ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Cấn Thu Văn NGHIÊN CỨU VÀ XÁC LẬP CƠ SỞ KHOA HỌC ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG PHỤC VỤ QUY HOẠCH PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI LŨ LỤT
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Cấn Thu Văn
NGHIÊN CỨU VÀ XÁC LẬP CƠ SỞ KHOA HỌC ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG PHỤC VỤ QUY HOẠCH PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI LŨ LỤT
LƯU VỰC SÔNG THU BỒN
Chuyên ngành: Thủy văn học
Mã số: 62.44.02.24
(DỰ THẢO) TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ THỦY VĂN
Hà Nội – 2014
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Khoa Khí tượng, Thủy văn và Hải dương học
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thanh Sơn
Phản biện:
Phản biện:
Phản biện:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng cấp Đại học Quốc gia chấm luận án tiến sĩ họp tại
vào hồi giờ ngày tháng năm 20
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3lũ lụt, còn có những thiệt hại , không thể ngay lập tức nhận ra như tình trạng bệnh dịch và sức khỏe người dân, ô nhiễm môi trường, sinh kế cộng đồng vv cần được nghiêm túc đánh giá khi bàn về sự tổn thương do lũ lụt
Tuy nhiên do tính dễ bị tổn thương là một khái niệm mới
và đang tồn tại nhiều định nghĩa với các quan điểm khác nhau
Ở Việt Nam, tính dễ bị tổn thương cũng đang được nghiên cứu, triển khai và áp dụng khi đánh giá các thiệt hại do lũ lụt trên
các lưu vực sông Luận án “Nghiên cứu và xác lập cơ sở khoa học đánh giá tính dễ bị tổn thương phục vụ quy hoạch phòng chống thiên tai lũ lụt lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn (LVS VG- TB)” vì thế có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Tính dễ bị tổn
thương trong nghiên cứu này sẽ được thể hiện thông qua xác định bộ chỉ số cho lưu vực sông sẽ được trình bày chi tiết ở phần sau Một bộ chỉ số dễ bị tổn thương phân bố trên lưu vực
sẽ là cơ sở khoa học góp phần giúp cho công tác quy hoạch, quản lý, phòng tránh và giảm nhẹ hậu quả của thiên tai lũ lụt bao gồm: (1) xét yếu tố lũ cực đoan tác động lên mặt đệm có khả năng gây hại tối đa; (2) tích hợp các khía cạnh kinh tế - xã hội vào phân tích tác động lũ lụt
Trang 40.2 MỤC TIÊU LUẬN ÁN
Mục tiêu chung của luận án là xác lập được có cơ sở khoa
học của phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên LVS Vu Gia-Thu Bồn phục vụ quy hoạch, phòng chống thiên tai lũ lụt
Mục tiêu cụ thể của đề tài luận án là: (1) Luận giải, phân
tích và lựa chọn được phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương có cơ sở khoa học; (2) Thiết lập được bộ tiêu chí cơ bản phù hợp cho việc đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt LVS VG-TB; (3) Xây dựng thành công bộ chỉ số và bản đồ đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên LVS VG-TB; (4) Từ bộ chỉ
số và bản đồ tính dễ bị tổn thương do lũ lụt đề xuất các giải pháp quy hoạch và quản lý lũ lớn trên LVS nghiên cứu
0.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Phạm vi khoa học của luận án là: 1) Xây dựng cơ sở khoa
học của các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt; 2) Thiết lập bộ tiêu chí cơ bản phù hợp cho việc đánh giá tính dễ bị tổn thương lũ lụt ở LVS VG-TB
Phạm vi lãnh thổ là LVS VG-TB
0.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI
(1) Lựa chọn và xây dựng được một phương pháp tính toán tính dễ bị tổn thương do lũ trên cơ sở kết hợp thuật toán phân tích hệ thống phân cấp (AHP) và thuật toán tính trọng số
Iyengar-Sudarshan áp dụng trên LVS VG-TB; (2) Thiết lập
được bộ tiêu chí để đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ lụt trên lưu vực sông; (3) Xây dựng được bản đồ chỉ số dễ bị tổn thương
do lũ lụt chi tiết đến các tiểu lưu vực trên LVS VG-TB; (4) Bộ
Trang 5về thiệt hại do lũ và giúp ích có hiệu quả quả cho công tác quy hoạch, quản lý, phòng chống và giảm thiểu thiên tai lũ lụt 0.5 LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ
Luận điểm 1: Bộ chỉ số dễ bị tổn thương, sử dụng kết hợp
thuật toán phân tích hệ thống phân cấp (AHP) và thuật toán tính
trọng số Iyengar-Sudarshan là có cơ sở khoa học
Luận điểm 2: Bộ tiêu chí và bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị
tổn thương trên LVS VG-TB đã được xây dựng là phù hợp với hiện trạng phát triển kinh tế-xã hội và điều kiện tự nhiên lưu vực nghiên cứu
Luận điểm 3: Áp dụng bộ chỉ số và bản đồ chỉ số dễ bị
tổn thương do lũ lụt vào công tác quản lý lũ lớn, quy hoạch phòng chống và giảm nhẹ thiên tai lũ lụt trên LVS VG-TBlà có tính thực tế
0.6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Ý nghĩa khoa học: Kết quả của luận án đã góp phần hoàn
thiện phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương do lũ,
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của luận án có thể được sử
dụng làm cơ sở phục vụ quy hoạch , quản lý phòng chống thiên tai lũ lụt các cấp trên LVS VG-TB
0.7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các phương pháp nghiên cứu chính trong luận án gồm: Phương pháp điều tra thực địa, phân tích hệ thống, mô hình toán thủy văn, hệ thống thông tin địa lý (GIS), thống kê
Trang 6CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG LŨ LỤT
1.1 NGHIÊN CỨU VỀ LŨ LỤT
Trong những năm qua tai biến lũ lụt ngày càng diễn ra hết sức phức tạp và có xu thế ngày càng gia tăng cả về số lượng cũng như mức độ khốc liệt Ở miền Trung, nơi sông ngòi có độ dốc lớn, sự tập trung nước cao, thời gian lũ lên rất nhanh do thời gian chảy truyền ngắn cộng với việc điều hành không hợp
lý các hồ thủy lợi, thủy điện nên hiện tượng lũ chồng lũ khá phổ biến gây khó khăn cho công tác quản lý phòng chống lũ lụt Vì thế hàng năm người dân miền Trung nói chung và LVS VG-TBluôn phải hứng chịu những tổn thất rất nặng nề về cả vật chất lẫn tinh thần Nhiều công trình nghiên cứu để ứng phó với lũ lụt
và giảm nhẹ tác hại của chúng đã và đang được quan tâm trên diện rộng Các hướng nghiên cứu chính là: (1) Mô tả về lũ lụt
và xác định nguyên nhân hình thành, các quan hệ về thời gian, không gian cho các lưu vực sông miền Trung; (2) Nghiên cứu các phương pháp, phương án cảnh báo, dự báo lũ lụt là nâng cao độ chính xác về thời gian xuất hiện, quy mô trận lũ cũng như thời gian dự kiến; (3) Đề xuất các phương án phòng tránh
lũ lụt bằng những phương án ứng phó hiệu quả (công trình, phi công trình) Hiện nay, việc đề xuất một quy hoạch tổng thể về thích ứng lũ đang là hướng nghiên cứu được nhiều nhà khoa học quan tâm, trong đó có một nội dung quan trọng là xác định tính dễ bị tổn thương lũ lụt
Trang 71.2 NGHIÊN CỨU TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG
Khái niệm tính dễ bị tổn thương đã có nhiều thay đổi theo hướng phát triển trong nhiều năm qua, qua việc xem xét các thành phần, tham gia để đánh giá tính dễ bị tổn thương
Có hai hướng tiếp cận chính để đánh giá tính dễ bị tổn thương: các nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học tự nhiên thường chú trọng vào khái niệm rủi ro (risk), trong khi các nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội thường nhắc đến thuật ngữ tính dễ bị tổn thương (vulnerability) Khái niệm tính
dễ bị tổn thương được các nhà khoa học xã hội gắn với nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội và xác định khả năng của cộng đồng trong việc chống chọi với hiện tượng thiên tai Đối với khoa học
tự nhiên, như các nhà khoa học về khí hậu lại thường xem khái niệm tính dễ bị tổn thương là khả năng xuất hiện và các tác động tiềm tàng của các hiện tượng thời tiết và khí hậu có liên quan
Nhìn chung, các nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương trước đây phần lớn chủ yếu tập trung vào đánh giá các tác nhân vật lý mà ít xét đến trạng thái của hệ thống xã hội và thành phần cộng đồng dân cư Theo thời gian, quan điểm tiếp cận đánh giá tính dễ bị tổn thương ngày càng hoàn thiện và cho thấy tính toàn diện, đa chiều (tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường) nhằm xác định sâu sắc hơn các thành phần gây nên thiệt hại của hệ thống trước tai biến Từ nhóm quan điểm thứ 1, chú trọng nhiều đến yếu tố tự nhiên như là độ lớn, xác suất của các tai biến mà có thể coi nhẹ sự gây hại đến cộng đồng dân cư; đến nhóm quan điểm thứ 2, chú trọng nhiều đến yếu tố xã hội
có khả năng thích ứng hay chống chịu với các tai biến mà chưa
Trang 8đi sâu phân tích nhiều đến bản chất tự nhiên của hiện tượng; và
để tổng hòa hai trường phái này, hướng nghiên cứu mang tính tổng hợp, toàn diện cả tự nhiên và xã hội tạo nên nhóm quan điểm thứ 3
Vấn đề đánh giá tính dễ bị tổn thương ở Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến gần như đồng hành với các nghiên cứu về biến đổi khí hậu như: Mai Trọng Nhuận, Nguyễn Kim Lợi, Nguyễn Mai Đăng, Thái Thành Lượm, Trần Thục, Hà Hải Dương…Tuy nhiên, các nghiên cứu này hoặc chỉ chú trọng đến tự nhiên hoặc xã hội, hoặc nghiên cứu cho 1 ngành cụ thể
và phần lớn là các yếu tố đưa vào tính toán còn hạn chế
Các định nghĩa về tính dễ bị tổn thương đã dần được phát triển thể hiện một cái nhìn toàn diện của xã hội, liên quan đến nhiều lĩnh vực của cuộc sống như: tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường Luận án này sẽ hướng đến nghiên cứu tính dễ bị tổn thương bao hàm cả yếu tố tự nhiên, xã hội, kinh tế, môi trường – là các yếu tố thuộc nguy cơ, độ phơi nhiễm, tính nhạy
và khả năng chống chịu của cộng đồng dân cư trước các tai biến lũ lụt
Qua tổng quan một số công trình đã cho thấy sự phức tạp
và tính đa dạng của vấn đề nghiên cứu Tùy vào từng bài toán đặt ra mà có sự điều chỉnh phù hợp trong cách vận dụng lý luận vào thực tiễn để lựa chọn phương pháp, bộ tiêu chí và cách thể hiện Trong luận án này đã lựa chọn một cách tiệm cận tổng hợp phù hợp nhất đối với việc xác định bộ chỉ số dễ bị tổn thương cho LVS VG-TB, chi tiết sẽ được bàn ở các phần tiếp theo
Trang 9Định nghĩa được sử dụng trong luận án phát triển theo quan điểm của IPCC, UNESCO-IHE, “Tính dễ bị tổn thương là mức độ mà ở đó một hệ thống dễ bị ảnh hưởng và không thể chống chịu với các tác động tiêu cực của lũ lụt Nó được xác định trong điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường thông qua độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng chống chịu trước nguy cơ lũ lụt nhất định” Luận án này không có tham vọng xây dựng 1 quy trình hoàn chỉnh, mà cố gắng đưa ra cơ sở khoa học để xây dựng bộ tiêu chí, chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương lũ lụt cho 1 lưu vực sông cụ thể (VG-TB)
CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU XÁC LẬP CƠ SỞ KHOA HỌC ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG LŨ LỤT
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Tổn thương do lũ lụt để lại trên mọi lĩnh vực tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường không chỉ hữu hình mà còn là những thiệt hại vô hình Tổng hợp các thiệt hại đó được gói trọn trong khái niệm tính dễ bị tổn thương theo cách tiếp cận tổng hợp đã bàn ở Chương 1
Một đánh giá tính dễ bị tổn thương gây nên bởi lũ lụt được xem xét trong hai mối liên hệ chính là: (1) quy mô và tần suất lũ tăng lên trong điều kiện biến đổi khí hậu quy mô toàn cầu, việc quản lý và vận hành các công trình thủy trên bề mặt lưu vực chưa tối ưu và điều kiện thích ứng của cơ sở hạ tầng trước tai biến lũ; (2) sự phát triển quy mô dân số và kinh tế - xã hội dẫn đến sự tăng nguy cơ thiệt hại về người và của trước tai biến lũ lụt Trong bài toán cụ thể này thì tính dễ bị tổn thương được xét trong mối quan hệ tương hỗ giữa tai biến lũ lụt và các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường của một lưu
Trang 10vực sông Việc lựa chọn một phương pháp gián tiếp hay trực tiếp, đơn giản hay phức tạp để đánh giá tính dễ bị tổn thương là phụ thuộc rất nhiều vào dữ liệu về các khía cạnh đã nêu Để làm được điều đó cần thiết phải xem xét tính dễ bị tổn thương như là một hệ thống chịu tác động của tai biến lũ lụt Thông thường, tính dễ bị tổn thương có thể được cấu thành từ 4 tiêu chí là nguy
cơ lũ lụt, độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng chống chịu: Chỉ số dễ bị tổn thương được coi là hàm số của các tiêu chí nguy cơ lũ, độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng chống
chịu theo công thức (2.1): V = f(H, E, S A) (2.1)
Cụ thể: V j = H j *w H + E j *w E + S j *w S + A j *w A (2.4)
trong đó: V j – chỉ số dễ bị tổn thương lũ lụt nút j; H j , w H : giá trị
và trọng số tiêu chí nguy cơ lũ lụt; E j , w E : giá trị và trọng số tiêu chí độ phơi nhiễm; S j , w S ; giá trị và trọng số tiêu chí tính nhạy; A j , w A : giá trị và trọng số tiêu chí khả năng chống chịu; -
Nguy cơ lũ lụt H được hiểu như là mối đe dọa trực tiếp, bao
hàm tính chất, mức độ của lũ lụt: độ sâu ngập lụt, thời gian ngập lụt và vận tốc dòng chảy lũ:
H j = H 1j *w H1 + H 2j *w H2 + H 3j *w H3 (2.5)
trong đó: H j – giá trị tiêu chí nguy cơ lũ lụt nút j; H 1j , w H1 : giá trị và trọng số biến độ sâu ngập lụt; H 2j , w H2 : giá trị và trọng số biến thời gian ngập lụt; H 3j , w H3 : giá trị và trọng số biến vận tốc dòng chảy lũ
- Độ phơi nhiễm E là tính chất và mức độ tiếp xúc của hệ
thống với tai biến lũ lụt, thể hiện qua các loại hình sử dụng đất Giá trị tiêu chí độ phơi nhiễm được xác định từ giá trị các biến
sử dụng đất;
Trang 11- Tính nhạy S là biểu hiện của lưu vực thông qua các hoạt
động sống của con người trước tai biến lũ lụt, gồm 4 thành
phần: nhân khẩu, sinh kế, kết cấu hạ tầng và môi trường
- Khả năng chống chịu A là phản ứng của lưu vực trước
tai biến lũ lụt nhằm hạn chế tính dễ bị tổn thương, có 4 thành
phần: điều kiện, kinh nghiệm, sự hỗ trợ và khả năng phục hồi
A j = A.đk j *w A.dkj + A.kn j *w A.knj + A.ht j *w A.htj + A.ph j *w A.phj (2.7)
trong đó: A j – giá trị tiêu chí nguy khả năng chống chịu xã j; A.đk j , w A.đkj : giá trị và trọng số thành phần điều kiện chống lũ xã j; A.kn j , w A.knj : giá trị và trọng số thành phần kinh nghiệm chống
lũ xã j; A.ht j , w A.htj : giá trị và trọng số thành phần sự hỗ trợ xã j; A.ph j , w A.phj : giá trị và trọng số khả năng tự phục hồi xã j;
2.2 XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TÍNH DỄ
BỊ TỔN THƯƠNG
Cùng với khái niệm thì phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương cũng ngày càng phát triển đa dạng Các phương pháp này có thể nhóm lại theo hai hướng đánh giá: (1) trực tiếp - mang tính định tính và (2) gián tiếp – mang tính định lượng (thông qua bộ chỉ số) Trên cơ sở tổng quan, phân tích của một
số phương pháp, luận án đã lựa chọn xây dựng phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương thông qua bộ chỉ số có sử dụng
Trang 12cả điều tra xã hội học và tích hợp bản đồ để xác định các biến
và tiêu chí
Xây dựng bộ chỉ số dễ bị tổn thương lũ lụt gồm các bước: 1- Lựa chọn vùng nghiên cứu; 2- Thiết lập các tiêu chí; 3- Chuẩn hóa các biến số; 4- Xác định trọng số; 5- Tính giá trị chỉ
số dễ bị tổn thương; 6- Xây dựng bản đồ mức độ tổn thương do
lũ lụt; 7- Phân tích, đánh giá mức độ tổn thương lũ lụt
Bước 1: Lựa chọn vùng nghiên cứu Vùng nghiên cứu
được lựa chọn là lưu vực hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn, nơi hàng năm phải hứng chịu sự khốc liệt của lũ lụt
Bước 2: Thiết lập bộ tiêu chí Để triển khai việc thiết lập
bộ tiêu chí đánh giá tính dễ bị tổn thương lũ lụt cho lưu vực sông cần phải tập hợp những dữ kiện về tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường trong mối liên quan đến tai biến lũ lụt Luận
án thiết lập 4 tiêu chí: nguy cơ ngập lụt, độ phơi nhiễm, tính nhạy và khả năng chống chịu Bộ tiêu chí được xác lập bằng cách xác định riêng lẻ từng tiêu chí, sau đó được tổng hợp lại theo phương pháp được lựa chọn, cụ thể như sau:
+ Tiêu chí nguy cơ ngập lụt phản ánh tính chất, quy mô,
cường độ của tai biến lũ lụt, nó được coi là mối đe dọa trực tiếp đến hệ thống Các đặc trưng thuộc tiêu chí này có thể là: độ sâu ngập lụt, thời gian ngập lụt, diện tích ngập, vận tốc dòng chảy
lũ, cường suất lũ hay tần suất xuất hiện lũ lớn, vv
+ Tiêu chí độ phơi nhiễm đặc trưng cho mức độ ảnh
hưởng của hiện trạng bề mặt hệ thống khi tiếp xúc trực tiếp với nguy cơ lũ lụt Hiện trạng bề mặt hệ thống ở đây có thể là: hiện trạng sử dụng đất, mật độ nhà cửa
Trang 13+ Tiêu chí tính nhạy đặc trưng các tính chất về kinh tế, xã
hội và môi trường, chúng sẽ phản ứng ra sao trước tai biến lũ lụt? Các biến thuộc tiêu chí tính nhạy như: dân số, dân tộc, trình
độ học vấn, giới tính, độ tuổi và môi trường
+ Tiêu chí khả năng chống chịu đặc trưng cho khả năng
chống đỡ và chịu đựng trước tai biến lũ lụt như: kinh nghiệm; điều kiện; khả năng chống lũ…
Bước 3: Chuẩn hóa dữ liệu Các biến, thành phần có thứ
nguyên khác nhau, vì thế khi sử dụng trong hàm quan hệ (2.1) cần chuẩn hóa trước khi tính toán giá trị tính dễ bị tổn thương lũ lụt Trong nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp đánh giá chỉ
số phát triển con người của UNDP (2006) để chuẩn hóa dữ liệu
Bước 4: Tính trọng số Mỗi tiêu chí đều có một vai trò
nhất định trong việc hình thành tính dễ bị tổn thương của lưu vực Tùy thuộc vào mục đích đánh giá mà mỗi tác giả có thể coi vai trò của các tiêu chí là ngang bằng hoạc có trọng số Luận án tính chỉ số theo các biến và thành phần có trọng số
Trên cơ sở phân tích khả năng và tính chất của một số phương pháp tính trọng số, trọng số của mỗi tiêu chí, thành phần, biến để tính chỉ số dễ bị tổn thương được tính theo 2 phương pháp là AHP và Iyengar-Sudarshan, cụ thể AHP tính trọng số cho 4 tiêu chí và 3 biến của tiêu chí nguy cơ ngập lụt; phương pháp Iyengar-Sudarshan tính trọng số cho các biến và các thành phần của 2 tiêu chí tính nhạy và khả năng chống chịu + Phương pháp Iyengar – Sudarshan được xét trong bài toán như sau: Giả sử có M vùng, K chỉ tiêu dễ bị tổn thương
và xij (i = 1,M; j=1,K) là các giá trị chuẩn hóa Mức độ hoặc
Trang 14một giai đoạn phát triển của vùng thứ i, y i được xác định theo tổng tuyến tính sau:
̅ ∑
√
]
ở đây (0 < w < 1 và tổng w j = 1) là những trọng số Theo phương pháp của Iyengar - Sudarshan các trọng số này được
giả định là tỷ lệ nghịch với phương sai của chỉ tiêu dễ bị tổn
thương, trọng số w j được xác định theo công thức (2.15), c là
hằng số chuẩn hóa
+ Phương pháp AHP:
Hình 2.3: Sơ đồ khối các bước thực hiện thuật toán AHP
Áp dụng theo cách tính trọng số Iyengar-Sudarshan: đơn giản, khách quan và rất thuận tiện cho việc tính trọng số với nhiều biến, nhiều thành phần trong 1 tiêu chí Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp là phụ thuộc vào sự phân bố của giá trị các biến-nghĩa là nếu biến nào có sự dao động trong phạm vi