Trong ba công nghệ này, chuyển mạch burst quang ra đời nhằm đáp ứng sự bùng nổ dữ liệu, giải quyết được nhược điểm của chuyển mạch kênh quang và là bước trung gian trước khi tiến tới chu
Trang 1Trường Đại Học Công Nghệ Thông Tin
&
Môn CÔNG NGHỆ VỆ TINH
ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU CHUYỂN MẠCH
CHÙM QUANG
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Những năm gần đây đã diễn ra sự bùng nổ lưu lượng thông tin trên toàn cầu Yêu cầu về
băng thông đối với các dịch vụ viễn thông ngày càng gia tăng Một trong những xu hướng phát
triển của mạng viễn thông hiện nay là quang hóa từ mạng lõi cho đến tận mạng truy nhập của
khách hàng Công nghệ ghép kênh phân chia theo bước sóng WDM đã và đang được triển khai
trong các hệ thống thông tin quang hiện tại cho phép tốc độ truyền dẫn cực lớn và khả năng hỗ
trợ các lưu lượng khác nhau như IP, Ethernet, SONET/SDH Một vấn đề đặt ra cho mạng quang
WDM là lựa chọn được công nghệ chuyển mạch thích hợp để có thể sử dụng một cách tối ưu
băng thông của sợi quang và giảm thiểu trễ xử lý tại các thiết bị chuyển mạch Ba công nghệ
chuyển mạch quang được nghiên cứu để sử dụng trong mạng WDM là: chuyển mạch kênh
quang, chuyển mạch gói quang và chuyển mạch burst quang Trong ba công nghệ này, chuyển
mạch burst quang ra đời nhằm đáp ứng sự bùng nổ dữ liệu, giải quyết được nhược điểm của
chuyển mạch kênh quang và là bước trung gian trước khi tiến tới chuyển mạch gói quang trong
khi công nghệ chưa cho phép có mạng truyền tải toàn quang Xuất phát từ thực tế trên nhóm
chúng em đã chọn hướng nghiên cứu về chuyển mạch chùm quang Chuyên đề trình bày những
vấn đề cơ bản nhất về chuyển mạch chùm quang Nội dung chuyên đề bao gồm:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan và khả năng ứng dụng của công nghệ chuyển mạch
chùm quang ở Việt Nam.
Chương 2: Giới thiệu về chuyển mạch chùm quang Chương này sẽ giới thiệu về các
công nghệ chuyển mạch quang chính là chuyển mạch kênh quang, chuyển mạch burst quang và
chuyển mạch gói quang
Chương 3: Các khía cạnh cơ bản của chuyển mạch burst quang Nội dung chương 3 gồm
có:
Kiến trúc mạng OBS
Trang 3 Tổ hợp burst: theo ngưỡng và dựa trên bộ định thời.
Các cơ chế báo hiệu: JET,JIT,TAG,TAW
Các thuật toán sắp xếp kênh: với thuật toán hàng ngang (Hoziron) và lấp
khoảng trống (Void Filling)
Các giải pháp giải quyết tranh chấp: bộ đệm quang, chuyển đổi bước sóng , định
tuyến chuyển hướng, phân đoạn burst
Do giới hạn về mặt thời gian và kiến thức nên chuyên đề không tránh khỏi thiếu sót Rất
mong nhận được những đóng góp từ thầy cô và các bạn để chuyên đề của nhóm được hoàn thiện
hơn
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 4
MỤC LỤC
Trang 6DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT
Asynchronous Transfer ModeBurst Header Packet
Fiber Delay LineFirst Fit Unscheduled ChannelFirst Fit Unscheduled Channel-Void Filling
First In First OutInternet ProtocolJust – Enough – TimeJust – In – TimeLatest Available UnscheduledChannel
Latest Available Unscheduled Channel – Void Filling
Microelectromechanical SystemMinimum End Void
Negative Acknowledgment
Gói tin báo nhận
Bộ tổ hợp burstChế độ truyền tải không đồng bộGói tiêu đề burst
Đường dây trễ quangKênh rỗi phù hợp đầu tiênKênh rỗi phù hợp đầu tiên-thực hiện lấp khoảng trống
Bộ đệm vào trước ra trướcGiao thức Internet
(Tên giao thức)(Tên giao thức)Kênh rỗi với LAUT gần nhất
Kênh rỗi với LAUT gần nhất-thực hiện lấp khoảng trống
Hệ thống vi cơ điệnKhoảng trống kết thúc tối thiểuBản tin báo nhận phủ định
Trang 7Routing ModuleRouting and Wavelength AssignmentSwitching Control Unit
Synchronous Optical NetworkTell – And – Go
Tell – And – WaitWavelength Division Multiplexing
Chuyển mạch burst quangChuyển mạch kênh quang
Chuyển mạch gói quangThiết bị nối chéo quangGói tin giải phóng kênh
Bộ định tuyếnĐịnh tuyến và gán bước sóngĐơn vị điều khiển chuyển mạchMạng quang đồng bộ
(Tên giao thức)(Tên giao thức)Ghép kênh phân chia bước sóng
Trang 8Chương 1: Giới thiệu tổng quan và khả năng ứng dụng của công nghệ
chuyển mạch chùm quang ở Việt Nam
1.1 Xu thế phát triển
Xu thế phát triển mạng hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam là xây dựng mạng truyền tải quang OTN ( Optical Network Transport ) thay cho mạng NGN ( Next
Generation Network ) dựa trên công nghệ WDM Những nỗ lực phi thường về công nghệ
truyền dẫn quang trong đó tập trung vào việc nghiên cứu các vấn đề công nghệ mạng
WDM trên thế giới hiện nay đang dần đáp ứng được nhu cầu phát triển tất yếu của mạng
Có nhiều vấn đề cần phải giải quyết trong mạng OTN được OTN nhằm ngày càng hoàn
thiện đặc tính mạng Trong các vấn đề đó, chuyển mạch quang trong mạng coi là những
hướng đi hấp dẫn nhất và rất có ý nghĩa
Hình 1.1: Mạng truyền dẫn quang
Một mặt, kỹ thuật này cho phép xây dựng được mạng truyền dẫn quang linh hoạt
và bảo đảm thông suốt các lưu lượng tín hiện lớn Mặt khác nó cho phép nâng cao tính
thông minh cho lớp quang trong khi vẫn đơn giản hoá được rất nhiều cấu trúc mạng Điều
đó có tác động lớn tới việc xây dựng, khai thác và bảo dưỡng mạng rất có hiệu quả sau
này
1.2 Khả năng ứng dụng cho mạng viễn thông Việt nam
Mạng viễn thông Việt Nam hiện đang trong giai đoạn chuyển đối, hướng tới mạng NGN Với tốc độ cơ sở hạ tầng phát triển như hiện nay, khả năng ứng dụng chuyển mạch
quang trong mạng viễn thông Việt Nam là rất lớn Tại thời điểm hiện nay, chuyển mạch
Trang 9rất lớn nâng mạng quang WDM điểm-điểm thành thế hệ mạng quang trong định tuyến
theo bước sóng DWDM Nằm trong xu hướng phát triển mạng truyền tải tiến tới mạng
toàn quang, chuyển mạch quang sẽ tiến tới chuyển mạch gói quang; chuyển mạch chùm
quang sẽ là bước đệm cho chuyển đổi từ chuyển mạch kênh quang sang chuyển mạch gói
quang hoàn toàn
Việc ứng dụng chuyển mạch quang cho mạng viễn thông Việt Nam trong tương lai cần phải xây dựng với mục tiêu đáp ứng lưu lượng chuyển mạch cũng như khả năng
bảo vệ phục hồi, cụ thể là:
Xây dựng một mạng chuyển mạch quang cho mạng trục và 3 mạng vùng trung
tâm: Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh
Thiết lập các chuyển mạch quang với mục tiêu theo cấu trúc lưới (topo mesh)
nhằm phục vụ cho truyền tải lưu lượng IP/MPLS trong mạng trục, đồng thời sử dụng phương án đảm bảo việc bảo vệ phục hồi dựa trên các tuyến cáp quang quốc
lộ 1A, tuyến cáp quang đường Hồ Chí Minh, tuyến cáp quang biển (xây dựng trong tương lai)
Hình 1.2: Mạng chuyển mạch quang mạng trục mục tiêu
Chương 2: Giới thiệu về chuyển mạch chùm quang
2.1 Khái niệm chuyển mạch quang
Về nguyên lý, một chuyển mạch thực hiện chuyển lưu lượng từ một cổng lối vào hoặc kết nối lưu lượng trên một khối chuyển mạch tới một cổng lối ra Hệ thống chuyển
Trang 10mạch quang là một hệ thống chuyển mạch cho phép các tín hiệu bên trong các sợi cáp
quang hay các mạch quang tích hợp được chuyển mạch có lựa chọn từ một mạch này tới
một mạch khác.Tuỳ thuộc vào kỹ thuật chuyển mạch mà các thông tin được trao đổi dưới
dạng thời gian thực (chuyển mạch kênh) hoặc dưới dạng ghép kênh thông kê (chuyển
mạch gói) Chuyển mạch kênh là một phương pháp thông tin sử dụng để thiết lập cho
thông tin giữa 2 điểm Số liệu được truyền trên cùng một tuyến và thông tin truyền đi
trong thời gian thực Khác với chuyển mạch kênh, chuyển mạch gói thực hiện truyền các
gói số liệu độc lập Mỗi gói đi từ một cổng tới một cổng khác theo một đường nào đó
Các gói không thể gửi tới nút kế tiếp khi chưa thực hiện thành công tại nút trước đó Mỗi
nút cần có các bộ đệm để tạm thời lưu các gói Mỗi nút trong chuyển mạch gói yêu cầu
một hệ thống quản lý để thông báo điều kiện truyền thông tin tới nút lân cận trong trường
hợp số liệu truyền bị lỗi
2.2 Chuyển mạch kênh quang
Chuyển mạch kênh quang được thực hiện trong mạng quang định tuyến bước sóng thực hiện thiết lập các bước sóng toàn quang giữa hai nút mạng Sự thiết lập các
luồng quang bao gồm một số bước thực hiện Những bước này bao gồm tìm ra cấu hình
và tài nguyên, định tuyến, gán bước sóng báo hiệu và đặt trước tài nguyên
Tìm ra cấu hình và tài nguyên bao gồm phân bổ và duy trì thông tin trạng thái mạng Thông tin sẽ bao gồm cấu hình mạng vật lý và trạng thái liên kết của mạng Trong
mạng định tuyến bước sóng WDM, những thông tin mày bao gồm các bước sóng có thể
sử dụng trên một tuyến đưa ra trong mạng Một giao thức phổ biến dành cho duy trì
thông tin trạng thái tuyến trong mạng internet là giao thức đường ngắn nhất theo thứ tự
mở (OSPF - Open Shortest Path First)
Vấn đề tìm các tuyến và gán bước sóng cho luồng quang được gọi là bài toán định tuyến và gán bước sóng (RWA- Routing and Wavelength Assignment) Các yêu cầu kết
nối có hai dạng, dạng tĩnh và dạng động.Kỹ thuật ghép kênh phân chia theo bước sóng
trong các mạng quang đã được phát triển nhanh, nó đã đáp ứng các yêu cầu về băng tần
của người sử dụng mạng Trong mạng định tuyến các nút truy nhập thông tin với nhau
qua các kênh toàn quang, các kênh này được xem như các luồng quang
Trang 11Hình 2.1: Mạng chuyển mạch kênh quang với các kết nối luồng quang
Một luồng quang được sử dụng để hỗ trợ một kết nối trong mạng định tuyến bước sóng WDM và nó có thể liên kết các sợi quang Trong trường hợp không sử dụng bộ
chuyển đổi bước sóng, một luồng quang chiếm cùng bước sóng trên tất cả các liên kết sợi
mà nó đi qua Đặc tính này gọi là điều kiện ràng buộc bước sóng liên tục Hình 2.1 minh
hoạ một mạng định tuyến bước sóng nối các luồng quang đã được thiết lập giữa các cặp
của các nút truy nhập trên các bước sóng khác nhau Chúng ta giả sử rằng mỗi chuyển
mạch quang được nối tới một nút truy nhập như là một nút Khi đưa ra một tập kết nối,
bài toán thiết lập các luồng quang bằng định tuyến và gán bước sóng mỗi kết nối được
gọi là bài toán định tuyến và gán bước sóng (RWA- routing and Wavelength Assignment)
Đặc trưng của các yêu cầu kết nối có thể gồm 2 loại: tĩnh và động Với lưu lượng tĩnh
toàn bộ tập các kết nối được biết trước và bài toán khi đó thiết lập luồng quang cho các
kết nối này cấu thành toàn bộ trong khi các tài nguyên mạng tối thiểu hoá số bước sóng
hoặc số các sợi trong mạng Với lựa chọn như vậy, nó có thể thiết lập nhiều kết nối này
cho số các bước sóng cố định đưa ra Bài toán RWA cho lưu lượng tĩnh gọi là bài toán
thiết lập luồng quang tĩnh (SLE – Static Lightpath Establishment) Trong trường hợp lưu
lượng động, một luồng quang được thiết lập cho mỗi yêu cầu kết nối đến và luồng quang
được giải phóng sau khi một thời gian hạn định Đối tượng trong trường hợp lưu lượng
động là để thiết lập luồng quang và gán bước sóng theo cách tối thiểu tổng số kết nối tắc
nghẽn hoặc tối đa số các kết nối được thiết lập trong mạng tại bất cứ thời điểm nào Bài
toán này gọi là bài toán thiết lập luồng quang động (DLE Dynamic Lightpath
Establishment).Bài toán SLE có thể được giải như là qui hoạch tuyến tính nguyên, nó là
bài toán NP-đầy đủ Để giải bài toán dễ dàng hơn, bài toán SLE có thể chia thành 2 bài
toán nhỏ – (1) định tuyến, (2) gán bước sóng – mỗi bài toán này giải theo những cách
khác nhau Một số thuật toán trong đưa ra các thuật toán gần đúng để giải bài toán SLE
cho các mạng lớn và các thuật toán tô màu đồ thị được dùng để gán các bước sóng tới các
luồng quang một khi các luồng quang được định tuyến đúng Việc giải các bài toán thiết
lập luồng quang động là khó hơn, các phương pháp heuristic thường được dùng Phương
pháp heuristic thực hiện cho cả hai bài toán định tuyến và gán bước sóng
2.3 Chuyển mạch burst quang
Trong các mạng chuyển mạch chùm quang, các chùm dữ liệu bao gồm nhiều gói được chuyển mạch thông qua mạng toàn quang Một bản tin điều khiển (tiêu đề) được
Trang 12truyền đi trước chùm để thiết lập cấu hình chuyển mạch trên tuyến truyền của chùm Các
chùm dữ liệu truyền sau tiêu đề mà không cần đợi bản tin xác nhận kết nối đã hoàn thành
Một mạng chuyển mạch chùm quang bao gồm các nút chuyển mạch chùm quang được liên kết với nhau qua các tuyến sợi quang Nút mạng OBS chỉ ra như hình 2, nó có
thể hoặc các nút biên hoặc là các nút lõi
Mỗi sợi quang có thể hỗ trợ các kênh đa bước sóng sử dụng ghép kênh WDM
Một chuyển mạch chùm quang truyền tải một chùm từ một cổng đầu vào tới cổng đầu ra
tại đích của nó Các sợi liên kết có thể mang nhiều bước sóng, mỗi bước sóng có thể được
xem như một kênh mang thông tin (truyền các chùm thông tin) Gói điều khiển có thể
được truyền trong băng trên cùng kênh dữ liệu hoặc trên một kênh điều khiển riêng Một
chùm có thể mang một hay nhiều gói IP
Hình 2.2: Cấu trúc mạng OBS
Tại lối vào nút biên các gói đến được kết hợp từ các đầu cuối client thành các chùm Các chùm được truyền toàn quang trên các bộ định tuyến lõi OBS Lối ra nút biên
trên chùm thu về sẽ tách thành các gói và chuyển tiếp các gói tới các client đích
Hình 2.3: Truyền các gói trên mạng OBS
Hình dưới đây minh hoạ các chức năng khác nhau trong mạng chuyển mạch chùm quang Đầu vào nút biên thực hiện kết hợp thành chùm, định tuyến, gán bước sóng và lập
lịch cho các chùm tại nút biên Nút lõi thực hiện báo hiệu, lập lịch các chùm trên các liên
kết lõi và giải quyết tranh chấp Đầu ra nút biên chủ yếu là tách các gói từ các chùm và
chuyển các gói tới lớp mạng cao hơn
Trang 13Hình 2.4: Sơ đồ khối chức năng của các nút OBS
Bộ định tuyến lõi bao gồm một bộ nối chéo OXC và một khối điều khiển chuyển mạch (Switching Control Unit - SCU) Khối điều khiển chuyển mạch tạo và duy trì bảng
chuyển tiếp và thực hiện cấu hình OXC Khi SCU nhận được một gói tiêu đề chùm nó
xác định đích của chùm và chỉ thị cho bộ định tuyến xử lý báo hiệu để tìm ra cổng ra
mong muốn Nếu cổng ra khả dụng khi đó chùm số liệu đến, SCU cấu hình cho OXC cho
số liệu đi qua Nếu cổng ra không khả dụng thì OXC sẽ được cấu hình phụ thuộc trên
mức độ tranh chấp bổ sung trong mạng Tóm lại SCU thực hiện phiên dịch tiêu đề, lập
lịch, phát hiện tranh chấp, quyết định, tra cứu bảng định tuyến, điều khiển ma trận chuyển
mạch, ghi lại tiêu đề chùm và điều khiển chuyển đổi bước sóng Trong trường hợp một
chùm số liệu đến OXC trước gói điều khiển của nó, chùm khi đó sẽ bị mất
Bộ định tuyến biên thực hiện các chức năng sắp xếp các gói, đệm các gói, kết hợp các gói thành chùm, tách các gói nguyên thuỷ của nó Kiến trúc định tuyến biên bao gồm
một khối định tuyến (Routing Module - RM), một bộ kết hợp chùm một bộ lập lịch Khối
định tuyến lựa chọn cổng ra thích hợp cho mỗi gói và gửi mỗi gói đến khối kết hợp chùm
tương ứng Mỗi khối kết hợp chùm thực hiện kết hợp các gói với các tiêu đề cho bộ định
tuyến lối cụ thể Trong khối kết hợp chùm, có một hàng đợi gói riêng cho từng lớp lưu
lượng Bộ lập lịch tạo ra một chùm theo kỹ thuật kết hợp chùm và truyền chùm ra cổng ra
mong muốn Tại bộ định tuyến đầu ra, chùm được tách ra thanh các gói và chuyển lên lớp
mạng cao hơn
2.4 Chuyển mạch gói quang
Hình 2.5 là một ví dụ của nút chuyển mạch gói quang cơ bản Một nút bao gồm một chuyển mạch quang có khả năng cấu hình dựa trên gói Khối chuyển mạch tái cấu
hình dựa trên thông tin tiêu đề của một gói Tiêu đề gói được xử lý bằng điện nó hoặc có
thể mang trong băng cùng gói hoặc trên một kênh điều khiển riêng Phải mất một thời
gian để tiêu đề và chuyển mạch thiết lập, các gói có thể bị trễ bằng cách truyền qua
đường trễ sợi quang
Về nguyên tắc chuyển mạch gói toàn quang tổ chức dựa trên gói tiêu đề và điều khiển được thực hiện trong miền quang, tuy nhiên phải trong nhiều năm nữa mới thực
hiện được Trong thời điểm hiện nay chuyển mạch gói quang sử dụng điều khiển điện tử
để xử lý tiêu đề gói là thực tế hơn Trong chuyển mạch gói quang tiêu đề hoặc nhãn được
Trang 14đọc và so sánh với một bảng định tuyến Tải số liệu sau đó sẽ được định tuyến tới cổng ra
tương ứng với một nhãn mới (trao đổi nhãn) Điều quan trọng là tải tin được truyền trong
suốt qua chuyển mạch
Hình 2.5: Kiến trúc một chuyển mạch gói quang
Mục tiêu xây dựng mạng quang ngày nay là bổ sung khả năng thiết lập động lớp truyền tải quang dựa trên các bộ nối chéo quang OXC (Optical Cross Connect) với một
kiến trúc và quản lý và điều khiển phù hợp Trong tương lai gần mạng OTN sẽ có khả
năng hỗ trợ số lượng lớn dung lượng lên tới 40 Gbit/s
Hình 2.6: Mạng truyền tải quang
Hình này biểu thị cấu trúc OTN bao gồm các OXC được nối với nhau dưới dạng mesh, mỗi sợi sử dụng hàng trăm bước sóng, các OXC có khả năng kết nối hàng nghìn
kênh bước sóng Như vậy OTN sẽ cung cấp luồng quang tới client như là các bộ định
tuyến IP, các phần tử mạng SONET/SDH và chuyển mạch ATM Trên hình vẽ này chỉ ra
liên kết giữa 2 bộ định tuyến IP Thêm vào đó một lớp điều khiển chuyển mạch cần để
thiết lập tuyến trên mạng và nó tương tác với bộ điều khiển OXC để khởi tạo chuyển
Trang 15mạch trong OXC Một kênh báo hiệu giữa các nút đảm bảo rằng mỗi OXC biết được
trạng thái tài nguyên mạng, các tuyến khả dụng
Việc thiết lập mạng truyền tải quang động sẽ cho phép cung cấp nhanh các tuyến dung lương cao, do vậy trong tương lai bước phát triển công nghệ cho phép cung cấp số
lượng lớn các kênh quang Nếu được như vậy trong tương lai chỉ cần chuyển mạch kênh
quang là thoả mãn nhu cầu băng tần Tuy nhiên không phải là như vậy do lý do sau, ví dụ
trong mạng OTN chỉ cần đưa ra tính chất hạt tại mức bước sóng và nếu nguồn lưu lượng
là chùm, dung lượng kênh được sử dụng có thể sẽ xảy ra xung đột trên phạm vi mạng
Trong tương lai OXC được phát triển cho mạng OTN có thể hỗ trợ cho lớp chuyển mạch gói quang Hình sau mô tả mạng quang bao gồm OXC và chuyển mạch gói
quang OPS
Hình 2.7: Chuyển mạch gói quang tại nút lõi và nút biên
Chuyển mạch gói quang sử dụng trong nút lõi, các gói được chuyển qua mạng tại chuyển mạch ở nút lõi, ở đó tuyến được lựa chọn và tiêu đề được trao đổi Bằng cách này
OPS sẽ tối ưu được tài nguyên mạng và tối ưu được tổng dung lượng mạng như vậy sẽ
làm giảm kích cỡ của OXC Tạo các nút chuyển mạch biên có giao diện với cả mạng
truyền tải OTN và IP
Chương 3: Các khía cạnh cơ bản của chuyển mạch burst quang
3.1 Kiến trúc mạng OBS
Như đã đề cập ý tưởng của chuyển mạch burst quang là phân chia mặt bằng dữ liệu và mặt bằng điều khiển và thực hiện báo hiệu ngoài băng để cho phép truyền tải dữ
liệu trong miền quang một cách hiệu quả hơn Đơn vị dữ liệu truyền tải trong mạng OBS
là các burst gồm có gói tin điều khiển và burst dữ liệu Mạng OBS thực hiện việc báo
hiệu ngoài băng: gói tin điều khiển được truyền trên một kênh bước sóng khác với burst
dữ liệu để cấu hình các chuyển mạch từ nguồn tới đích Gói tin điều khiển mang thông tin
Trang 16về chiều dài burst, thời điểm burst truyền cũng như các thông tin định tuyến khác Một
khi tài nguyên đã được dự trữ các burst sẽ được phát đi Để làm được điều đó người ta đề
xuất xây dựng một mạng OBS với kiến trúc như sau
Hình 3.1: Kiến trúc mạng OBS
Mạng OBS về bản chất là một mạng WDM trên đó nó thực hiện công nghệ chuyển mạch OBS Mạng OBS bao gồm các nút biên (edge node) và các nút lõi (core
node) được kết nối với nhau bằng các liên kết WDM
Nút biên mạng OBS thực hiện giao diện với mạng khác như mạng IP, SONET/SDH hay Ethernet Nút biên vì thế có khả năng giao tiếp cả trong miền điện và
miền quang và có khả năng biến đổi điện quang cũng như chuyển đổi bước sóng để tương
thích với tín hiệu truyền trên các liên kết quang WDM Nút biên trên cơ sở truyền tải
burst có thể phân thành nút biên đầu vào và nút biên đầu ra Nút đầu vào ở phía phát vào
thực hiện tổ hợp các gói tin từ các đầu cuối thành các burst và tạo các gói tin điều khiển,
định tuyến và sắp xếp bước sóng để truyền các burst dữ liệu vào mạng lõi OBS Nút đầu
ra ở phía thu thực hiện giải tổ hợp các burst thành các gói tin và gửi tới các mạng đích
Nếu một nút biên thực hiện thông tin hai chiều thì nó sẽ đóng vai trò vừa là nút đầu vào
vừa là nút đầu ra
Nút lõi có nhiệm vụ cơ bản là chuyển tiếp burst từ các cổng đầu vào tới các cổng đầu ra tương ứng, dự trữ các kênh bước sóng cho các burst dữ liệu dựa trên thông tin
trong các gói tin điều khiển và giải quyết tranh chấp Hình dưới đây mô tả các thành
phần của mạng OBS với các chức năng khác nhau
Trang 17Hình3.2: Sơ đồ khối chức năng của mạng OBS
3.1.1 Cấu tạo nút biên
Các nút biên là các router biên có khả năng giao diện điện và quang, thực hiện chức năng phân loại gói tin, lưu đệm các gói tin, tổ hợp các gói tin thành các burst và giải
tổ hợp burst thành các gói tin cấu thành Các phương pháp tổ hợp burst khác nhau như
dựa trên thời gian của bộ định thời hoặc dựa trên kích thước các gói tin có thể được sử
dụng để tổ hợp các gói tin dữ liệu thành các burst và gửi vào trong mạng lõi OBS Cấu
tạo của một router biên bao gồm một bộ định tuyến RM (Routing Module), các bộ tổ hợp
burst BA (Burst Assembler) và các bộ lập lịch kênh S (Scheduler)
Trang 18Hình 3.3: Cấu tạo nút biên
Bộ định tuyến kiểm tra thông tin định tuyến của từng gói tin, chọn lựa các cổng
ra thích hợp cho từng gói tin và gửi nó đến bộ tổ hợp burst thích hợp Mỗi bộ tổ hợp
burst tạo ra các burst chứa các gói dữ liệu đến cùng một đích tới (cùng một router biên
đầu ra) Trong mỗi bộ tổ hợp burst còn có hàng đợi khác nhau cho các loại gói tin ứng
với các dịch vụ khác nhau Bộ lập lịch kênh dự trữ kênh bước sóng cho các burst dữ liệu
và chuyển các burst dữ liệu tới các cổng đầu ra tương ứng Ở nút biên đầu ra, bộ giải tổ
hợp burst sẽ tiến hành tách các gói tin từ các burst này và chuyển tiếp lên các lớp trên
3.1.2 Cấu tạo nút lõi
Nút lõi gồm có OXC và một đơn vị điều khiển chuyển mạch SCU (Switching Control Unit), các bộ chuyển đổi quang – điện – quang, các bộ ghép kênh, phân kênh Ta
xét hai phẩn tử chính là OXC và SCU SCU tạo và duy trì một bảng chuyển tiếp và chịu
trách nhiệm cấu hình cho OXC Khi gói tin điều khiển tới nút lõi nó sẽ được biến đổi từ
miền quang vào miền điện và đi đến SCU SCU đọc thông tin trong gói xác định đích đến
của gói này và burst dữ liệu theo sau, kế đó tra cứu thông tin trong bảng chuyển tiếp để
đưa đến quyết định chuyển tiếp dữ liệu đến cổng ra nào của OXC Đồng thời SCU cũng
chịu trách nhiệm dự trữ kênh bước sóng cho burst dữ liệu ở đầu ra Gói tin điều khiển sau
đó sẽ được cập nhật thêm thông tin điều khiển nếu như nút hiện tại chưa phải là đích cuối
cùng của nó và được biến đổi điện quang và truyền ra kênh bước sóng đầu ra tương ứng
Trước khi burst dữ liệu đi đến router lõi, SCU sẽ điều khiển OXC thiết lập kết nối từ
cổng đầu vào đến đầu ra tương ứng cho burst dữ liệu đó Tại nút lõi có nhiều kịch bản có
thể xảy ra Nếu gói tin điều khiển không thành công trong việc dự trữ tài nguyên cho
burst dữ liệu thì cả gói tin điều khiển và burst dữ liệu sẽ bị hủy bỏ Hoặc khi các burst dữ
liệu tại các đầu vào cùng muốn đến một cổng đầu ra của OXC, khi đó tranh chấp sẽ xảy
ra và SCU sẽ có nhiệm vụ phát hiện và giải quyết tranh chấp này theo các chính sách giải
quyết tranh chấp mà mạng sử dụng Có hai phương pháp giải quyết tranh chấp mà phần
3.5 của chuyên đề đề cập đến là sử dụng các đường dây trễ quang và chuyển đổi bước
sóng Để thực hiện được các phương pháp này đòi hỏi nút lõi mạng OBS phải trang bị
Trang 19Hình 3.4: Cấu tạo nút lõi
Ta có thể thấy các gói tin khi đi vào các node biên sẽ được định tuyến để chuyển rồi mới chuyển đến các bộ tổ hợp và sau đó được lập lịch và sắp xếp trên bước sóng đầu
ra tương ứng Tại các node lõi sẽ chỉ có trách nhiệm chuyển tiếp gói tin đi nhờ xử lý các
thông tin báo hiệu và lập lịch Tại node biên đầu ra sẽ burst sẽ được giải tổ hợp và phân
phối đến địa chỉ.Trong mạng OBS xử dụng các giao thức định tuyến OSPF và GMPLS
Có thể thấy tuyến đã được lựa chọn tại node biên, các node đích chỉ việc chuyển tiếp
Nếu đi thêm về các giao thức trên thì chuyên đề sẽ quá dài và không tập trung vào đặc
điểm riêng chính của OBS nên nhóm sẽ không trình bày cụ thể về các giao thức định
tuyến trên Mục tiếp theo sẽ đề cập đến quá trình tổ hợp burst là một trong những đặc
điểm nổi bật của OBS
3.2 Tổ hợp burst
Tổ hợp burst là tiến trình tập hợp và đóng các gói ở router nút biên đầu vào từ các lớp cao hơn thành các burst để truyền tải vào mạng OBS Khi các gói tin đi đến từ lớp
cao hơn, chúng được lưu đệm trong các bộ nhớ đệm điện và được phân loại theo địa chỉ
và loại dịch vụ Việc tổ hợp burst sẽ quyết định khi nào tạo ra một burst và gửi burst đó
vào mạng OBS Hai phương pháp tổ hợp burst phổ biến nhất là tổ hợp burst dựa trên bộ
định thời và tổ hợp burst dựa trên mức ngưỡng
3.2.1 Tổ hợp burst dựa trên bộ định thời
Như đã trình bày trong phần 3.1.1, các router biên có cấu tạo gồm có bộ định tuyến, các bộ tổ hợp burst và các bộ lập lịch kênh Khi các gói tin đến router biên, bộ
Trang 20định tuyến sẽ căn cứ vào địa chỉ đích của các gói tin để chuyển các gói tin này đến bộ tổ
hợp burst thích hợp Các gói tin này sẽ được lưu đệm tạm thời trong các hàng đợi khác
nhau nằm trong bộ tổ hợp burst Trong phương pháp tổ hợp burst dựa trên bộ định thời,
mỗi bộ tổ hợp burt sẽ tham chiếu thời gian của một bộ định thời cục bộ nằm trên một
hàng đợi để quyết định việc tổ hợp các gói tin thành các burst Thời điểm bộ định thời
bắt đầu đếm thời gian có thể là ngay sau khi một burst trước đó được lập lịch để truyền
đi hoặc ngay sau khi gói tin đầu tiên đến hàng đợi sau khi hàng đợi trống Sau một
khoảng thời gian T được cấu hình từ trước, các gói tin trong hàng đợi đó sẽ được tổ hợp
thành một burst và lập lịch để truyền đi Phương pháp tổ hợp burst này sẽ tạo ra các burst
có chiều dài ngẫu nhiên Lưu lượng vào mạng thay đổi phần lớn sẽ quyết định chiều dài
của burst Lưu lượng vào mạng lớn, burst sẽ có kích thước lớn, lưu lượng vào mạng nhỏ,
burst sẽ có kích thước nhỏ Tuy nhiên, thời gian của bộ định thời cũng là một nhân tố
quyết định kích thước các burst
Hình 3.5: Tổ hợp burst dựa trên bộ định thời
3.2.2 Tổ hợp burst dựa trên mức ngưỡng
Một vấn đề đặt ra cho việc tổ hợp burst là làm sao tìm ra giá trị của bộ định thời
và kích thước ngưỡng để tối thiểu hóa xác suất mất gói trong mạng OBS Nếu như mức
ngưỡng quá thấp dẫn đến kích thước burst nhỏ, số lượng burst truyền trong mạng sẽ
nhiều dẫn đến xác suất xảy ra xung đột ở các router lõi cao, nhưng số lượng gói trung
bình bị mất do xung đột lại nhỏ Tuy nhiên, số lượng burst nhiều sẽ làm tăng áp lực lên
mặt bằng điều khiển do phải xử lý nhiều các gói tin điều khiển của mỗi burst dữ liệu Nếu
thời gian cấu hình cho mỗi nút chuyển mạch không được bỏ qua, các burst ngắn sẽ khiến
cho việc sử dụng tài nguyên một cách kém hiệu quả do phải mất nhiều thời gian chuyển
mạch Ngược lại, khi mức ngưỡng lớn dẫn đến kích thước burt lớn, số lượng burst vào
mạng sẽ nhỏ, do đó xác suất xảy ra xung đột sẽ nhỏ nhưng số lượng gói trung bình bị mất
do xung đột sẽ lớn
Vì thế, cần có một sự cân bằng giữa số lượng xung đột và số lượng gói mất trung bình tại mỗi lần xung đột Do đó, hoạt động của mạng OBS sẽ được cải thiện khi các gói
đến được tổ hợp thành burst với một kích thước tối ưu Tương tự, phương pháp tổ hợp
burst dựa trên bộ định thời cũng cần giá trị tối ưu về mặt thời gian
Việc lựa chọn phương pháp tổ hợp burst tùy thuộc vào loại lưu lượng được truyền
đi Phương pháp tổ hợp burst dựa trên bộ định thời thích hợp với các lưu lượng bị giới
hạn về mặt thời gian như các dịch vụ thời gian thực như thoại, truyền tải video vì thời
gian trễ tổ hợp burst bị giới hạn Nếu không có giới hạn về độ trễ, phương pháp tổ hợp