất đai;
Trang 23- Nguyên tắc sử dụng đất đai hợp lý và tiết kiệm;
- Nguyên tắc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổnđịnh lâu dài vào mục đích nông nghiệp;
- Nguyên tắc nhà nước quan tâm sâu sắc đến quyền và lợi ích hợp phápcủa người sử dụng đất
1.3.4 Luật hình sự có các nguyên tắc đặc thù sau đây:
- Nguyên tắc cộng toàn bộ hình phạt (nguyên tắc tổng hợp các hình phạt tù
có thời hạn cho phép cộng toàn bộ các hình phạt để có hình phạt chung Nguyêntắc này được áp dụng khi tổng các hình phạt không vượt quá 20 năm tù);
- Nguyên tắc truy tội khách quan;
- Nguyên tắc không áp dụng tương tự
135 Luật dân sự có các nguyên tắc đặc thù sau đây:
- Nguyên tắc tôn trọng lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng,quyền, lợiích hợp pháp của ngưòi khác;
- Nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp của dân tộc;
- Nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền nhân thân;
- Nguyên tắc tôn trọng bảo vệ quyền sở hữu, các quyền khác đối với tài sản
- Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận;
- Nguyên tắc bình đẳng, nguyên tắc thiện chí, trung thực;
- Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự;
- Nguyên tắc hoà giải
Ngoài những nguyên tắc của các ngành luật đã nói trên các ngành luậtkhác đều có các nguyên tắc đặc thù của mình
2 CÁC NGUYÊN TẮC CHUNG CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬTNƯỚC TA TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
2.1 Nguyên tắc hệ thống pháp luật phải thể hiện ý chí của các tầng lớp nhân dân lao động
Nguyên tắc pháp luật phải thể hiện ý chí của tất cả các tầng lớp nhân dânlao động là nguyên tắc chung của cả hệ thống pháp luật, của các ngành luật thuộclĩnh vực công pháp cũng như tư pháp Đây là nguyên tắc hiến định của pháp luậttất cả các nước xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vìnhân dân Để đảm bảo nguyên tắc này, việc xây dựng Hiến pháp, các bộ luật, cácluật về tổ chức bộ máy nhà nước như Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Quốc
Trang 24hội, Luật tổ chức toà án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật tổchức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân và các văn bản luật quan trọng khácphải được nhân dân thảo luận, đóng góp ý kiến một cách rộng rãi Đặc biệt, đốivới Hiến pháp - đạo luật cơ bản của nhà nước, việc xây dựng hoặc sửa đổi nó cầnphải được tiến hành theo một thủ tục đặc biệt Sau khi đã được nhân dân thảo luậnrộng rãi, phải được Quốc hội thông qua với ít nhất 2/3 số phiếu thuận Ở nhiềunước trên thế giới có luật về trưng cầu dân ý, những vấn đề quan trọng của đấtnước đều phải trưng cầu ý dân Ví dụ, theo Hiến pháp 1958 của Pháp, dự thảoHiến pháp hoặc luật sửa đổi Hiến pháp sau khi được hai viện của Nghị viện thôngqua với đa số tăng cường (từ 2/3 trở lên số phiếu thuận) phải được nhân dân phúcquyết thông qua hình thức referendum (toàn dân bỏ phiếu).
2.2 Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật
Trong nhà nước chiếm hữu nô lệ và phong kiến do quyền lực tối cao củanhà nước thuộc về hoàng đế và quyền lực của hoàng đế là vô hạn nên nhà vuađứng trên pháp luật, đứng ngoài pháp luật, nguyên tắc mọi công dân bình đẳngtrước pháp luật chưa được thiết lập Chỉ sau khi có các cuộc cách mạng dân chủ
tư sản, nhà nước tư sản ra đời nguyên tắc mọi công dân bình đẳng trước phápluật mới được thiết lập.Ở Việt Nam trong thời kỳ phong kiến và thời kỳ thuộcđịa nửa phong kiến tính chất pháp luật đặc quyền, đặc lợi của giai cấp thống trịlàm cho đa số dân cư trong xã hội bất bình với pháp luật, chống đối hoặc khinh
bỉ pháp luật Sau khi cách mạng tháng tám năm 1945 thành công, nhà nước cộnghoà dân chủ nhân dân ra đời, nguyên tắc mọi công dân bình đẳng trước pháp luậtđược thiết lập Từ đó đến nay nguyên tắc mọi công dân bình đẳng trước phápluật trở thành một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của pháp luật nước ta.Nguyên tắc này lần đầu tiên được khẳng định trong Điều 6 Hiến pháp 1946: “Tất cả mọi công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính tri,kinh tế, văn hoá” Hiến pháp còn khẳng định: “ Tất cả công dân Việt Nam đềubình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiếnquốc, tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình” ( Điều 7) Quyền bình đẳng nam
nữ cũng được bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta ghi nhận: “ Đàn bà ngangquyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9) Các quy định trên đây đượckhẳng định lại trong các Hiến pháp 1959, 1980, 1992 ( sửa đổi 2001) Hơn nữacác Hiến pháp về sau quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật cácđược quy định một cách cụ thể hơn Điều 23 Hiến pháp 1959 quy định: “ Côngdân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, không phân biệt dân tộc, nòi giống, nam
nữ, thành phần xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng, tình trạng tài sản, trình độ văn hoá,nghề nghiệp, thời hạn cư trú, từ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử 21 tuổi trởlên đều có quyền ứng cử, trừ những người mất trí và những người bị toà án hoặcpháp luật tước quyền bầu cử” Hiến pháp 1959 cũng quy định cụ thể hơn vềquyền bình đẳng nam nữ: “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền
Trang 25bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế , văn hoá, xã hội
và gia đình Cùng làm việc như nhau phụ nữ được hưởng lương ngang với namgiới Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên chức được nghỉtrước và sau khi đẻ mà vẫn được hưỏng nguyên lương Nhà nước bảo hộ quyềnlợi của người mẹ và của trẻ em , bảo đảm phát triển các nhà đở đẻ, nhà giữ trẻ vàvườn trẻ.” (Điều 24) Hiến pháp 1980 đã phát triển thêm một bước trong việc cụthể hoá hơn nữa quyền bình đẳng mọi của công dân Điều 63 Hiến pháp 1980quy định: “Phụ nữ và nam giới có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh
tế, văn hoá xã hội và gia đình Nhà nước và xã hội chăm lo nâng cao trình độchính trị, văn hoá, khoa học, kỹ thuật và nghề nghiệp của phụ nữ, không ngừngnâng cao vai trò của phụ nữ trong xã hội Nhà nước có chính sách lao động phùhợp với điều kiện của phụ nữ Phụ nữ và nam giới có việc làm như nhau thìhưởng lương ngang nhau Phụ nữ có quyền nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫnhưởng nguyên lương nếu là công nhân, viên chức, hoặc hưởng phụ cấp sinh đẻnếu là xã viên hợp tác xã Nhà nước và xã hội chăm lo phát triển các nhà hộ sinh,nhà trẻ, lớp mẩu giáo, nhà ăn công cộng và những cơ sở phúc lợi xã hội khác, tạođiều kiện thuận lợi cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập và nghỉ ngơi” Hiếnpháp 1992 (sửa đổi 2001) một lần nữa khẳng định quyền bình đẳng của mọi côngdân, đồng thời cũng đề cao quyền bình đẳng nam nữ Điều 63 Hiến pháp 1992(sửa đổi 2001) cũng đã khẳng định lại các quy định về quyền bình đẳng nam nữtrong Hiến pháp 1980, đồng thời còn bổ sung thêm quy định: “Nghiêm cấm mọihành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm của phụ nữ”
Quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật còn được hiểu trênmột bình diện khác là sự bình đẳng của mọi công dân chịu trách nhiệm trướcpháp luật Từ công dân bình thường đến nguyên thủ quốc gia nếu vi phạm phápluật đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật Việc xây dựng nhà nước phápquyền đòi hỏi bất kỳ một cơ quan nhà nước hay một nhà chức trách nào đều ởtrong sự kiểm soát của pháp luật Bất kỳ một quan chức nào dù là Thủ tướnghay là nguyên thủ quốc gia, nếu vi phạm pháp luật đều phải được xử lý nghiêmminh theo đúng quy định của pháp luật Ở Hoa Kỳ mặc dù Tổng thống có quyềnlực rất lớn, vừa đứng đầu nhà nước, vừa đứng đầu Chính phủ, lại có quyền phủquyết các dự luật đã được hai viện của Quốc hội thông qua, có quyền bổ nhiệmcác thẩm phán và các quan chức cao cấp trong bộ máy nhà nước, tuy nhiên nếu
vi phạm pháp luật Tổng thống có thể bị xét xử theo thủ tục đàn hạch(impeachment), theo đó Hạ viện sẽ buộc tội và Thượng viện sẽ xét xử Tronglịch sử Hoa Kỳ có ba đương kim Tổng thống đã bị xét xử theo thủ tục đàn hạch
Đó là Tổng thống Andrew Johnson bị xét xử vào năm 1868 và suýt bị mất chức (chỉ thiếu 1 phiếu để đạt đủ 2/3 số nghị sĩ ở Thượng viện - số phiếu đủ để phếtruất Tổng thống ); Tổng thống Richard Nixon bị đàn hạch vào năm 1974 vì vụOa-tơ-ghết (Watergate) và phải xin từ chức trước thời hạn; gần đây, năm 1999,
Trang 26Tổng thống Bill Clinton bị đàn hạch vì vụ gọi là bê bối tình dục với cô sinh viênthực tập Monica Lewinsky và được xử trắng án vì không đủ chứng cứ buộc tội.Trong một quốc gia, nếu Tổng thống cũng bị buộc tội và bị đưa ra xét xử trướccông đường thì rõ ràng không thể có ai có thể ở trên pháp luật, ở ngoài pháp luật.
2.3 Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền công dân và quyền con người
Pháp luật của nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ khi ra đờicho đến nay luôn luôn tôn trọng và bảo vệ các quyền công dân và quyền conngười, tuy nhiên do quan niệm giản đơn về quyền con người đã được thể hiệntrong các quyền của công dân nên trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980 quyềncon người chưa được thể hiện Việc ghi nhận các quyền con người bên cạnh cácquyền công dân trong Hiến pháp 1992 là một sự tiến bộ lớn trong hoạt động lậppháp ở nước ta So sánh khái niệm quyền công dân và quyền con người, chúng tathấy hai khái niệm này không đồng nhất với nhau Bất kỳ công dân nào cũng làcon người nên bất kỳ công dân nào cũng có quyền con người Tuy nhiên, khôngphải bất kỳ con người nào cũng là công dân, nên không phải bất kỳ con ngườinào cũng được hưởng quyền công dân Vì vậy, nếu trong Hiến pháp không xáclập nghĩa vụ của nhà nước bảo vệ các quyền con người thì một số chủ thể phápluật sẽ không được Hiến pháp bảo vệ Ở nước ta, trong các chủ thể pháp luật là
cá nhân, chúng ta thấy có công dân Việt Nam, công dân nước ngoài và ngườikhông có quốc tịch Những người không quốc tịch có thể là người nước ngoài vàngười Việt Nam Những người Việt Nam ra nước ngoài trong một thời gian dài,
do cắt đứt quan hệ với Việt Nam từ lâu nên không còn mang quốc tịch Việt nam.Tuy nhiên do không thông thạo ngôn ngữ quốc gia mà họ nhập cư, nên họ vẫnchưa nhập quốc tịch mới được1 Sống ở nước ngoài trong một thời gian dài trongtình trạng của người có hộ tịch là không quốc tịch, nay những người đó trở vềViệt Nam trong tình trạng không quốc tịch Để được nhập quốc tịch Việt Namnhững người trên đây phải chờ đợi một thời gian nhất định Trong thời gian chờđợi để được nhập quốc tịch, những người không có quốc tịch không được hưởngcác quyền và lợi ích hợp pháp dành cho công dân, nhưng họ được hưởng cácquyền và lợi ích hợp pháp dành cho con người Quyền con người là các quyền
mà pháp luật cần phải thừa nhận đối với tất cả các thể nhân2 Đó là các quyền tốithiểu mà các cá nhân phải có, những quyền mà các nhà lập pháp không đượcxâm hại đến3 Quyền con người lần đầu tiên được trang trọng ghi nhận trong Bảntuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776: “ Tất cả mọi người sinh ra đều cóquyền bình đẳng Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm hạiđược,trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu
sống ở Pháp từ 5 năm trở lên và phải trải qua một kỳ sát hạch tiếng Pháp để có chứng chỉ về thông thạo tiếng Pháp.
Trang 27hạnh phúc” Bản Tuyên ngôn nhân quyền và công dân quyền của Pháp năm 1789cũng khẳng định: “ Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và luônphải được tự do và bình đẳng về quyền lợi” Quyền con người được luật phápquốc tế thừa nhận và bảo vệ Ngày 19/12/1966 Đại hội đồng liên hợp quốc đãthông qua hai Công ước quốc tế về quyền con người Công ước thứ nhất là Côngước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị có hiệu lực từ ngày 23/3/1976,công ước thứ hai là Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội cóhiệu lực từ ngày 3/1/ 1976 Việt Nam đã gia nhập hai công ước này ngày 24 / 9 /
1982 Về công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị cần lưu ý nhữngquy định cơ bản sau đây:
- Mỗi người đều có quyền được sống Quyền này được pháp luật bảo vệ.Không ai bị tước đoạt mạng sống một cách vô cớ (Khoản 1 Điều 6)
- Ở những nước mà hình phạt tử hình chưa được xoá bỏ thì chỉ được phép
áp dụng án tử hình đối với những tội ác nghiêm trọng nhất căn cứ vào luật pháphiện hành ở thời điểm thực hiện tội ác và không được trái với những quy địnhcủa Công ước này và Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng Hìnhphạt tử hình chỉ được thi hành trên cơ sở bản án đã có hiệu lực pháp luật do mộttoà án có thẩm quyền phán quyết ( Khoản 2 Điều 6)
- Bất kỳ người nào bị kết án tử hình phải có quyền xin ân giảm hoặc xinthay đổi mức hình phạt Việc ân xá, ân giảm hoặc chuyển đổi hình phạt tử hình
có thể được áp dụng đối với tất cả mọi trường hợp ( Khoản 4 Điều 6)
- Không được phép áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội dưới
18 tuổi và không được áp dụng đối với phụ nữ đang có thai (Khoản 5 Điều 6)
- Không một người nào có thể bị tra tấn, đối xử hoặc bị áp dụng hình phạtmột cách tàn nhẩn, vô nhân đạo, hoặc nhục hình Đặc biệt không một người nào
có thể bị sử dụng để làm thí nghiệm y học hoặc khoa học mà không được sựđồng ý tự nguyện của người đó ( Điều 7)
- Không được phép bắt giữ nô lệ bất cứ người nào; chế độ nô lệ và buônbán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị cấm ( Khoản 1 Điều 8)
- Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an ninh cá nhân Không ai bịbắt hoặc bị giam giữ vô cớ Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp có lý do
và phải theo đúng những thủ tục mà luật pháp đã quy định (Khoản 1 Điều 9)
- Bất cứ người nào bị bắt hoặc giam giữ vì một tội phạm hình sự, phải sớmđược đưa ra toà hoặc một cơ quan pháp luật có thẩm quyền để tiến hành tố tụng
và phải được xét xử trong một thời hạn hợp lý hoặc trả tự do (Khoản 3 Điều 9)
- Bất cứ người nào do bị bắt hoặc bị giam giữ mà bị tước tự do đều cóquyền yêu cầu được xét xử trước toà án, nhằm mục đích để toà án đó có thểquyết định không chậm trể về tính hợp pháp của việc giam giữ hoặc trả lại tự donếu việc giam giữ đó là bất hợp pháp (Khoản 4 Điều 9)
Trang 28- Bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam cầmbất hợp pháp đều có quyền yêu cầu được bồi thường (khoản 5 Điều 9).
- Những người bị tước tự do phải được đối xử nhân đạo và với sự tôntrọng nhân phẩm vốn có của con người ( Khoản 1 Điều 10)
- Trừ những hoàn cảnh đặc biệt, bị can, bị cáo phải được giam giữ riêng ,cách ly khỏi những người đã thành án và phải được đối xử theo chế độ riêng phùhợp với quy chế đối với người bị tạm giam; Những bị can chưa đến tuổi thànhniên phải được tách khỏi người lớn và phải được xét xử càng nhanh càng tốt( Khoản 2 Điều 100)
- Chế độ giam thi hành án phải nhằm mục đích chính yếu trong việc đối
xử với tù nhân là cải tạo và đưa họ trở lại với xã hội Những phạm nhân chưađến tuổi thành niên phải được tách riêng khỏi người lớn và phải được đối xử phùhợp với lứa tuổi của họ ( Khoản 3 Điều 10)
- Không ai bị bỏ tù chỉ vì lý do không có khả năng hoàn thành nghĩa vụtheo hợp đồng ( Điều 11)
- Bất cứ ai cư trú hợp pháp trong lãnh thổ của một nước đều có quyền tự
do đi lại và lựa chọn nơi cư trú trong phạm vi lãnh thổ đó ( Điều 12)
- Mỗi người đều có quyền tự do rời khỏi bất kỳ nước nào, kể cả đất nướccủa chính người đó (Khoản 2 Điều 12)
- Không được hạn chế những quyền trên đây (quy định tại điều 12), trừnhững hạn chế do luật định do cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự côngcộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội hoặc các quyền và tự do của người khác vàphải phù hợp với với những quyền khác đã được Công ước này công nhận( Khoản 3 Điều 12)
- Không ai bị tước đoạt một cách độc đoán quyền trở về đất nước củangười đó ( Khoản 4 Điều 12)
- Một người nước ngoài cư trú hợp pháp trên lãnh thổ của một quốc giathành viên của công ước này chỉ có thể bị trục xuất khỏi nước đó theo quyết địnhphù hợp pháp luật, trừ trường hợp khác do yêu cầu cấp thiết về an ninh quốc gia,người bị trục xuất được phép đệ trình những lý lẽ phản đối việc trục xuất vàđược yêu cầu xem xét lại trường hợp của mình và được đại diện khi trường hợpcủa mình được xem xét lại bởi nhà chức trách có thẩm quyền, hoặc một ngườihoặc những người do nhà chức trách có thẩm quyền đặc biệt cử ra (Điều 13)
- Tất cả mọi người đều bình đẳng trước toà án và cơ quan tài phán Bất kỳngười nào đều có quyền đòi hỏi việc xét xử công bằng và công khai do một toà
án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật đểquyết định về lời buộc tội trong vụ án hình sự hoặc xác định quyền và nghĩa vụcủa người đó trong tố tụng dân sự Báo chí và công chứng có thể không đượcphép dự toàn bộ hoặc một phần của phiên xét xử vì lý do đạo đức, trật tự côngcộng hoặc an ninh quốc gia trong một xã hội dân chủ hoặc nếu do lợi ích giữ
Trang 29kín đời tư của các bên tham gia quan hệ tố tụng đòi hỏi hoặc trong những hoàncảnh đặc biệt,xét thấy đúng là việc xét xử công khai có thể làm phương hại đếnviệc tìm ra công lý Tuy nhiên các phán quyết trong vụ án dân sự hoặc hình sựphải được công bố trừ trường hợp lợi ích của người vị thành niên đòi hỏi cần làmkhác hoặc việc xét xử liên quan đến những tranh chấp hôn nhân hoặc về quyềngiám hộ trẻ em (Khoản 1 Điều 14).
- Người bị buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tớikhi tội của người đó được chứng minh theo pháp luật ( Khoản 2 Điều 14)
- Trong quá trình xét xử về một tội hình sự, theo Khoản 3 Điều 14, mỗingười đều có quyền đòi hỏi một cách hàn toàn bình đẳng những đảm bảo tốithiểu sau đây:
a) Được thông báo không chậm trể và chi tiết bằng một ngôn ngữ mà người
đó hiểu về bản chất và lý do buộc tội mình;
b) Có đủ thời gian phù hợp và điều kiện và điều kiện thuận tiện để chuẩn bịbào chữa do chính mình lựa chọn;
c) Được xét xử nếu không có lý do chính đáng để trì hoãn;
d) Được có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc nhờ sự giúp đỡ vềpháp lý do mình chọn; nếu chưa có sự giúp đỡ về pháp lý thì phải đượcthông báo về quyền này; trong trường hợp do lợi ích của công lý đòi hỏi,phải bố trí cho người đó một sự giúp đỡ về pháp lý mà người đó khôngphải trả tiền nếu không có điều kiện trả;
e) Được thẩm vấn hoặc nhờ người thẩm vấn những nhân chứng buộc tộimình và được mời người làm chứng gỡ tội cho mình tới phiên toà và thẩmvấn tại toà với những điều kiện như với người làm chứng buộc tội mình;f) Được giúp đỡ về phiên dịch không phải trả tiền, nếu người đó không hiểungôn ngữ sữ dụng trong phiên toà;
g) Không bị ép buộc phải chứng minh chống lại chính mình hoặc buộc tựthú là mình có tội
- Bất cứ người nào bị kết án phạm tội đều có quyền yêu cầu toà án cấp caohơn xem xét lại bản án và hình phạt đối với mình theo quy định của pháp luật( Khoản 5 Điều 14)
- Khi một người qua một quyết định chung thẩm bị kết án về một tội hình
sự và sau đó bản án bị huỷ bỏ hoặc nếu người đó được tuyên là là vô tội trên cơ
sở tình tiết mới cho thấy rõ ràng có sự nhầm lẫn tư pháp thì người đã chịu hìnhphạt trên có quyền yêu cầu được bồi thường, trừ trường hợp việc không kịp thờilàm sáng tỏ sự thật chưa biết hoàn toàn hoặc một phần là do bản thân người bịkết án gây nên (Khoản 6 Điều 14)
- Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo Quyền
tự do này bao gồm tự do theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn, tự
do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong tập thể với nhiều người
Trang 30khác, một cách công khai hoặc thầm kín dưới hình thức thờ cúng, cầu nguyện,thực hành và giảng đạo (Khoản 1 Điều 18).
- Mọi người có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệpvào (Khoản 1 Điều 18)
- Mọi người có quyền tự do ngôn luận Quyền này bao gồm cả quyền tự
do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranhgiới , hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng văn bản viết, in, hoặc bằng hìnhthức nghệ thuật hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng khác tuỳ theo sựlựa chọn của họ (Khoản 2 Điều 19)…
Những quy định trên đây trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự vàchính trị ngày 19/12/1966 đã được pháp luật nước ta thể hiện khá đầy đủ trongHiến pháp 1992 và trong Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự
và Bộ luật tố tụng dân sự cũng như trong các văn bản pháp luật khác
Bên cạnh việc thể chế hoá trong Hiến pháp và các luật các quyền công dân
và quyền con người trong lĩnh vực chính trị và dân sự, các quyền về kinh tế, vănhoá , xã hội cũng được thể chế hoá và từng bước hoàn thiện Đó là các quyềnhọc tập, lao động, nghiên cứu khoa học nghệ thuật, quyền tự do kinh doanh,quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sản xuất, vốn
và tài sản khác trong doanh nghiệp, hoặc trong các tổ chức kinh tế khác…
Thực hiện nguyên tắc bảo vệ các quyền công dân và quyền con người nhànước cần phải tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về các quyền cơbản của công dân và con người trong Hiến pháp cũng như việc cụ thể các quyền
đó nhằm tạo ra một cơ chế để đảm bảo thực hiện Trước hết cần phải khôi phụclại quyền tự do xuất bản của công dân Việt Nam đã được quy định trong Hiếnpháp 1946 Chỉ trên cơ sở có quyền tự do xuất bản thì quyền tự do ngôn luậnmới có thể hoàn thiện được Xã hội công dân cũng cần phải có các điều kiện đểbình đẳng với nhà nước trong các quan hệ pháp luật Đồng thời gấp rút xâydựng luật trưng cầu dân ý để các vấn đề đặc biệt quan trọng của đất nước nhândân trực tiếp quyết định Cần đa dạng hoá các hình thức sở hữu đất đai để chocông dân Việt Nam cũng có quyền sở hữu đất đai Trên cơ sở có quyền sở hữuđất đai thì quyền sở hữu nhà ở của công dân mới có thể hoàn thiện được
2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp
Trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia Hiến pháp được coi là đạo luật
cơ bản của nhà nước, được ban hành với một thủ tục đặc biệt và có hiệu lực pháp
lý cao nhất Ở Việt Nam theo quy định tại điều 146 Hiến pháp 1992 thi Hiếnpháp nước CHXHCN Việt Nam là đạo luật cơ bản của nhà nước có hiệu lựcpháp lý cao nhất Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp
Trang 31Nguyên tắc đảm bảo tính tối cao Hiến pháp là nguyên tắc chung của tất cảcác nhà nước pháp quyền trên thế giới4 Trên thế giới có nhiều mô hình cơ quan bảohiến, tuy nhiên chúng ta có thể sắp xếp chúng theo ba mô hình cơ bản sau đây:
- Toà án tối cao và toà án các cấp có chức năng bảo vệ Hiến pháp – Môhình Hoa Kỳ ( gồm Hoa Kỳ, Argentina, Mexico, Hi Lạp, Úc, Ấn Độ, Nhật ,Thụy Điển, Đan Mạch…) Trong mô hình này một số nước chỉ quy định Toà ántối cao có chức năng bảo vệ Hiến pháp (Gana, Namibia, Papua New Guinea,Srilanka, Estonia )
- Toà án Hiến Pháp (Constitutional Court) hoặc Hội đồng bảo hiến(Constitutional Counsil) là cơ quan chuyên biệt bảo vệ Hiến pháp – Mô hình lụcđịa châu Âu (bao gồm các nước: Áo, Italia, Đức, Nga, Pháp, Ukrain, Balan, TháiLan, Campuchia ) Tuy nhiên, trong các nước lục địa châu Âu có hai nước là
Bồ Đào Nha và Switzerland là hai nước kết hợp cả hai mô hình là Hoa Kỳ và lụcđịa châu Âu
- Cơ quan lập hiến đồng thời là cơ quan bảo hiến (Việt Nam, Trung Quốc,
Cu Ba…)
Việt Nam thuộc vào nhóm số ít các nước không có thiết chế chuyên biệtthực hiện chức năng bảo hiến Việc Quốc hội vừa là cơ quan lập hiến vừa là cơquan bảo hiến dẫn đến một tình trạng thực tế là từ khi thành lập nước cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho đến nay chưa có luật nào bị bải bỏ vì được coi là
vi hiến Tuy nhiên, trong thực tế chúng ta thấy đã có những luật không phù hợpvới quy định của Hiến pháp nhưng không bị bãi bỏ Ví dụ, Hiến pháp 1946 tạiĐiều 12 quy định vấn đề nhà nước bảo hộ quyền tư hữu tài sản cho công dânViệt Nam nhưng Luật cải cách ruộng đất năm 1953 đã quốc hữu hoá ruộng đất
và tài sản của địa chủ và tư sản Nếu ban hành và áp dụng Luật cải cách ruộngđất thì trước hết phải sửa đổi Điều 12 của Hiến pháp1946.Tuy nhiên, trên thực tếĐiều 12 Hiến pháp 1946 không được sửa đổi nhưng Luật cải cách ruộng đất
1953 đã được ban hành và thực hiện Gần đây, Điều 14 Luật ban hành văn bảnquy phạm pháp luật năm 1996 ( sửa đổi năm 2002) đã quy định : “ Căn cứ vàoHiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ banthường vụ Quốc hội Chủ tịch nước ban hành Lệnh, Quyết định” Với quy địnhtrên đây, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã biến Chủ tịch nướcthành cơ quan cấp dưới của Uỷ ban thưòng vụ Quốc hội Điều này không phùhợp với Hiến pháp 1992 ( Sửa đổi 2001) vì Hiến pháp quy định: “Chủ tịch nước
là nguyên thủ quốc gia là người thay mặt cho nước CHXHCN Việt Nam về mặtđối nội và đối ngoại” ( Điều 101) “Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số cácđại biểu Quốc hội Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo hoạt động củamình trước Quốc hội” ( Điều 102)
học số 5/2004, tr.69- 76
Trang 322.5 Nguyên tắc đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản
Nguyên tắc đảm bảo vai trò của Đảng cộng sản là một nguyên tắc đặc thùcủa pháp luật XHCN nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng Đây là nguyêntắc đặc thù vì hầu hết các nước phi XHCN đều áp dụng nguyên tắc đa nguyênchính trị và đa đảng trong bầu cử Nghị viện - cơ quan đại diện của các tầng lớpdân cư trong xã hội, có chức năng chủ yếu là lập pháp Ở các nước XHCN do cóquy định trong Hiến pháp: Đảng là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước và xãhội ( ở Liên Xô cũ quy định trong điều 6 Hiến pháp 1977, ở Việt Nam quy địnhtại Điều 4 Hiến pháp 1980 và Điều 4 Hiến pháp 1992) nên trung tâm của quyềnlực chính trị không phải là Tổng thống như Hoa Kỳ, Pháp, Nga hoặc Thủ tướngchính phủ như nước Đức, Nhật, Italia, Anh quốc, Hà Lan, Tây Ban Nha, TháiLan…mà trung tâm của quyền lực chính trị chính là Tổng bí thư Đảng cộng sản -một thiết chế liên quan chặt chẽ đến nhà nước nhưng ở ngoài nhà nước Bản chấtcủa chế độ dân chủ thể hiện bằng các hình thức cộng hoà dân chủ và quân chủlập hiến chính là ở chỗ người dân được lựa chọn người lãnh đạo - người ở trungtâm của quyền lực chính trị Ở các nước cộng hoà Tổng thống thì nhân dân bầuTổng thống và Nghị viện, ở các nước cộng hoà Nghị viện thì nhân dân bầu Nghịviện và thông qua bầu Nghị viện lựa chọn Thủ tướng ( Thủ lĩnh của Đảng chiếm
đa số ghế trong nghị viện) Ở các nước cộng hoà lưỡng tính thì nhân dân bầuTổng thống và Nghị viện ( thông qua bầu nghị viện lựa chọn Đảng cầm quyền
và Thủ tướng - thủ lĩnh của Đảng cầm quyền - chiếm đa số ghế trong Nghịviện Ở Việt Nam, từ trước đến nay nhân dân đều trực tiếp bầu cử các đại biểuquốc hội - những người có thẩm quyền lập pháp Quốc hội thay mặt nhân dân cảnước bầu ra các chức vụ cao nhất trong bộ máy nhà nước như Chủ tịch nước,Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Chánh án Toà án nhân dân tối cao vàViện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Tuy nhiên, các thiết chế bầu cử trênđây vẫn chưa hoàn toàn đầy đủ và đồng bộ Điểm đáng lưu ý nhất và đặc thùnhất ở nước ta hiện nay mà chúng ta cần quan tâm đó chính là bầu cử cơ quancũng như cá nhân nằm ở trung tâm quyền lực chính trị Đó là bầu cử Ban chấphành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, Bộ chính trị và Tổng bí thư Đảngcộng sản Việt Nam Do chúng ta đã thế chế hoá vai trò lãnh đạo của Đảng cộngsản trong Hiến pháp nên các Uỷ viên trung ương Đảng , Uỷ viên bộ chính trị vàđặc biệt là Tổng bí thư dù không giữ cương vị gì trong bộ máy nhà nuớc thì vẫn
là trung tâm của quyền lực chính trị Vì thế, bản chất của chế độ bầu cử hiệnnay, mấu chốt của mọi vấn đề liên quan đến chế độ dân chủ ở Việt Nam hiện nay
là bầu cử Ban chấp hành trung ương, Bộ chính trị và Tổng bí thư Đảng cộng sản
Vì vậy ở Việt Nam vấn đề bầu cử các cơ quan nói trên không còn chỉ là côngviệc của Đảng mà phải là công việc của mọi công dân Việt nam Vấn đề Hiếnpháp theo pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia không chỉ là vấn đề của Đảng
mà còn là vấn đề của toàn thể nhân dân Thiết nghĩ rằng tiến đến một nền dân
Trang 33chủ thực sự thì mọi công dân Việt Nam không phụ thuộc vào giai cấp, địa vị xãhội và tôn giáo đều có quyền tham gia bầu cử lựa chọn người lãnh đạo cao nhấtcho mình Với lý do trên đây, chúng ta phải biến ngày bầu cử Ban chấp hànhtrung ương Đảng, Bộ chính trị và Tổng bí thư Đảng cộng sản thành ngày bầu cửcủa toàn dân theo nguyên tắc bầu cử phổ thông, trực tiếp, bỏ phiếu kín.
2.6 Nguyên tắc đảm bảo sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc
Đây là nguyên tắc quán xuyến toàn bộ hệ thống pháp luật nhà nước ta, bởi nóđược coi là hòn đá tảng trong chính sách đối nội của nhà nước ta Nguyên tắc đảmbảo sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc được xác định tại Điều 5Hiến pháp 1992 Nguyên tắc này được xây dựng trên tinh thần đại đoàn kết dân tộc,một trong những yếu tố cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh Ngay từ Hiến pháp
1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước ta trong lời nói đầu đã xác định nguyên tắc thứnhất trong ba nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp là: Đoàn kết toàn dân không phânbiệt giống nòi, gái trai, giai cấp , tôn giáo Nhờ tinh thần đại đoàn kết dân tộc màtrong thời kỳ phong kiến chúng ta đã đánh thắng những kẻ thù xâm lược hung hãn,mạnh hơn chúng ta gấp nhiều lần như Nam Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh vàsau khi có Đảng cộng sản ra đời là giặc Pháp và giặc Mỹ Để thực hiện tốt chínhsách đại đoàn kết dân tộc, trong cơ cấu Quốc hội của nước ta có Hội đồng dân tộc.Hội đồng dân tộc có nhiệm vụ nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội những vấn đề
về dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, các chươngtrình, kế hoặch phát triển kinh tế- xã hội miền núi và vùng có đồng bào dân tộcthiểu số Trước khi ban hành các quyết định về chính sách dân tộc, Chính phủ phảitham khảo ý kiến của Hội đồng dân tộc Chủ tịch Hội đồng dân tộc được tham dựcác phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, được mời tham dự các phiên họpcủa Chính phủ bàn việc thực hiện chính sách dân tộc Trong cơ cấu của Chính phủ,
có Uỷ ban dân tộc và miền núi là cơ quan ngang bộ chuyên tham mưu cho Chínhphủ các quyết sách về đồng bào dân tộc và miền núi Bản chất của chính sách đạiđoàn kết dân tộc ở nước ta không những là đảm bảo cho sự bình đẳng và thống nhất
ý chí giữa các dân tộc mà còn là sự tương trợ giúp đở lẫn nhau giữa các dân tộc.Pháp luật của nhà nước thể hiện chính sách ưu tiên cho đồng bào dân tộc thiểu số để
họ có điều kiện phát triển như các dân tộc miền xuôi như các chính sách ưu tiêntrong công tác đào tạo cán bộ, chính sách miễn giảm thuế, chính sách đầu tư vốnxây dựng cơ sở hạ tầng
2.7 Đảm bảo tính công bằng xã hội của pháp luật
Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật nhà nước ta cũng nhưnhiều nước trên thế giới là đảm bảo tính công bằng xã hội của pháp luật TạiĐiều 3 Hiến pháp 1992 đã xác định mục tiêu của nhà nước ta là xây dựng một xãhội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ , văn minh Như vậy mụctiêu xây dựng một xã hội công bằng như là một trong các tiêu chí cơ bản của xã
Trang 34hội ta Tính công bằng xã hội của pháp luật thể hiện ở việc pháp luật trước hếtphải là thước đo cho sự công bằng của xã hội Muốn vậy hoạt động xây dựngpháp luật phải đảm bảo tính khách quan, tránh các hiện tượng vì lợi ích cục bộcủa ngành, của địa phương trong quá trình xây dựng pháp luật Để tránh hiệntượng pháp luật thiếu sự công bằng thì cần phải có một quy trình xây dựng phápluật khoa học và hợp lý, theo đó các dự thảo các văn bản quy phạm pháp luậtphải được thảo luận rộng rãi trong các tầng lớp dân cư trong xã hội Các lĩnh xãhội quan trọng như các quyền và nghĩa vụ của công dân, các quy định về chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan khác nhau trong bộ máy nhà nướccần phải được quy định bằng văn bản luật vì đối với các văn bản này quy trìnhsoạn thảo và thảo luận thường kỷ càng và công phu hơn Nhà nước cần thườngxuyên tiến hành điều tra xã hội học để tìm hiểu dư luận xã hội về các chính sáchpháp luật nhất là các văn bản pháp luật không có hiệu quả hoặc kém hiệu quả.Ngoài ra, phải gấp rút xây dựng thiết chế bảo hiến để đảm bảo không có văn bảnpháp luật vi hiến nào được phép tồn tại trong thực tiễn.
2.8 Pháp luật phải được xây dựng và phát triển một cách toàn diện, đồng bộ, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, xu hướng hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá.
Nước ta đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một xã hội thuộc địa nửaphong kiến, một xã hội có nền pháp luật phát triển thiếu toàn diện và đồng bộ.Trong xã hội phong kiến và xã hội thuộc địa nửa phong kiến, đặc biệt là cácnước phương đông hệ thống pháp luật chỉ chủ yếu phát triển trên lĩnh vực phápluật hình sự Vì quan niệm phổ biến trong xã hội phong kiến là người ta đặt rapháp luật để trừng trị kẻ phạm tội còn các quan hệ dân sự thông thường thì dùngcác quy tắc đạo đức, phong tục tập quán để điều chỉnh Trong giai đoạn chúng taxây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và nền hành chính quan liêu baocấp do kinh tế thị trường không có điều kiện phát triển nên mảng pháp luật vềđiều tiết nền kinh tế thị trường cũng không được hình thành Khi đất nước tachuyển đổi sang nền kinh tế thị trường hệ thống pháp luật Việt Nam lần đầutiên có điều kiện đầy đủ nhất để phát triển một cách toàn diện và đồng bộ Bắtđầu từ tháng 12 năm 1986 khi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIkhẳng định đường lối đổi mới, pháp luật Việt Nam đã chuyển hướng từ chỗ chỉnặng về pháp luật hình sự và nặng về các thiết chế nhà nước sang xu hướng cânđối giữa hình sự và dân sự, giữa các thiết chế nhà nước và các thiết chế côngdân Nếu tính toàn diện thể hiện pháp luật phát triển đầy đủ các ngành luật vàtrong các ngành luật có đầy đủ các chế định và quy phạm pháp luật thì tính đồng
bộ thể hiện sự liên kết tương hổ chặt chẽ giữa các ngành luật và các chế địnhpháp luật Pháp luật phong phú và đa dạng vì chúng điều chỉnh nhiều lĩnh vựckhác nhau của đời sống xã hội, nhưng vì sự phong phú và đa dạng đó có thể làmcho nhiều quy phạm của pháp luật có thể chồng chéo hoặc mâu thuẫn với nhau
Trang 35Vì vậy, trong quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật giữa các bộ,ngành và các địa phương phải chú ý rà soát, đối chiếu, so sánh với các văn bảnpháp luật khác, đặc biệt là các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lýcao hơn Phải đặc biệt coi trọng hoạt động kiểm tra, thẩm định văn bản quyphạm pháp luật của Bộ tư pháp, của các bộ, ngành và Văn phòng Chính phủ Bên cạnh tính toàn diện và đồng bộ, còn phải chú ý đến tính phù hợp của phápluật với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước , xu hướng hội nhập quốc tế vàtoàn cầu hoá Pháp luật là một bộ phận của thượng tầng kiến trúc xã hội luônluôn phải phù hợp với hạ tầng cơ sở - điều kiện kinh tế xã hội của đất nước Nếuchúng ta không cân nhắc đến vấn đề này thì dù tư tưởng pháp luật có cao đẹpnhưng không thể thực hiện được trong đời sống thực tiễn Thí dụ, quy định tốc
độ xe chạy trên các quốc lộ phải căn cứ vào điều kiện đường sá được xây dựngnhư thế nào, quy định mức nộp thuế thu nhập cao của công dân phải căn cứ vàomức lương thu nhập của cán bộ công nhân, viên chức trên thực tế Các quy địnhpháp luật về chế độ lương của cán bộ, công nhân, viên chức phải tuỳ thuộc ngânkhố quốc gia Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá pháp luậtViệt Nam phải hướng đến các chuẩn mực quốc tế, vì muốn phát triển kinh tế đấtnước Việt Nam cần phải tham gia vào các hoạt động thương mại quốc tế cũngnhư các hoạt động mang tính toàn cầu khác Trong bối cảnh đó, luật pháp ViệtNam không thể trái ngược với pháp luật quốc tế và cũng không thể quá xa cáchvới tinh thần pháp luật chung của nhân loại
2.9 Phải đảm bảo tính ổn định tương đối của hệ thống pháp luật
Các hệ thống pháp luật muốn có có hiệu lực, hiệu quả cao đều phải đảmbảo tính ổn định tương đối của nó Nếu các văn bản pháp luật có hiệu lực caonhư Hiến pháp và các luật thay đổi thường xuyên, người dân sẽ thiếu tin tưởngvào pháp luật, từ đó họ sẽ coi thường pháp luật và vi phạm pháp luật sẽ trở thànhphổ biến trong xã hội Trên thế giới hiện đại ngày nay người ta thấy có một sốvăn bản pháp luật tồn tại trong một thời gian khá dài Chẳng hạn Hiến pháp Hoa
Kỳ đã tồn tại trên 200 năm, so với năm 1787 khi Hiến pháp mới ra đời Hiếnpháp Hoa Kỳ ngày nay chỉ có thêm 27 tu chính án Một ví dụ nữa là Bộ luật dân
sự Napoleon đến nay đã tồn tại được trên 200 năm Cho đến nay hơn 1000 điềutrong bộ luật này (khoảng 1/2 số điều) vẫn được giữ nguyên Tuy nhiên để cho
hệ thống pháp luật có tính ổn định như vậy cần phải có những điều kiện kháchquan và chủ quan Về điều kiện khách quan thì chế độ chính trị -xã hội phải ổnđịnh lâu dài Cả hai văn bản trường tồn trên của Mỹ và Pháp đều tồn tại trongđiều kiện chế độ dân chủ tư sản được thiết lập và tồn tại ở các quốc gia đó từ khi
có hai văn bản pháp luật trên cho đến nay về cơ bản đều không thay đổi Về điềukiện chủ quan thì cần phải có một quy trình lập pháp khoa học và đúng đắn vớinhững nhà lập pháp có trình độ cao Ở Việt Nam do tình hình chính trị xã hộithay đổi khá thường xuyên nên mặc dù có lịch sử lập hiến không dài ( đến thời
Trang 36điểm năm 2005 Việt Nam có lịch sử lập Hiến 59 năm) nhưng Việt Nam đã cóđến 4 bản Hiến pháp Sau mỗi lần thay đổi Hiến pháp các luật về tổ chức bộ máynhà nước đều được thay đổi Đặc biệt sau năm 1986 Việt Nam xây dựng nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên tất cả các văn bản pháp luật
về quản lý kinh tế trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung và cơ chế hànhchính quan liêu bao cấp hầu như đều phải thay đổi Việc Hiến pháp, các luật về
tổ chức bộ máy nhà nước, các luật về quản lý nền kinh tế thay đổi thường xuyênlàm cho việc xây dựng một nền pháp chế cho Việt Nam trong thời gian vừa quahết sức khó khăn Từ năm 2000 đến nay do đường lối đổi mới đúng đắn đã đượckhẳng định nên pháp luật nhà nước ta trong giai đoạn này có tính ổn định caohơn Tuy nhiên, trong lĩnh vực tổ chức bộ máy nhà nước vẫn còn nhiều điều bấtcập, vì vậy chắc chắn trong thời gian tới chúng ta phải tiếp tục hoàn thiện phápluật về bộ máy nhà nước
2.10 Đảm bảo tính minh bạch của pháp luật
Tính minh bạch của pháp luật tương đương với khái niệm “Transparency inlegal documents” trong tiếng Anh Khái niệm “transparency” được từ điển giảithích tiếng Anh Oxford ( Oxford advanced learner,s dictionary, p.1383) giải thíchnhư sau: “The quality of sth such as a situation or an argument, that makes it easy
to understand” Có thể hiểu tính minh bạch của pháp luật theo cách giải thích này
là sự quy định rõ ràng và dể hiểu của pháp luật Tuy nhiên, tính minh bạch củapháp luật còn được hiểu theo nghĩa rộng hơn là pháp luật phải được công bố côngkhai trên Công báo hoặc các phương tiện thông tin đại chúng khác để mọi người
có thể dể dàng tìm hiểu và thực hiện Để thực hiện nguyên tắc đảm bảo tính minhbạch của pháp luật Nghị định số 101/CP ngày 23/7/1997 quy định chi tiết thi hànhmột số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12/11/1996 đãxác định về đăng Công báo như sau: “Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quannhà nước trung ương ban hành phải được đăng Công báo nước CHXHCN ViệtNam trong vòng 15 ngày, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành” Văn bản do các
cơ quan nhà nước trung ương ban hành phải được gửi đến Văn phòng chính phủchậm nhất là hai ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành để kịp thời đăngCông báo Công báo được công bố công khai, phát hành rộng rãi trong các cơquan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang và trong nhân dân,
kể cả cơ quan tổ chức nước ngoài Văn bản quy phạm pháp luật phải được đưa tintrên các phương tiện thông tin đại chúng Các cơ quan báo chí ở trung ương và địaphương, Đài truyền hình Việt Nam, Đài tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình vàĐài phát thanh ở địa phương có trách nhiệm đưa tin, đăng, phát sóng toàn văn,hoặc nội dung cơ bản của văn bản quy phạm pháp luật nhằm tuyên truyền phổbiến rộng rãi văn bản quy phạm pháp luật
Đối với văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan chính quyền địaphương, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ
Trang 37ban nhõn dõn cũng đó đề cập về việc đảm bảo tớnh minh bạch của phỏp luật bằngquy định: Cỏc văn bản quy phạm phỏp luật của chớnh quyền cấp tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương phải được đăng cụng bỏo địa phương trong vũng 5 ngày kể
từ ngày ký hoặc thụng qua, văn bản quy phạm phỏp luật của chớnh quyền cấp quậnhuyện phải niờm yết cụng khai trong vũng 3 ngày kể từ ngày ký hoặc thụng qua,cấp xó, phường trong vũng 2 ngày kể từ ngày ký hoặc thụng qua./
Các nguyên tắc kinh tế
của pháp luật x hội chủ nghĩa Việt Nam ã hội chủ nghĩa
thời kỳ mở cửa và hội nhập quốc tế
TS Nguyễn Minh ĐoanPhản ánh những đổi thay cơ bản của nền kinh tế Việt Nam thời kỳ đổi mới vàhội nhập quốc tế, các nguyên tắc kinh tế của pháp luật xã hội chủ nghĩa ViệtNam có những nội dung cơ bản sau:
1- Xác lập và bảo vệ chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa; củng cố quan hệ sản xuất, từng bớc thúc đẩy quá trình xã hội hoá t liệu sản xuất; không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân lao động.
Quy luật xây dựng chủ nghĩa xã hội là phải từng bớc xoá bỏ chế độ t hữu,thiết lập chế độ công hữu về t liệu sản xuất Do vậy, việc xoá bỏ dần chế độ sởhữu t nhân về t liệu sản xuất, từng bớc xã hội hoá t liệu sản xuất là quy luật tấtyếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta Tuy nhiên, quá trình xã hội hoá tliệu sản xuất phải căn cứ vào tình hình cụ thể của đất nớc ở mỗi thời kỳ phát triển
và phải chú ý đến sự ảnh hởng của quá trình này tới hiệu quả kinh tế của nềnkinh tế quốc dân Không thể chủ quan, nóng vội, muốn đốt cháy giai đoạn dẫn
đến năng suất, chất lợng và hiệu quả của nền kinh tế thấp làm cho đời sống nhân
dân gặp nhiều khó khăn “Chế độ sở hữu công cộng (công hữu) về t liệu sản xuất chủ yếu từng bớc đợc xác lập và sẽ chiếm u thế tuyệt đối khi chủ nghĩa xã hội đ-
ợc xây dựng song về cơ bản Xây dựng chế độ đó là một quá trình phát triển kinh tế- xã hội lâu dài qua nhiều bớc, nhiều hình thức từ thấp đến cao Phải từ thực tiễn tìm tòi, thử nghiệm để xây dựng chế độ sở hữu công cộng nói riêng và quan
hệ sản xuất mới nói chung với bớc đi vững chắc”(1)
Với chủ trơng xây dựng nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa,pháp luật Việt Nam hiện nay đã thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tếvới nhiều chế độ sở hữu khác nhau nh sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu t
nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng Các tài sản nh: (Đất
đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nớc, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nớc đầu t vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nớc, đều thuộc sở hữu toàn dân, Điều 17 Hiến pháp
Việt Nam 1992) Sự ghi nhận của pháp luật về chế độ sở hữu toàn dân đã làm chothành phần kinh tế quốc doanh ở nớc ta luôn đợc củng cố và phát triển, nhất làtrong những ngành, những lĩnh vực then chốt và luôn giữ vai trò chủ đạo trongnền kinh tế quốc dân
2001, tr 87.
Trang 38Không chỉ xác lập chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa, mà pháp luật còn quy
định nhiều hình thức và biện pháp để bảo vệ chế độ sở hữu đó, củng cố quan hệsản xuất theo tinh thần phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơchế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc, theo định hớng xã hội chủ nghĩa Với cơcấu kinh tế nhiều thành phần (kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể,kinh tế t bản t nhân và kinh tế t bản nhà nớc) với các hình thức tổ chức sản xuất,kinh doanh đa dạng đã góp phần thiết thực vào việc thực hiện mục đích chínhsách kinh tế của nhà nớc ta là làm cho dân giàu, nớc mạnh, đáp ứng ngày càngtốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở giải phóng mọinăng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, thúc đẩyxây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật, mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật vàgiao lu với thị trờng thế giới
Tuy nhiên, việc "xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đờng, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ"(1).Xuất phát từ quan niệm đó cho thấy việc chúng ta thừa nhận nhiều hình thức sởhữu với nhiều thành phần kinh tế là hoàn toàn phù hợp với thời kỳ quá độ hiệnnay và đây là giải pháp phù hợp nhất trong giai đoạn hiện nay Pháp luật xã hộichủ nghĩa Việt Nam phải góp phần hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa, nhằm thoả mãn nhiều và tốt hơn nhu cầu vật chất vàtinh thần ngày càng tăng của nhân dân Và điều này chỉ có thể thực hiện đ ợcthông qua việc không ngừng phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động trên cơ
sở những thành tựu khoa học - công nghệ và kỹ thuật hiện đại
Lịch sử loài ngời là lịch sử phát triển tự do của con ngời, từ lệ thuộc vàothiên nhiên, vào các giai cấp bóc lột, ngời lao động đã và đang từng bớc làm chủthiên nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân mình Quy luật phát triển này đ-
ợc đặc biệt chứng minh bằng thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nớc xãhội chủ nghĩa Chỉ khi nào đầy đủ về vật chất và tinh thần thì nhân dân mới thoátkhỏi những sự lệ thuộc, mới chuyển dần đợc từ "vơng quốc của tất yếu sang vơngquốc của tự do" Đó là mơ ớc và mục tiêu phấn đấu của nhân loại, cũng nh củamỗi con ngời Điều này đòi hỏi pháp luật phải có những biện pháp tác động đểnền kinh tế đất nớc phát triển nhanh và bền vững nhằm đáp ứng ngày càng tốthơn nhu cầu vật chất và tinh thần cho nhân dân
2- Xây dựng cơ sở pháp lý vững chắc, bảo đảm cho cơ chế quản lý kinh tế hoạt động có hiệu quả; giải phóng sức lao động và mọi nguồn lực, tăng năng suất lao động.
Việc xây dựng hệ thống pháp luật ngày một hoàn thiện sẽ tạo cơ sở pháp
lý vững chắc, bảo đảm cho cơ chế quản lý kinh tế vận hành có hiệu quả, các tổchức và đơn vị kinh tế yên tâm sản xuất, kinh doanh, giải phóng sức lao động vàmọi nguồn lực để tăng năng suất lao động góp phần nâng cao đời sống của nhândân Hiện nay Đảng và Nhà nớc Việt Nam chủ trơng thực hiện nhất quán và lâudài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá, nhiều thành phần, vận động theocơ chế thị trờng, có sự quản lý của nhà nớc, theo định hớng xã hội chủ nghĩa Do
vậy, chúng ta phải tiếp tục "đổi mới và hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính để huy động tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho phát triển sản xuất, kinh doanh của mọi thành phần kinh
tế với các hình thức sở hữu khác nhau Mọi doanh nghiệp, mọi công dân đợc đầu
Trang 39t kinh doanh theo các hình thức do luật định và đợc pháp luật bảo vệ"(1) Điềunày đã và đang đợc chứng minh bằng sự phát triển cả về số lợng và chất lợng của
hệ thống các văn bản pháp luật ở nớc ta hiện nay Chúng ta phải chuyển thực sựnền kinh tế sang cơ chế thị trờng, lấy thị trờng làm cơ sở chủ yếu để phân bổ cácnguồn lực, có sự điều tiết của nhà nớc Tôn trọng những yêu cầu khách quan củanền kinh tế thị trờng và định hớng phát triển bằng các chiến lợc, quy hoạch, kếhoạch, cơ chế, chính sách và pháp luật Giảm dần sự can thiệp hành chính vàocác hoạt động của thị trờng, đồng thời phải đẩy mạnh việc kiểm tra giám sát và
điều tiết sự phát triển của nền kinh tế, hạn chế mặt trái, tiêu cực của nền kinh tếthị trờng
Với "t tởng chỉ đạo của kế hoạch và các chính sách kinh tế là giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nớc và
sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế để phát triển mạnh mẽ lực lợng sản xuất
đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa".(2) Tinh thần
đó đợc thể hiện trong các chính sách và biện pháp lớn của Nhà nớc ta hiện nay là:Tiếp tục sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp lý, tạo môi trờng thuậnlợi để phát huy các nguồn lực của xã hội cho đầu t phát triển phù hợp với điềukiện thực tế bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững; phát triển
đồng bộ và quản lý có hiệu quả các thị trờng cơ bản, phát triển và sử dụng đúng
đắn các thành phần kinh tế; tiếp tục cải tạo, xây dựng chế độ cộng hữu về t liệusản xuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối làm cho chúng thực sự mang bảnchất xã hội chủ nghĩa, phù hợp với mỗi bớc phát triển của lực lợng sản xuất ở nớc
ta hiện nay
3- Nguyên tắc: "làm theo năng lực, hởng theo lao động"
Giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam dới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam đấu tranh để trớc hết xoá bỏ các giai cấp bóc lột vàtừng bớc tiến tới xoá bỏ toàn bộ hiện tợng ngời bóc lột ngời, xây dựng một xã hộikhông có giai cấp, không còn áp bức bóc lột - xã hội xã hội chủ nghĩa Nh vậy,chủ nghĩa xã hội là một xã hội tơi đẹp của những ngời lao động, điều này đòi hỏipháp luật xã hội chủ nghĩa phải quy định lao động không chỉ là quyền mà còn lànghĩa vụ đối với tất cả những ai có khả năng lao động Bởi chính lao động đãsáng tạo ra bản thân con ngời và chỉ có lao động, thông qua lao động mới làmcho con ngời hoàn thiện Đồng thời pháp luật còn phải điều chỉnh các biện pháp
và định mức lao động đối với mỗi ngời Vì vậy, Lao động phải vừa là quyền vàvừa là nghĩa vụ của công dân nh Điều 55 Hiến pháp Việt Nam 1992 đã quy định
Công dân có quyền có việc làm và những ngời có sức lao động phải lao
động theo quy định của pháp luật Nhà nớc ban hành chính sách, chế độ bảo hộlao động, quy định thời gian lao động, chế độ tiền lơng, chế độ nghỉ ngơi và chế
độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức nhà nớc và những ngời làm công ăn lơng;khuyến khích các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với ngời lao động Trongxã hội phải từng bớc thực hiện nguyên tắc làm theo năng lực, hởng theo lao động,
đồng thời tăng dần phúc lợi xã hội theo mức độ phát triển của nền kinh tế quốc
dân Và đơng nhiên lao động nữ và nam việc làm nh nhau thì tiền lơng ngang nhau…(Điều 63 Hiến pháp Việt Nam 1992).
Mặc dù nguyên tắc phân phối theo lao động, theo K Mác thì đó hãy còn
là một "thiếu sót" của chủ nghĩa cộng sản, nhng "thiếu sót" này là không thểtránh khỏi vì xã hội khi này mới chỉ là xã hội xã hội chủ nghĩa Việc phân phối
2001, tr 188.
Trang 40theo lao động (sự bằng nhau về quyền) cha làm mất đi tất cả những sự khác nhaugiữa mọi ngời, cha bảo đảm đợc sự công bằng xã hội Vì chúng ta vẫn áp dụngmột tiêu chuẩn duy nhất cho những ngời khác nhau, cho những ngời thật ra thìkhông giống nhau và cũng không ngang nhau Trong xã hội luôn có ngời yếu,ngời khoẻ, ngời thông minh, ngời kém thông minh, điều kiện, hoàn cảnh củamỗi ngời một khác Mà pháp luật thì không thể cao hơn chế độ kinh tế và trình
độ phát triển văn hoá của xã hội do chế độ kinh tế quyết định Do vậy, V.I Lênincho rằng, giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản cha thể thực hiện đợc công bằng
và bình đẳng, về mặt của cải thì vẫn còn chênh lệch, mà những chênh lệch ấy làbất công Tuy nhiên, phân phối theo lao động là nguyên tắc tốt nhất ở nớc tatrong điều kiện hiện nay Nếu thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ góp phần thúc đẩyquá trình lao động hăng say và lao động với năng suất cao của mỗi đơn vị, cánhân ngời lao động trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay
Đi đôi với việc trả công theo lao động cần phải nâng cao công tác bảohiểm xã hội, phúc lợi xã hội cho những gia đình chính sách, ngời già, ngời tàntật, ngời đang đi học, phụ nữ nuôi con nhỏ Thực hiện chính sách chăm sóc xãhội đối với những ngời cha có hoặc không có khả năng lao động nh trẻ em, ngời
già, ngời tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nơng tựa (Trẻ em đợc gia đình, nhà nớc
và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, Điều 65 Hiến pháp Việt Nam 1992;
Ng-ời già, ngNg-ời tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nơng tựa đợc nhà nớc và xã hội giúp đỡ,
Điều 67 Hiến Pháp Việt Nam 1992 )
4- Bảo đảm lợi ích của ngời lao động; từng bớc đa lại sự ngang bằng về mặt của cải vật chất giữa các thành viên trong xã hội; duy trì sự quan tâm
về vật chất vào kết quả lao động và cống hiến của các đơn vị, các cá nhân ngời lao động.
Pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện ý chí nhà nớc của giai cấpcông nhân và nhân dân lao động Việt Nam, biểu hiện mối quan hệ hợp tác, giúp
đỡ lẫn nhau giữa những ngời lao động Vì vậy, pháp luật xã hội chủ nghĩa manglại và bảo vệ lợi ích cho nhân dân lao động, thực hiện những mục đích mà nhà n-
ớc và nhân dân đặt ra, trong đó mục đích cao cả nhất là xây dựng thành công chủnghĩa xã hội ở Việt Nam, đa lại tự do, dân chủ, công bằng, hạnh phúc, văn minhcho ngời lao động ở nớc ta
Với việc quy định và bảo vệ chính quyền nhân dân, pháp luật xã hội chủnghĩa đã đa ngời lao động từ địa vị bị thống trị lên địa vị thống trị xã hội Nhữngngời dân lao động Việt Nam trực tiếp nắm giữ quyền lực nhà nớc, cùng nhau sửdụng những t liệu sản xuất đã đợc xã hội hoá vì lợi ích của nhà nớc và nhân dân.Bằng việc ghi nhận những t liệu sản xuất cơ bản trong xã hội là tài sản chung,pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã bảo đảm cho ngời lao động khả năngthực tế nh nhau để tham gia vào các lĩnh vực hoạt động xã hội quan trọng nh kinh
tế, chính trị, văn hoá- xã hội Bảo vệ lợi ích cho ngời lao động, pháp luật xã hộichủ nghĩa đã ghi nhận và bảo đảm các quyền tự do dân chủ thực sự cho nhân dân
nh quyền tự do khỏi sự bóc lột, quyền có việc làm, quyền nghỉ ngơi, quyền họctập đáp ứng ngày càng nhiều hơn, tốt hơn những nhu cầu vật chất và tinh thầncủa ngời lao động, mang lại tự do thực sự cho cả cộng đồng và cho mỗi ngời
Xã hội xã hội chủ nghĩa đợc thiết lập nên từ rất nhiều những lực lợng khácnhau và lợi ích của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, giai tầng cũng có sự khác nhau,nên để bảo đảm cho xã hội phát triển ổn định và pháp luật thực sự có hiệu quả thì
đòi hỏi phải có sự nhất trí, hài hoà về lợi ích cơ bản của tất cả các lực lợng chủ yếutrong xã hội và điều đó chỉ có thể thực hiện đợc trên cơ sở pháp luật Vì vậy, khi xâydựng pháp luật phải cân nhắc, tính toán sao cho tơng quan giữa các loại lợi ích của