ĐẶT VẤN ĐỀ Trong chúng ta ai cũng biết rằng: Sức khỏe là vốn quý giá nhất của con người. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi mà xã hội ngày càng phát triển và đời sống kinh tế ngày càng được nâng cao thì vấn đề sức khỏe lại càng được coi trọng. Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) thì: “Sức khỏe là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hay tàn phế”.Và một trong những ưu tiên của Đảng, nhà nước ta là: Các chính sách và chiến lược phát triển con người, đặc biệt coi trọng các quyền của phụ nữ và trẻ em. Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại Cairo năm 1994, ngày 28 tháng 11 năm 2000 Chính phủ đã ký quyết định số 136/2000/QĐ-TTg ban hành Chiến lược Quốc gia về Chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001-2010. Một trong những mục tiêu cụ thể của Chiến lược Quốc gia về Chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001-2010 là: “Nâng cao tình trạng sức khỏe của phụ nữ và các bà mẹ, giảm tỷ lệ bệnh tật, tử vong mẹ, tử vong chu sinh và tử vong trẻ em một cách đồng đều hơn giữa các vùng và các đối tượng, đặc biệt chú ý các vùng khó khăn và các đối tượng chính sách”. Ông bà ta xưa có câu “Sanh chửa, cửa mả”. Nhưng thực tế thai nghén là hiện tượng sinh lý bình thường của người phụ nữ. Tuy nhiên, có rất nhiều yếu tố có thể gây nguy cơ làm cho các hiện tượng sinh lý trở thành bệnh lý, đe dọa tính mạng người mẹ và con. Khi có thai ai cũng mong muốn cho ra đời một cháu bé khỏe mạnh, thông minh, có ích cho xã hội sau này. Trên thực tế khi mang thai cơ thể người phụ nữ có nhiều thay đổi lớn về giải phẫu, sinh lý. Đa số phụ nữ mang thai khi bước qua giai đoạn này gặp rất nhiều khó khăn về mặt tâm lý và chưa có những hiểu biết tối thiểu về chăm sóc thai nghén. Do đó họ rất cần sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, xã hội và đặc biệt là mạng lưới y tế. Được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, trong thập kỷ vừa qua, hệ thống bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em kế hoạch hóa gia đình được hình thành và phát triển không ngừng thành một mạng lưới kéo dài từ Trung ương đến tận thôn bản. Hệ thống này đóng góp một phần không nhỏ trong việc nâng cao sức khỏe của người dân nói chung và bà mẹ trẻ em nói riêng. Chính vì thế ngày nay công tác chăm sóc sức khỏe đã có những cải thiện đặc biệt là làm mẹ an toàn, trong đó có chăm sóc trước sinh và nhiều chương trình giáo dục sức khoẻ cho các sản phụ mang thai. Tuy nhiên kết quả vẫn chưa được như ý muốn. Theo nguồn thông tin của Bộ y tế, WHO, UNFPA 1998-2000 ở Việt Nam tỷ lệ tử vong mẹ là 2500 người/năm. Do vậy, trong quá trình mang thai các sản phụ cần được quản lý, cung cấp dịch vụ chăm sóc trước sinh có chất lượng, nhận thức đúng các kiến thức cần thiết để có thể tự mình chăm sóc, giữ gìn bảo vệ sức khoẻ mẹ và con, được khám thai định kỳ để theo dõi, tư vấn, phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ, lượng giá và xử trí nguy cơ đồng thời hỗ trợ các vấn đề tâm lý, xã hội. Bất kỳ yếu tố nào gây ra sự chậm trễ điều trị, các nguy cơ đều có thể ảnh hưởng đến tính mạng mẹ và con. Vì thế, em thực hiện đề tài “Tìm hiểu thực trạng chăm sóc trước khi sinh của các sản phụ đến sinh tại khoa Ngoại sản Trung tâm y tế huyện Bảo Lâm Tỉnh Lâm Đồng” nhằm mục tiêu: - Khảo sát thực trạng chăm sóc trước khi sinh của các sản phụ.
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ
- -CHUYÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG PHỤ SẢN
TÌM HIỂU THỰC TRẠNG CHĂM SÓC TRƯỚC SINH CỦA CÁC SẢN PHỤ ĐẾN SINH TẠI KHOA NGOẠI SẢN
TRUNG TÂM Y TẾ BẢO LÂM LÂM ĐỒNG
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Minh Hiền
Trang 2Lời cảm ơn!
Để hoàn thành đề tài này trước hết tôi xin chân thành cảm ơn:
- Ban Giám hiệu và Phòng Đào tạo Trường Đại học Y – Dược Huế
- B ộ môn phụ sản Trường Đại học Y – Dược Huế
- Bộ môn Điều dưỡng Trường Đại học Y – Dược Huế
- Quý Thầy Cô trong trường đã tận tình giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập
- Ban giám đốc Trung tâm y tế Bảo Lâm
- Khoa Ngoại sản, các bạn đồng nghiệp Trung tâm y tế Bảo Lâm đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô:
ThS BS Đào Nguyễn Diệu Trang – Giảng viên Khoa Điều Dưỡng Trường Đại học Y - Dược Huế trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này
Tôi cũng không quên chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp cùng khoá đã đóng góp và giúp đỡ tôi cho đề tài ngày càng hoàn thiện hơn
Sinh viên thực hiện đề tài Nguyễn Thị Minh Hiền
Trang 3Mục lục
Trang
Lời cảm ơn 1
Mục lục 2
Đặt vấn đề 3
Chương 1 Tổng quan tài liệu 5
Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 10
Chương 3 Kết quả nghiên cứu 11
Chương 4.Bàn luận 18
Chương 5 Kết luận 21
Chương 6 Kiến nghị 22
Tài liệu tham khảo 23
Phiếu điều tra 24
Danh sách 26
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong chúng ta ai cũng biết rằng: Sức khỏe là vốn quý giá nhất của con người Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi mà xã hội ngày càng phát triển và đời sống kinh tế ngày càng được nâng cao thì vấn đề sức khỏe lại càng được coi
trọng Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) thì: “Sức khỏe là trạng thái thoải mái về
thể chất, tinh thần và xã hội, không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hay tàn phế”.Và một trong những ưu tiên của Đảng, nhà nước ta là: Các chính sách và
chiến lược phát triển con người, đặc biệt coi trọng các quyền của phụ nữ và trẻ
em
Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại Cairo năm 1994, ngày 28 tháng
11 năm 2000 Chính phủ đã ký quyết định số 136/2000/QĐ-TTg ban hành Chiến lược Quốc gia về Chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001-2010 Một trong những mục tiêu cụ thể của Chiến lược Quốc gia về Chăm sóc sức khỏe sinh sản
giai đoạn 2001-2010 là: “Nâng cao tình trạng sức khỏe của phụ nữ và các bà mẹ,
giảm tỷ lệ bệnh tật, tử vong mẹ, tử vong chu sinh và tử vong trẻ em một cách đồng đều hơn giữa các vùng và các đối tượng, đặc biệt chú ý các vùng khó khăn và các đối tượng chính sách”
Ông bà ta xưa có câu “Sanh chửa, cửa mả” Nhưng thực tế thai nghén là
hiện tượng sinh lý bình thường của người phụ nữ Tuy nhiên, có rất nhiều yếu tố
có thể gây nguy cơ làm cho các hiện tượng sinh lý trở thành bệnh lý, đe dọa tính mạng người mẹ và con
Khi có thai ai cũng mong muốn cho ra đời một cháu bé khỏe mạnh, thông minh, có ích cho xã hội sau này
Trên thực tế khi mang thai cơ thể người phụ nữ có nhiều thay đổi lớn về giải phẫu, sinh lý Đa số phụ nữ mang thai khi bước qua giai đoạn này gặp rất nhiều khó khăn về mặt tâm lý và chưa có những hiểu biết tối thiểu về chăm sóc thai nghén Do đó họ rất cần sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, xã hội và đặc biệt
là mạng lưới y tế
Được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, trong thập kỷ vừa qua, hệ thống bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em kế hoạch hóa gia đình được hình thành và phát triển không ngừng thành một mạng lưới kéo dài từ Trung ương đến tận thôn bản Hệ
Trang 5thống này đóng góp một phần không nhỏ trong việc nâng cao sức khỏe của người dân nói chung và bà mẹ trẻ em nói riêng Chính vì thế ngày nay công tác chăm sóc sức khỏe đã có những cải thiện đặc biệt là làm mẹ an toàn, trong đó có chăm sóc trước sinh và nhiều chương trình giáo dục sức khoẻ cho các sản phụ mang thai Tuy nhiên kết quả vẫn chưa được như ý muốn Theo nguồn thông tin của Bộ
y tế, WHO, UNFPA 1998-2000 ở Việt Nam tỷ lệ tử vong mẹ là 2500 người/năm
Do vậy, trong quá trình mang thai các sản phụ cần được quản lý, cung cấp dịch vụ chăm sóc trước sinh có chất lượng, nhận thức đúng các kiến thức cần thiết
để có thể tự mình chăm sóc, giữ gìn bảo vệ sức khoẻ mẹ và con, được khám thai định kỳ để theo dõi, tư vấn, phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ, lượng giá và xử trí nguy cơ đồng thời hỗ trợ các vấn đề tâm lý, xã hội Bất kỳ yếu tố nào gây ra sự chậm trễ điều trị, các nguy cơ đều có thể ảnh hưởng đến tính mạng mẹ và con
Vì thế, em thực hiện đề tài “Tìm hiểu thực trạng chăm sóc trước khi sinh
của các sản phụ đến sinh tại khoa Ngoại sản Trung tâm y tế huyện Bảo Lâm Tỉnh Lâm Đồng” nhằm mục tiêu:
- Khảo sát thực trạng chăm sóc trước khi sinh của các sản phụ
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Khi có thai cơ thể người phụ nữ có nhiều thay đổi lớn về giải phẫu, sinh lý
và sinh hóa Nhiều thay đổi của người phụ nữ xảy ra rất sớm ngay sau khi thụ tinh
và tiếp tục trong suốt thời kỳ thai nghén Cơ thể người phụ nữ có nhiều thay đổi
để đáp ứng với kích thích sinh lý do thai và các steroid
1 Thay đổi về nội tiết:
Ở người phụ nữ có thai, các tuyến nội tiết đều có thay đổi, đặc biệt là hai loại nội tiết cơ bản Đó là hormon hướng sinh dục do rau thai hay hCG (human Chorionic Gonadotropin) và các steroid
- hCG là hocmon hướng sinh dục rau thai, được tế bào nuôi tiết ra rất sớm,
2 tuần lễ sau khi thụ thai có thể phát hiện được
- Các hormon steroid khi có thai đã được tăng tiết rất nhiều Hai steroid quan trọng nhất là estrogen và Progesteron Nồng độ estrogen và Progesteron tăng dần lên trong quá trình thai nghén và giảm thấp xuống một cách đột ngột trước khi chuyển dạ đẻ một vài ngày
2 Thay đổi giải phẩu và sinh lý ở bộ phận sinh dục:
a Thay đổi ở thân tử cung:
- Trọng lượng: Khi chưa có thai, tử cung nặng 50-60g Sau khi thai và rau
sổ ra ngoài, tử cung nặng khoảng 1000g
- Dung tích: Khi chưa có thai, buồng tử cung có dung tích 2-4 ml Khi có thai, dung tích buồng tử cung tăng lên tới 4000-5000 ml
- Hình thể: Khi chưa có thai, tử cung nằm ở đáy chậu, trong tiểu khung Khi
có thai, tử cung lớn lên và tiến vào ổ bụng Trung bình mỗi tháng, tử cung phát triển cao lên phía trên khớp vệ 4 cm Nhờ tính chất này, người ta có thể tính được tuổi thai theo công thức:
Chiều cao tử cung
Tuổi thai theo tháng = - +1
4
- Khả năng co hồi và co rút: Dễ bị kích thích tạo ra cơn go tử cung nhất là 3 tháng đầu và 3 tháng cuối Khi có thai, tử cung luôn co bóp giúp cho tuần hoàn
Trang 7thai nhi được tốt, ở 3 tháng cuối tư cung co bóp mạnh hơn gọi là cơn gò hick Tử cung luôn có xu hướng co nhỏ lại khi dung tích chứa trong tử cung giảm
b Thay đổi ở eo tử cung:
Trước khi có thai, eo tử cung chỉ là một vòng nhỏ, chiều cao 0,5-1 cm nằm giữa thân và cổ tử cung Khi có thai đoạn dưới tử cung được thành lập phúc mạc cũng giãn dần ra Khi có thai eo tử cung giãn rộng dần, dài và mỏng ra tạo thành đọan dưới tử cung, đến cuối cuộc chuyển dạ đẻ đọan dưới tử cung dài khoảng 10cm Khi có thai, eo tử cung mềm ra tưởng như khối thân tử cung tách rời ra khỏi phần cổ tử cung
c Thay đổi ở cổ tử cung:
Khi có thai, cổ tử cung mềm ra, mềm từ ngoại vi vào trung tâm, có màu tím do các mạch máu ở phần dưới tăng sinh và cương tụ Chất nhầy cổ tử cung đục và đặc quánh lại tạo thành một cái nút kín ống cổ tử cung, gọi là chất nhầy cổ tử cung
d Thay đổi ở âm đạo, âm bộ:
Có sự tăng sinh mạch máu, xung huyết trong da và cơ vùng tầng sinh môn,
âm hộ và tăng tiết dịch âm đạo
e Thay đổi ở buồng trứng, vòi tử cung:
Có hiện tượng xung huyết, buồng trứng to và nặng lên từ khi có thai Niêm mạc vòi trứng mỏng hơn so với khi chưa có thai
3 Thay đổi giải phẩu và sinh lý ở ngoài bộ phận sinh dục:
a Thay đổi ở da, cân và cơ:
Da xuất hiện các vết sắc tố ở mặt và thành bụng, sắc tố tập trung ở đường giữa trắng bụng gọi là đường nâu Thành bụng bị giãn ra tạo thành vết rạn
b Thay đổi ở vú:
Quầng vú sẫm màu và rộng ra, các hạt Montgomery nổi lên – Núm vú to và sẫm mầu Tuyến sữa và ống dẫn sữa phát triển phì đại làm cho vú to lên
c Thay đổi trong hệ tuần hoàn:
Khối lượng máu tăng lên khoảng 50%, nhịp tim tăng lên 10 – 15 nhịp/1 phút, các mạch máu mềm, dài và to ra, dễ giãn
d Thay đổi về hô hấp:
Trang 8Tần số thở tăng lên vừa phải trong quá trình thai nghén Người phụ nữ thường thở nhanh nông Mức tiêu thụ oxy ở người phụ nữ có thai tăng lên khoảng 15% so với người không có thai Trong những tháng cuối, thai phụ có hiện tượng khó thở vì tử cung to lên cơ hoành bị đẩy lên gây chèn ép phổi
e Thay đổi về tiết niệu:
- Thận: Tốc độ lọc máu ở cầu thận tăng lên 50%, lưu lượng máu qua thận tăng từ 200 ml lên 250 ml/phút
- Niệu quản bị chèn ép dẫn đến đài, bể thận bị giãn ra và giảm trương lực,
do đó khả năng dẫn nước tiểu bị giảm xuống Hậu quả là gây ra nhiễm trùng đường tiết niệu ngược dòng
- Trong những tháng đầu bàng quang có thể bị kích thích gây ra tình trạng đái rắt về sau có thể bí đái và chèn ép trực tràng gây ra táo bón
f Thay đổi về tiêu hoá:
- Trong 3 tháng đầu, thai phụ hay bị buồn nôn, nôn và thích các thức ăn lạ, tăng tiết nước bọt, ăn uống kém Từ tháng thứ 4 trở đi, các triệu chứng nghén mất
đi, thai phụ trở lại ăn uống bình thường
- Ruột non và đại tràng giảm nhu động do chèn ép và giảm trương lực nên hay gây ra táo bón Do táo bón và tăng áp lực tĩnh mạch ở nửa dưới cơ thể do tử cung chèn ép dẫn đến trĩ
g Thay đổi về hệ thống xương, khớp:
- Xương ngấm nước nên mềm hơn so với trước khi có thai Đặc biệt có thể gặp tình trạng loãng xương do canxi được huy động để tạo bộ xương cho thai nhi
- Các khớp mềm và giãn ra Các dây chằng cũng bị ngấm nước và mềm đi
h Thay đổi về thần kinh:
Thay đổi về tâm lý, cảm xúc, hay cáu gắt, dễ thay đổi tính tình, trí nhớ giảm sút
4 Thay đổi ở toàn thân:
- Thân nhiệt tăng cao trên 37oC do tác dụng của hoàng thể thai nghén Từ tháng thứ 4 trở đi thân nhiệt trở lại bình thường
- Trọng lượng trung bình tăng khoảng 8-12 kg
- Tăng giữ nước ở ngoài tế bào và huyết tương
Trang 9- Nồng độ lipit, lipoprotein v à apoliprotein trong huyết thanh tăng rõ ràng trong khi có thai và chuyển hóa protein cũng tăng lên
- Hạ đường huyết khi nhịn ăn vừa phải, tăng đường huyết sau bữa ăn và tăng insulin máu
- Phù nhẹ 2 chi dưới
5 Chăm sóc sức khoẻ sản phụ trước khi sinh:
a Chăm sóc chế độ dinh dưỡng:
- Cần khuyên thai phụ nên ăn đủ chất dinh dưỡng (đạm, chất béo, glucid,
bổ sung thêm chất khoáng các yếu tố vi lượng), lượng tăng ít nhất 1/4 (tăng số bữa ăn), không nên ăn quá mặn, tránh dùng các chất kích thích như bia, rượu, cafê, thuốc lá…
- Trung bình mỗi ngày thai phụ cần khoảng 2800 – 3000 calo, uống nước đầy đủ từ 1,5 – 2 lít, tránh táo bón bằng chế độ ăn hợp lý, không nên dùng thuốc
sổ
- Khi có thai, không nên uống thuốc nếu không có chỉ định của thầy thuốc
b Chăm sóc về chế độ nghỉ ngơi và lao động:
- Khi có thai vẫn có thể lao động bình thường, tránh các lao động nặng nhọc như khuân vác, gánh, đội nặng Làm theo khả năng cần có chế độ nghỉ ngơi xen
kẽ, không làm vào ban đêm
- Tránh làm việc ở môi trường dưới nước, trên cao hoặc lao động trong môi trường rung chuyển, chấn động nhiều cũng như tránh tiếp xúc với các yếu tố độc hại
như ( xăng dầu, hoá chất, thuốc trừ sâu)
- Tránh đi xa, tránh xóc xe hay va chạm mạnh
- Đảm bảo thời gian ngủ trong ngày khoảng > 8h và tận dụng thời gian ngủ trưa
- Nghỉ hoàn toàn vào tháng cuối để nâng cao sức khoẻ cho mẹ và tăng cân cho con, chuẩn bị cho cuộc đẻ an toàn
c Vệ sinh thai nghén:
- Hằng ngày tắm rửa bằng nước sạch Vệ sinh vú và bộ phận sinh dục Tránh bơm rửa âm đạo, không nên ngâm mình trong nước
Trang 10- Mặc quần áo rộng và thoáng mát về mùa hè, đủ ấm về mùa đông Không
đi giày dép cao gót
- Nên mặc áo nịt vú để nâng cặp vú nặng lên không bị sệ xuống, nhưng phải mặc nịt vú rộng, không bị bó chặt lấy ngực gây khó thở
- Nhà ở phải thoáng khí sạch sẽ, tránh ẩm, nóng, khói
- Tránh tiếp xúc với người ốm, bệnh lây, lao, cảm cúm
f Khám thai định kỳ:
Trong thời gian mang thai nên đi khám tối thiểu 3 lần và đăng ký thai nghén sớm (3 tháng đầu) tại xã, huyện hoặc ở bệnh viện
g Tiêm phòng và bổ sung viên sắt:
Tiêm phòng uốn ván theo lịch tiêm chủng và uống viên sắt bổ sung
Trang 11Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu:
Sản phụ đến sinh tại khoa Ngoại sản Trung tâm y tế huyện Bảo Lâm Tỉnh Lâm Đồng
2 Phương pháp nghiên cứu:
Bằng phương pháp mô tả cắt ngang
* Tiêu chuẩn chọn lựa:
Chọn 30 sản phụ Những sản phụ được chọn không phân biệt tuổi tác, có khả năng giao tiếp, không bị khuyết tật và chịu hợp tác
* Tiêu chuẩn loại trừ:
Những sản phụ không hợp tác và những sản phụ không có khả năng giao tiếp
* Hình th ức thu thập số liệu:
Được khảo sát theo phiếu điều tra in sẵn, phỏng vấn trực tiếp
3 Thời gian nghiên cứu:
Từ ngày 05/05/2010 đến 18/05/2010
4 Xử lý số liệu:
Theo phương pháp thống kê y học thông thường
Trang 12Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu:
Tiểu học
Phổ thông
Trung cấp Khác
Kinh 0 12 0 4 4 4 0 2 8 2 0 Tày/Nùng 0 3 0 3 0 0 0 2 1 0 0 K’Ho/
- Các sản phụ có độ tuổi sinh đẻ từ 20-35 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 93,33%,
vẫn có sản phụ làm mẹ khi độ tuổi chưa đến 20 chiếm tỷ lệ 3,33% và rơi vào đối
tượng là người dân tộc
- Sản phụ sanh con thứ 3 trở lên chiếm tỷ lệ 16,67% trong số này đa số là
người kinh
- Đa số sản phụ có trình độ văn hóa ở mức tiểu học và phổ thông cơ sở
chiếm tỷ lệ 90,00%, tuy nhiên vẫn có sản phụ mù chữ chiếm 3,33% và rơi vào đối
tương người đồng bào dân tộc
Trang 13Biểu đồ 1: Phân bố nghề nghiệp của các sản phụ
Nhận xét: Đa số các sản phụ làm nghề nông (93,33 %), còn cán bộ công
Biểu đồ 2: Phân bố dân tộc của các sản phụ
Nhận xét: Sản phụ là người dân tộc chiếm tỷ lệ 60,00% cao hơn so với sản
phụ người kinh chỉ có 40,00%
Trang 1486,67%
10,00%
0 5 10 15 20 25 30
Thiếu ăn
Đủ ăn Khá giả
Biểu đồ 3: Phân bổ theo điều kiện kinh tế
Nhận xét: Sản phụ có điều kiện kinh tế ở mức trung bình tương đối cao
chiếm 86.67%, chỉ có 10.00% khá giả và có 3.33% thiếu ăn
2 Tình hình chăm sóc trư ớc sinh:
Bảng 2: Số lần khám thai và tiêm phòng uốn ván trong thai kỳ
Nhận xét: Đa số các sản phụ đi khám thai thời kỳ mang thai từ 2 đến 3 lần
chiếm đến > 93% Tiêm uốn ván 2 lần chiếm tỷ lệ khá cao 96.67 % Tuy nhiên còn 6,67% sản phụ chỉ đi khám thai có 1 lần
Trang 1523,33%
0 5 10 15 20 25
Có Không
Biểu đồ 4: Uống viên sắt trong khi mang thai
Nhận xét: Hầu hết các sản phụ uống sắt trong thời kỳ mang thai chiếm tỷ lệ
76,67%, tuy nhiên vẫn còn sản phụ không uống hoặc uống không đều viên sắt lúc mang thai chiếm số lượng ít là 26,33%
Dân tộc
Chế độ dinh dưỡng Các chất kích thích
Ăn kiêng
Bình thường
Bồi dưỡng
Thuốc
lá Cafe Bia/rượu Không
Tày/Nùng 0 2 1 0 1 0 0 K’Ho/
- 16,67 % sản phụ ăn uống nhiều và đầy đủ chất khi mang thai
- 76,67 % sản phụ ăn uống bình thường khi mang thai