1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Việt Nam

229 582 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Quản lý nhà nước
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2007
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 229
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Việt Nam

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Điều 12 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã khẳng định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” Riêng đối với quản lý nền kinh tế, Điều 26 Hiến pháp cũng quy định rõ: “Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách…” Như vậy, muốn nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với xã hội nói chung và nền kinh tế nói riêng, nhà nước phải sử dụng nhiều công cụ, phương tiện quản lý, trong đó quản lý bằng pháp luật là một phương thức quản lý quan trọng, không thể thiếu được của Nhà nước

Thực tiễn quản lý nhà nước trong những năm đổi mới vừa qua đã chứng minh rằng: nơi nào, lĩnh vực nào nhà nước sử dụng có hiệu quả công cụ pháp luật trong quản lý thì ở đó tình hình kinh tế, chính trị xã hội ổn định và phát triển Nếu buông lỏng vai trò quản lý nhà nước bằng pháp luật sẽ dẫn đến tình trạng tùy tiện, lợi dụng những sơ hở và thiếu sót trong các quy định của Nhà nước để trục lợi, lũng đoạn nền kinh tế, tạo cơ hội cho những mặt trái của cơ chế thị trường phát sinh theo hướng phức tạp rất khó kiểm soát ở một số lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước

Xuất phát từ chủ trương phát triển kinh tế vùng của Đảng, ngày 23 tháng 2 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 44/1998/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là một không gian kinh tế mở bao gồm các tỉnh, thành: Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Bình Phước, Tây Ninh, Tiền Giang Đây là những tỉnh, thành lớn của phía Nam có nhiều điều kiện thuận lợi trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài và phát triển kinh tế Với chủ trương, đường lối mở cửa của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua, vùng kinh tế trọng điểm này đã thu hút được rất nhiều các nhà đầu tư nước

Trang 2

ngoài, là nơi có nhiều dự án đầu tư nước ngoài nhất so với các địa phương trong cả nước Theo số liệu thống kê (Niên giám thống kê 2007, Tổng cục Thống kê), vùng kinh tế trọng điểm này chiếm 63,84% số dự án và 59,08% tổng số vốn đầu tư nước ngoài của cả nước Hoạt động đầu tư nước ngoài tại đây ngày càng có hiệu quả, đã kích thích khả năng phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội

Tuy nhiên, trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm này, bên cạnh những kết quả đạt được, tại đây đã và đang xuất hiện nhiều vấn đề phức tạp, khó khăn Trong quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với lĩnh vực đầu tư nước ngoài bộc lộ nhiều vấn đề bất cập trước đòi hỏi của thực tiễn Điều đó được thể hiện trên các mặt như: pháp luật về đầu tư còn có những bất cập cần sửa đổi, bổ sung Cơ chế, chính sách chưa đồng bộ và chưa tạo được động lực phát triển mạnh; một số cơ chế, chính sách còn thiếu, chưa nhất quán, chưa sát với cuộc sống, thiếu tính khả thi; nhiều cấp, nhiều ngành chưa thay thế, sửa đổi những quy định về quản lý nhà nước không còn phù hợp; chưa bổ sung những cơ chế, chính sách mới có tác động giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, khai thác nhiều hơn nữa nguồn vốn đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm này Việc ban hành các văn bản pháp quy hướng dẫn thi hành luật còn rất chậm Thực tiễn quản lý vẫn còn tình trạng chồng chéo hoặc phân tán, cục bộ trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan có thẩm quyền như Cục Đầu tư nước ngoài, Ban Quản lý khu chế xuất, khu công nghiệp, khu kinh tế, Sở Kế hoạch và Đầu tư các địa phương trong vùng Chưa

có một cơ quan quản lý đủ quyền năng thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực này của riêng vùng Đặc biệt, cơ sở pháp lý để thực hiện những cơ chế, chính sách có tính đặc thù cho vùng theo tinh thần các Nghị quyết Đại hội IX, X của Đảng về việc xây dựng những vùng kinh tế - lãnh thổ có cơ chế đặc biệt nhằm phát triển vùng và Nghị quyết 53 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh quốc phòng vùng Đông Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam còn rất thiếu… Những thiếu sót, bất cập nói trên đã ảnh hưởng không tốt đến mọi mặt tình hình kinh tế, xã hội, an ninh trật tự, đòi hỏi các cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước phải lưu tâm giải quyết Chẳng hạn như tình trạng chảy máu chất xám, lộ bí

Trang 3

mật nhà nước; vấn đề môi trường sinh thái; vấn đề thiết bị lạc hậu; vấn đề quản lý xuất nhập cảnh của người nước ngoài; quản lý nhà nước đối với hoạt động của các thương nhân và các hiệp hội thương nhân nước ngoài bị buông lỏng; một số chủ đầu

tư nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam; cạnh tranh thiếu lành mạnh trong hoạt động sản xuất – kinh doanh – đầu tư; thu hút đầu tư bằng mọi giá, chạy theo số lượng

dự án đầu tư, thiếu sự tính toán phục vụ cho công cuộc phát triển bền vững Chất lượng các dự án chưa thật đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển; có sự cạnh tranh theo kiểu “mạnh ai nấy làm”, thiếu tính đồng bộ và tính liên kết giữa các địa phương trong vùng, không phát huy được những thế mạnh, những lợi thế so sánh của vùng Do đó, trong thực tế, nguồn vốn thu hút từ đầu tư nước ngoài và sự phát triển của vùng chưa thật tương xứng với tiềm năng vốn có của vùng Đây cũng chính là mặt trái của hoạt động đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, làm hạn chế sự phát triển bền vững của vùng và ảnh hưởng đến sự phát triển chung của cả nước Có thể nói, vùng kinh tế trong điểm phía Nam đang giữ vai trò đầu tàu cho sự phát triển kinh

tế của cả nước và có tiềm năng vô cùng lớn nhưng cơ chế quản lý nói chung, cơ chế quản lý trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài nói riêng còn chưa đảm bảo tốt cho sự phát triển vùng

Điều này cũng cho thấy thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chưa thực sự được coi trọng và còn nhiều bất cập, hạn chế cần nghiên cứu một cách hệ thống nhằm đánh giá đúng thực trạng và đề xuất những giải pháp có tính khả thi để bảo đảm quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng này Với những lý

do trên, xét cả về phương diện lý luận và thực tiễn, việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là vấn đề cấp thiết

Vì vậy, tác giả luận án mạnh dạn chọn đề tài “Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Việt Nam” để nghiên cứu và viết luận án Tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Lý luận và lịch

sử nhà nước và pháp luật

Trang 4

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

Luận án nghiên cứu về vấn đề quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Việt Nam

2.2 Phạm vi nghiên cứu.

- Quản lý nhà nước bằng pháp luật là một vấn đề lớn, có phạm vi tác động đến toàn xã hội, đòi hỏi sự tập trung sức lực và phối hợp của nhiều cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học thuộc nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau Lĩnh vực đầu tư nước ngoài

là một lĩnh vực rộng lớn, bao gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp Trong khuôn khổ luận án, tác giả chỉ đề cập nghiên cứu quản lý nhà nước trong một lĩnh vực cụ thể với phạm vi không gian nhất định, đó là quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài (chủ yếu là đầu tư trực tiếp) tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Việt Nam

- Thời gian luận án nghiên cứu từ 1998 (từ khi Thủ tướng Chính phủ có quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm phía Nam) đến nay

3 MỤC ĐÍCH CỦA LUẬN ÁN

Luận án nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm bảo đảm quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Việt Nam hiện nay

4 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Cơ sở lý luận của luận án:

Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật nói chung, quản lý nhà nước bằng pháp luật nói riêng Đặc biệt là những chủ trương, đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam Cơ sở lý luận của luận án cũng là sự quán triệt quan điểm có tính nguyên tắc và xuyên suốt quá trình

Trang 5

nghiên cứu mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ là: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường Xã hội chủ nghĩa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

4.2 Phương pháp nghiên cứu của luận án:

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Mác – Lênin, dựa vào quan điểm của Đảng và nhà nước ta về quản lý nhà nước và thu hút đầu tư nước ngoài, tác giả Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp lịch sử, phân tích - tổng hợp, phương pháp chuyên gia, so sánh, thống

kê, tổng kết thực tiễn

Luận án sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để làm rõ cơ sở lý luận về quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm Những nội dung cụ thể của luận án như các khái niệm về vùng; vùng kinh tế trọng điểm; quản lý nhà nước; quản lý nhà nước bằng pháp luật; quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài; quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm; đặc điểm, nội dung quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm đã được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp này

Phương pháp luận duy vật biện chứng được kết hợp với phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích - tổng hợp, so sánh, thống kê, tổng kết thực tiễn để đánh giá thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với những sự phân tích về lợi thế so sánh vùng Đặc biệt, phương pháp thống kê và tổng kết thực tiễn được sử dụng để làm rõ thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm những năm qua với những cứ liệu cụ thể về ban hành pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, thực trạng vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài tại đây Đồng thời, các phương pháp như phân tích

- tổng hợp, phương pháp chuyên gia được sử dụng cho việc đưa ra và luận giải những

đề xuất về quan điểm, giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

Trang 6

5 ĐIỂM MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN

Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và tương đối toàn diện lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Việt Nam Luận án có những điểm mới cụ thể sau:

Thứ nhất, xây dựng khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực

đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm: “Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm là quá trình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chính quyền các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm sử dụng công cụ pháp luật thực hiện sự tác động tới hoạt động đầu tư nước ngoài và những quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt động đầu tư nước ngoài, nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước, góp phần huy động nguồn lực từ bên ngoài phục

vụ công cuộc phát triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm, làm động lực cho sự phát triển bền vững của cả nước”

Thứ hai, làm rõ đặc điểm về chủ thể quản lý lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại

vùng kinh tế trọng điểm; về tính độc lập tương đối của các công cụ được sử dụng trong quá trình quản lý; về tính mục đích của quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm

Thứ ba, làm rõ vai trò quan trọng của quản lý nhà nước bằng pháp luật trong

lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm: đảm bảo cho đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm được thực hiện theo đúng qui định của pháp luật; góp phần giữ ổn định chính trị và trật tự xã hội, bảo vệ lợi ích quốc gia trong quan hệ hợp tác kinh tế với nhà đầu tư nước ngoài; thúc đẩy và đảm bảo tính chủ động trong tiến trình hội nhập quốc tế của vùng và cả nước; tạo lập và duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh; bảo đảm phát huy tiềm năng, thế mạnh và sự ảnh hưởng, tác động tích cực của vùng kinh tế trọng điểm đối với các vùng khác

Thứ tư, Chỉ rõ những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến quản lý nhà nước bằng

pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm: yếu tố chính

Trang 7

trị, yếu tố pháp luật, yếu tố năng lực và trách nhiệm của các chủ thể, yếu tố lợi thế so sánh và nhu cầu phát triển của vùng.

Thứ năm, trên cơ sở tổng kết một cách hệ thống quá trình quản lý nhà nước

bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam từ năm 1998 đến nay, đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm bảo đảm quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Việt Nam hiện nay Theo đó, quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phải: quán triệt đường lối chính sách của Đảng và nhà nước về phát triển kinh tế vùng và phát triển vùng kinh

tế trọng điểm phía Nam; nhà nước thống nhất quản lý bằng pháp luật các hoạt động đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; phục vụ cho việc thu hút

và nâng cao hiệu quả các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời gắn chặt với việc giải quyết tốt các vấn đề xã hội; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quản lý vùng và ứng dụng những thành tựu khoa học tiên tiến của các nước trên thế giới; coi trọng kết hợp sử dụng hợp lý, hiệu quả các phương tiện quản lý khác; thống nhất chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài, phát huy tối đa lợi thế so sánh của vùng và chống cạnh tranh tự phát giữa các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Để bảo đảm quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam cần thực hiện đồng bộ các giải pháp: Sửa đổi, bổ sung hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về đầu tư nước ngoài và pháp luật có liên quan đến đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật; nâng cao trách nhiệm và năng lực thực hiện pháp luật của các chủ thể trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài; kiện toàn các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài từ trung ương tới vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; xây dựng cơ chế quản lý phù hợp để thực hiện tốt mối liên kết vùng trong phát triển nói chung và quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư nước ngoài nói riêng; coi trọng thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật của các nhà đầu tư; giải quyết kịp thời và thỏa đáng những tranh chấp, khiếu nại của nhà đầu tư và các bên liên

Trang 8

quan; coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ và đầu tư phương tiện kỹ thuật cho các cơ quan quản lý.

6 Ý NGHĨA CỦA LUẬN ÁN

- Kết quả của luận án góp phần làm phong phú thêm lý luận chung về nhà nước và pháp luật, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận quản lý nhà nước bằng pháp luật với một lĩnh vực cụ thể trên một địa bàn cụ thể - lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm

- Luận án góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc bảo đảm quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam cũng như các vùng kinh tế trọng điểm khác trong cả nước

- Luận án là tài liệu tham khảo bổ ích cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận về nhà nước và pháp luật cũng như tham khảo cho công tác tổng kết thực tiễn, hoạch định chính sách và pháp luật về quản lý nhà nước đối với đầu tư nước ngoài tại các vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam

7 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận án chia làm 4 chương, 12 tiết:

Trang 9

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Quản lý nhà nước bằng pháp luật ở Việt Nam là vấn đề khá phức tạp, có ý nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn Do vậy, trong những năm gần đây, nhất là từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, vấn đề này luôn được sự quan tâm, chú ý nghiên cứu của các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học Những công trình nghiên cứu đã được công bố cũng đã đề cập đến quản lý nhà nước, quản lý nhà nước bằng pháp luật dưới nhiều góc độ khác nhau và trên từng lĩnh vực cụ thể Những nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường nói chung có thể kể đến các công trình nghiên cứu của GS TS Nguyễn Duy Gia: “Một số vấn đề về nhà nước quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường”; của cố GS TS Hoàng Văn Hảo: “Tìm hiểu vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường”… là những công trình có ý nghĩa nền tảng, làm cơ sở cho các nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực kinh tế

Các vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với nền kinh tế

và các lĩnh vực kinh tế, có các công trình nổi bật sau đây:

+ “Nhà nước quản lý kinh tế bằng pháp luật trong cơ chế thị trường ở Việt Nam hiện nay”, Luận án TS Luật học của Chu Hồng Thanh Bằng công trình này, tác giả đã làm rõ những quan điểm, chủ trương của Đảng và nhà nước về xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, phân tích cơ sở khoa học của việc nhà nước quản lý kinh tế bằng pháp luật trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; nội dung, phương pháp quản lý kinh tế bằng pháp luật trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ở Việt Nam những năm gần đây

+ “Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch tại Việt Nam hiện nay”, Luận án TS Luật học của Trịnh Đăng Thanh, Hà Nội 2004 Trong Luận án này, tác giả đã phân tích những vấn đề về lý luận quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với lĩnh vực du lịch ở Việt Nam, như: khái niệm, nội dung, đặc điểm quản lý nhà

Trang 10

nước bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch; đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch ở Việt Nam Tuy nhiên, những vấn đề lý luận và thực tiễn trong luận án này chỉ bó hẹp trong phạm vi những hoạt động du lịch và có tính chung nhất cho cả Việt Nam mà chưa làm rõ được tính đặc thù của quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động

du lịch tại các vùng, miền của đất nước

+ “Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với công ty cổ phần ở Việt Nam”, Luận án TS Luật học của Nguyễn Thanh Bình, Hà Nội 2005 Trong luận án, tác giả

đã phân tích làm rõ những vấn đề lý luận và tính đặc thù của quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với loại hình công ty cổ phần ở Việt Nam, đề xuất giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với loại hình doanh nghiệp này

Hoạt động đầu tư nước ngoài, pháp luật về đầu tư nước ngoài cũng là một mảng đề tài được quan tâm nghiên cứu Ngoài những giáo trình giảng dạy tại một số

cơ sở giáo dục – đào tạo như giáo trình “Kinh tế đầu tư” của PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt và TS Từ Quang Phương, giáo trình “Quản lý dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” của PGS.TS Nguyễn Thị Hường (Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2004…), còn có thể kể một số công trình nổi bật như:

+ “Cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam”, Luận án TS Luật học của Hoàng Phước Hiệp, Hà Nội 1996 Có thể coi đây là một trong những Luận án PTS (nay là TS) luật học đầu tiên nghiên cứu về đầu

tư nước ngoài và pháp luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam Trong luận án này, trên cơ

sở nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển cơ chế điều chỉnh pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, tác giả đã có những đề xuất về phương hướng đổi mới cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Điểm nhấn của công trình này là tác giả đã chỉ rõ rằng hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không chỉ được điều chỉnh bằng Luật đầu tư nước ngoài, mà nó còn được điều điều chỉnh bởi hàng loạt những quy định thuộc lĩnh vực khác có liên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Do đó, hoàn thiện pháp luật đầu

tư nước ngoài phải gắn với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung Tuy nhiên,

Trang 11

tác giả của luận án này chưa quan tâm tới việc đề xuất cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài cho những vùng, miền cụ thể với tính đặc thù của mỗi vùng, miền.

+ “Sự hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam”, Luận án TS Luật học của Đỗ Nhất Hoàng, Hà Nội 2001 Tác giả đã nghiên cứu làm rõ quan niệm và quá trình phát triển pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, mối quan hệ và vị trí quan trọng của pháp luật đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam Trên cơ ở đó, tác giả Luận án đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

+ “Hoàn thiện pháp luật về đầu tư nước ngoài theo hướng nhất thể hóa pháp luật về đầu tư tại Việt Nam”, Luận án Tiến sỹ Luật học của Nguyễn Khắc Định, Hà Nội 2001 Trên cơ sở chỉ ra những bất hợp lý của việc khuyến khích riêng rẽ đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước, tác giả đề xuất phương hướng và giải pháp thống nhất luật đầu tư nước ngoài với luật đầu tư trong nước

+ “Hoàn thiện quản lý nhà nước các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp

nước ngoài ở Hà Nội”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 2004 Đây là một

công trình nghiên cứu của tập thể tác giả, do TS Trương Đoàn Thể chủ biên Các tác giả đã lý giải cơ sở lý luận và khảo sát thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hà Nội, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với loại hình doanh nghiệp này tại một địa phương cụ thể với những đặc thù của nó (Hà Nội)

+ “Những giải pháp chủ yếu nhằm điều chỉnh cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010”, Luận án Tiến sỹ kinh

tế của Tống Quốc Đạt, Hà Nội 2004 Tác giả luận án đi sâu vào việc phân tích những hợp lý và bất hợp lý trong cơ cấu đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn trước năm 2000, từ đó đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm điều chỉnh cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 theo hướng tăng cường chất lượng của các dự án đầu tư, tập trung cho những ngành kinh tế mũi nhọn phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đây là luận án TS kinh tế

Trang 12

học cho nên tác giả không đặt vấn đề giải quyết lý luận quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động đầu tư nước ngoài.

+ “Định hướng phát triển các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam”, Luận án Tiến sỹ kinh tế của Ngô Công Thành, Hà Nội 2004 Tác giả đi sâu phân tích về các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu trong giai đoạn trước năm 2004, đề xuất định hướng phát triển các hình thức đầu tư nước ngoài theo hướng

đa dạng hóa nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài và đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

+ “Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp”, Trần

Xuân Tùng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005 Trong công trình nghiên cứu này,

tác giả đã khảo sát thực trạng đầu tư nước ngoài và phân tích nó với các loại hình đầu

tư, chủ đầu tư, lĩnh vực đầu tư Từ đó, tác giả đề xuất giải pháp thu hút đầu tư nước ngoài mạnh mẽ hơn nữa Trong công trình này, tác giả chưa đề xuất giải pháp thu hút

và quản lý hoạt động đầu tư ở từng vùng kinh tế, mà chỉ đề xuất những giải pháp chung nhất trên phạm vi toàn quốc

+ “Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội 2006 Đây là một công trình của tập thể các nhà khoa học, các chuyên gia trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài của Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia và Bộ Kế hoạch - Đầu tư, như GS.TS Chu Văn Cấp, TS Phan Hữu Thắng, TS Ngô Nhất Hoàng, TS Nguyễn Anh Tuấn, TS Trần Ngọc Hưng do PGS,TS Nguyễn Bích Đạt chủ biên Trong công trình này, các tác giả đã làm rõ nhiều vấn đề lý luận về khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, như: bản chất, vai trò, nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động của khu vực kinh

tế có vốn đầu tư nước ngoài, kinh nghiệm của một số nước trong thu hút, sử dụng vốn đầu tư nước ngoài Trên cơ sở thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các tác giả đã đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong những năm qua Trên cơ sở lý luận và thực tiễn ấy, các tác giả đưa ra quan điểm, định hướng và giải pháp cho vấn đề đầu tư nước ngoài ở Việt Nam những năm tới

Trang 13

+ “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay” PGS,TS Trần Quang Lâm và TS An Như Hải đồng chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2006 Đây cũng là một công trình tập thể của các nhà khoa học và cán bộ nghiên cứu có kinh nghiệm trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài như TS Hoàng Thị Bích Loan, PGS.TS Nguyễn Khắc Thanh, PGS.TS Nguyễn Huy Oánh Các tác giả đã khảo sát, phân tích các số liệu về đầu tư nước ngoài trên nền tảng lý luận về khu vực kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, từ đó các tác giả làm rõ vai trò của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam; đánh giá xu thế, triển vọng và giải pháp phát triển,

sử dụng khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

+ “Hoạt động đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Những vấn đề đặt ra cho công tác an ninh”, đề tài khoa học cấp Bộ của Đinh Văn Hồng và Phan Quang Thịnh – Phân hiệu Học viện An ninh Nhân dân – Thành phố Hồ Chí Minh 2002 Các tác giả đã khảo sát thực trạng đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và phân tích nó dưới góc độ công tác bảo vệ an ninh kinh tế, nhất là an ninh kinh tế ở một vùng kinh tế trọng điểm Các tác giả của đề tài này tập trung sự nghiên cứu theo hướng tìm hiểu và dự báo những mặt trái, những nguy cơ xuất phát từ hoạt động đầu tư nước ngoài, từ đó đề xuất giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn, mà chưa đề cập gì tới vấn đề quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm

+ “Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam”, đề tài khoa học cấp Bộ năm 2007, do ThS Nguyễn Quốc Dũng, TS Phạm Đắc Duyên, ThS Vũ Thị Anh Đào, Nguyễn Thế Hưng, Bùi Huy Cường thực hiện Các tác giả tập trung nghiên cứu chuyên sâu về lý thuyết ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý một quá trình xã hội; vai trò của công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực đầu tư nước ngoài; đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đầu tư nước

Trang 14

ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Các tác giả không đề cập đến những vấn

đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động đầu tư nước ngoài tại vùng này

+ “Quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” của tác giả Phạm Ngọc Dũng, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 273, tháng 2/2001 Tác giả đã khái quát tình hình thua lỗ của các liên doanh và các hình thức đầu tư nước ngoài khác, từ đó phân tích những nguyên nhân của tình trạng này và đề xuất một số giải pháp quản lý các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm xóa đi “khoảng tối” trong bức tranh toàn cảnh đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Trong đó, tác giả nhấn mạnh một số giải pháp như: cần tăng cường quản lý các hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chứ không chỉ quản lý ở khâu cấp phép; tăng cường công tác giám sát và nâng cao vai trò của các tổ chức giám định ở Việt Nam; sớm khắc phục tình trạng chồng chéo, không thống nhất giữa các văn bản pháp luật liên qua đến hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Một số tác giả cũng đã đặt vấn đề nghiên cứu về quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài dưới khía cạnh đấu tranh với những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài như tác giả Trương Quang Giáo với bài

viết: Đầu tư nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh và những vấn đề liên quan đến

an ninh quốc gia cần quan tâm, (Tạp chí Công an nhân dân số 6/1999) Tác giả Phan Quang Thịnh với các bài viết: Một số ý kiến về đấu tranh ngăn chặn vi phạm pháp luật trong hoạt động của các Hiệp hội thương nhân nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, (Tạp chí Công an nhân dân, số 04 – 2003) Tăng cường giáo dục pháp luật trong trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại vùng kinh

tế trọng điểm phía Nam, (Tạp chí Công an Nhân dân số 6/2007) Đầu tư nước ngoài tại các vùng kinh tế trọng điểm: nhìn từ góc độ quản lý nhà nước, (Tạp chí Lý luận Chính trị, tháng 9/2008) Đặc điểm quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại các vùng kinh tế trọng điểm, (Tạp chí Quản lý nhà nước, số

151, Tháng 8 – 2008) Quản lý nhà nước về an ninh quốc gia các khu chế xuất, khu công nghiệp, (Tạp chí Công an nhân dân, số 08 – 2007) Tác giả Trần Nguyễn Tuyên

Trang 15

với bài hoàn thiện môi trường và chính sách khuyến khích đầu tư trực tiếp của nước ngoài ở Việt Nam, Tạp chí Cộng sản số 14 (tháng 7/2004) TS Hoàng Xuân Hòa với

bài Nâng cao vai trò quản lý và điều hành của nhà nước trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài, (Tạp chí Quản lý nhà nước, số 116 (tháng 9/2005) Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam: loay hoay đầu tàu phát triển (Http://www.tuoitre.com.vn 1/08/2006) Hồ Vĩnh Lộc với bài Nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài, (Tạp chí Quản lý nhà nước, số 6/2000)

Ngoài ra, một số tác giả có nghiên cứu về hoạt động đầu tư nước ngoài đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành Như TS Nguyễn Thị Liên Hoa (2002) với

bài Xây dựng một lộ trình đầu tư thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tại Việt Nam, Tạp chí Phát triển kinh tế 9/2002 Tác giả Trần Văn Lợi (2006) với bài Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: vấn đề đặt ra và một số giải pháp, Tạp chí Cộng sản số 14 - 7/2006 PGS.TS Tác giả Nguyễn Hồng Sơn (2006) với bài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): triển vọng thế giới và thực tiễn Việt Nam, Tạp chí Những

vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, tháng 06/2006 PGS TS Bùi Anh Tuấn, ThS

Phạm Thái Hưng với bài Đầu tư trực tiếp nước ngoài: cần có một cách tiếp cận thận trọng hơn, Nghiên cứu kinh tế số 312 – Tháng 5/2004 Tác giả Đoàn Ngọc Phúc với bài Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam - thực trạng, những vấn đề đặt ra và triển vọng, Nghiên cứu kinh tế số 315 – Tháng 8/2004 Tác giả Nguyễn Hữu Tín với bài Thành phố Hồ Chí Minh đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, Tạp chí Quản lý nhà nước số 111 (tháng 4/2005) Tác giả Phạm Thị Hồng Cúc với bài Giải pháp thu hút đầu tư nước ngoài ở Đồng Nai, Tạp chí Quản lý nhà nước số 110 (tháng 3/2005) Tác giả Phạm Văn Sơn Khanh với bài Thực trạng và giải pháp phát triển các khu công nghiệp tỉnh Binh Dương đến năm 2010, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 273,

Trang 16

nghiên cứu về đầu tư nước ngoài ở những địa phương cụ thể với những đề xuất giải pháp thu hút đầu tư mà trong đó quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư được đề cập với tư cách là một trong những giải pháp thu hút đầu tư nước ngoài mà chưa giải quyết được vấn đề lý luận quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm.

Liên quan đến tình hình nghiên cứu còn có những công trình nghiên cứu về vùng và phát triển kinh tế vùng Nổi bật trong đó là các đề tài:

+ “Việt Nam - lãnh thổ và các vùng địa lý”, GS Lê Bá Thảo, Nhà xuất bản Thế giới – Hà Nội 1998 Trên cơ sở lý thuyết phân vùng lãnh thổ, quan điểm và kinh nghiệm phân vùng lãnh thổ của một số nước trên thế giới, tác giả đã nghiên cứu một cách hệ thống về quá trình hình thành và thực trạng các vùng lãnh thổ của Việt Nam; tầm quan trọng của phân vùng lãnh thổ trong sự phát triển đất nước Do tiếp cận từ góc độ địa lý học nên tác giả không đề cập vấn đề lý luận quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các vùng địa lý

+ “Qui hoạch vùng”, TS.KTS Phạm Kim Giao chủ biên, Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội 2000 Đây là một giáo trình phục vụ công tác giảng dạy lý thuyết về công tác quy hoạch phát triển các vùng lãnh thổ của một quốc gia

+ “Địa lý ba vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam”, Lê Thông - Đỗ Anh Dũng – Vũ Mai Huê – Nguyễn Thị Lệ Phương, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội 2006 Các tác giả làm rõ những yếu tố về địa lý của các vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam hiện nay

+ “Tổ chức lãnh thổ địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam”, Đề tài đặc biệt cấp nhà nước do TS Đặng Hữu Ngọc, TS Lữ Triều Thành, TS Tôn Sỹ Kinh, TS Trần Du Lịch và Kỹ sư Chu Thừa Châm làm chủ nhiệm, thành phố Hồ Chí Minh, 1994 Đây

là một công trình nghiên cứu khá công phu và toàn diện về tổ chức lãnh thổ địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam Trên cơ sở nghiên cứu làm rõ đặc điểm lịch sử, tự nhiên, kinh tế xã hội, các tác giả xác định quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển, thu hút đầu tư và đề xuất các định chế cho địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam Trong những định chế các tác giả đề xuất xây dựng, có đề cập tới việc xây

Trang 17

dựng các định chế kinh tế đặc biệt nhằm thúc đẩy nền kinh tế hướng ngoại như khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, kho ngoại quan, quá cảnh, khu hành chính – kinh tế đặc biệt Các tác giả cũng đã đề xuất việc hình thành Hội đồng hoặc Ban chỉ đạo quy hoạch, phát triển địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam Trong thực tế, đề xuất này đã được áp dụng bằng việc Chính phủ thành lập Tổ chức điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm Tuy nhiên, do đề tài nghiên cứu ở tầm vĩ mô với phạm vi rộng nên chưa giải quyết được những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đấu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm này Mặt khác, do đã thực hiện quá lâu (1994) nên nhiều vấn đề được đề cập trong công trình này không còn phù hợp với thực tiễn hiện nay, cẳng hạn vấn đề không gian lãnh thổ của vùng, tên gọi và đi liền với nó là hình thức tồn tại của một vùng đã

có những thay đổi rất cơ bản so với năm 1994

+ “Phát triển kinh tế vùng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, của các tác giả Nguyễn Xuân Thu, Nguyễn Văn Phú, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2006 Các tác giả tập trung phân tích, đánh giá tổng hợp các lợi thế

so sánh của các loại vùng khác nhau, gợi ý lựa chọn phương hướng và đề xuất giải pháp phát triển các vùng nhằm thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Công trình này nghiên cứu về phát triển kinh tế vùng nên cũng chưa quan tâm giải quyết vấn đề lý luận quản lý nhà nước bằng pháp luật

+ “Kinh tế vùng ở Việt Nam từ lý luận đến thực tiễn” của TS Lê Thu Hoa, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội 2007 Tác giả đã nghiên cứu và giải quyết nhiều vấn đề lý luận cơ bản về kinh tế vùng và vận dụng trong nghiên cứu thực tiễn phát triển vùng ở nước ta thời gian qua Như: khái niệm, nội dung kinh tế vùng; tổng quan về các loại vùng và các loại vùng kinh tế; bản chất và nội dung củ vùng kinh tế; vai trò, tác động của các vùng kinh tế trọng điểm và hiện trạng phát triển các vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam… Do là một công trình chuyên khảo về lý luận và thực tiễn kinh tế vùng ở Việt Nam, nên tác giả không đề cập đến vấn đề quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại các vùng nói riêng

Trang 18

+ “Chính sách phát triển vùng của Italia”, của PGS,TS Bùi Quang Nhật, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội 2006 Tác giả đã giới thiệu và phân tích những quan niệm về phát triển kinh tế vùng ở Italia, phân tích chính sách và quá trình thực hiện chính sách phát triển kinh tế vùng của Italia Từ đó, tác giả đưa ra một số gợi ý

về phát triển kinh tế vùng ở Việt Nam Tuy nhiên, công trình này cũng chưa giải quyết được vấn đề lý luận về quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với một lĩnh vực

cụ thể (đầu tư nước ngoài) tại một vùng kinh tế - lãnh thổ

Những công trình nêu trên đã tập trung nghiên cứu về vùng lãnh thổ và vùng kinh tế, đưa ra những tiêu chí phân loại vùng, đánh giá chính sách phát triển kinh tế vùng của Đảng và nhà nước ta, làm rõ cơ sở khoa học của việc hình thành các vùng kinh tế - lãnh thổ (trong đó có những vùng kinh tế trọng điểm) phục vụ cho công tác quản lý phát triển Cùng với những công trình nghiên cứu về những khía cạnh khác nhau của quản lý nhà nước và quản lý nhà nước bằng pháp luật trên một số lĩnh vực kinh tế cụ thể đã thống kê trên đây, những công trình này đã có những đóng góp rất đáng trân trọng vào việc hoàn thiện lý luận quản lý nhà nước bằng pháp luật nói chung Tuy nhiên, do chỉ hướng vào những phạm vi hẹp, những khía cạnh cụ thể, hoặc quá chung, quá rộng trên tầm vĩ mô nên những công trình này vẫn còn những hạn chế nhất định cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện

Khái quát về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, có thể thấy:

Thứ nhất, nghiên cứu lý luận về phát triển kinh tế vùng đã được nhiều nhà

nghiên cứu quan tâm, cả trong và ngoài nước, nhưng quản lý những vùng ấy như thế nào, nhất là quản lý các quá trình xã hội (trong đó có hoạt động đầu tư nước ngoài) như thế nào, bằng cơ chế nào lại chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức

Thứ hai, những vấn đề lý luận về đầu tư nước ngoài như khái niệm, hình thức,

vai trò của đầu tư nước ngoài, pháp luật về đầu tư nước ngoài và quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư nước ngoài đã được quan tâm nghiên cứu và khá hoàn thiện

về mặt lý luận

Trang 19

Thứ ba, lý luận chung về quản lý nhà nước và quản lý nhà nước bằng pháp

luật cũng là lĩnh vực được quan tâm nghiên cứu và các tác giả đã giải quyết được những vấn đề cơ bản của lý luận về lĩnh vực này

Tuy nhiên, về lý luận cũng như thực tiễn, có thể thấy một số tồn tại sau đây: quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài diễn ra tại những vùng kinh tế trọng điểm nói chung và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nói riêng là gì? Đặc trưng, nội dung của nó như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng, tác động đến hoạt động quản lý? Thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam diễn ra như thế nào, thành tựu và bất cập ra sao? Nguyên nhân của thành tựu và bất cập, yếu kém? Phải làm gì

và làm như thế nào để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Việt Nam? v.v…và v v…Đây chính là những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ

Thứ tư, có thể khẳng định: cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu

một cách toàn diện và có hệ thống những vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại một vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam

Vì vậy, đề tài “Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Việt Nam” trên cơ sở kế thừa có

chọn lọc một số nội dung của các công trình khoa học nêu trên, là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống, toàn diện cả lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề nghiên cứu, nó không trùng với bất kỳ công trình nào khác

1.2 NHIỆM VỤ CỦA LUẬN ÁN

Luận án này tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn sau đây:

- Làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm, như: khái niệm, đặc điểm, nội dung, vai trò của quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài

Trang 20

tại vùng kinh tế trọng điểm và những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với lĩnh vực này.

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; làm rõ những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của quá trình này

- Đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm bảo đảm quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Việt Nam hiện nay

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Trong những năm qua, nhiều chính sách, chủ trương của Đảng và nhà nước ta

đã được triển khai thành công trong thực tiễn, trong đó có chính sách phát triển kinh

tế vùng và chính sách mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài Một trong những nguyên nhân của sự thành công này chính là bởi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đã được xây dựng trên cơ sở những luận cứ khoa học Những công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế vùng, về đầu tư nước ngoài đã đóng góp phần quan trọng trong việc luận chứng những chính sách của Đảng và nhà nước Nhiều vấn đề

lý luận phát triển kinh tế vùng, lý luận đầu tư nước ngoài đã được quan tâm nghiên cứu làm rõ Đi đôi với phát triển kinh tế vùng là việc quản lý quá trình phát triển Từ góc độ quản lý nhà nước bằng pháp luật, những vấn đề lý luận cơ bản cũng đã được giải quyết, góp phần hoàn thiện phương thức quản lý tiên tiến hiện nay trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Tuy nhiên, quản lý xã hội nói chung, quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm nói riêng còn những vấn đề cần nghiên cứu làm rõ cả về lý luận và thực tiễn nhằm góp phần hoàn thiện hơn nữa

lý luận về lĩnh vực này

Trang 21

2.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm

2.1.1.1 Khái niệm vùng kinh tế trọng điểm

Để phân vùng và phát triển đất nước phù hợp với đặc điểm từng vùng, các quốc gia đã rất quan tâm nghiên cứu và đưa ra những quan niệm về vùng theo cách tiếp cận của riêng mình Theo một số tác giả Trung Quốc thì “vùng là một phần của

bề mặt trái đất, nó dựa vào một hoặc nhiều loại tiêu chí phân biệt với phần lân cận” [85, tr.18] Với cách tiếp cận này, ở tầm vĩ mô, vùng có thể bao gồm một số quốc gia trong khu vực rộng có tính quốc tế Trên thế giới, có nhiều vùng được gọi như thế:

các nước vùng Ban - tích, các nước vùng Ban – căng Theo nghĩa hẹp hơn, “vùng” là

một bộ phận lãnh thổ của một quốc gia Quan niệm này cơ bản cho người ta thấy được thế nào là một “vùng”, tuy nhiên nó lại là một quan niệm quá “mở” khi có thể chỉ cần dựa vào “một” hoặc có thể dựa vào “nhiều loại tiêu chí” để phân biệt với các phần lân cận Nó cũng mới chỉ cho thấy “vùng” là một phần “bề mặt trái đất”, (yếu tố

tự nhiên) chưa đề cập đến các khía cạnh xã hội, con người trong vùng

Theo các nhà địa lý học Liên Xô cũ thì “vùng” là “một phần lãnh thổ được tách ra trên cơ sở tập hợp các dấu hiệu (hoặc hiện tượng) có quan hệ mật thiết với nhau, là một cấp phân vị trong hệ thống phân chia lãnh thổ” [85, tr.5] Cách phân vùng lãnh thổ này đã chỉ ra được “các dấu hiệu” và sự liên quan mật thiết giữa “các dấu hiệu” để nhận biết một “vùng” Đồng thời nó cũng cho thấy yếu tố chủ quan của con người trong việc xác định một “vùng” Các quốc gia Tây Âu cũng có những

Trang 22

quan niệm khác nhau về “vùng” Theo pháp luật hành chính của Cộng hòa Pháp thì

“vùng” (khu) là “một đơn vị hành chính lãnh thổ, một cộng đồng lãnh thổ gồm nhiều tỉnh” [99, tr.253] Quan niệm của Pháp về “vùng” như trên là rất cụ thể từ góc độ hành chính nhà nước, xác định rõ “vùng” là đơn vị hành chính – lãnh thổ, chứ không chỉ chung chung là “một phần bề mặt trái đất” Đối với Italia, vùng cũng là một thuật ngữ được nhiều nhà nghiên cứu Italia quan tâm nghiên cứu và đưa ra các cách phân loại vùng khác nhau Theo đánh giá của TS Bùi Nhật Quang trong “Chính sách phát triển vùng của Italia” thì “cách phân loại vùng của Anna Bull (Regionalism in Italia, Eurropa Number 2 – Article 4, 1996) là rất đáng chú ý” [61, tr.10] Anna Bull đã xem xét và phân biệt vùng không chỉ từ một góc nhìn nhất định, mà tác giả này đã phân biệt và xem xét vùng theo ba góc nhìn khá riêng biệt, bao gồm: “1) Vùng với tư cách

là các thực thể hành chính; 2) Chủ nghĩa phân vùng/chủ nghĩa liên bang xem xét dưới góc độ thực hiện các trào lưu chính trị và trường phái tư tưởng; 3) Vùng xem xét dưới góc độ thực hiện các chính sách vùng, đặc biệt là chính sách phát triển vùng” [61, tr.10] Đây là cách nhìn nhận vấn đề khá toàn diện khi nghiên cứu “vùng” với nhiều góc độ và chỉ ra mục đích của việc phân vùng lãnh thổ là để “thực hiện các chính sách vùng” và đặc biệt là thực hiện “chính sách phát triển vùng”

Trong ngôn ngữ Việt Nam, thuật ngữ “vùng” được sử dụng trong nhiều trường hợp, nhiều lĩnh vực khác nhau

Về ngữ nghĩa trong tiếng Việt phổ thông thì “vùng” đã được giải thích theo nhiều cách hiểu khác nhau Đại Từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin 1999 giải thích từ “vùng” theo 3 nghĩa: “1 Miền, khu vực rộng,

một khoảng đất rộng (vùng quê, vùng ngược, vùng xuôi, vùng mỏ,…); 2 Khu ruộng lớn gồm nhiều thửa (bờ vùng, bờ thửa, ruộng liền vùng…); 3 Chỗ nào đó trên cơ thể (vùng ngực…)” [117, tr.1837] Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê, Nhà xuất bản

Giáo dục 1994 giải thích “vùng là phần đất đai, hoặc nói chung là không gian tương đối rộng có những đặc điểm nhất định về tự nhiên hay xã hội, phân biệt với các phần khác ở xung quanh” [65, tr.1093] Với cách hiểu như trên thì “vùng” theo quan điểm

Trang 23

của Hoàng Phê có nghĩa hẹp hơn so với cách giải thích của Đại từ điển Tiếng Việt và chỉ ở góc độ tiếp cận của khoa học địa lý.

Các nhà nghiên cứu của Việt Nam, từ những góc độ của mình cũng có nhiều quan niệm về “vùng” Chẳng hạn, GS Lê Bá Thảo, trong “Việt Nam - lãnh thổ và các vùng địa lý” đã nêu khái niệm: “Vùng là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia có một sắc thái đặc thù nhất định, hoạt động như một hệ thống do có những mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa các thành phần cấu tạo nên nó, cũng như những mối quan hệ

có chọn lọc với các không gian các cấp bên ngoài” [80, tr.281]

Cách tiếp cận này cho thấy “vùng” không chỉ hình thành từ những yếu tố tự nhiên, mà còn có yếu tố xã hội, có sự can thiệp của con người Sự hình thành của

“vùng” là có tính mục đích, tính tổ chức (hoạt động như một hệ thống) và có mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa các yếu tố bên trong và bên ngoài vùng

PGS.TS Ngô Doãn Vịnh trong “Nghiên cứu chiến lược và Qui hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở VN”, giải thích: “Vùng kinh tế - xã hội là một hệ thống kinh tế

xã hội lãnh thổ, bao gồm các mối liên hệ tương tác nhiều chiều giữa các bộ phận cấu thành: liên hệ địa lý và liên hệ về kỹ thuật, liên hệ về kinh tế và liên hệ về các mặt xã hội trong hệ thống cũng như ngoài hệ thống” [118, tr.184] Với cách giải thích này, tác giả đã tiếp cận khái niệm “vùng” từ góc độ kinh tế - xã hội Cho dù không phải là một đơn vị hành chính, nhưng vùng kinh tế - xã hội cũng là một hệ thống Hệ thống này bao gồm nhiều yếu tố cấu thành có mối liên hệ tương tác với nhau về địa lý, kỹ thuật, kinh tế và các mặt xã hội Những mối liên hệ này không chỉ có giữa các yếu tố cấu thành vùng mà nó còn có liên hệ với các yếu tố bên ngoài vùng Như thế, khi xuất hiện vùng, cho dù là vùng lãnh thổ hành chính hay vùng kinh tế - xã hội thì tất yếu phải có pháp luật, cơ chế, chính sách, quy hoạch, kế hoạch để quản lý các quá trình kinh tế - xã hội ở vùng đó, đảm bảo cho các quá trình này vận động, phát triển theo đúng quy luật của nó

Từ sự phân tích và kế thừa những quan niệm trên, trong phạm vi nghiên cứu

của luận án, tác giả luận án cho rằng với cách hiểu chung nhất thì vùng là một bộ

Trang 24

phận lãnh thổ của quốc gia, mà trên đó tồn tại những yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội tương đối đồng nhất giúp cho người ta phân biệt với những phần còn lại.

Với cách tiếp cận này, vùng trong phạm vi một quốc gia có thể bao gồm một

số tỉnh, hoặc vùng nhỏ hơn nữa (tiểu vùng) chỉ bao gồm một số huyện hoặc xã

Về phương diện địa lý - hành chính có vùng hành chính, (các đơn vị hành chính) được chia ra nhằm phục vụ cho việc quản lý các hoạt động, các quá trình kinh

tế - xã hội

Về phương diện kinh tế, các nhà địa lý học và kinh tế học đã phân chia lãnh thổ thành những những vùng kinh tế ngành (hay còn gọi chuyên ngành) và vùng kinh

tế tổng hợp Vùng kinh tế ngành là những vùng tập trung khai thác và phát triển trên

cơ sở phát huy thế mạnh về riêng một lĩnh vực kinh tế nào đó, như các vùng nông nghiệp, vùng cây công nghiệp, vùng công nghiệp, vùng du lịch… Vùng kinh tế tổng hợp (thường gọi tắt là vùng kinh tế, vùng kinh tế - xã hội) là một không gian kinh tế với vị trí địa lý có ranh giới xác định nhưng không cố định Sự phát triển của vùng kinh tế tổng hợp có tính bao trùm hơn với nhiều ngành khác nhau, thậm chí phát triển tất cả các ngành của nền kinh tế Đây cũng chính là cách tiếp cận theo hướng “vùng”

là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia với những đặc điểm riêng có về kinh tế, địa lý,

xã hội thể hiện những lợi thế so sánh khác nhau dẫn đến sự phát triển chênh lệch giữa các vùng đòi hỏi nhà nước “phải thực hiện các chính sách phát triển vùng với một hệ thống các công cụ, phương tiện can thiệp khác nhau nhằm đảm bảo sự gắn kết chung của các bộ phận lãnh thổ” [61, tr.12]

Căn cứ vào trình độ phát triển của vùng, người ta chia thành các vùng phát triển, vùng chậm phát triển và vùng suy thoái, trong đó vùng phát triển là vùng có những điều kiện thuận lợi (do thiên nhiên đem lại hoặc do con người tạo nên) cho sự phát triển kinh tế - xã hội và trong thực tế những vùng này cũng đã phát triển hơn hẳn

so với các vùng khác Đây là những vùng mà sự phát triển của nó có những tác động tích cực đến sự phát triển của cả nước

Ở Việt Nam, việc phân chia đất nước thành những vùng kinh tế theo những điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế, văn hóa, truyền thống… để có một qui hoạch tổng

Trang 25

thể phát triển kinh tế – xã hội đất nước đã được nhà nước rất quan tâm ngay từ những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX Trong quá trình phát triển đất nước, do hoàn cảnh kinh tế - xã hội, nhà nước có những sự điều chỉnh quy hoạch và phân chia vùng cho phù hợp với hoàn cảnh mỗi giai đoạn Hiện nay, theo Quyết định số 73/2006/QĐ –TTg, ngày 4 tháng 4 năm 2006 của thủ tướng Chính phủ, Việt Nam có 6 vùng kinh tế

- lãnh thổ, bao gồm: Vùng 1 (14 tỉnh trung du miền núi phía Bắc); vùng 2 (15 tỉnh đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ); vùng 3 (10 tỉnh ven biển Trung Bộ); vùng 4 (4 tỉnh Tây Nguyên); vùng 5 (8 tỉnh Đông Nam Bộ); vùng 6 (13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long) Đây là cơ sở để hoạch định chính sách phát triển kinh tế vùng của Việt Nam

Cũng là những vùng kinh tế nhưng mỗi vùng có những tiềm năng, lợi thế và

sự phát triển khác nhau, do đó có những đóng góp khác nhau vào sự phát triển chung của đất nước Từ cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, ở Việt Nam

đã xuất hiện thuật ngữ “tam giác kinh tế phát triển” để chỉ các tỉnh, thành phố có vị trí địa lý gần nhau, có những điều kiện phát triển và đã phát triển hơn các tỉnh, thành phố khác Ở phía Bắc có tam giác Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh (về sau thêm Hải Dương và trở thành tứ giác phát triển), ở phía Nam là tam giác thành phố Hồ Chí Minh – Đồng Nai – Bà Rịa Vũng Tàu (về sau trở thành tứ giác với sự xuất hiện của Sông Bé, nay là Bình Dương và Bình Phước) Hiện nay, thuật ngữ “vùng kinh tế trọng điểm” đã thay thế cho thuật ngữ “tam giác (hoặc tứ giác) phát triển” trước đây Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học địa lý kinh tế, nhằm phục vụ cho việc quản lý và phát triển kinh tế vùng theo chủ trương của Đảng, Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch phát triển 3 vùng kinh tế trọng điểm: vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Có thể khẳng định việc hình thành và phát triển 3 vùng kinh tế trọng điểm là rất cần thiết, rất có ý nghĩa cho sự phát triển của đất nước Đây là 3 vùng tập trung những lợi thế so sánh rõ nét so với các vùng khác Do đó, sau hơn 10 năm phát triển, các vùng này đã có những đóng góp lớn lao cho nền kinh tế nước nhà với 60,7% GDP, 80% trị giá kim ngạch xuất khẩu của cả nước, trên 60% dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài,

Trang 26

74,8% tổng số khu chế xuất – khu công nghiệp của cả nước với các ngành công nghiệp then chốt được xây dựng thu hút hàng triệu lao động, 3 vùng này xứng đáng là những vùng kinh tế động lực

Đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất những tiêu chí để coi một vùng lãnh thổ nào đó là một vùng kinh tế trọng điểm Theo đó, có thể coi những yếu tố sau đây

sẽ quyết định tính động lực, tính trọng điểm của một vùng kinh tế:

Một là, vùng đó phải là nơi có các lợi thế so sánh về vị trí địa lí, điều kiện tự

nhiên, kinh tế - xã hội, trình độ dân trí, chất lượng cao của đội ngũ lao động, tập trung tiềm lực mạnh về kinh tế

Hai là, hiện đã chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu GDP của cả nước, hoặc sẽ

chiếm tỉ trọng cao nếu được đầu tư thỏa đáng, góp phần tạo ra tốc độ tăng trưởng nhanh cho cả nước, có thể có được tích lũy đầu tư tái sản xuất, tạo nguồn thu ngân sách lớn cho Nhà nước và hỗ trợ cho các vùng khác phát triển

Ba là, có khả năng thu hút mạnh đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước,

các ngành kinh tế mới, từ đó phát triển ra cả nước

Những nội dung trên đây vừa là tiêu chí, đồng thời cũng là những đặc điểm nổi bật của vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam

Từ sự phân tích trên, có thể hiểu vùng kinh tế trọng điểm là vùng kinh tế mà ở

đó hội tụ những lợi thế so sánh, những điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế

xã hội của cả nước, đã và đang đóng vai trò có tính quyết định thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các vùng khác và của cả nước.

2.1.1.2 Khái niệm đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm

Từ góc độ kinh tế học, hiểu theo nghĩa rộng, “đầu tư” là thuật ngữ chỉ “sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt kết quả đó” [105, tr.16] Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm “những hoạt động

sử dụng các nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó” [105,

Trang 27

tr.17] Những khái niệm trên đây là những cách tiếp cận chung nhất theo góc độ lý thuyết về đầu tư, đã chỉ ra được bản chất, mục đích của hoạt động đầu tư Đó là, khi tiến hành hoạt động đầu tư, nhà đầu tư phải “hy sinh” các nguồn lực hiện tại của mình để tiến hành những hoạt động đầu tư Những hoạt động này sẽ đem lại kết quả lớn hơn trong tương lai không chỉ cho nhà đầu tư mà còn cho cả xã hội Hay nói khác

đi, khi tiến hành các hoạt động “đầu tư”, nhà đầu tư luôn luôn mong muốn đem lại lợi nhuận, trước hết là cho bản thân mình

Xét theo phạm vi quốc gia, hoạt động đầu tư có thể diễn ra trong phạm vi một quốc gia (đầu tư trong nước) và có thể diễn ra trên phạm vi quốc tế (đầu tư nước ngoài)

Trong đời sống kinh tế thế giới, đầu tư nước ngoài là một hiện tượng bình thường Các lý thuyết về đầu tư nước ngoài đã giải thích cơ sở khoa học của việc xuất hiện hiện tượng đầu tư nước ngoài chủ yếu là do yếu tố tỷ lệ lợi nhuận khác nhau giữa nước đi đầu tư và nước nhận đầu tư

Theo đó, sở dĩ có đầu tư nước ngoài là bởi các nguyên nhân chủ yếu sau đây: (1) Quá trình phát triển của xã hội loài người, các quốc gia trên thế giới trong cùng một thời điểm không thể có trình độ phát triển bằng nhau do sự khác biệt về vị trí địa

lý, điều kiện tự nhiên như khí hậu, thổ nhưỡng, các nguồn tài nguyên và trình độ dân trí Sẽ có những quốc gia khai thác được những lợi thế của mình và phát triển nhanh trở thành những nước giàu có, nước phát triển Đến một mức độ nào đó, những quốc gia phát triển có được nguồn dự trữ ngoại tệ dồi dào và xuất hiện nhu cầu được đầu

tư nguồn dự trữ ấy sang một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ khác để tìm kiếm lợi nhuận kinh tế hoặc những lợi ích chính trị (xuất khẩu tư bản) (2) Những quốc gia cho dù rất phát triển cũng không thể tự mình đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của nhân dân trong nước cũng như đáp ứng mọi nhu cầu của sự phát triển đất nước Do đó các nước đã phải mở rộng và nâng chất các quan hệ buôn bán, trao đổi cả về hàng hóa và nguồn vốn cho sự phát triển (3) Yếu tố lợi nhuận có được từ chi phí liên kết dịch vụ thấp và mức độ dồi dào cao của các yếu tố sản xuất tại những nước nhận được đầu tư

Trang 28

Quá trình đầu tư ra nước ngoài được thực hiện bởi 2 hình thức là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.

Trên cơ sở lý thuyết này, Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển – OECD – đã đưa ra giải thích khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong tài liệu “Định

nghĩa chuẩn của OECD về FDI” Theo quan niệm của tổ chức này thì “FDI phản ánh

mục đích thu được lợi nhuận lâu dài của một thực thể thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) tại một thực thể thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh

tế của nhà đầu tư (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp) FDI bao gồm mọi giao dịch ban đầu và các giao dịch vốn về sau giữa hai thực thể đó; cũng như giữa các doanh nghiệp liên doanh, kể cả hợp nhất và không hợp nhất” [62]

Đối với Việt Nam, quan điểm thu hút các nguồn vốn từ bên ngoài để phát triển đất nước đã có từ rất sớm Ngay từ năm 1945, khi nhân dân ta mới giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương: “những cơ sở mà người Pháp đã

bỏ vốn gây dựng ở đây từ trước đến giờ, nếu xét thấy cần thiết cho kinh tế quốc gia Việt Nam, sẽ được chúng ta chuộc lại dần dần” [58, tr.74] Và, mặc dù thực dân Pháp đang thực hiện chiến tranh nhằm xâm lược Việt Nam một lần nữa, nhưng với các nhà

tư bản Pháp thì Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn: “hoan nghênh những người Pháp muốn đem tư bản vào xứ ta khai thác những nguồn nguyên liệu chưa ai khai thác” [58, tr.74] Không chỉ “hoan nghênh” những nhà tư bản Pháp vào Việt Nam hợp tác kinh

tế với Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chủ trương “mời” những nhà tư bản của những nước khác vào Việt Nam để hợp tác: “Chúng ta sẽ mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu, đến đây giúp việc cho chúng ta trong công cuộc kiến thiết quốc gia” [58, tr.74] Trả lời phỏng vấn của các phóng viên nước ngoài vào năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “rất hoan nghênh các nhà tư bản Pháp và tư bản các nước khác thật thà cộng tác với chúng tôi Một là để xây dựng lại Việt Nam sau lúc bị chiến tranh tàn phá, hai là để điều hòa với nền kinh tế thế giới và gìn giữ hòa bình” [63, tr.274 – 275] Tuy chưa sử dụng thuật ngữ “đầu tư nước ngoài”, nhưng qua phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho thấy quan điểm và mục đích thu hút nguồn lực nước ngoài: xây dựng lại (phát triển) Việt Nam và hội nhập kinh tế

Trang 29

thế giới (điều hòa với nền kinh tế thế giới và gìn giữ hòa bình) Ngay sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Đảng và nhà nước ta đã có chủ trương thu hút đầu tư nước ngoài tạo nguồn ngoại lực quan trọng cho sự phát triển của đất nước Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã xác định: “Trong quan hệ hợp tác kinh tế với các nước, cần tranh thủ vốn và kỹ thuật để tận dụng mọi khả năng tiềm tàng về tài nguyên và sức lao động của nước ta” Văn bản pháp luật đầu tiên quy định

về đầu tư nước ngoài là “Điều lệ đầu tư nước ngoài ở Việt Nam”, (ban hành kèm theo Nghị định số 115/CP ngày 18.4.1977 của Thủ tướng Chính phủ) Tại điều 2 của văn bản pháp luật này, thuật ngữ “đầu tư nước ngoài” được giải thích: “Được coi là đầu tư của nước ngoài ở Việt Nam, việc đưa vào sử dụng ở Việt Nam những tài sản

và vốn sau đây, nhằm xây dựng những cơ sở mới hoặc đổi mới trang bị kỹ thuật, mở rộng các cơ sở hiện có ”

Quan niệm về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã ngày một hoàn thiện hơn qua những lần sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài kể từ sau khi ban hành lần đầu tiên vào năm 1987 Điều này thể hiện ở việc giải thích thuật ngữ “đầu tư nước ngoài” ngày một rõ hơn qua mỗi lần sửa đổi, bổ sung luật Đến Luật Đầu tư được Quốc hội khóa 11 thông qua ngày 29.11.2005, có hiệu lực từ 1.7.2006 thì khái niệm

“đầu tư nước ngoài” đã được giải thích rất khái quát tại điều 3: “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư” [73] Cũng theo điều 3 của luật Đầu tư 2005 thì

“Hoạt động đầu tư là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư” và “đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” [72] Còn đầu tư gián tiếp nước ngoài là việc “nhà đầu tư bỏ vốn để mua lại cổ phần, cổ phiếu mà không trực tiếp tham gia quản lý các dự án đầu tư” [73]

Khi nói đến đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam là muốn đề cập đến phạm vi không gian lãnh thổ của hoạt động đầu tư Về mặt nguyên tắc, hoạt động đầu tư được khuyến khích thực hiện trên mọi vùng, miền của đất nước Tuy nhiên trong thực tế, do đặc trưng của hoạt động đầu tư là loại hoạt động

Trang 30

phải nhằm sinh lợi (nhà đầu tư luôn có mục đích phải thu được lợi nhuận khi thực hiện các hoạt động đầu tư), cho nên các nhà đầu tư lại thường chỉ tập trung đầu tư ở những nơi mà họ thấy có nhiều thuận lợi nhất cho hoạt động đầu tư Mặt khác, mỗi vùng, mỗi địa phương có những điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và sự thân thiện của chính quyền (thể hiện qua hệ thống hành chính công với những quy định cụ thể) đối với các nhà đầu tư có sự khác nhau, dẫn đến việc các nhà đầu tư có thái độ ứng

xử khác nhau đối với mỗi vùng Nếu chúng ta thống nhất rằng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là việc nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn hoặc các tài sản hợp pháp khác vào

để tiến hành các hoạt động đầu tư tại Việt Nam và họ tham gia vào quá trình quản lý

vốn đầu tư, thì có thể khẳng định rằng: “Đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm là việc các nhà đầu tư bỏ vốn và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại các vùng này”.

Những hoạt động đầu tư nước ngoài được thực hiện hoặc chủ yếu thực hiện tại vùng kinh tế trọng điểm, bao gồm:

+ Chuẩn bị đầu tư: là giai đoạn nhà đầu tư vào vùng kinh tế trọng điểm tìm kiếm cơ hội đầu tư Bản chất của hoạt động này chính là chuẩn bị cho việc đầu tư được thực hiện Khâu chuẩn bị của nhà đầu tư thường là: (1) Nhà đầu tư nghiên cứu danh mục những lĩnh vực, những hạng mục mời gọi đầu tư; (2) Nghiên cứu những chính sách ưu đãi của chính quyền địa phương, những quy định liên quan đến hoạt động đầu tư tại các địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm thể hiện sự thân thiện của chính quyền địa phương; (3) Tìm hiểu về môi trường tự nhiên, xã hội, cơ sở hạ tầng, đặc điểm dân cư và nguồn nhân lực của các địa phương trong vùng; (4) Tìm hiểu hệ thống dịch vụ công (có minh bạch, công bằng, hiệu quả hay không) thể hiện qua các thủ tục hành chính, qua những quy định về cấp phép, thủ tục hải quan, thuế, bảo hiểm…; (5) Tìm hiểu quĩ đất trong vùng; (6) Tìm hiểu về qui hoạch của vùng và các địa phương trong vùng, qui hoạch các ngành nghề trong vùng v v …

+ Thực hiện dự án đầu tư: khi nói “đầu tư tại vùng kinh tế trọng điểm” là nói tới việc thực hiện những dự án tại vùng kinh tế trọng điểm, hay còn nói, đây chính là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn và các tài sản hợp pháp khác như kỹ thuật, công

Trang 31

nghệ, thiết bị, vật tư… vào tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh (ký hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc xây dựng các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh tại địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm) Đây là hoạt động được coi là quan trọng nhất của nhà đầu tư, nó hiện thực hóa ý định và sự chuẩn bị của nhà đầu

tư Đây cũng là khâu phức tạp nhất, phát sinh nhiều vấn đề nhất trong toàn bộ hoạt động đầu tư, đòi hỏi có sự quản lý chặt chẽ của cơ quan chức năng

+ Quản lý dự án đầu tư: chính là việc nhà đầu tư tham gia quản lý toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh của những doanh nghiệp mà họ bỏ vốn ra để liên doanh, mua lại hoặc thành lập tại vùng kinh tế trọng điểm Đây cũng còn là việc nhà đầu tư trực tiếp quản lý quá trình thực hiện những hợp đồng hợp tác kinh doanh đã được ký kết với các bên Việt Nam hoặc bên nước ngoài khác đang hoạt động tại vùng kinh tế trọng điểm

Những hoạt động trên đây với những nội dung của nó cho thấy, về cơ bản, hoạt động đầu tư nước ngoài được tiến hành ở những vùng kinh tế trọng điểm hoặc ở một vùng kinh tế - lãnh thổ khác nào đó là giống nhau Tuy nhiên, do các vùng kinh

tế trọng điểm có những đặc điểm riêng với những lợi thế so sánh rõ nét so với các vùng kinh tế - lãnh thổ khác, cho nên đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm

có những đặc điểm riêng biệt Những đặc điểm này có ý nghĩa lớn mà các cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước cần nắm vững để có những phương pháp, giải pháp quản lý có tính đặc thù phù hợp với thực tiễn

2.1.1.3 Đặc điểm của đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm

Ngoài những đặc điểm chung của đầu tư nước ngoài như: đảm bảo quyền sở hữu và quyền quản lý (trong trường hợp đầu tư trực tiếp); tính mục đích lợi nhuận khi thực hiện các dự án đầu tư thì đầu tư nước ngoài tại các vùng kinh tế trọng điểm còn

có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện chủ yếu ở các vùng kinh tế trọng điểm.

Trang 32

Tuy hoạt động đầu tư nước ngoài diễn ra ở hầu khắp các địa phương trong cả nước, nhưng do lợi thế so sánh của mình, các vùng kinh tế trọng điểm là những nơi thu hút nhất đối với các nhà đầu tư nước ngoài Hay nói khác đi, các dự án đầu tư nước ngoài được thực hiện tập trung ở các vùng kinh tế trọng điểm Số liệu thống kê (niên giám thống kê 2007) cho thấy các vùng kinh tế trọng điểm chiếm 89,98% số dự

án, 87,71% số vốn đăng ký và 75,11% số vốn thực hiện của cả nước

Đây là đặc điểm có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm Bởi lẽ, do chiếm số lượng dự

án nhiều nhất cho nên những vướng mắc nổi bật nhất, những bất cập của pháp luật, của cơ chế chính sách, những nhu cầu của nhà đầu tư nước ngoài…thể hiện rõ nét nhất, tập trung nhất ở các vùng kinh tế trọng điểm Đồng thời những tác động tích cực hoặc tiêu cực của đầu tư nước ngoài đối với Việt Nam cũng thể hiện rõ nét tại đây Đầu tư nước ngoài tại các vùng kinh tế trọng điểm, do đặc điểm này, có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút nguồn ngoại lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: nguồn ngoại lực từ đầu tư trực tiếp nước ngoài được thu hút chủ yếu do các vùng kinh tế trọng điểm Chính vì thế, một cơ chế, chính sách quản lý có tính đặc thù cho vùng kinh tế trọng điểm là cần thiết

Thứ hai, đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm được thực hiện bởi các nhà đầu tư đến từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ với những nền văn hóa khác nhau rất phong phú, đa dạng.

Các vùng kinh tế trọng điểm thu hút phần lớn các dự án đầu tư nước ngoài của

cả nước Vì thế đội ngũ nhà đầu tư nước ngoài tại đây khá phong phú về quốc tịch Tính tới cuối năm 2008 cả nước có 84 quốc gia và vùng lãnh thổ vào Việt Nam đầu

tư thì ở 3 vùng kinh tế trọng điểm có khoảng 80 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư Các nhà đầu tư nước ngoài đến từ những quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau tất yếu sẽ đem theo phong tục, tập quán, thói quen ứng xử theo những chuẩn mực pháp lý và đạo đức từ những nền văn hóa khác nhau Đây là yếu tố đặt ra nhiều vấn

đề trong công tác quản lý của các cơ quan chức năng Việt Nam Đó là:

Trang 33

(1) Sự khác biệt về văn hóa dẫn tới hành vi ứng xử khác nhau, nếu không xử

lý tốt sẽ ảnh hưởng xấu tới hoạt động đầu tư, môi trường đầu tư Trong thực tế, có khá nhiều vụ đình công cả người lao động Việt Nam xuất phát từ sự khác biệt về văn hóa ứng xử, gây khó khăn trong giải quyết đình công của các cơ quan chức năng Chẳng hạn, chuyện “bồi dưỡng” cho cán bộ các cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước là một vấn đề trong văn hóa ứng xử Có nước coi đây là chuyện bình thường, với nước ta là vấn đề đạo đức và luật pháp

(2) Có sự quản lý sao cho có thể hạn chế đến mức thấp nhất sự thẩm thấu những tư tưởng, quan điểm trái với đường lối, chính sách của Đảng và những phong tục, tập quán, lối sống… không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc ta

(3) Thái độ đối xử của Chính phủ và các cơ quan quản lý của Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài sẽ góp phần quyết định thái độ ứng xử của Chính phủ

và cơ quan chức năng của các nước đối với hoạt động kinh tế của Việt Nam khi thực hiện ở nước họ Đây cũng chính là nguyên tắc tồn tại bình đẳng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển, một nguyên tắc cho thấy mối quan hệ tùy thuộc lẫn nhau trong bối cảnh toàn cầu hóa Nếu chúng ta dành cho đối tác những gì tốt nhất thì chúng ta cũng sẽ có cơ hội nhận được những cái tốt nhất có thể từ phía họ và ngược lại Do đó, quản lý trong thời đại ngày nay không thể thực hiện theo kiểu “cai trị”, mà phải chuyển hướng từ “kiểm tra, giám sát” sang “đăng ký” và “thông báo”, sao cho đem lại những sự thuận lợi nhất trong phạm vi pháp luật cho nhà đầu tư nước ngoài

Thứ ba, đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm có cơ hội thành công cao hơn so với các vùng lãnh thổ khác.

Sự thành công của các dự án đầu tư nước ngoài ở đây được hiểu là các dự án nhanh chóng được đưa vào hoạt động, sớm thu lợi nhuận và nhà đầu tư nước ngoài sớm thu hồi vốn đầu tư mà họ đã bỏ ra Sự thành công hay thất bại của một dự án đầu

tư phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, cả chủ quan của nhà đầu tư nước ngoài và điều kiện khách quan của môi trường nơi mà “nhà đầu tư đem vốn, tài sản hợp pháp” đến thực hiện các hoạt động đầu tư (tức môi trường của nước, lãnh thổ nhận được sự đầu tư) Điều kiện chủ quan của nhà đầu tư thể hiện ở khả năng vốn; trình độ tiên tiến

Trang 34

của dây chuyền công nghệ, thiết bị; trình độ và năng lực quản lý; khả năng chiếm lĩnh thị trường Môi trường đầu tư của một vùng nào đó thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau thuộc cả “cơ sở hạ tầng cứng” và “cơ sở hạ tầng mềm”, như: điều kiện tự nhiên, khí hậu, thời tiết, dân trí, tình hình chính trị và trật tự xã hội, giá nhân công và chất lượng nguồn nhân lực, cơ chế chính sách, pháp luật, quĩ đất, thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn cung cấp nguyên liệu, hệ thống giao thông v v … Đây chính là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công hay thất bại của các dự án đầu tư nước ngoài Những yếu tố trên, tại các vùng kinh tế trọng điểm đều hội đủ, thể hiện ở chỗ: (1) cả 3 vùng kinh tế trọng điểm đều có quỹ đất, hệ thống giao thông, bến cảng, sân bay, nguồn nguyên liệu, thị trường hấp dẫn các nhà đầu tư; (2) cả 3 vùng kinh

tế trọng điểm đều có nguồn nhân lực dồi dào, trong đó có những vùng nguồn nhân lực được đào tạo đảm bảo tay nghề cao đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư; (3) từ cơ sở pháp luật thống nhất của cả nước, các địa phương trong những vùng kinh tế trọng điểm đề có sự vận dụng linh hoạt tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư nước ngoài

Cơ chế chính sách tuy không được đánh giá như một yếu tố quyết định hoàn toàn đối với việc thu hút đầu tư nước ngoài, nhưng nó cũng là một yếu tố quan trọng Thông thường, cơ chế chính sách của các địa phương trong các vùng kinh tế trọng điểm rất thông thoáng Hầu như tỉnh nào cũng có những sự ưu đãi riêng về thủ tục đăng ký, thời gian cấp phép, v v … có tính chất “trải thảm đỏ” để thu hút đầu tư nước ngoài Với những lợi thế về “hạ tầng cơ sở cứng” và “hạ tầng cơ sở mềm” của các vùng kinh tế trọng điểm, rõ ràng cơ hội thành công của các dự án đầu tư nước ngoài là cao hơn so với những vùng lãnh thổ khác

Thứ tư, đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm có tính cạnh tranh cao hơn những khu vực khác.

Những lợi thế so sánh, những tiềm năng phát triển và cơ chế chính sách thông thoáng trong phạm vi pháp luật có tác dụng tích cực trong việc thu hút đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, một vấn đề nào đó luôn có tính hai mặt của nó Do có những lợi thế

so sánh tương đối giống nhau, cho nên các địa phương muốn thu hút được đầu tư trực

Trang 35

tiếp nước ngoài, phải dùng đến các “chiêu thức” tự quảng cáo, tự khuyến mãi chính mình Vì những lợi ích riêng, các địa phương trong các vùng kinh tế trọng điểm thường có những chính sách ưu đãi, khuyến khích riêng Chẳng hạn Bình Dương thực hiện chủ trương “trải thảm đỏ” mời gọi đầu tư; Bà Rịa – Vũng Tàu với chính sách

“đổi đất lấy cơ sở hạ tầng”; Đồng Nai với chủ trương “đồng hành cùng doanh nghiệp”; thành phố Hồ Chí Minh thực hiện “5 sẵn sàng” để chờ đón các nhà đầu nước ngoài Các địa phương cũng liên tục cải tiến các thủ tục đăng ký, cấp phép đầu

tư và giảm giá cho thuê đất Mặt khác, do các địa phương cạnh tranh nhau trong thu hút đầu tư nên hàng loạt các khu chế xuất, khu công nghiệp đã ra đời (riêng vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có tới 74 khu trong tổng số khoảng 150 khu của cả nước)

Sự “thông thoáng” của các địa phương có tác dụng tích cực là đã tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư Tuy nhiên, chính nó cũng đưa các nhà đầu tư đến chỗ phải cạnh tranh với nhau một cách khá quyết liệt Do lợi thế so sánh nên nhiều nhà đầu tư cùng đến những địa phương này, cùng sản xuất, kinh doanh một loại sản phẩm hàng hóa nào đó và họ phải cạnh tranh nhau Những ngành mà nhà đầu tư nước ngoài phải cạnh tranh nhiều là những ngành gia công lắp ráp, chế biến thực phẩm, dịch vụ du lịch, bất động sản Đây là những lĩnh vực sản xuất, kinh doanh mang lại lợi nhuận cao, cho nên nhiều nhà đầu tư nước ngoài chú ý đầu tư vào những lĩnh vực này Và

do đó, họ phải cạnh tranh nhau rất gay gắt Điều này thể hiện rõ nét ở các ngành nghề như lắp ráp các sản phẩm điện – điện tử, lắp ráp ôtô, sản xuất và lắp ráp xe gắn máy, kinh doanh dịch khách sạn – du lịch Điều này rất khác so với đầu tư nước ngoài ở những địa phương không thuộc vùng kinh tế trọng điểm Thực tế cho thấy, 21 địa phương thuộc các vùng kinh tế trọng điểm thu hút tới 7876/8753 (89,98%) dự án đầu

tư, trong khi 43 địa phương còn lại thu hút 777 (10,02%) dự án, có những địa phương chỉ có khoảng trên 10 dự án Ở những địa phương này, tính cạnh tranh trong hoạt động của các doanh nghiệp rõ ràng là thấp hơn

Trang 36

Thứ năm, nhiều dự án đầu tư vào các vùng kinh tế trọng điểm có vốn đầu tư lớn, liên quan đến các ngành kinh tế mũi nhọn, được thực hiện bởi các tập đoàn kinh

tế lớn.

Những tập đoàn kinh tế lớn, những công ty xuyên quốc gia khi đầu tư vào một vùng lãnh thổ thường rất chú ý tới môi trường đầu tư Có thể thấy, chỉ những vùng kinh tế trọng điểm mới đủ khả năng đáp ứng yêu cầu cao cho sự phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, trọng điểm của quốc gia Mặt khác, nhu cầu phát triển của các địa phương trong các vùng kinh tế trọng điểm cũng phù hợp với chiến lược phát triển của các nhà đầu tư lớn Vì thế, trong thực tế, tuy số vốn bình quân của mỗi dự án chỉ vào khoảng 8 triệu USD nhưng những dự án lớn của các tập đoàn lớn trên thế giới đầu tư vào Việt Nam thường được tập trung ở những vùng kinh tế trọng điểm Đầu tư của tập đoàn Intel với vốn đầu tư lên tới một tỷ USD vào khu công nghệ cao của thành phố Hồ Chí Minh hoặc đầu tư của tập đoàn LG vào Hà Tây (cũ)… là những ví dụ điển hình

Thứ sáu, tuy số vốn đăng ký cao nhưng số vốn thực hiện tại các vùng kinh tế trọng điểm lại khá thấp.

Tuy chiếm số dự án nhiều nhất, số vốn đăng ký cao nhất nhưng tỷ lệ số vốn thực hiện/vốn đăng ký của 3 vùng kinh tế trọng điểm tính tới cuối năm 2008 chỉ đạt 28,86%, trong khi tỷ lệ này của cả nước là 33,37% Tỷ lệ vốn đưa vào thực hiện thấp

do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có cả những nguyên nhân chủ quan và khách quan Có thể nêu một số nguyên nhân hạn chế kết quả giải ngân (đưa vốn vào thực hiện) thấp, như: (1) khả năng tiếp nhận và sử dụng vốn của các dự án đầu tư còn thấp do điều kiện cơ sở hạ tầng chưa đảm bảo; (2) những vướng mắc về thủ tục hành chính; (3) ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu; (4) năng lực tài chính của các chủ đầu tư hạn chế; (5) các vùng kinh tế trọng điểm thu hút nhiều dự án, do đó khi khủng hoảng kinh tế xảy ra, số dự án không triển khai được sẽ chiếm tỷ lệ cao hơn các vùng khác Nhìn từ góc độ quản lý nhà nước, có thể thấy rằng đây là một hiện tượng không thật sự bình thường đang diễn ra ở các vùng kinh tế trọng điểm Hiện tượng này ảnh hưởng xấu tới hiệu quả đầu tư nước ngoài, ảnh hưởng không tốt

Trang 37

tới môi trường đầu tư Không loại trừ có một số nhà đầu tư nước ngoài không thực tâm thực hiện dự án, mà chỉ muốn thông qua việc xin cấp phép đầu tư để trục lợi từ việc “sang tay” các dự án đầu tư nước ngoài cho những nhà đầu tư đến sau Điều này đòi hỏi trong quản lý nhà nước không chỉ coi trọng việc cấp phép (tiền kiểm) mà còn phải luôn tăng cường thực hiện kiểm tra sau cấp phép (hậu kiểm) nhằm đánh giá tình hình thực hiện các dự án, xác định chính xác nguyên nhân của việc các dự án không được thực hiện đúng như giấy phép đã được cấp; đánh giá tình hình tuân thủ pháp luật Việt Nam của các nhà đầu tư nước ngoài để xử lý một cách thỏa đáng

Thứ bảy, có sự chênh lệch lớn về số dự án và vốn đầu tư nước ngoài giữa các vùng kinh tế trọng điểm và giữa các địa phương trong mỗi vùng.

Tuy đều là những vùng kinh tế trọng điểm, nhưng số dự án và vốn đầu tư nước ngoài thu hút vào mỗi vùng có khác nhau Nếu như vùng kinh tế trọng điểm phía Nam có tới 5.485 dự án thì vùng kinh tế trọng điểm miền Trung chỉ có 254 dự

án Như vậy, đóng góp của mỗi vùng cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân nói chung có khác nhau Sự phát triển của các vùng cũng do đó mà có sự chênh lệch nhất định Không những vậy, trong cùng một vùng kinh tế trọng điểm, có những địa phương có hàng ngàn dự án đầu tư nước ngoài thì có những địa phương lại chỉ có vài chục dự án Do vậy, trong quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài nên chăng có sự cụ thể hóa về chính sách quản lý, tránh tình trạng “cào bằng” trong quản lý, sao cho những vùng có tiềm năng có thể khai thác tối đa tiềm năng và lợi thế so sánh của vùng và địa phương mình Mặt khác, nhìn từ giác độ chênh lệch trong phát triển vùng, những vùng, những địa phương mới có ít dự án đầu tư nước ngoài cần có sự đổi mới và tăng cường công tác xúc tiến đầu tư – một trong những nội dung chủ yếu của quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài

Những đặc điểm trên đây đòi hỏi phải có cái nhìn đảm bảo tính khách quan, toàn diện đối với hoạt động đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm, từ đó có

cơ chế, chính sách quản lý phù hợp nhằm thu hút nhiều nhất, tốt nhất nguồn ngoại lực phát triển vùng kinh tế trọng điểm thành những động lực của sự phát triển đất nước Đặc biệt, để đầu tư nước ngoài có thể đến với nhiều địa phương trong các vùng kinh

Trang 38

tế trọng điểm, thực sự là nguồn ngoại lực quan trọng cho sự phát triển bền vững của

cả nước, giảm thiểu sự chênh lệch trong phát triển kinh tế vùng thì rất cần có những

cơ quan quản lý chung cho mỗi vùng chứ không thể tình trạng “mạnh ai nấy làm” như trong thực tế một số năm qua Suy cho cùng, sẽ không thể có những vùng kinh tế đặc biệt làm “động lực”, “đầu tàu” cho sự phát triển của cả nước nếu không có cơ chế, chính sách quản lý đặc biệt cho nó

2.1.1.4 Khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm

- Khái niệm quản lý

Quản lý xã hội, đảm bảo cho xã hội một trạng thái có trật tự, là nhiệm vụ của mọi nhà nước Khi loài người có những hoạt động mang tính cộng đồng đòi hỏi có sự tham gia của nhiều người thì tất yếu xuất hiện nhu cầu có sự tổ chức, điều hành, tức cần có sự quản lý Về vấn đề này, C.Mác viết: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành trên một quy mô tương đối lớn đều cần có

sự quản lý nhiều hay ít…” [56, tr.480] Theo Mác, sự quản lý này là để “phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất…” [56, tr.480] Mác ví sự cần thiết của hoạt động quản lý như sự điều khiển của người nhạc trưởng trong một dàn nhạc: “một nhạc công tự mình điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [56, tr.480] Như vậy, bất kỳ một hoạt động nào có sự tham gia của một số đông người với quy mô “tương đối lớn” thì đều cần có sự quản lý Suy rộng ra, bất kỳ một

xã hội nào cũng cần có sự quản lý nhằm duy trì trạng thái ổn định, có trật tự đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển của mọi thành viên và toàn xã hội Bởi lẽ, theo Ăngghen thì

“trật tự xã hội là một quyền thiêng liêng làm nền tảng cho mọi quyền khác” [57, tr.29] Từ đó có thể nói quản lý là một tất yếu xuất phát từ nhu cầu tự thân trong hoạt động tập thể của con người Và cũng từ đây cho thấy con người đã thực hiện hoạt động quản lý và cũng đã tìm cách giải thích thuật ngữ “quản lý” từ xa xưa Do đó, trong lịch sử đã tồn tại nhiều quan niệm cũng như cách giải thích khác nhau về quản

lý, xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau Từ góc độ khoa học quản lý, có

Trang 39

thể nói “quản lý là sự tác động có tổ chức, có đích hướng của chủ thể lên các khách thể nhằm đạt được mục tiêu định trước” [34, tr.18] Hoặc “quản lý là sự tác động có

tổ chức, có đích hướng của chủ thể lên các khách thể nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra” [30, tr.11]

Do đặc điểm của thời đại cho nên với mỗi thời đại khác nhau thì tư tưởng quản lý cũng khác nhau, và từ đó, có những lý thuyết quản lý khác nhau Trong lịch

sử đã tồn tại một số trường phái lý thuyết quản lý chi phối nhận thức và hoạt động quản lý trong những thời kỳ lịch sử nhất định Các tác giả giáo trình “Quản lý học đại cương” của Học viện Hành chính Quốc gia đã phân loại các trường phái lý thuyết quản lý thành 3 nhóm: các lý thuyết theo quản lý theo trường phái phương Tây; các

lý thuyết quản lý theo trường phái phương Đông và lý thuyết quản lý của chủ nghĩa Mác – Lênin

Các lý thuyết quản lý theo trường phái phương Tây có thể kể một số thuyết có tính chất điển hình, như: thuyết “quản lý theo khoa học” mà đại diện là Robert Owen (1771 – 1859) với quan điểm: “mọi người có thể đạt được kết quả cao bằng cách phối hợp với nhau thành một xã hội công nghiệp” [34, tr.27] Thuyết “quản lý hành chính”

ra đời ở Pháp với đại diện là Henry Fayol đề cao vai trò của hành chính trong quản lý doanh nghiệp với 14 nguyên tắc quản lý kinh doanh trong các hãng lớn Thuyết

“quản lý thư lại” quan tâm việc phân chia quyền lực trong quản lý thành những thứ bậc khác nhau Đại diện cho trường phái này là Max Weber (1826 – 1920) và Cheter Barnard (1886 – 1961) với quan điểm nhấn mạnh yếu tố phân cấp quản lý và đảm bảo quyền hành và biết sử dụng quyền hành trong hoạt động quản lý Bên cạnh đó, còn một số trường phái khác như: trường phái tổ chức, trường phái hành vi trong quản lý, thuyết X và Y, thuyết văn hóa quản lý…

Các lý thuyết quản lý theo trường phái phương Đông phải kể đến thuyết “lễ trị” của Khổng Tử, thuyết “an dân” của Mạnh Tử, thuyết “pháp trị” của Hàn Phi Tử… Trong các lý thuyết của mình, các nhà tư tưởng nói trên đã chỉ ra các chức năng

và phạm vi của quản lý Tư tưởng “tề gia, trị quốc” của Khổng Tử; “an dân, trị quốc” của Mạnh Tử hoặc tư tưởng đề cao ý nghĩa của pháp luật của Hàn Phi Tử cho đến

Trang 40

nay vẫn được đánh giá rất cao Ở Việt Nam thời kỳ phong kiến, quản lý theo luật Hồng Đức của triều đình nhà Lê cũng được các nhà nghiên cứu xếp vào nhóm quản

lý theo trường phái phương Đông Đây là bộ luật khá hoàn hảo có tính tổng hợp của nhiều ngành luật như luật hình sự, dân sự, hành chính, quân sự…cho thấy nhà nước phong kiến Việt Nam đã sử dụng pháp luật để can thiệp vào sự phát triển của lĩnh vực kinh tế

Lý thuyết quản lý của C.Mác, F.Ăngghen, V.I.Lênin được coi là khoa học và tiến bộ nhất Bằng việc đi sâu phân tích hai mặt của quản lý sản xuất trong chủ nghĩa

tư bản (sản xuất và cai trị quá trình sản xuất), Mác cho rằng quản lý là một hoạt động tất yếu khách quan có chức năng quản lý xã hội bắt nguồn từ tính chất lao động xã hội C.Mác cũng cho rằng quản lý dưới chế độ tư bản cũng chỉ là một loại lao động dịch vụ, làm thuê cho nhà tư bản Ông viết: “ Khi tư bản đã đạt đến một đại lượng nhất định thì nó bàn giao cho những “sĩ quan và hạ sĩ quan công nghiệp”, là những người quản lý chuyên nghiệp nhân danh nhà tư bản để chỉ huy quá trình lao động” [57, tr 481- 482)] Như vậy quản lý đã trở thành một nghề chuyên môn và những người quản lý là người làm thuê cho nhà tư bản

Bên cạnh C.Mác, F.Ăngghen cũng là người có những đóng góp vào lý luận quản lý, góp phần hoàn thiện lý thuyết quản lý của chủ nghĩa Mác Từ việc nghiên cứu cả thực tế quản lý quá trình sản xuất và vai trò quản lý của nhà nước trong xã hội, ông đã chứng minh tính tất yếu của quyền uy không chỉ trong trong tự nhiên mà còn cả trong kỹ thuật và xã hội Ông cũng đã chỉ ra nguyên tắc quản lý xã hội là quản

lý bằng quyền lực công trên cơ sở các nguồn lực vật chất chủ yếu Ông viết: “Một mặt, quyền uy nhất định, không kể quyền uy đó được tạo ra bằng cách nào, và mặt khác, một sự phục tùng nhất định đều là những điều mà trong bất kỳ một tổ chức – xã hội nào cũng đều do điều kiện vật chất trong đó tiến hành sản xuất và lưu thông sản phẩm, làm cho trở thành tất yếu” [56, tr 421]

V.I.Lênin đã kế tục sự nghiệp của C.Mác và F.Ăngghen một cách xuất sắc trong điều kiện khó khăn của nước Nga sau cách mạng tháng Mười Ông đi sâu phân tích những khó khăn, phức tạp của việc quản lý đất nước trong thời kỳ quá độ và kết

Ngày đăng: 03/04/2013, 14:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị (2001), Nghị quyết 07 ngày 27-11-2001 về Hội nhập kinh tế quốc tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 07 ngày 27-11-2001 về Hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2001
2. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 53-NQ/TW ngày 29 - 8 - 2005, về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh, Vùng Đông Nam Bộ và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 53-NQ/TW ngày 29 - 8 - 2005, về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh, Vùng Đông Nam Bộ và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2001), Luật đầu tư nước ngoài và các văn bản hướng dẫn áp dụng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đầu tư nước ngoài và các văn bản hướng dẫn áp dụng, Nxb Chính trị Quốc gia
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2005), Quyết định số 837/QĐ-BKH ngày 26 - 8 - 2005 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc ban hành Quy chế hoạt động của Văn phòng Ban chỉ đạo điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 837/QĐ-BKH ngày 26 - 8 - 2005 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc ban hành Quy chế hoạt động của Văn phòng Ban chỉ đạo điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2005
5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2005), Quyết định số 811/QĐ-BKH ngày 22 tháng 8 năm 2005 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc thành lập Tổ thường trực Ban Chỉ đạo Tổ chức điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 811/QĐ-BKH ngày 22 tháng 8 năm 2005 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc thành lập Tổ thường trực Ban Chỉ đạo Tổ chức điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2005
6. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2006), Báo cáo đánh giá chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài từ góc độ phát triển bền vững, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài từ góc độ phát triển bền vững
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2006
7. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2006), Quyết định 1088/QĐ-BKH ngày 19 - 10 - 2006 về việc ban hành mẫu hồ sơ hướng dẫn hoạt động đầu tư tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 1088/QĐ-BKH ngày 19 - 10 - 2006 về việc ban hành mẫu hồ sơ hướng dẫn hoạt động đầu tư tại Việt Nam
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2006
8. Nguyễn Thanh Bình (2005), Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với công ty cổ phần ở Việt Nam”, Luận án TS Luật học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với công ty cổ phần ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2005
9. Chính phủ (2003), Nghị định số 99/2003/NĐ-CP ngày 28 - 08 - 2003, Về việc ban hành Quy chế khu cộng nghệ cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 99/2003/NĐ-CP ngày 28 - 08 - 2003, Về việc ban hành Quy chế khu cộng nghệ cao
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
10. Chính phủ (2005), Chỉ thị số 13/2005/CT-TTg ngày 08 - 04 - 2005 về một số giải pháp nhằm tạo chuyển biến mới trong công tác thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 13/2005/CT-TTg ngày 08 - 04 - 2005 về một số giải pháp nhằm tạo chuyển biến mới trong công tác thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
11. Chính phủ (2006), Nghị định số 88/CP ngày 29 - 8 - 2006, Về đăng ký kinh doanh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 88/CP ngày 29 - 8 - 2006, Về đăng ký kinh doanh
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
12. Chính phủ (2006), Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22 - 9 - 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22 - 9 - 2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
13. Chính phủ (2006), Nghị định số 101/2006/NĐ-CP ngày 21 - 9 - 2006 quy định việc đăng ký lại, chuyển đổi và đăng ký đổi Giấy chứng nhận đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 101/2006/NĐ-CP ngày 21 - 9 - 2006 quy định việc đăng ký lại, chuyển đổi và đăng ký đổi Giấy chứng nhận đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
14. Chính phủ (2007), Nghị định số 23/2007/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 23/2007/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
15. Chính phủ (2007), Nghị định số 139 Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 139 Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
16. Chính phủ (2007), Nghị định số 53/2007/NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch - đầu tư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 53/2007/NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch - đầu tư
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
17. Chính phủ (2007), Nghị định số 24/2007/NĐ-CP ngày 14 – 2 – 2007 Quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 24/2007/NĐ-CP ngày 14 – 2 – 2007 Quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
18. Phạm Thị Hồng Cúc (2005), “Giải pháp thu hút đầu tư nước ngoài ở Đồng Nai”, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 110 (tháng 3/2005), trang 40 -43, 48, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp thu hút đầu tư nước ngoài ở Đồng Nai”, "Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 110 (tháng 3/2005)
Tác giả: Phạm Thị Hồng Cúc
Năm: 2005
19. Phạm Ngọc Dũng (2001), “Quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”, Nghiên cứu kinh tế số 273 – Tháng 2/2001, tr.8 - 12, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”, "Nghiên cứu kinh tế số 273 – Tháng 2/2001, tr.8 - 12
Tác giả: Phạm Ngọc Dũng
Năm: 2001
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. Cơ cấu đầu tư nước ngoài theo địa phương trong vùng kinh tế  trọng điểm phía Nam so với cả nước (giai đoạn 1988 – 2006) - Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Việt Nam
Bảng 3.2. Cơ cấu đầu tư nước ngoài theo địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam so với cả nước (giai đoạn 1988 – 2006) (Trang 90)
Bảng 3.3. Tình hình cấp phép và thu hồi giấy phép đầu tư nước ngoài tại  vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (tính đến tháng 12/2008) - Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Việt Nam
Bảng 3.3. Tình hình cấp phép và thu hồi giấy phép đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (tính đến tháng 12/2008) (Trang 118)
Hình 4.1 Mô hình cơ cấu tổ chức hiện hành của Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Việt Nam
Hình 4.1 Mô hình cơ cấu tổ chức hiện hành của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Trang 184)
Hình 4.2 Mô hình cơ cấu tổ chức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo đề xuất   của tác giả luận án. - Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài tại vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Việt Nam
Hình 4.2 Mô hình cơ cấu tổ chức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo đề xuất của tác giả luận án (Trang 185)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w