1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng sơ đồ tư duy trong giảng dạy môn Ngữ văn

18 4,9K 34

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 15,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì những thực trạng trên mà đòi hỏi các giáo việc giảng dạy môn Ngữ văn cần phải tạo cho các em hứng thú trong học tập bằng cách thay đổi phương pháp , áp dụng công nghệ thông tin

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU Trang 2 I.ĐẶT VẤN ĐỀ Trang 2

1 Thực trạng Trang 2

2 Ý nghĩa và tác dụng Trang 2

3 Phạm vi nghiên cứu Trang 3

II PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH Trang 3

1 Cơ sở lí luận và thực tiễn Trang 3

2 Các biện pháp tiến hành, thời gian tạo ra giải pháp Trang 3,4

B NỘI DUNG Trang 5

I MỤC TIÊU Trang 5

II MÔ TẢ GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI .Trang 5

1 Tính mới của đề tài Trang 5,6

2 Khả năng áp dụng Trang 7

3 Lợi ích kinh tế xã hội Trang 12

C KẾT LUẬN Trang 16

* Tài liệu tham khảo Trang 17

* Nhận xét, đánh giá của HĐ nhà trường Trang 18

Trang 2

A MỞ ĐẦU

I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Thực trạng

Thực tế hiện nay việc học Ngữ văn chưa được các em xem trọng Các em chỉ quan tâm học Ngoại ngữ, Tin học và các môn khoa học tự nhiên Thế kỉ XXI đã và sẽ chứng kiến tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ Do đó, không quá khó hiểu khi giới trẻ hiện nay có xu hướng tìm đến Ngoại ngữ, Tin học và các môn khoa học tự nhiên như là một sự bảo đảm cho tương lai Nhưng thật sai lầm khi học sinh loại bỏ môn Văn ra khỏi hành trang tri thức khi bước vào đời Một bộ phận không nhỏ học sinh không thích học Ngữ văn và yếu kém về năng lực cảm thụ văn chương không chỉ gây bi quan đối với dư luận xã hội mà còn tác động tiêu cực đến người dạy Nhiều thầy cô giáo dạy văn đã xuất hiện tâm lí chán nản, buông xuôi, không có động lực để trau dồi chuyên môn, tạo sức ỳ lớn trong tư duy đổi mới, cải tiến phương pháp giảng dạy Thực tế cho thấy một thời gian dài vừa qua, hầu hết các trường đều áp dụng phương pháp dạy học truyền thống thụ động, một chiều, vừa quá tải về kiến thức, vừa gây nhàm chán cho HS Môn Ngữ văn cũng không phải là ngoại lệ Chất lượng cũng đang ngày càng đi xuống Số lượng học sinh chọn học các môn xã hội, trong đó có môn văn có chiều hướng giảm; nhiều người học theo kiểu đối phó, thuộc vẹt, học tủ sự hứng khởi và đam mê của học sinh với môn văn có biểu hiện mất dần Nguyên nhân của tình trạng trên một phần do phương pháp dạy học thụ động, lạc hậu khiến học sinh không cảm thấy hứng thú với việc học văn Nếu để tình trạng này kéo dài sẽ rất nguy hiểm bởi thế hệ tương lai của đất nước sẽ không phát triển toàn diện, thiếu hẳn đi phần nhân văn rất quan trọng - vốn là giá trị nền tảng của xã hội

Chính vì những thực trạng trên mà đòi hỏi các giáo việc giảng dạy môn Ngữ văn cần phải tạo cho các em hứng thú trong học tập bằng cách thay đổi phương pháp ,

áp dụng công nghệ thông tin vào bài giảng và việc đưa sơ đồ tư duy vào bài học cũng không ngoại lệ Có như thế thì các em mới thấy bài giảng sinh động , hấp dẫn phát huy được tính sáng tạo của HS Việc cho các em thực hiện sơ đồ tư duy sau mỗi bài học

có tác dụng giúp các em vận dụng cả những môn học khác như môn Mỹ thuật vào sản phẩm của mình Điều đó làm cho các em vừa hiểu bài lại vừa yêu thích sản phẩm của mình

Chính vì vậy mà tôi mạnh dạn đưa ra ý tưởng của mình về việc sử dụng phương pháp “ Bản đồ tư duy” trong môn Ngữ văn để cho đồng nghiệp cùng góp ý và xây dựng cách dạy cho hiệu quả

2 Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới

Thực hiện chủ trương đổi mới phương pháp dạy học, thời gian qua nhiều trường THCS đã áp dụng phần mềm IMindMap (còn gọi với các tên thông dụng là “Bản đồ tư duy”) trong việc dạy học các môn văn hóa, trong đó có môn Ngữ văn Bước đầu phương pháp mới đã phát huy hiệu quả tích cực giúp giáo viên có nhiều ý tưởng sáng tạo trong việc thiết kế bài giảng, giúp học sinh dễ hiểu, dễ nhớ và cảm thấy hứng thú hơn trong quá trình học tập môn Văn

Năm học 2011 - 2012 là năm học Bộ giáo dục và đào tạo tiếp tục đổi mới phương pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Ngữ Văn trong trường phổ

Trang 3

thông

Qua việc tìm hiểu và vận dụng tôi nhận thấy phương pháp dạy học này rất có hiệu quả trong công tác dạy và học Bước đầu đã giảm bớt được tâm lý ngại học văn, khơi dậy trong học sinh tình yêu, cái nhìn và tư duy mới về môn học

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Từ khi sơ đồ tư duy được triển khai trong trường học tôi đã áp dụng nó đối với 3 phân môn : Văn – Tiếng Việt và Tập làm văn trong suốt quá trình giảng dạy từ năm

2011 đến nay đối với những khối lớp được phân công : khối 7 , khối 8 và khối 9 ở Trường THCS Nhơn Hải – TP Quy Nhơn – Bình Định

- Thời gian nghiên cứu : năm học 2011- 2012 ; 2012 – 2013

II PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH

1 Cơ sở lí luận và thực tiễn

Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII khẳng định “Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương tiện tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh ” Đáp ứng yêu cầu này, từ năm học 2010 – 2011, nhiều trường THCS đã áp dụng thí điểm phần mềm chuyên dụng iMindMap kết hợp với phần mềm Power Point trong việc dạy học môn ngữ văn mà nhiều người vẫn quen gọi là bản đồ tư duy (BĐTD)

Sơ đồ tư duy giúp học sinh tận dụng các chức năng của não trái lẫn não phải khi học Đây chính là công cụ học tập vận dụng được sức mạnh của cả bộ não Sơ đồ

tư duy còn giúp học sinh học tập một cách tích cực hơn, HS chủ động chiếm lĩnh tri thức mà trong quá trình này, GV giữ vai trò chủ đạo Đây thực sự là phương pháp lấy người học làm trung tâm Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình Vì vậy dưới sự chỉ đạo của Ban giám hiệu nhà trường, Năm học 2011 –

2012 tôi đã mạnh dạn sử dụng sơ đồ tư duy vào dạy môn Ngữ văn và thấy hiệu quả hơn hẳn so với khi chưa sử dụng

2 Các biện pháp tiến hành , thời gian tạo ra giải pháp

Tôi thực hiện sáng kiến này thông qua việc giảng dạy trên lớp cũng như qua sự góp ý của đồng nghiệp trong việc thao giảng dự giờ về ứng dụng công nghệ thông tin trong trường học

Việc áp dụng bản đồ tư duy trong một học được tiến hành thường xuyên đối với tất

cả các học sinh trong lớp dưới các hình thức như cá nhân tự vẽ , thảo luận theo tổ , nhóm, hoặc giao bài tập về nhà

Để thực hiện tốt đưa bản đồ tư duy vào bài giảng cần phải chuẩn bị những yêu câu sau :

+ Đối với giáo viên : Nắm kĩ lô gích của bài giảng để dễ hệ thống bằng sơ đồ

Trang 4

+ Đối với HS : Cần nắm kĩ bài giảng, để hệ thống hóa kiến thức theo sự hiểu bài của các em

- Việc dạy học bằng sơ đồ tư duy được tôi ứng dụng bắt đầu từ năm học 2011 –

2012 cho đến nay

Trang 5

B NỘI DUNG

I/ MỤC TIÊU :

Bản đồ tư duy là hình thức ghi chép bằng sơ đồ sử dụng hình ảnh, màu sắc để

hệ thống các mối liên hệ của kiến thức đã học hoặc định hướng cho những nội dung kiến thức mới Có sơ đồ tư duy người nói có thể dễ dàng trình bày nội dung sự việc một cách lô gíc có hệ thống Đồng thời sơ đồ tư duy còn khơi gợi cho HS trí tưởng tưởng, sáng tạo phong phú về hình thức trình bày

Mục tiêu của việc sử dụng bản đồ tư duy trong môn học là góp phần làm cho HS mau hiểu bài và hứng thú hơn trong việc học môn Ngữ văn , giúp HS chủ động lĩnh hội kiến thức thông qua việc tự hệ thống lại bài bằng phương pháp sơ đồ

Với điều kiện hiện tại, các giáo viên có thể dễ dàng sử dụng máy vi tính để thiết

kế BĐTD thông qua phần mềm iMindMap 5, Power point Sau khi thiết kế xong, BĐTD có thể hiện thị nhờ phần mềm Power Point để các nhánh xuất hiện theo thứ tự

mà người thiết kế định sẵn Nội dung chính của bài học được thể hiện bằng BĐTD, thiết kế qua phần mềm iMindMap và phần mềm trình diễn Power Point có tác dụng tạo

sự hấp dẫn và lôi cuốn cao độ đối với người học BĐTD sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỷ lệ, chi tiết khắt khe và định khuôn sẵn như các loại bản đồ thông dụng khác (ví như bản đồ địa lý) Như vậy cùng một chủ đề, bài học nhưng mỗi người

có thể vẽ theo một cách khác nhau và hoàn toàn có thể thêm hoặc bớt các nhánh dễ dàng Nếu muốn ghi chép bằng BĐTD cũng có nhiều ưu điểm hơn như: Lôgíc, mạch lạc; trực quan, sinh động, dễ nhìn, dễ hiểu; vừa nhìn được tổng thể, vừa biết được chi tiết; giúp hệ thống hóa kiến thức dễ dàng; và giúp việc ôn tập khoa học, nhớ kiến thức lâu hơn

Ngoài tự học trên lớp, BĐTD rất phù hợp với việc học nhóm của học sinh vì nó giúp các em phát huy tốt hơn khả năng sáng tạo và khả năng hợp tác trong quá trình tiếp thu kiến thức trên giảng đường Có thể vận dụng BĐTD vào việc hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức cũ, ôn tập hệ thống hóa kiến thức, phát triển một ý tưởng

II MÔ TẢ GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI

1 Thuyết minh tính mới

Sơ đồ tư duy còn gọi là bản đồ tư duy hay lược đồ tư duy … là hình thức ghi chép

nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung,

hệ thống hoá một chủ đề … bằng cách kết hợp sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết Đây là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả

Sơ đồ tư duy đóng vai trò là công cụ đồ hoạ trực quan nối các từ khoá và hình ảnh liên quan với nhau, sơ đồ tư duy sẽ hỗ trợ tích cực nhất cho GV và HS khi dạy – học các bài nghiên cứu kiến thức mới, bài ôn tập, tổng kết, hoặc củng cố, hệ thống hoá kiến thức sau mỗi bài, mỗi phần Sơ đồ tư duy giống như một bức tranh lớn đầy hình ảnh màu sắc phong phú hơn là một bài học khô khan, nhàm chán Sơ đồ tư duy hiển thị sự liên kết giữa các ý tưởng một cách rõ ràng Thay cho những từ ngữ tẻ nhạt đơn điệu, sơ đồ tư duy cho phép giáo viên và học sinh làm nổi bật các ý tưởng trọng tâm bằng việc sử dụng những màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa

Trang 6

dạng

VD : Khi dạy bài ” Thành ngữ” ở lớp 7

* Cách dùng lời và dạy thường: Sau khi phân tích ví dụ - GV yêu cầu HS chốt lại các ý quan trong về khái niệm, nghĩa của thành ngữ và cách sử dụng thành ngữ -

HS dựa vào phần ghi nhớ để ghi bài một cách thụ động

* Khi dạy bằng bản đồ tư duy : GV sử dụng phần mềm Imimmap trình chiếu trên Powerpoint để phác hoạ trên màn hình :

Mức độ cụ thể (phức tạp) hay sơ lược (đơn giản) trong nội dung của sơ đồ tùy thuộc vào dụng ý của người tạo lập Chẳng hạn, với sơ đồ trên, ta cũng có thể cụ thể hoá bằng việc cung cấp một cách chi tiết hơn, đầy đủ hơn nội dung cho mỗi nhánh của

sơ đồ

* So sánh hai cách thể hiện nội dung bài học: “Thành ngữ ” như trên, dùng lời và dùng bản đồ tư duy, chúng ta thấy rõ là cách dùng lời chủ yếu mới tập trung cung cấp cho học sinh những khái niệm khoa học, còn mối quan hệ giữa các khái niệm trong ngôn ngữ như đã bị nhoà đi Nhưng dùng sơ đồ chúng ta có lợi thế hơn: một mặt, vừa cung cấp khái niệm cho học sinh, mặt khác lại vừa có điều kiện làm nổi bật được mối quan hệ tầng bậc, đa chiều trong ngôn ngữ, giúp các em quan sát nội dung bài học được dễ dàng hơn Đây cũng là một trong những cơ sở giúp các em nhớ lâu, đúng bản chất hơn những hiện tượng ngôn ngữ được tìm hiểu Mặt khác, việc dùng sơ đồ trong các tiết dạy còn tạo không khí học tập sôi nổi nhờ khám phá của học sinh Các em hứng thú hơn so với những tiết học dùng lời mà không dùng sơ đồ như đã nêu ở phần

so sánh trên

Sơ đồ tư duy là sơ đồ mở, nên mỗi người có thể vẽ, chỉnh sửa theo cách riêng của mình sao cho vừa truyền tải được nội dung kiến thức vừa giúp HS ghi chép

Trang 7

được ý chính và hình dung rõ vấn đề giáo viên trình bày

Đối với HS trung bình tập cho HS có thói quen tự ghi chép hay tổng kết một vấn

đề, một chủ đề đã học theo cách hiểu của các em dưới dạng sơ đồ tư duy Cho các em tập “đọc hiểu” và tự vẽ sơ đồ tư duy sau từng bài học Ban đầu GV cho HS làm quen với một số sơ đồ tư duy có sẵn, sau đó cho các em thực hiện vẽ trong vở sau mỗi bài học hoặc vẽ vào giấy Đối với những học sinh có máy vi tính ở nhà các em có thể thực hiện trên máy với phần mềm Iminmap ở trên

2 Khả năng áp dụng :

Việc sử dụng phương pháp dạy học SĐTD được áp dụng rộng rãi trong mọi nội dung bài học như :

- Hướng dẫn học sinh lập kế hoạch học tập

- Dạy bài mới

- Củng cố kiến thức sau mỗi phần học, tiết học

- Luyện tập củng cố

- Để dạy các bài ôn tập hoặc tổng kết

* Khả năng áp dụng ở trường THCS

mới

GV tiến hành khi hướng dẫn học sinh tự học ở nhà, chuẩn bị bài mới nhằm rèn luyện tính tự giác, chuyên cần và chủ động trong học tập giúp tăng tính hiệu quả, sau khi kết thúc một bài học trên lớp GV chiếu màn hình bài tập về nhà, định hướng cho học sinh phác thảo đề cương của bài “ sẽ học” bằng SĐTD về những nội dung liên quan như : khái niệm, các loại …

Ví dụ: Sau khi dạy bài « Nghị luận trong văn bản tự sự » - Tiết 49 – Ngữ văn

9 ( tập 1), tiết tiếp theo là bài “ Đoàn thuyền đánh cá” GV có thể hướng cho học sinh phác thảo đề cương của bài “ sẽ học” bằng sơ đồ tư duy nội dung như sau:

Sơ đồ tư duy hướng dẫn học sinh lập kế hoạch học tập ở nhà - Ngữ văn 9

Trang 8

b Sử dụng sơ đồ tư duy để dạy bài mới

Giáo viên đưa ra một từ khoá để nêu kiến thức của bài mới rồi yêu cầu học sinh

vẽ SĐTD bằng cách đặt câu hỏi, gợi ý cho các em để các em tìm ra các từ liên quan đến từ khoá đó và hoàn thiện sơ đồ tư duy Qua sơ đồ tư duy đó học sinh sẽ nắm được kiến thức bài học một cách dễ dàng

Ví dụ: Khi học bài “ So sánh” ( Môn Ngữ văn lớp 6), đầu giờ giáo viên cho từ khoá “ So sánh” rồi yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ tư duy bằng cách đặt câu hỏi gợi ý cho các em để các em có thể vẽ tiếp các nhánh con và bổ sung dần các ý nhỏ ( nhánh con cấp 2, cấp 3…), sau khi các nhóm HS vẽ xong, cho một số em lên trình bày trước lớp để các học sinh khác bổ sung ý Giáo viên kết luận qua đó giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của học sinh

Minh hoạ sơ đồ tư duy bài “So sánh” (Ngữ Văn 6 - tập 2)

c) Sử dụng sơ đồ tư duy để củng cố kiến thức sau mỗi phần học, tiết học

Sau mỗi phần, mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh tự hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ sơ đồ tư duy Mỗi phần học, bài học được vẽ kiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành tập Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng

Ví dụ 1 : Khi dạy bài « Chiếc lược ngà » của nhà văn Nguyễn Quang Sáng – Ngữ văn 9 tập 1

GV dạy xong cho HS vẽ lại những nội dung trọng tâm của từng phần vào vở của mình

Sơ đồ tư duy minh họa cho củng cố nội dung từng phần

Trang 9

Ví dụ 2 : Khi dạy bài « Ôn tập tiếng việt » - Tiết 123 – Ngữ văn 7 / tập 2

GV có thể ôn tập phần « Các kiểu câu đơn » bằng sơ đồ sau

Khi dạy tiết 121 – Ngữ văn 7 : Ôn tập văn học

GV cho HS thực hiện phần « Gía trị nội dung trong thơ trữ tình » bằng việc cho HS thảo luận nhóm và trình bày bằng sơ đồ tư duy :

Trang 10

d) Sử dụng SĐTD để luyện tập củng cố

Ví dụ: Củng cố bài « Liệt kê » - NV 7- Tiết 114

Ngày đăng: 07/04/2015, 14:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ tư duy là sơ đồ mở, nên mỗi người có thể vẽ, chỉnh sửa theo cách riêng của mình  sao  cho vừa  truyền  tải được nội dung kiến  thức vừa giúp HS ghi  chép - Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng sơ đồ tư duy trong giảng dạy môn Ngữ văn
Sơ đồ t ư duy là sơ đồ mở, nên mỗi người có thể vẽ, chỉnh sửa theo cách riêng của mình sao cho vừa truyền tải được nội dung kiến thức vừa giúp HS ghi chép (Trang 6)
Sơ đồ tư duy hướng dẫn học sinh lập kế hoạch học tập ở nhà - Ngữ văn 9 - Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng sơ đồ tư duy trong giảng dạy môn Ngữ văn
Sơ đồ t ư duy hướng dẫn học sinh lập kế hoạch học tập ở nhà - Ngữ văn 9 (Trang 7)
Sơ đồ  củng cố nội dung văn bản ô  Chị em Thỳy Kiều ằ - Ngữ văn 9 / Tập 1 - Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng sơ đồ tư duy trong giảng dạy môn Ngữ văn
c ủng cố nội dung văn bản ô Chị em Thỳy Kiều ằ - Ngữ văn 9 / Tập 1 (Trang 13)
Sơ đồ tư duy văn bản ô  Sống chết mặc bay ằ-  Phạm Duy Tốn – NV7/ Tập 2 - Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng sơ đồ tư duy trong giảng dạy môn Ngữ văn
Sơ đồ t ư duy văn bản ô Sống chết mặc bay ằ- Phạm Duy Tốn – NV7/ Tập 2 (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w