1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Phân tích nội dung các chính sách và các công cụ quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu. Liên hệ thực tiễn với điều kiện Việt Nam hiện nay

30 3,6K 47

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 176,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“ Phân tích nội dung các chính sách và các công cụ quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu. Liên hệ thực tiễn với điều kiện Việt Nam hiện nay” Đối tượng của đề tài là các công cụ, chính sách,chương trình…của Nhà nước đối với vấn đề XNK, nhằm điều chỉnh hợp lý vấn đề này để mang lại một hiệu quả tối ưu cho đất nước. Phạm vi của đề tài là tất cả các hàng hoá dịch vụ,các ngành mà Việt Nam giao thương với thế giới

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Nhận thức được thực tế của đất nước, Đảng đã vạch ra những đường lốichiến lược đúng đắn, đó là sự nhận thức và vận dụng đúng chủ nghĩa Mác-Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoàn cảnh mới Một trong những chính sách đócủa Nhà nước ta là khuyến khích xuất nhập khẩu (XNK), khuyến khích giaothương với bên ngoài (cả những nước TBCN mà trước đó chúng ta không đặtquan hệ) để nâng cao năng lực cho đất nước trên nhiều mặt (công nghệ,sảnxuất,trình độ quản lý…)

Kim ngạch XNK đã tăng qua từng năm cùng với tốc độ tăng trưởng cao củađất nước đã nâng cao mức sống cho người dân, đưa đất nước ta ra khỏi tìnhtrạng đói nghèo, nâng vị thế của nước ta lên một tầm cao mới Thành công đóchính là sự phát huy tích cực của cả nguồn nội lực và cả những nguồn lực đượctận dụng tốt từ bên ngoài Để có cái nhìn tổng thể và khách quan về thực tại và

những năm gần đây của XNK nước ta, em chọn chuyên đề: “ Phân tích nội

dung các chính sách và các công cụ quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu Liên

hệ thực tiễn với điều kiện Việt Nam hiện nay” để làm bài tiểu luận.

Đối tượng của đề tài là các công cụ, chính sách,chương trình…của Nhànước đối với vấn đề XNK, nhằm điều chỉnh hợp lý vấn đề này để mang lại mộthiệu quả tối ưu cho đất nước Phạm vi của đề tài là tất cả các hàng hoá dịchvụ,các ngành mà Việt Nam giao thương với thế giới Chúng ta sẽ tìm hiểu xemrằng các chính sách của Nhà nước ta khuyến khích ưu tiên cho những sản phẩmhay ngành nghề nào hơn hay rằng các công cụ đó của Nhà nước tác động nhưthế nào đối với XNK nước ta

Nhiệm vụ của chuyên đề là tìm ra được những điểm mạnh điểm yếu haynăng lực thực tế của Việt Nam trước những cơ hội , thách thức trong vấn đềXNK để từ đó chỉ ra được những biện pháp, phương hướng cho giai đoạn hiệntại và tiếp theo

Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 1

Trang 2

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC CHÍNH SÁCH VÀ CÁC CÔNG CỤ QUẢN LÝ HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU

1.1 Khái niệm về chính sách thương mại, thương mại XNK và vai trò

quản lý kinh tế của nhà nước

* Khái niệm về chính sách thương mại: Chính sách thương mại là hệ

thống các nguyên tắc và biện pháp thích hợp mà nhà nước áp dụng để điều chỉnhhoạt động thương mại trong một thời kỳ nhất định phù hợp với lợi ích chung của

xã hội Nó là một bộ phận quan trọng của chính sách kinh tế - xã hội của đấtnước Có quan hệ chặt chẽ và phục vụ cho sự phát triển của nền kinh tế quốcdân Nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình tái sản xuất, cải tiến cơ cấu kinh tế,đến quy mô và phương thức của nền kinh tế quốc dân tham gia vào phân cônglao động và thị trường quốc tế

* Vai trò quản lý kinh tế của nhà nước: trong quá trình phát triển kinh tế

của đất nước thì nhà nước luôn đóng một vai trò rất quan trọng trong quản lýkinh tế đó là ổn định và phát triển kinh tế của đất nước, điều tiết kinh tế cả về vi

mô và vĩ mô để đa nền kinh tế nước nhà đi đúng hướng

* Chính sách thương mại XNK : Chính sách thương mại XNK là một hệ

thống các nguyên tắc, công cụ và biện pháp thích hợp mà nhà nước áp dụngquản lý, điều chỉnh các hoạt động thương mại XNK của một quốc gia trong mộtthời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục đích đã định trong chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội trong một quốc gia

Việc tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế và mậu dịch quốc

tế, đang đa lại nhiều lợi ích to lớn nhưng với nhiều lý do khác nhau, mỗi quốcgia có chủ quyền đều có chính sách thương mại quốc tế cũng như chính sáchthương mại XNK riêng thể hiện ý chí và mục tiêu của nhà nước đó trong việccan thiệp và điều chỉnh các hoạt động thương mại XNK có liên quan đến nềnkinh tế quốc gia

Chính sách thương mại XNK của một quốc gia có ảnh hưởng đến nhiềuquốc gia khác Bởi vậy nó chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên tắc nhằm chống lại

Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 2

Trang 3

sự phân biệt đối sử, đảm bảo sự có đi có lại cho các bên tham gia hợp tác vàbuôn bán quốc tế.

Do môi trường kinh tế thế giới đang còn bị chi phối và tác động bởi vì mốiquan hệ chính trị và các mục tiêu phi kinh tế khác cho nên chính sách thươngmại quốc tế và chính sách thương mại XNK của mỗi quốc gia cùng phải đáp ứngvới nhiều mục tiêu cụ thể khác nhau của từng thời kỳ Những mục tiêu chungcủa chính sách thương mại XNK là nhằm điều chỉnh các hoạt động thương mạiXNK theo chiều hướng có lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc giatrong điều kiện mở rộng và phát triển các quan hệ hợp tác và phân công laođộng quốc tế

* Nội dung của chính sách thương mại XNK

Chính sách XNK bao gồm nhiều nội dung khác nhau của hoạt động xuấtnhập khẩu như xuất khẩu các hàng hoá hữu hình (như nông lâm hải sản, hànghoá công nghiệp, khoáng sản v.v.) và các hàng hoá vô hình (các sản phẩm dịch

vụ như dịch vụ viễn thông, du lịch v.v.), tạm nhập để tái xuất hay tạm xuất đểtái nhập, quá cảnh hàng hoá, chuyển giao sử dụng công nghiệp, gia công chếbiến hàng hoá xuất khẩu, đầu tư cho xuất khẩu, thuê nước ngoài gia công chếbiến, đại lí bán hàng hoá, uỷ thác hoặc nhận uỷ thác xuất khẩu, nhập khẩu vàXNK trực tiếp v.v đi cùng với chính sách này là một loạt các công cụ hỗ trợcho hoạt động XNK này là các chính sách như :

 Chính sách thị trường và chính sách mặt hàng

 Chính sách thuế xuất nhập khẩu

 Chính sách phi thuế quan

 Chính sách quản lý ngoại tệ và tỷ giá hối đoái

 Chính sách cán cân thương mại và cán cân thanh toán

 Chính sách tài trợ xuất khẩu

 Chính sách kỹ thuật thực thi nhập khẩu

 Chính sách điều chỉnh về thể chế thương mại

 Chính sách điều chỉnh về khuôn khổ luật pháp

Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 3

Trang 4

 Chính sách điều chỉnh về hệ thống kinh doanh phục vụ

* Chính sách quản lý xuất nhập khẩu là: Nhà nước quản lý và điều tiết hoạt

động thương mại quốc tế thông qua công cụ rất quan trọng là chính sách quản

lý Chính sách quản lý thương mại quốc tế của nhà nước là các nghị định, quyếtđịnh, quy định của chính phủ và các cơ quan của chính phủ về lĩnh vực thươngmại quốc tế đó là các chính sách quản lý xuất nhập khẩu

Nội dung của chính sách quản lý xuất nhập khẩu bao gồm: Chính sách

quản lý về mặt hàng xuất nhập khẩu, chính sách quản lý về cơ chế giá cả,chínhsách quản lý về quốc tế và giấy phép xuất nhập khẩu, chính sách quản lý về tỷgiá hối đoái, chính sách quản lý về đối tượng kinh doanh xuất nhập khẩu, chínhsách quản lý về thuế xuất nhập khẩu, chính sách quản lý về cán cân thương mại

và cán cân thanh toán quốc tế, chính sách quản lý về tài trợ và bảo hiểm xuấtkhẩu

1.1 Một số công cụ chủ yếu điều tiết hoạt động của chính sách thương mại XNK.

1.1.2.1 Chính sách thị trường và chính sách mặt hàng.

a) Chính sách thị trường đây là chính sách có tầm quan trọng đặc biệt với

sự phát triển kinh tế của một quốc gia và với mục đích đề ra là khai thông nhữngcản trở của thị trường Chính sách này chia thị trường thành hai loại nh sau :-Với thị trường trong nước chính sách đa ra định hướng cho tập trungnguồn lực để tổ chức sản xuất hàng hoá sao cho phù hợp với nhu cầu của sảnxuất và của thị trường, đồng thời nó đưa ra những quy hoạch và cơ cấu lại cácvùng chuyên canh một cách hợp lí và nâng cao hiệu quả trong sản xuất nôngnghiệp Đảm bảo cho hệ thống lưu thông hàng hoá thông suốt giữa các vùng, cácđịa phương và đảm bảo cho sản xuất, lưu thông và tiêu dùng hàng hoá cân đốitránh những khủng hoảng và bất ổn trên thị trường Bên cạnh đó chính sách thịtrường đa ra để hình thành đồng bộ các loại thị trường và thực hiện chính sáchnhất quán, ổn định để các chủ thể chủ động với các tình thế trên thị trường

Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 4

Trang 5

-Với thị trường ngoài nước: nó bao hàm những chính sách thúc đẩy xuấtkhẩu và đa dạng hoá thị trường xuất khẩu nh để đa dạng hoá thị trường xuấtkhẩu thì cụ thể cần có chính sách cung cấp các thông tin thị trường cho các nhàxuất khẩu.

+Chính sách thị trường nước ngoài yêu cầu tập trung chú trọng phát triểnnhững thị trường truyền thống đồng thời tiếp cận và phát triển thị trường mới dovậy nhà nước đa ra những chính sách khuyến khích động viên các doanh nghiệptìm kiếm thị trường xuất khẩu, tìm kiếm đối tác nước ngoài của doanh nghịêpnhư chính sách thưởng cho những doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng từ 20%trở lên hoặc đa ra chính sách hỗ trợ tăng cường tổ chức các cuộc gặp gỡ tiếp xúcgiữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài

+Trong chính sách việc tập trung hoạt động nghiên cứu thị trường và côngtác thông tin về thị trường có ý nghĩa hết sức quan trọng ảnh hởng lớn đến khảnăng thành công trong công tác XNK của các doanh nghiệp cũng như lợi nhuậncủa họ Vì vậy cần nâng cao hiệu quả của công tác nghiên cứu dự báo thị trườnghiệu quả đảm bảo thông tin thường xuyên, thông suốt, nhiều chiều và các thôngtin dự báo về tình hình thị trường trong nước và quốc tế Kết hợp chặt chẽ mạnglới thu thập thông tin chuyên ngành và đa ngành đồng thời ta cũng cần phải thấyđược vai trò của các tham tán và tuỳ viên thương mại trong việc cung cấp thôngtin tìm kiếm thị trường nước ngoài

b) Chính sách mặt hàng:

Chính sách mặt hàng là nền tảng của chính sách thương mại quốc gia nóichung cũng như chính sách thương mại XNK nói riêng, nó là cơ sở để xác địnhđầu tư và cơ cấu lại sản xuất một cách hợp lí

Chính sách mặt hàng bao gồm: Chính sách mặt hàng cấp quốc gia đa radanh mục mặt hàng được đa vào cân đối của nhà nước, được nhà nước quản lítập trung Đây là những mặt hàng quan trọng đối với nền kinh tế của một nướcnhư vũ khí, các mặt hàng công nghệ cao Danh mục mặt hàng cấp quốc gia gồm

Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 5

Trang 6

tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng có ảnh hưởng tới an ninh quốc gia; những mặthàng xuất khẩu mũi nhọn và những mặt hàng cạnh tranh cấp quốc gia.

Trong chính sách này cần xây dựng cơ cấu những mặt hàng xuất khẩu chủlực (mũi nhọn) đó là những mặt hàng có khả năng phát triển sản xuất trong nước

và đa nhanh sản xuất lên cao, có hiệu quả kinh tế nhiều hơn so với loại hàngkhác, có thị trường tiêu thụ rộng rãi, ổn định, vững chắc và lâu dài Những mặt

hàng chủ lực cần thoả mãn được 3 điều kiện; Một là phải chiếm vị trí trọng yếu

trong cơ cấu hàng xuất khẩu, có khối lượng lớn, có giá trị cao trong kim ngạch

XK, nếu là nguyên liệu sản suất thì phải có khả năng đảm bảo cung cấp thườngxuyên cho nhu cầu xuất khẩu, có phẩm chất và giá cả ổn định trong thời giandài, nếu là hàng tiêu dùng thì phải có số lượng lớn và phẩm chất ổn định, gây

thói quen cho ngời tiêu dùng Hai là phải có điều kiện thuận lợi để sản xuất trong nước với chi phí thấp nhất và ngày càng tiến bộ về công nghệ sản xuất Ba

là phải có thị trường tiêu thụ vững chắc và lâu dài, tạo thế chủ động trong việc

trao đổi quốc tế Nếu thiếu một trong 3 điều kiện này thì không thể coi là hàngxuất khẩu chủ lực

Chính sách mặt hàng thay thế hàng nhập khẩu và chính sách xuất khẩu lànhững măt hàng mà sản xuất trong nước đã đáp ứng được nhu cầu Đó là nhữngmặt hàng dựa trên lợi thế tài nguyên quốc gia, lao động, công nghệ ví dụ như HàLan xuất khẩu hoa, Việt nam XK gạo, Mĩ XK các mặt hàng có hàm lượng côngnghệ cao như con chíp điện tử v.v Lúc đầu nhà nước đa ra chính sách mặt hàngthay thế nhập khẩu sau đó khi năng lực sản xuất đã có, đáp ứng tốt được nhu cầutiêu dùng trong nước thì tiến tới xuất khẩu cùng với những mặt hàng mà trongnước có lợi thế

1.1.2.2 Chính sách thuế xuất nhập khẩu

Thuế quan là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất nhập khẩu hoặcquá cảnh như vậy là thuế quan bao gồm cả thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu

Thuế nhập khẩu là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng nhập khẩu, theo đó

người mua trong nước phải trả cho những hàng hoá nhập khẩu một khoản lớn

Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 6

Trang 7

hơn mức mà người xuất khẩu ngoại quốc thu đợc Khác với thuế nhập khẩu thuế xuất khẩu là thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất khẩu.Thuế nhập khẩu và

thuế xuất khẩu đều tác động đến giá hàng hoá có liên quan nhưng thuế xuất khẩu

khác thuế nhập khẩu ở hai điểm: Một là, nó đánh vào hàng hoá xuất khẩu chứ không phải hàng hoá nhập khẩu; Hai là, nó làm cho giá cả quốc tế của hàng hoá

bị đánh thuế vượt quá xa giá cả trong nước (chứ không phải ngược lại), hay nóicách khác nó hạ thấp tương đối mức giá cả trong nớc của hàng hoá có thể xuấtkhẩu xuống so với mức giá cả quốc tế Điều đó sẽ làm cho sản lượng trong nướccủa hàng hoá có thể xuất khẩu giảm đi và sản xuất trong nước sẽ thay đổi bất lợicho mặt hàng này (trong một số trường hợp việc đánh thuế xuất khẩu không làmcho khối lượng xuất khẩu giảm đi nhiều mà vẫn có lợi nhiều cho nước xuấtkhẩu) Vì vậy mà các nước công nghiệp phát triển hiện nay hầu như không ápdụng thuế xuất khẩu cho nên thuế quan ở những nước này thường đồng nhất vớithuế nhập khẩu Thuế nhập khẩu được áp dụng phổ biến ở các nước, tuy rằngmức thuế có khác nhau Đương nhiên, kết quả kinh tế của thuế nhập khẩu là làmcho giá trị hàng hoá trong nước vượt cao hơn mức giá nhập khẩu và chính ngườitiêu dùng trong nước phải trang trải cho gánh nặng thuế quan này Bởi vậy, việcquy định tỷ lệ thuế nhập khẩu luôn là đề tài quan tâm từ nhiều phương diện.Thuế quan được chia làm 3 loại: thuế quan tính theo giá trị, thuế quan tínhtheo số lượng và thuế quan hỗn hợp nhưng đa số các nước người ta dùngphương pháp tính thuế quan theo giá trị hàng hoá thương mại đây là một loạithuế đánh theo bằng tỉ lệ phần trăm theo giá trị của hàng hoá thương mạ Phầnlớn nội dung các hiệp định thương mại quốc tế đều dùng phương pháp này đểtính thuế

Thuế quan được biết đến từ lâu như một hình thức lâu đời nhất của chínhsách thơng mại và là một công cụ mang tính chất truyền thống làm tăng nguồnthu cho ngân sách nhà nước

Thuế xuất nhập khẩu tác động đến hoạt động xuất khẩu trong hai trườnghợp sau:

Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 7

Trang 8

Thuế nhập khẩu: Xem xét trong trường hợp một nước nhỏ áp dụng thuế đốivới nhập khẩu để giảm sức cạnh tranh của hàng hoá nhập khẩu với hàng hoá sảnxuất trong nước Tại mức giá thế giới Pw, khi không có thuế, nước này sẽ sảnxuất ở mức So nhu cầu tiêu dùng ở mức Do, do vậy cần phải nhập khẩu mộtkhối lợng là Do-So (hình a) Khi chính phủ đánh thuế nhập khẩu, giá hàng hoátrong nước sẽ tăng lên tới Pw(1+t), cầu tiêu dùng trong nước sẽ giảm xuống D1,sản xuất trong nước sẽ tăng lên S1 và khối lợng hàng nhập khẩu sẽ giảm xuốngcòn D1-S1 Như vậy là đánh thuế nhập khẩu giúp cho sản xuất trong nước tănglên làm giảm lượng cầu về hàng hoá trên thị trường nội địa và tăng thu ngânsách nhà nước phân phối lại thu nhập từ những người tiêu dùng trong nước chonhững ngời sản xuất trong nước (tức là chuyển một phần tiềm năng sản xuấthàng hoá có hiệu quả sang duy trì sản xuất một hàng hoá không hiệu quả).

Thuế xuất khẩu: Khi đánh thuế xuất khẩu, giá cả trong nước sẽ thấp hơn giá cảquốc tế Sản xuất trong nước sẽ giảm từ S0 xuống S1, tiêu dùng trong nước sẽtăng từ Do lên D1, do vậy xuất khẩu sẽ giảm từ So-Do xuống còn S1-D1 (xemhình b) Thuế xuất khẩu đã làm giảm khả năng xuất khẩu của hàng hoá trongnước vì vậy mà hiện nay ngời ta ít áp dụng thuế xuất khẩu trừ một số trường hợpđánh vào các hàng hoá truyền thống nhằm thu được giá sao hơn và tăng lợi íchquốc gia

Sơ đồ: Tác động của thuế xuất nhập khẩu đến hoạt động xuất khẩu.

Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 8

Trang 9

1.1.2.3 Chính sách phi thuế quan

Sau chiến tranh thế giới thứ 2 vai trò của thuế quan đã bị suy giảm đặc biệt

ở các nước công nghiệp, ngày nay mức thuế quan trung bình không quá 10%trên các hàng hoá công nghiệp, xu hướng ngày nay của các nước là chuyển từhình thức thuế quan sang các hình thức phi thuế quan để bảo vệ sản xuất trongnước Hạn ngạch là trở ngại phi thuế quan quan trọng nhất nó là hình thức hạnchế lượng trực tiếp đối với hàng hoá nhập khẩu hay xuất khẩu, nó ấn định mứcnhập khẩu hay xuất khẩu cao nhất của một hàng hoá trong một thời kì nhất địnhthông thường qua hình thức cấp giấy phép xuất nhập khẩu Trên thế giới quản lýbằng hạn ngạch thường chỉ đặt ra đối với hàng nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu

có thể mang tính chất chung nhằm quy định số lượng (hoặc giá trị) nhập khẩuđối với từng nước nhằm bảo vệ thị trường nội địa và cải thiện cán cân thanh toánhoặc là điều kiện để mặc cả trong các cuộc thương lượng buôn bán Hạn ngạchnhập khẩu là một trong những biện pháp đầu tiên được đề cập đến trong cáccuộc đàm phán thương mại, nhất là khi cần thiết phải có một quyết định nhanhchóng vẫn đảm bảo tính hiệu quả và việc vận dụng hạn ngạch nhập khẩu tươngđối đơn giản và dễ dàng hơn vì những quy định khá rõ ràng về lượng hàng vàthời gian

Ở các nước phát triển hạn ngạch nhập khẩu là hình thức quan trọng nhấtnhằm bảo vệ ngành công nghiệp của họ còn đối với các nước đang phát triểnhạn ngạch nhập khẩu cũng có một vị trí quan trọng không kém nhằm thực hiện

Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 9

Trang 10

chiến lược thay thế hàng nhập khẩu và giải quyết các vấn đề về cán cân thanhtoán

Cũng như thuế quan, hạn ngạch xuất khẩu ít được sử dụng hơn so với hạnngạch nhập khẩu Biện pháp này thường được áp dụng trong những trường hợpsau:

Đối với những mặt hàng thiết yếu cần đảm bảo an toàn cho thị trường trongnước( chẳng hạn mặt hàng gạo đối với Việt Nam)

Những mặt hàng xuất sang các thị trường mà ở đó có quy định hạn ngạch(nh hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu sang EU và Canada) nhằm tránh tìnhtrạng “cung vượt quá cầu” và bị ép giá

-Nhìn chung, hạn ngạch có một số tác động tương tự như thuế quan nhưnggiữa chúng có một số điểm khác biệt, thể hiện:

+Hạn ngạch cho biết trước số lượng hàng hoá xuất khẩu, còn thuế quanthì không

+Hạn ngạch không đem lại thu nhập cho chính phủ và không có tác dụng

hỗ trợ các loại thuế khác

+Hạn ngạch có thể biến một doanh nghiệp trong nước trở thành nhà độcquyền (trong trường hợp chỉ có doanh nghiệp đó là người duy nhất nhận đượchạn ngạch)

Bên cạnh hạn ngạch nhập khẩu, ngày nay các quốc gia trên thế giới ápdụng một loạt các biện pháp hạn chế thương mại khác ngoài thuế quan gọi làhàng rào thương mại phi thuế quan(Nontariff trade bariers-NBT) Thuộc NBT

có rất nhiều hình thức hạn chế xuất nhập khẩu như:

-Hạn chế xuất khẩu tình nguyện là một biện pháp hạn chế xuất khẩu mà ở

đó một quốc gia nhập khẩu đòi hỏi quốc gia xuất khẩu phải hạn chế bớt lượnghàng xuất khẩu sang nước mình một cách “ tình nguyện” nếu không họ sẽ ápdụng biện pháp trả đũa kiên quyết

Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 10

Trang 11

-Những quy định về kỹ thuật, quản lý và các quy định khác là những quyđịnh hoặc tập quán của các quốc gia làm cản sự lưu thông tự do hàng hoá, dịch

vụ và các yếu tố sản xuất giữa các nước

-Những cartels quốc tế là một tổ chức của các nhà cung ứng về một hànghoá nào đó, phân bố ở các quốc gia khác nhau (hay một nhóm khác chính phủ)đồng ý hạn chế sản xuất và xuất khẩu với mục đích cực đại hoá hay tăng lợi tứccủa tổ chức đó

- Bán phá giá (dumping) là xuất khẩu một hàng hoá nào đố thấp hơn giá nộiđịa làm chiếm lĩnh thị trường thế giới Hai điều kiện để các nhà độc quyền bánphá giá là thị trường cạnh tranh không hoàn toàn và bị chia cắt Thông thườngbán phá giá chia làm ba loại: bền vững, chớp nhoáng và không thường xuyên

- Trợ cấp xuất khẩu là một hình thức khuyến khích xuất khẩu do các chínhphủ tiến hành trợ cấp trực tiếp hoặc cho vay với lãi suất thấp đối với các nhàxuất khẩu quốc gia hay những nhà xuất khẩu có năng lực Bên cạch đó, chínhphủ còn thực hiện một khoản cho vay ưu đãi đối với những bạn hàng nước ngoài

để họ có điều kiện nhập khẩu các hàng hoá xuất khẩu từ quốc gia Như vậy, trợcấp xuất khẩu cũng có thể đợc coi như là một hình thức của bán phá giá

1.1.2.4 Chính sách quản lý ngoại tệ và tỷ giá hối đoái.

Đây là hình thức nhà nước đòi hỏi tất cả các khoản thu chi ngoại tệ phảiđược thực hiện qua hệ thống ngân hàng hoặc cơ quan quản lý ngoại hối Trên cơ

sở đó nhà nước có thể kiểm soát được các nghiệp vụ thanh toán ngoại tệ của cácđơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu để qua đó điều tiết hoạt động ngoại thương

Ví dụ nhà nước hạn chế việc rút ngoại tệ ở tài khoản để thanh toán hàng

nhập khẩu với các mặt hàng hạn chế nhập khẩu và tạo điều kiện thanh toánnhanh, đơn giản các mặt hàng khuyến khích xuất khẩu

-Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (The nominal exchange rate - NER):Tỷ giá hối

đoái có thể định nghĩa theo nhiều cách Cách định nghĩa đơn giản nhất, tỷ giá hối đoái danh nghĩa (NER) là giá đồng nội tệ của một đơn vị ngoại tệ Cách

định nghĩa khác, NER là tỷ lệ trao đổi tiền tệ hay tỷ lệ mà hai đồng tiền trao đổi

Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 11

Trang 12

với nhau Một đồng tiền được coi là giảm (tăng) giá trị khi tăng (giảm) đơn vịnội tệ được mua bởi một đơn vị ngoại tệ Tỷ giá hối đoái danh nghĩa có thể đượcxác định chính thức hoặc không chính thức Do vậy, ở trên thị trường khôngđược thừa nhận chính thức hoặc không có một thị trường tương tự Điều này cónghĩa là tỷ giá hối đoái danh nghĩa không nhất thiết phải là duy nhất Thôngthường, có thể có hai tỷ giá danh nghĩa hoặc nhiều hơn cùng được xác định.-Tỷ giá hối đoái thực tế (The real exchange rate - RER): Tỷ giá hối đoáithực tế được sử dụng để đo tỷ lệ trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa nền kinh tếtrong nước và nước ngoài Nó được xác định bởi sự điều chỉnh tỷ giá hối đoáidanh nghĩa theo giá trong nước và nước ngoài.

RER = Ro(Pw/Pd)

Trong đó: RER là tỷ giá hối đoái thực tế, Ro là tỷ giá hối đoái danh nghĩa,

Pw là chỉ số giá quốc tế, Pd là chỉ số giá trong nước, hoặc chỉ số giá cả tiêudùng

Khi tỷ giá thực tế tăng, đồng tiền nội tệ giảm giá, và khi tỷ giá thực tếgiảm, đồng tiền nội tệ tăng giá Tỷ giá hối đoái danh nghĩa giảm dẫn đến sựgiảm giá đồng tiền nội tệ, nhng nếu giá trong nước tăng nhanh hơn giá quốc tế,đồng tiền nội tệ sẽ tăng giá

Tỷ giá thực tế cũng có thể được áp dụng cho hàng hoá phi thương mại màđược đo bằng đơn vị của hàng hoá thương mại Trong ngắn hạn, mối quan hệgiữa tỷ giá thực tế và lợi nhuận của khu vực xuất khẩu và nhập khẩu được giảithích bởi Montiel Xem xét một nền kinh tế bao gồm 3 khu vực: xuất khẩu (X) ,nhập khẩu (Z) và hàng hoá phi thương mại (N) Hoạt động sản xuất cần có laođộng và vốn, nhưng trong ngắn hạn , vốn đã được xác định Lợi nhuận cũngnhư mức sản lượng đầu ra tỷ lệ nghịch với chi phí sản phẩm trong từng khu vực.Theo Montiel, tỷ giá thực tế giảm làm giảm chi phí sản phẩm trong khu vực xuấtkhẩu, do vậy làm tăng lợi nhuận ngắn hạn của khu vực xuất khẩu và khuyếnkhích đầu tư phát triển sản xuất xuất khẩu Hơn nữa, chi phí cận biên của khuvực này tăng, việc duy trì tỷ giá hối đoái thực tế giảm sẽ làm tăng đầu tư và do

Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 12

Trang 13

vậy mở rộng quy mô sản xuất xuất khẩu trong dài hạn (độ co giãn xuất khẩutrong ngắn hạn nhỏ hơn trong dài hạn, do vậy cần thiết phải mở rộng quy môkhu vực xuất khẩu).

Tỷ giá hối đoái được coi là một công cụ tác động tới thương mại quốc tế,

mà trước hết là tác động tới xuất nhập khẩu, trong hai trường hợp: nâng giá hoặcgiảm đồng nội tệ

1.1.2.5 Chính sách cán cân thương mại và cán cân thanh toán

Cán cân thư ơng mại:

Cán cân kim ngạch xuất nhập khẩu vừa phản ánh “độ mở” của nền kinh tế

sự tiến triển của quốc tế công nghiệp hoá, vừa phản ánh “thể trạng sức khoẻ củanền kinh tế” quốc gia Tuy nhiên vấn đề không chỉ đơn thuần là xuất siêu haynhập siêu mà là những mục tiêu phát triển dài hạn Ví dụ như Hàn Quốc, ĐàiLoan những năm 60, Trung Quốc thập kỷ 80 - khi mà các nước này mới bắt đầutiến hành công nghiệp hoá đều ở trong tình trạng nhập siêu nhưng chỉ ít năm sautrên cơ sở nhập siêu trong trạng thái “nóng” của nền kinh tế nên các nước này đãcân bằng được xuất nhập và chuyển sang xuất siêu (Hàn quốc, Đài Loan đầuthập kỷ 70 Trung quốc đầu thập kỷ 90) Rõ ràng chấp nhận nhập siêu trongtương lai là phương hướng chiến lược và là vấn đề phương pháp luận của việc

sử lý cán cân thương mại của nước ta hiện nay Cố nhiên để thực hiện được ương hướng đó thì phải có điều kiện và những biện pháp đồng bộ

ph-Cán cân thanh toán quốc tế:

Cán cân thanh toán là một bản trình bày ngắn gọn các nguyên tắc, nhữnggiao dịch của dân cư một quốc gia với một quốc gia khác trong một thời kì nhấtđịnh thường là một năm Hay cán cân thanh toán quốc tế là một bản kết toántổng hợp toàn bộ các luồng hàng hoá, dịch vụ, vốn giữa các quốc gia và các nư-

ớc khác trên thế giới Cán cân thanh toán phản ánh vị trí của quốc gia trên thếgiới Tài liệu cán cân thanh toán biểu hiện một cách chính xác, rõ ràng về tàichính, tiền tệ và chính sách thương mại của quốc gia Đồng thời thông quanguồn tài liệu của cán cân thanh toán giúp chính phủ đề ra những chính sách

Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 13

Trang 14

kinh tế, đối ngoại phù hợp Ngoài ra cácn cân thanh toán cần thiết cho ngânhàng Công ty, cá nhân có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến thương mại quốc

tế trong qua trình kinh doanh của mình

Tuy vậy là một bảng ngắn gọn nên cán cân thanh toán tập hợp tất cả cáchình thức thương mại hàng hoá vào một vài khoản mục chính Có nghĩa là cáncân thanh toán không chia thương mại quốc tế thành những tiêu thức nhỏ cũngnhư vậy tất cả các luồng vốn vào ra của một quốc gia cũng chỉ được phản ánhtrong một khoản mục của cán cân thanh toán Cán cân thanh toán giúp đánh giáđược luồng ngoại tệ ra hoặc vào của một quốc gia với các quốc gia khác trêngiới Cho chúng ta thấy được mối quan hệ về kinh tế giữa hai hay nhiều quốcgia

Cán cân thanh toán quốc tế bao gồm:

- Cán cân thanh toán vãng lai (trao đổi hàng hoá về dịch vụ) ghi chép cácluồng buôn bán hàng hoá và dịch vụ cũng như các khoản thu nhập ròng khác từnước ngoài

- Cán cân vốn (trao đổi vốn) ghi chép các giao dịch, trong đó tư nhân hoặcchính phủ cho vay và đi vay và phần lớn thực hiện dưới dạng mua hay bán tàisản – tài sản tài chính hoặc tài sản thực

Tổng hợp các cán cân thanh toán vãng lai và cán cân vốn là cán cân thànhtoán quốc tế Khi dòng ngoại tệ ra lớn hơn dòng vào gọi là thâm hụt cán cânthanh toán quốc tế Trong trường hợp ngược lại gọi đó là thặng dư cán cân thanhtoán Cán cân vãng lai là tổng hợp các giao dịch về hàng hoá và dịch vụ đượcthực hiện giữa nước ta với nước ngoài, bao gồm tất cả các hoạt động xuất nhậpkhẩu chênh lệch xuất nhập khẩu chỉ là một thành phần của cán cân vãng lainhưng là phần quan trọng nhất Hiện nay tất cả các nước, các tổ chức quốc tếđều chú trọng biến động của cán cân thanh toán vãng lai

CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN VỚI ĐIỀU KIỆN CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 14

Trang 15

2.1 Tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2014 của Việt Nam.

2.1.1 Xuất khẩu hàng hoá

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 5 đạt 12,4 tỷ USD tăng 408 triệu USD sovới ước tính Trong đó một số mặt hàng xuất khẩu tăng mạnh so với số ước tính:Dầu thô tăng 299 triệu USD; dệt may tăng 94 triệu USD; giày dép tăng 143 triệuUSD Ngược lại, kim ngạch hàng điện thoại và linh kiện các loại giảm khá mạnh

so với ước tính với mức giảm 589 triệu USD

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 6 ước tính đạt 12,1 tỷ USD, giảm 2,5% sovới tháng trước, trong đó khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (kể cả dầu thô)ước tính đạt 8,2 tỷ USD, giảm 2,7% Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàngtháng Sáu giảm so với tháng trước: Điện thoại các loại và linh kiện giảm 11%;dầu thô giảm 29,4%; sắt thép giảm 24,8%; thủy sản giảm 9,8% Một số mặthàng đạt kim ngạch tăng cao: Cao su tăng 37,9%; hàng dệt may tăng 13,3%; gỗ

và sản phẩm gỗ tăng 14,3% Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Sáu tăng10,2% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài (kể cả dầu thô) tăng 11,9%

Tính chung 6 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 70,9 tỷ USD,tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt23,1 tỷ USD, tăng 11,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt47,8 tỷ USD, chiếm 67,5% tổng kim ngạch và tăng 16,6%

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 6 tháng đầu năm tăng cao chủ yếu ở khu vực cóvốn đầu tư nước ngoài với các mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kimngạch xuất khẩu các mặt hàng tương ứng của cả nước như: Điện thoại các loại

và linh kiện chiếm 99,6%; hàng dệt may 60,2%; giày dép 78,1%; máy móc thiết

bị và phụ tùng 89,6%; phương tiện vận tải và phụ tùng 95%; máy vi tính và linhkiện 98,4% Trong 6 tháng đầu năm nay, mức tăng kim ngạch hàng hóa xuấtkhẩu của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp 11 điểm phần trăm vàomức tăng chung; khu vực kinh tế trong nước đóng góp 3,9 điểm phần trăm

Học viên: PHẠM THỊ HƯƠNG – Lớp: QLKT 4 Trang 15

Ngày đăng: 07/04/2015, 11:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Chính sách thủ tục Hải quan - NXB Tài chính - 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách thủ tục Hải quan
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2009
1. Giáo trình Thương mại Quốc tế - PGS.TS. Nguyễn Duy Bột - NXB Thống kê - 2008 Khác
2. Giáo trình Quản trị học kinh doanh thương mại quốc tế - PGS.TS Trần Chí Thành - NXB Giáo dục Khác
3. Cải cách thủ tục hành chính và đổi mới công tác Hải quan - NXB Tài chính - 2005 Khác
4. Xây dựng lực lượng Hải quan là một binh chủng đặc biệt trên mặt trận kinh tế, chính trị, an ninh - Tài liệu của Tổng cục Hải quan Khác
5. Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về Hải quan - NXB Chính trị Quốc gia - 2008 Khác
7. Chống buôn lậu và gian lận Thương mại - NXB Chính trị Quốc gia 2008 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình a. Hình b. - Phân tích nội dung các chính sách và các công cụ quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu. Liên hệ thực tiễn với điều kiện Việt Nam hiện nay
Hình a. Hình b (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w