Tiểu luận môn luật kinh tế chuyên ngành quản lý kinh tế Đánh giá tình hình thực hiện các hợp đồng kinh tế năm 2013 của công ty cổ phần vận tải biển Việt Nam(VOSCO)IINội dung1.Cơ sở lý luận về hợp đồng kinh tế (hợp đồng kinh doanh) vận tải biển của công ty vận tải biển Việt Nam(VOSCO)2.1.1. Khái niệm và luật điều chỉnh3.Đánh giá tình hình thực hiện các hợp đồng theo các điều khoản
Trang 1Đề bài :Đánh giá tình hình thực hiện các hợp đồng kinh tế năm 2013 của công ty cổ phần vận tải biển Việt Nam(VOSCO)
I / Khái niệm
- Khái niệm về hợp đồng: hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên bình đẳng với nhau, làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong một quan hệ pháp luật nhất định
Hợp đồng vận tải biển bản chất của nó chính là những điều khoản trong việc thực hiện nghiệp vụ giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu bằng đường biển Giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu là một khâu quan trọng trong việc thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương, là một nghiệp vụ tổng hợp, có liên quan đến luật lệ quốc gia và quốc tế
Hợp đồng vận tải biển được ký trước lúc nhập hàng về Tuy nhiên có khi hợp đồng vận tải được ký cùng một lúc với hợp đồng mua bán Nói chung, hai hợp đồng này phải song hành với nhau
Các điều khoản của hợp đồng mua bán phản ánh vào hợp đồng vận tải biển
và hợp đồng vận tải phản ánh ý chí mua bán các bên
II/Nội dung
1.Cơ sở lý luận về hợp đồng kinh tế (hợp đồng kinh doanh) vận tải biển của công ty vận tải biển Việt Nam(VOSCO)
* Vận tải biển có tác dụng bảo vệ tích cực hoặc làm xấu đi cán cân mậu dịch
và cán cân thanh toán
Vận tải biển có hai chức năng: phục vụ và kinh doanh Chức năng phục vụ thể hiện ở chỗ vận tải quốc tế bảo đảm phục vụ nhu cầu chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu của mỗi nước Chức năng kinh doanh thể hiện trong việc xuất khẩu sản phẩm vận tải , nhất là sản phẩm vận tải đường biển Xuất nhập khẩu vận tải là một
Trang 2hình thức xuất nhập khẩu vô cùng quan trọng Thu chi ngoại tệ trong lĩnh vực xuất nhập khẩu sản phẩm vận tải và các dịch vụ liên quan đến vận tải biển là một bộ phận quan trọng trong cán cân thanh toán quốc tế Xuất siêu sản phẩm vận tải biển
sẽ có tác dụng tốt đối với cán cân thanh toán quốc tế Ngược lại, thiếu hụt trong cán cân thanh toán xuất nhập khẩu sản phẩm vận tải biển sẽ làm xấu đi cán cân thanh toán quốc tế Tóm lại, vận tải biển là một yếu tố không thể tách rời với buôn bán quốc tế: “ Ai nói đến buôn bán quốc tế cũng phải nói đến vận tải biển Buôn bán quốc tế có nghĩa là hàng hoá được thay đổi người sở hữu Còn vận tải biển làm cho hàng hoá đó thay đổi vị trí”
1.1 Khái quát chung
Nói đến thương mại quốc tế người ta thường đề cập đến buôn bán hàng hóa và dịch vụ Trong trao đổi, mua bán hàng hóa quốc tế, việc chuyên chở hàng hóa đóng vai trò quan trọng bởi chuyên chở hàng hóa được coi là một giai đoạn để hàng hóa
từ người bán đến được với người mua
Hợp đồng chuyên chở hàng hóa quốc tế là sự thỏa thuận được ký kết giữa người chuyên chở và người thuê chở trong đó người chuyên chở cam kết vận chuyển hàng hóa từ địa điểm này tới địa điểm ở nước khác nhằm thu tiền cước do người thuê chở trả theo mức hai bên thỏa thuận
1.2 Hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng đường biển
Vận tải biển được coi là một phương thức vận tải chủ yếu và hiện nay
chuyên chở hơn 80% khối lượng hàng hóa trong thương mại quốc tế Chuyên chở hàng hóa bằng đường biển liên quan đến nhiều bên cũng như nhiều thủ tục chứng
từ, do đó các quan hệ về thương mại và pháp lý có phạm vi rộng rãi và quan trọng Sản lượng hàng hoá vận chuyển hàng năm đạt 6.000tỷ tấn và khối lương luân chuyển đạt khoảng 25.000 tấn /hải lý Năm 2013, khối lượng hàng hoá buôn bán bằng đường biển đạt 15.840 triệu tấn, trong đó có dầu thô chiểm 28%, hàng bách hoá 20%, hàng khô khác 16%, than đá 11%, quặng sắt 9%, sản phẩm dầu mỏ 7%,
Trang 3ngũ cốc 4% gas hoá chất 2% Khối lượng hàng hoá luân chuyển đạt 24.589 tỷ tấn/ hải lý
Bảng: Khối lượng hàng hoá luân chuyển bằng đường biển trên thế giới
(Đơn vị: tỷ tấn/ hải lý)
mỏ thô
Sản phẩm dầu mỏ
Quặng sắt
Than đá
Ngũ cốc
Hàng khô khối lượng lớn
Hàng khô khác
Tổng cộng toàn thế giới
2013 18330 23155 43030 52700 11335 27429 26675 194589
Nguồn: Fearnleys (Oslo), Review 2013 2.1.1 Khái niệm và luật điều chỉnh
- Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là sự cam kết (thỏa thuận
ý chí) của người thuê chở và người chuyên chở về việc dùng tàu biển để chuyên chở hàng hóa đến địa điểm được các bên thỏa thuận
- Luật điều chỉnh:
Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng chuyên chở hàng hóa quốc tế bằng đường biển gồm có các điều ước quốc tế, luật quốc gia và tập quán hàng hải
Điều ước quốc tế gồm có:
+ Công ước quốc tế để thống nhất một số qui tắc về vận đơn đường biển (The International Convention for the Unification of certain rules of law relating to
Trang 4bills of lading), Công ước này được Hiệp hội Luật quốc tế đưa ra tại Hague và do đại diện của 26 nước ký tại Brucxen (Bỉ) ngày 25/8/1924, có hiệu lực ngày
2/6/1931 nên thường được gọi là Công ước Brucxen hay Quy tắc Hague.
+ Nghị định thư sửa đổi Công ước quốc tế để thống nhất một số qui tắc về vận đơn đường biển Nghị định thư này được đưa ra thảo luận ban đầu tại Visby và được ký ngày 23/2/1968 tại Brucxen, có hiệu lực ngày 23/6/1977 nên thường được
gọi là Nghị định thư 1968 hay qui tắc Visby.
Qui tắc Hague gộp với Qui tắc Visby được gọi là Qui tắc Hague-Visby + Nghị định thư bổ sung Công ước quốc tế để thống nhất một số qui tắc về vận đơn đường biển (Công ước Brucxen 1924 đã được Nghị định thư 1968 bổ sung), được các bên đã tham gia ký kết Quy tắc Hague-Visby ký tại Brucxen ngày 21/12/1979
+ Công ước Liên hợp quốc về chuyên chở hàng hóa bằng đường biển
(United Nations Convention on the Carriage of Goods by Sea) được ký kết tại
Hamburg ngày 30/3/1978, có hiệu lực ngày 1/11/1992, thường được gọi là Công
ước Hamburg 1978 hay Qui tắc Hamburg.
Qui tắc Hamburg quy định thời gian khởi kiện, giới hạn trách nhiệm bồi thường, trách nhiệm và nghĩa vụ đối với hàng hóa của người chuyên chở tăng lên
so với Qui tắc Hague-Visby
Luật quốc gia: Bên cạnh các điều ước quốc tế, hiện nay các quốc gia đều có
thể có luật chuyên chở hàng hóa bằng đường biển (Việt Nam có Bộ luật hàng hải được ban hành năm 1990)
Tập quán hàng hải: Là những phong tục, thói quen phổ biến về hàng hải
được nhiều nước công nhận và áp dụng thường xuyên đến mức trở thành các quy tắc được các bên mặc nhiên tuân thủ Tập quán hàng hải sẽ được áp dụng trong hợp đồng vận tải khi không có quy định về luật áp dụng hoặc có luật nhưng chưa được quy định đầy đủ
Trang 52.1.2 Phân loại hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng đường biển
Trên thực tế, có 2 phương thức để các bên có thể ký kết là Hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng tàu chợ và Hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng tàu chuyến
- Thông thường căn cứ vào hợp đồng mua bán hàng hóa đã được ký kết, người bán hoặc người mua ký hợp đồng vận chuyển với người chuyên chở nhằm thực hiện hợp đồng đó Như vậy một số điều khoản của hợp đồng mua bán hàng hóa đồng thời cũng là những điều khoản được quy định một cách phù hợp trong vận chuyển Chẳng hạn như điều khoản về tên hàng, về số lượng hàng hóa, cảng
đi, cảng đến bốc dỡ hàng
Để chuyên chở hàng hóa bằng đường biển, người thuê chở có thể ký hợp đồng thuê toàn bộ hay một phần chiếc tàu để chở lô hàng từ cảng này đến cảng khác gọi là hợp đồng thuê một chỗ xếp hàng trên chiếc tàu chạy theo lịch trình nhất định để chở hàng từ cảng này đến cảng khác gọi là thuê tàu chợ hay hợp đồng chuyên chở bằng tàu chợ
2.1.2.1 Hợp đồng chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu bằng tàu chợ - thuê tàu chợ
Khái niệm
Hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng tàu chợ (lưu khoang tàu chợ) là sự thỏa thuận theo đó người chuyên chở dành một phần chiếc tàu để chở hàng hóa của người thuê chở từ cảng này đến một cảng khác, còn người thuê chở phải trả cước phí theo biểu cước định sẵn
Vận đơn đường biển bao gồm nhiều loại và mỗi loại có tác dụng khác nhau
+ Vận đơn đích danh
+ Vận đơn xuất trình
+ Vận đơn theo lệnh
+ Vận đơn đa phương
Luật điều chỉnh
Trang 6Thực tế có nguồn luật để điều chỉnh hợp đồng chuyên chở hàng hóa quốc tế bằng tàu chợ do quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên không thể quy định hết trong vận đơn Hiện nay luật điều chỉnh loại hợp đồng này gồm điều ước quốc
tế, luật quốc gia, tập quán hàng hải
+ Điều ước quốc tế
Hiện nay có hai điều ước quốc tế đã được ký để điều chỉnh hợp đồng chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu bằng tàu chợ
Quy tắc Hague-Visby có các điều khoản về nội dung vận đơn, nghĩa vụ và trách nhiệm của người chuyên chở, nghĩa vụ thông báo tổn thất của chủ hàng, giới hạn trách nhiệm bồi thường, khiếu nại v.v Quy tắc Hague-Visby là nguồn luật chủ yếu đang được áp dụng phổ biến trong chuyên chở hàng hóa quốc tế bằng đường biển
Việt Nam chưa phê chuẩn Công ước Brucxen 1924 cho nên nó không bắt buộc đối với chủ tàu và người thuê chở Việt Nam Tuy nhiên, trong thực tế các hãng tàu Việt Nam thường chọn Công ước Brucxen 1924 làm nguồn luật điều chỉnh vận đơn do mình cấp cho người thuê chở Còn các chủ hàng bắt buộc phải áp dụng Công ước Brucxen 1924 vì trong vận đơn đường biển dẫn chiếu tới công ước này
Công ước Liên hợp quốc về chuyên chở hàng hóa bằng đường biển được ký kết tại Hamburg năm 1978 Công ước này đã có hiệu lực từ năm 1992 (theo điều 30) nhưng có rất ít nước áp dụng nhất là những nước có đội tàu trọng tải lớn bởi vì so với Qui tắc Hague-Visby thì trong Qui tắc Hamburg quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của người chuyên chở tăng lên, các căn cứ miễn trách cho người chuyên chở giảm đi, thời gian khiếu kiện tăng lên, khái niệm hàng hóa được mở rộng hơn v.v do vậy các hãng tàu không muốn áp dụng
Cho đến nay Việt Nam cũng chưa phê chuẩn công ước này
+ Luật quốc gia
Trang 7Luật quốc gia của mỗi nước đều có thể trở thành nguồn luật để điều chỉnh hợp đồng chuyên chở hàng hóa quốc tế bằng tàu chợ Nhưng luật quốc gia có thể
có của nước nào là do chính vận đơn chỉ ra
Thông thường khi vận đơn đã dẫn chiếu đến luật quốc gia của một nước thì thôi không dẫn chiếu tới công ước quốc tế nữa và ngược lại
Ngoài ra, luật quốc gia của một nước cụ thể được đem áp dụng khi hai bên đương sự thống nhất chọn ghi trong văn bản thỏa thuận riêng hoặc khi tòa án trọng tài giải quyết tranh chấp quyết định Đó là những trường hợp khi vận đơn không chỉ ra nguồn luật điều chỉnh
+ Tập quán hàng hải
Tập quán hàng hải là thói quen hàng hải được lặp lại nhiều lần, được nhiều nước công nhận và áp dụng liên tục đến mức nó trở thành quy tắc mà các bên mặc nhiên tuân theo Tập quán hàng hải được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng và giải quyết tranh chấp khi mà vận đơn, luật áp dụng cho vận đơn không điều chỉnh hay điều chỉnh không đầy đủ mối quan hệ, tranh chấp đó
2.1.2.2 Hợp đồng chuyên chở hàng hóa quốc tế bằng tàu chuyến - thuê tàu chuyến.
a Khái niệm
Hợp đồng chuyên chở hàng hóa quốc tế bằng tàu chuyến là văn bản được ký kết giữa hai bên, theo đó một bên là người chuyên chở có nghĩa vụ dành toàn bộ hay một phần chiếc tàu để chở hàng từ cảng này đến cảng khác và bên kia là người thuê chở có nghĩa vụ trả tiền cước chuyên chở
Hợp đồng chuyên chở hàng hóa quốc tế bằng tàu chuyến là văn bản pháp lý điều chỉnh trực tiếp quyền và nghĩa vụ của người chuyên chở và người thuê chuyên chở Nó không điều chỉnh mối quan hệ giữa người chuyên chở với người nhận hàng không phải là người ký hợp đồng
b Luật điều chỉnh
Trang 8Điều ước quốc tế: Cho đến nay chưa có một điều ước quốc tế nào được ký
kết để điều chỉnh hợp đồng chuyên chở hàng hóa quốc tế bằng tàu chuyến Để tạo
điều kiện thuận lợi cho việc chuyên chở hàng hóa bằng tàu chuyến các hãng tàu, tổ
chức hàng hải quốc tế (IMO) đã soạn thảo nhiều mẫu thuê tàu chuyến, trong đó
mẫu hợp đồng hay được dùng nhất để chở hàng bách hóa là mẫu GENCON hoặc
có mẫu hợp đồng để chuyên chở một loại hàng nhất định hoặc theo một tuyến
đường nhất định như chở than POLCON, chở gỗ BENACON v.v tuy nhiên đó
chỉ là những mẫu hợp đồng có tính chất tham khảo do vậy người thuê chở có thể
thêm, bớt một số điều khoản
Luật quốc gia: Luật quốc gia điều chỉnh hợp đồng chuyên chở hàng hóa
bằng tàu chuyến có thể là luật nước người chuyên chở, luật nơi gửi hàng, luật nơi
nhận hàng, luật nước người gửi hàng v.v nhưng luật quốc gia nào được đem áp
dụng để điều chỉnh hợp đồng trước hết do chính hợp đồng quy ddịnh Chẳng hạn,
trong hợp đồng quy định rằng: Luật áp dụng là luật nơi đóng trụ sở chính của
người chuyên chở
2.Thống kê số lượng hợp đồng thuê tàu chuyến đã ký kết và thực hiện năm
2013 thị trường nội địa và quốc tế của công ty vận tải biển Việt Nam(VOSCO)
BẢNG HỢP ĐỒNG KD ĐỘI TÀU VẬN TẢI NĂM 2013
Hợp đồng quốc tế(chuyến
Hợp đồng nội địa(chuyến)
THU (Tr.đồng)
1 CABOT ORIENT Hàng Khô 10 22 78,655 110,605,023 17,700
2 SÔNG NGÂN Hàng Khô 8 18 100,006 260,189,790 28,982
Trang 94 VĨNH LONG Hàng Khụ 9 19 110,615 232,385,687 25,272
5 VĨNH THUẬN Hàng Khụ 8 18 104,143 255,717,525 27,712
7 VĨNH HƯNG Hàng Khụ 7 21 119,553 306,400,359 32,731
8 SễNG TIỀN Hàng Khụ 10 22 127,042 242,752,467 32,976
9 TIấN YấN Hàng Khụ 10 22 133,744 329,989,023 36,154
10 VĨNH HOÀ Hàng Khụ 5 15 92,525 247,343,897 26,221
11 VĨNH PHƯỚC Hàng Khụ 7 17 171,971 498,222,410 43,179
13 THÁI BèNH Hàng Khụ 5 12 151,271 321,929,241 38,806
14 OCEAN STAR Hàng Khụ 4 7 92,074 1,675,413,753 76,642
15 MORNING STAR Hàng Khụ 2 8 145,542 1,359,556,934 61,227
16 SILVER STAR Hàng Khụ 5 11 197,450 1,293,077,382 64,993
17 VEGA STAR Hàng Khụ 3 7 110,695 1,354,695,943 73,498
18 LUCKY STAR Hàng Khụ 3 6 78,114 289,779,800 29,135
19 GOLDEN STAR Hàng Khụ 3 12 194,851 1,262,321,767 75,736
20 POLAR STAR Hàng Khụ 4 8 159,777 1,561,094,987 81,107
21 NEPTUNE STAR Hàng Khụ 5 9 190,591 1,318,467,443 76,442
22 DIAMOND STAR Hàng Khụ 2 7 161,890 2,141,360,939 102,542
23 VOSCO STAR Hàng Khụ 4 9 366,192 3,100,343,518 94,859
24 ĐẠI LONG Tàu Dầu SF 5 21 439,073 843,027,170 81,023
25 ĐẠI HÙNG Tàu Dầu SF 11 22 465,681 757,899,372 82,074
26 ĐẠI VIỆT Tàu Dầu SF 8 24 697,568 1,840,662,210 127,006
27 ĐẠI NAM Tàu Dầu SF 9 18 569,100 3,396,786,026 146,084
28 ĐẠI MINH Tàu dầu 5 14 475,324 2,533,525,309 145,986
29 FORTUNE
NAVIGATER Tàu container 36 97 474,066 699,247,350 69,424
30 FORTUNE FREIGHTER Tàu container 50 101 513,400 757,265,000 75,643
3.Đỏnh giỏ tỡnh hỡnh thực hiện cỏc hợp đồng theo cỏc điều khoản
Tiến hành phân tích chung tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là cơ
sở đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp Việc phân tích có thể diễn ra hàng tháng hàng quý hoặc hàng năm
tuỳ theo quy mô của doanh nghiệp
Trang 10Bảng 4: Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty
Chỉ tiêu
Đơn vị
Số lượng
Trị giá (triệu)
Số lượng
Trị giá (triệu)
Số lượng
Trị giá (triệu)
DV SC
Vệ sinh TD
Dịch vụ cảng
Vận tải biển
DV TM
Chiếc chiếc Tấn
Tấn Lít
22 9 674.215
15.535 1000475
4006 12317 9484
12914 6430
38 14 901.200
19.907 1085597
10674 19159 18024
17486 4363
33 13 850320
22.240 858635
13562 24732 28550
27922 6020
(Nguồn Phòng Kế Hoạch- Kinh Doanh)
Đánh giá chung: Nhìn vào bảng sản xuất kinh doanh của công ty ta thấy qua các
năm, doanh thu của công ty liên tục tăng Tuy nhiên sự gia tăng này không đồng
đều cho thấy mức độ ổn định của công ty chưa cao, còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan bên ngoài Tổng doanh thu năm 2011 là 45.151 triệu đồng, con số này
năm 2012 là 69.706 triệu đồng, tốc độ tăng doanh thu là 54,3 % Để đạt được tốc
độ doanh thu đó, Công ty đã có những chiến lược phát triển kinh tế rõ ràng, xác
định được những mục tiêu hết sức cụ thể Vẫn giữ được mối quan hệ tốt với những khách hàng truyền thống, còn đối với những khách hàng mới thì có chính sách đãi ngộ đặc biệt Năm 2012 doanh thu tăng cũng do tác động của môi trường kinh tế,
sự tác động tích cực của yếu tố bên ngoài khiến hoạt động sản xuất kinh doanh gặp nhiều thuận lợi, lượng hàng hóa vận chuyển tăng mạnh, giá cước dịch vụ tăng, dịch
vụ thương mại tăng….những yếu tố đó đã góp phấn vào tăng doanh thu năm 2011 Trong năm 2013 doanh thu đạt 100.786 triệu đồng tăng 44,5 % so với năm 2012 Mặc dù tốc độ tăng năm 2013 không bằng năm 2012 nhưng đây vẫn là con số lí