tiểu luận môn kinh tế vĩ mô ngành quản lý kinh tế : Thuế giá trị gia tăng, cách tính thuế giá trị gia tăng và tình hìh thực hiện thuế thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam giai đoạn 20052013VÒ bè côc néi dung, ®Ò tµi ®îc chia lµm ba ch¬ng nhá:Ch¬ng I: Giới thiệu chung về môn học kinh tế vĩ môi và thuế giá trị gia tăngCh¬ng II: Đánh giá và phân tích tình hình thực hiện thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam giai đoạn 20052013.Ch¬ng III: Kết luận và kiến nghị
Trang 1quan nhập khẩu không ổn định gây thất thu cho ngân sách quốc gia,
hệ thống thuế không theo kịp sự phát triển của nền kinh tế
Trớc sự đòi hỏi khách quan đú, Luật thuế GTGT đợc Chính phủ và
Bộ Tài Chính nghiên cứu ban hành và cú hiệu lực từ ngày 01/01/1999 không những là một đòn bẩy chiến lợc hạn chế nhợc điểm của luật thuế doanh thu và hệ thống thuế cũ mà còn vì những mục tiêu phát triển bền vững của đất nớc, thích ứng với sự đòi hỏi của nền kinh tế, của quá trình hội nhập trong khu vực và quốc
tế trong thời kỳ mới
Xung quanh việc áp dụng VAT vào Việt Nam còn rất nhiều băn khoăn, khúc mắc từ giá, thuế suất, hay là khấu trừ thuế… Ngoài những thành công đã
đạt đợc Ta cần nghiên cứu sâu những khó khăn, khúc mắc tìm ra nguyên nhân
để từ đó có những giải pháp, hớng khắc phục nhằm hoàn thiện hơn luật thuế GTGT, đồng thời nhằm đạt hiệu quả cao trong khi áp dụng luật thuế này Nhằm hiểu sâu hơn về một chính sách thuế mới của Nhà nớc, cũng nh để thấy đợc
Trang 2những lý do mà em chọn đề tài “ Thuế giỏ trị gia tăng, cỏch tớnh thuế giỏ trị gia tăng và tỡnh hỡh thực hiện thuế thuế giỏ trị gia tăng ở Việt Nam giai đoạn 2005-2013” để nghiên cứu
Về bố cục nội dung, đề tài đợc chia làm ba chơng nhỏ:
Chơng I: Giới thiệu chung về mụn học kinh tế vĩ mụi và thuế giỏ trị gia tăng
Chơng II: Đỏnh giỏ và phõn tớch tỡnh hỡnh thực hiện thuế giỏ trị gia tăng ở Việt Nam giai đoạn 2005-2013
Ch ơng III: K ế t lu ậ n v à ki ế n ngh ị
Trang 3Ch¬ng 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ KINH TẾ VĨ MÔ VÀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1.Giới thiệu chung về môn học kinh tế vĩ mô
Kinh tế vĩ mô hay là kinh tế tầm lớn ( Macroeconomic ) là một phân ngành của kinh tế học chuyên nghiên cứu về đặc điểm, cấu trúc và hành
vi của cả một nền kinh tế nói chung Kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi mô là hai lĩnh vực chung nhất của kinh tế học Trong khi kinh tế học vi mô chủ yếu nghiên cứu về hành vi của các cá thể đơn lẻ như công ty và cá nhân người tiêu dùng, kinh tế học vĩ mô lại nghiên cứu các chỉ tiêu cộng hưởng như GDP,
tỉ lệ thất nghiệp, lạm phát, và các chỉ số giá cả để hiểu các hoạt động của nền kinh tế
Kinh tế vĩ mô là là một lĩnh vực tổng quát nhưng có hai khu vực nghiên cứu điển hình
Nghiên cứu nguyên nhân và hậu quả của biến động ngắn đối với thu nhập quốc gia ( còn gọi là chu kì kinh tế )
Nghiên cứu những yếu tố quyết định cho tăng trưởng kinh tế bền vữngCác chuyên gia kinh tế học vĩ mô phát triển các mô hình để giải thích mối quan hệ giữa các yếu tố như thu nhập quốc gia và tài chính, sản lượng, tiêu dùng, thất nghiệp, lạm phát, tiết kiệm đầu tư, buôn bán đa quốc gia và tài chính đa quốc gia Các mô hình này và các dự báo do chúng đưa ra được cả chính phủ lẫn các tập đoàn lớn sử dụng để giúp họ phát triển và đánh giá các chính sách kinh tế và chiến lược quản trị
1.2 Giới thiệu về thuế giá trị gia tăng
Trang 4Năm 1954 thuế GTGT lần đầu tiên ra đời tại Pháp dới hình thức thuế
đánh vào giai đoạn sản xuất Đến năm 1968, thuế này đợc nhập vào thuế lu thông đánh vào dịch vụ và thuế địa phơng đánh vào lu thông bán lẻ thành một loại thuế thống nhất chung thu ở giai đoạn bán lẻ (viết tắt theo tiếng Pháp là TVA) Từ đó đến nay do tính u viết của mình, thuế GTGT ngày càng đợc sử dụng rộng khắp ở nhiều nớc trên thế giới Thuế GTGT đợc sớm áp dụng ở Châu
âu, chỉ hơn hai mơi năm sau khi ra đời hình thức sơ khai đầu tiên, nó đã đợc coi
là một trong những điều kiện tiên quyết để gia nhập khối EC (năm 1977)
Tính đến năm 1995, trên thế giới có tới hơn 100 nớc áp dụng thuế GTGT Riêng Châu á kể từ năm 80 trở lại đây đã có sự gia tăng vợt bậc về số lợng các thành viên sử dụng VAT Đầu tiên là Triều Tiên (1977), tiếp đến là Indonexia (1985), Đài Loan (1986), Philipine (1988), Mông Cổ (1993), Trung Quốc (1994)
Canada ban đầu cũng rất phản đối việc ban hành GTGT thay thế cho thuế bán lẻ đang đợc lu hành ở các bang song đến tháng 1 năm 1991, GTGT đã đợc ban hành
Trang 5Thuỵ Sỹ đã phản đối đề nghị ban hành GTGT thay thế cho bán lẻ hiện hành Song tháng 1 năm 1995, Thuỵ Sỹ đã ban hành GTGT.
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm về thuế giỏ trị gia tăng
Khỏi niệm: Thuế GTGT là thuế thu trờn phần giỏ trị tăng thờm của hàng
húa, dịch vụ phỏt sinh trong quỏ trỡnh từ sản xuất, lưu thụng đến tiờu dựng và
đợc nộp vào ngân sách theo mức độ tiêu thụ hàng hoá dịch vụ
Đặc điểm của thuế GTGT
Thuế GTGT đánh vào các giai đoạn sản xuất kinh doanh nhng chỉ tính phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn Vì thế, tổng số thuế thu đợc ở các giai
đoạn sẽ bằng với số thuế tính theo giá bán cho ngời tiêu dùng cuối cùng
Đối tợng điều tiết của thuế GTGT là phần thu nhập của ngời tiêu dùng sử dụng để mua hàng hoá và dịch vụ Nh vậy về nguyên tắc chỉ cần thu thu thuế ở khâu bán hàng cuối cùng là đủ Tuy nhiên trên thực tế rất khó phân biệt đâu là tiêu dùng cuối cùng và đâu là tiêu dùng trung gian vì thế cứ có hành vi mua hàng
là phải tính thuế Nếu là tiêu dùng trung gian thì số thuế đó sẽ tự động chuyển vào giá bán hàng cho ngời mua ở gia đoạn sau
Bên cạnh đó, thuế GTGT còn có tính trung lập kinh tế cao Thuế GTGT không chịu ảnh hởng bởi kết quả kinh doanh của ngời nộp thuế, không phải là yếu tố của chi phí mà chỉ đơn thuần là một khoản cộng thêm vào giá bán cho ng-
ời cung cấp hàng hoá dịch vụ
Thuế GTGT không bị ảnh hởng bởi quá trình tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế Nh ta đã biết GTGT là phần giá trị mới đợc tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh Nó đợc xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất
và tiêu thụ với tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào tơng ứng tổng GTGT ở tất cả các giai đoạn luân chuyển có giá trị bằng giá bán của sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng, nên việc thu thuế trên GTGT ở từng giai đoạn đảm bảo cho tổng số thuế thu đợc tơng đơng với số thuế tính trên giá bán trong giai đoạn cuối cùng Chính vì thế quá trình tổ chức kinh tế và phân chia các chu trình kinh tế có diễn
ra dài hay ngắn hay nh thế nào đi nữa thì thuế GTGT cũng không bị ảnh hởng
Trang 6Và tổng số thuế ở các giai đoạn luôn khớp với số tính thuế trên giá bán ở giai
đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít
ở nớc ta thuế GTGT đợc nghiên cứu từ khi tiến hành cải cách thuế bớc một (1990) ban hành thành luật và đợc thông qua tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá 9 ngày 10/5/97 để chính thức áp dụng từ 01/01/99
1.2.2 Nội dung cơ bản của VAT
* Đối tợng chịu thuế:
Luật thuế GTGT và các văn bản hớng dẫn thi hành luật thuế GTGT của nhà nớc quy định đối tợng chịu thuế GTGT là hàng hoá và dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh, tiêu dùng ở Việt Nam
* Hàng hoá chịu VAT bao gồm:
- Hàng hoá, dịch vụ đợc sản xuất và tiêu dùng ở Việt Nam
- Hàng hoá, dịch vụ đợc nhập khẩu để tiêu dùng trong nớc
- Hàng hoá và dịch vụ đợc sản xuất và tiêu dùng nội bộ
- Hàng hoá và dịch vụ đợc mua, bán dới mọi hình thức, bao gồm cả trao
đổi bằng hiện vật
ở nớc ta quy định danh mục 26 loại hàng hoá dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT nhng hàng hoá đó thờng có trong các tổ chức sau:
Là sản phẩm của một số ngành đang còn khó khăn, cần khuyến khích tạo
điều kiện phát triển nh: sản xuất nông nghiệp, máy móc nhập khẩu mà trong nớc cha sản xuất đợc
Các hàng hoá dịch vụ thuộc các hoạt động không mang tính chất kinh doanh vì lợi nhuận hoặc thuộc các hoạt động đợc u đãi vì mục tiêu nhân đạo, xã hội: Vũ khí khí tài phục vụ an ninh, quốc phòng, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm học sinh
Một số hàng hoá dịc vụ thiết yếu phục vụ nhu cầu đời sống sản xuất cộng
đồng: dịch vụ y tế, văn hoá, giáo dục, thông tin đại chúng, vận chuyển khách công cộng bằng xe buýt
Trang 7Tổ chức, cá nhân mua bán, nhập khẩu hàng hoá, cung ứng dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT không đợc khấu trừ và hoàn thuế GTGT đầu vào của các hàng hoá và dịch vụ này.
Còn đối tợng nộp thuế: Là tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ chịu VAT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề hình thức tổ chức kinh doanh, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hoá chịu VAT
* Căn cứ tính
Luật thuế VAT áp dụng ở Việt Nam phân biệt 4 mức thuế suất khác nhau: 0%, 5%, 10% và 20% áp dụng đối với từng nhóm mặt hàng sản xuất hoặc nhập khẩu Việc quy định các mức thuế suất khác nhau thể hiện chính sách điều tiết thu nhập và hớng dẫn tiêu dùng đối với hàng hoá dịch vụ trong điều kiện hiện nay ở nớc ta, mặt bằng kinh doanh của các ngành nghề cha đồng nhất, nên phân biệt mức thuế suất VAT khác nhau đối với từng nhóm mặt hàng là sự cần thiết
Hàng hoá nhập khẩu bao gồm tất cả hàng gia công xuất khẩu (xuất khẩu
ra nớc ngoài hoặc khu chế xuất) đợc áp dụng mức thuế suất 0% nhằm thực hiện hoàn thuế đã thu ở khâu trớc và khuyến khích xuất khẩu
Những hàng hoá dịch vụ thiết yếu, phục vụ trực tiếp cho sản xuất và tiêu dùng đợc áp dụng mức thuế suất thấp là 5%
Các hàng hoá dịch vụ không thiết yếu, cần thiết có mức thuế suất cao là 20%
Các hàng hoá Dịch vụ thông thờng áp dụng mức thuế suất là 10% căn cứ tính:
Nếu cơ sở sản xuất kinh doanh nhiều loại hàng hoá, dịch vụ chịu các mức thuế suất khác nhau thì phải tổ chức hạch toán riêng doanh thu từng loại hàng hoá, Dịch vụ kinh doanh theo từng mức thuế suất quy định đối với từng loại hàng hoá riêng biệt Nếu không hạch toán nh vậy thì doanh nghiệp phải tính thuế GTGT theo mức thuế suất cao nhất của hàng hoá, dịch vụ mà cơ sở sản xuất kinh doanh trên tổng doanh thu của tất cả các loại hàng hoá dịch vụ bán ra trong kỳ
1.2.3 Phơng pháp tính thuế
Trang 8Phơng pháp khấu trừ thuế.
* Điều kiện ta xét về đối tợng áp dụng
Các đơn vị, tổ chức kinh doanh chấp hành tốt công tác hạch toán và chế độ
sử dụng hoá đơn chứng từ bao gồm các doanh nghiệp nhà nớc, doanh nghiệp đầu
t nớc ngoài và các tổ chức sản xuất kinh doanh khác Trừ các đối tợng áp dụng tính thuế theo phơng pháp tính trực tiếp trên GTGT
* VAT phải nộp đợc xác định nh sau:
Thuế GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra - Thuế GTGT đầu vào
Theo phơng pháp này ngời ta tính thuế trên toàn bộ giá trị hoá đơn bán ra sau đó trừ đi số thuế đã có trên các hoá đơn hàng hoá, Dịch vụ mua vào để xác
định số thuế phải nộp trong kỳ hạch toán
Trớc hết cần xác định thuế GTGT đầu ra theo công thức sau đây:
Thuế GTGT
đầu ra
Giá tính thuế của
= hàng hoá, dịch
vụ chịu thuế bán ra
Thuế suất thuế GTGT
x của hàng hoá dịch
vụ đó
* Phơng pháp khấu trừ thuế:
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tợng tính thuế theo phơng pháp khấu trừ khi bán ra hàng hoá, dịch vụ phải tính thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra Khi lập hoá đơn bán hàng hoá Dịch vụ, cơ sở kinh doanh phải ghi rõ hàng hoá bán ra cha có thuế, thuế GTGT và tổng số tiền ngời mua phải thanh toán Riêng đối với hàng hoá Dịch vụ đặc thù đợc dùng loại chứng từ ghi giá thanh toán là giá đã có thuế, thì giá cha có thuế và thuế GTGT đầu ra đợc xác định:
Thuế GTGT =
Giá thanh toán
x Thuế suất thuế GTGT
Trang 91 + % thuế suất
Thuế GTGT đầu vào bằng tổng số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, Dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hoá nhập khẩu
* Phơng pháp khấu trừ thuế có u điểm là?
- Đơn giản hoá đợc quá trình tính và thu thuế bằng cách chỉ cần tập hợp các hoá đơn bán và mua hàng đã tính sẵn số thuế đầu ra và số thuế đầu vào trên
- Cá nhân sản xuất, kinh doanh là ngời Việt Nam
- Tổ chức, cá nhân nớc ngoài kinh doanh ở Việt Nam không theo luật đầu
t nớc ngoài tại Việt Nam cha thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn, chứng từ làm căn cứ tính thuế theo phơng pháp khấu trừ
- Cơ sở kinh doanh mua bán vàng bạc, đá quý ngoại tệ
* Xác định thuế GTGT phải nộp:
Thuế GTGT
Phải nộp
GTGT của
= hàng hoá, dịch x
vụ chịu thuế bán ra
Thuế suất thuế GTGT
của hàng hoá dịch
vụ đóThuế
GTGT
hàng hoá, dịch vụ
chịu thuế
Giá thanh toán
= của hàng hoá, -
dịch vụ bán ra
Giá thanh toán của hàng
hoá dịch vụ mua vào tơng ứng
Trang 10- Giá thanh toán của hàng hoá, Dịch vụ bán ra là giá bán thực tế bên phải mua thanh toán cho bên bán bao gồm cả VAT và các khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên mua phải trả.
- Giá thị trờng của hàng hoá Dịch vụ mua vào tơng ứng với hàng hoá Dịch vụ bán ra đợc xác định bằng giá trị hàng hoá dịch vụ mua vào (cả VAT)
mà cơ sở sản xuất, kinh doanh đã dùng vào sản xuất kinh doanh
Trờng hợp cơ sở kinh doanh không hạch toán doanh số hàng hoá, vật t dịch vụ mua vào tơng ứng với doanh số bán ra đợc xác định nh sau:
Giá thanh toán của
đầu kỳ
Giá trị hàng
+ mua vào -
trong kỳ
Giá trị hàng
tồn kho
cuối kỳ
Ngoài ra GTGT còn đợc xác định đối với một số ngành nghề cụ thể Tuy vào kinh doanh của mỗi ngành có tính chất đặc thù khác nhau thì VAT đợc xác
1.2.4 Vai trò của VAT
Trong quá trình thực hiện thuế GTGT đã thể hiện đợc một số vai trò nổi bật sau:
Thứ nhất: VAT góp phần thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển, mở rộng lu thông hàng hoá dịch vụ vì thế VAT đã khắc phục đợc tình trạng trùng lắp của thuế doanh thu
Trang 11Thứ hai: Bảo đảm nguồn thu quan trọng và ổn định cho NSNN, VAT huy
động và xác định ngay từ khâu đầu và việc thu VAT ở khâu sau còn kiểm tra việc tính VAT đã nộp ở khâu trớc nên hạn chế đợc việc thất thu thuế, kiểm soát đợc nguồn thu trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế
Thứ ba: Thuế GTGT góp phần tăng cờng công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán hàng hoá phải có đầy đủ chứng từ hoá đơn hợp lệ theo luật định Việc đăng ký mã thuế cùng với phơng pháp khấu trừ thuế đã buộc cả ngời mua, ngời bán thực hiện tốt hơn chế độ hoá đơn, chứng từ trong các hoạt
động thanh toán
Kể từ khi luật thuế GTGT chính thức đợc thực thi, Chính phủ và Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản pháp quy để hớng dẫn sửa đổi bổ sung Thuế GTGT đã và đang từng bớc đợc hoàn thiện, khắc phục những tồn tại vốn có trong thời kỳ chuyển đổi và ngày một phát huy vai trò của thuế GTGT trong nền kinh
tế thị trờng đầy biến động, đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn của một sắc thuế trong điều kiện kinh tế thị trờng
Trang 12Chương 2: ĐÁNH GIÁ VÀ PHÂN TÍCH TèNH HèNH THỰC HIỆN THUẾ GTGT GIAI ĐOẠN 2005-2013
2.1 Đỏnh giỏ về thuế giỏ trị gia tăng ở Việt Nam giai đoạn 2005-2013Thực hiện chơng trình cải cách thuế bớc II, Quốc hội đã thông qua hai luật thuế mới: Luật thuế Giá trị gia tăng (thuế gián thu), Luật thuế thu nhập (thuế trực thu) và sửa đổi bổ xung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt: Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Đồng thời sửa đổi, bổ xung các luật thuế có liên quan nh: Luật Nhân sách, Luật khuyến khích đầu t trong nớc để thực hiện đồng bộ các luật thuế mới Với nhận thức rằng việc triển khai thực hiện các Luật thuế mới đợc thi hành
từ 01/01/1999, có tác động nhiều mặt đến tình hình kinh tế xã hội, nên thời gian
đầu không tránh khỏi những khó khăn và lại càng khó khăn hơn khi kinh tế nớ Bảo đảm công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh trong nền kinh tế, giúp các doanh nghiệp ổn định đợc hoạt động sản xuất, kinh doanh, tăng cờng hạch toán kinh tế, nâng cao năng lực quản lý, nâng cao khả năng cạnh tranh trong nớc, trên thị trờng quốc tế
Nước ta đang bị ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực, thiên tai lại liên tiếp sảy ra
Ba yêu cầu phải đạt đợc khi thực hiện triển khai các luật thuế mới:
Bảo đảm không ảnh hởng lơn đến kế hoạch thu của Ngân sách Trung ơng trong những năm đầu thực hiẹen Tạo điều kiện để Ngân sách địa phơng ổn định nguồn thu, nâng dần tỷ lệ các địa phơng cân đối Ngân sách và có đóng góp cho Ngân sách Trung ơng
Bảo đảm ổn định thị trờng trong nớc, tránh gây ra những biến động mạnh
về giá cả, đặc biệt là giá vật t, hàng hoá quan trọng dùng cho sản xuất và tiêu dùng thiết yếu để ổn định sản xuất và không ảnh hởng đến đời sống nhân dân
Nghị quyết số 18/1998/QH10 ngày 25/11/1988: "Chính phủ cần tập chung chỉ đạo thực hiện các luật thuế mới, nhất là luật thuế GTGT Để chủ động giải quyết kịp thời những khó khăn cho các doanh nghiệp khi thực hiện Luật thuế GTGT nhằm ổn đinhj và phát triển sản xuất, kinh doanh Quốc hội cho phép Chính phủ trong thời gian đầu thực hiện đợc áp dụng quy định tại Điều 28 Luật
Trang 13thuế GTGT để giảm thuế đối với hoạt động thơng mại, dịch vụ du lịch, ăn uống,
và không khống chế mức giảm tối đa 50% số thuế GTGT phải nộp Sau một thời gian thực hiện, Chính phủ trình UBTVQH sửa đổi bổ sung các mức thuế suấttheo qui định tại Điều 8 của Luật thuế GTGT và báo cáo Quốc hội trong kỳ họp gần nhất
Điều kiện cần thiết để áp dung thuế GTGT ở Việt Nam
Những điều kiện cần thiết cho việc áp dụng thuế GTGT:
Một là, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, mua bán hàng hoá lớn
và vừa phải thựchiện đầy đủ chế độ hoá đơn chứng từnthuận tiện cho việc kiểm tra, xác định doanh thu tính thuế và khấu trù thuế đối với từng cơ sở kinh doanh
Hai là, trình độ cán bộ quản lý, tính thuế đợc nâng cao về chế độ hoá đơn chứng từ, sổ kế toán, thông thạo về chế độ quản lý, tính thuế, khấu trừ thuế hoàn thuế GTGT Các cơ quan thuế từng bớc đợc trang bị hệ thống máy tính, cán bộ cơ quan thuế ngày càng thông thạo sử dụng các mạng máy tính, đạt hiệu quản cao làm cho công tác thu nộp thuế ngày càng đợc kiểm tra chặt chẽ hơn, nhanh gọn hơn
Ba là, mở rộng diện thanh toán mua bán hàng hoá thông qua các tài khoản ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác định doanh thu án hàng làm căn cứ cho việc tính thuế đợc xác định
Bốn là, ý thức tự nguyện, tự giác chấp hành các luật thuế của các doanh nghiệp từng bớc đợc nâng cao theo phơng châm tăng cờng "đức trị" gắn với việc xử lý các vi phạm về thuế nghiêm minh theo phơng châm "pháp trị"
Năm là, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn chỉnh và đa dần việc thực hiện pháp luật vào nề nếp, kỷ cơng, cả trong nhận thức t tởng và hoạt động thực tế
Ngoài ra còn có các điều kiện khác vừa nhằm giúp cho cho việc áp dụng luật thuế GTGT đạt hiệu quả cao Mỗi điều kiện đều có vai trò, vị trí quan trọng khác nhau, đồng thời có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau để việc triển khai luật thuế GTGT đợc đồng bộ
2.1.1 Thành tựu
Trang 14Đối với nền kinh tế quốc dân
Thuế GTGT thu trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ ở các khâu sản xuất, lưu thông nên khắc phục được nhược điểm cơ bản của luật thues doanh thu là trùng lặp qua các khâu sản xuất, kinh doanh, tạo sự công bằng hơn về thuế, từ đó góp phần thực hiện hợp tác và chuyên môn hóa trong sản xuất kinh doanh, khuyến khích phát triển và mở rộng sản xuất, lưu thông hàng hóa Điều này đã góp phần tích cực vào việc lấy lại đà tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao
Đối với việc hoàn thiện chính sách thuế
Thuế GTGT là một sắc thuế tiến bộ và việc nghiên cứu, xây dựng và triển khai luật thuế này đã góp phần hoàn thiện hệ thồng chính sách thues ở Việt Nam
Để đạt được hiệu quả cao nhất từ luật thuế này thì chính phủ, Quốc hội đồng thời phải xây dựn đồng bộ các luật thuế có liên quan, điều này đánh dấu bước tiến mới trong hệ thống chính sách thuế ở Việt Na, sự đổi mới đó phù hợp với các yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, đồng thời cũng phù hợp với thông lệ quốc tế
Khi các nước trong khu vực và thế giới hầu hết đều đã hoặc đang nghiên cứu áp dụng thuế GTGT thì chúng ta cũng không thể giữ mãi luật thuế doanh thu chồng chéo, nhiều mức thuế suất Bởi vậy, thay đổi cũng là một yếu tố tất niên
Khi sắc thuế GTGT đi vào cuộc sống đã luôn được các cơ quan chức năng quan tâm theo dõi, điều chỉnh những thiếu sót bất hợp lý một cách kịp thời.Thuế GTGT là một sắc thuế hiện đại, khi áp dụng nó đòi hỏi phải có cơ chế quản lý thuế hiện đại, do đó sẽ thúc đẩy quá trình cải cách hệ thống thuế
ở nước ta theo hướng tiến bộ có hiệu quả
Đối với một số lĩnh vực khác
Thứ nhất: thực hiện thuế GTGT với 3 mức thuế suất 0%, 5%, 10% ít hơn so với 11 mức thuế suất thuế doanh thu trước đây ( từ 0.5% đến 30% )
Trang 15đòi hỏi các doanh nghiệp phải tổ chức lại sản xuất kinh doanh, thực hiện hạch toán kinh doanh, tính toán giá thành, giá bán phù hợp với thị trường và nộp được thuế nâng cao hiệu quả kinh doanh
Hầu hết các doanh nghiệp thuộc các ngành như cơ khí, xây dựng, vận tải, dệt may, da giầy trước khi áp dụng thuế thì đa số các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quae hơn trước và nộp đủ thuế theo quy định
Thứ 2: Thực hiện luật thuế mới ngành thuế đã thực hiện một bước củng cố tổ chức, hoàn thiện và đổi mới quy trình Trong thời gian qua, ngành thuế đã xây dựng và ngày một hoàn thiện hệ thống nghiệp vụ quản lý thuế tương đối đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tăng dần tính công khai minh bạch Kienj toàn bộ máy tổ chức ngành thuế dọc từ trung ương đến tỉnh, huyện, thực hiện song trùng lãnh đạo giữa ngành và địa phương Tổ chức bộ máy theo mô hình kết hợp giữa quản lý theo chức năng, theo đối tượng và theo sắc thuế Đào tạo được đội ngũ gần bốn vạn cán bộ thuế có trình độ nghiệp vụ khá, có phẩm chất đạo đức tốt
Thứ 3: Góp phần thực hiện thành công các cam kết trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tê
Hầu hết các nước trên thế giới đã áp dụng thuế GTGT Việc ban hành luật thuế tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh và hoạt động thương mại của các doanh nghiệp trong nước và doanh ghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Theo cam kết khi hội nhập kinh tế quốc tế nước ta phải cắt giảm thuế nhập khẩu, đồng thời phải bãi bỏ các khoản trợ cấp trực tiếp từ ngân sách cho doanh nghiệp, việc thu thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu, hoàn thuế cho hàng hóa xuất khẩu đã góp phần điều chỉnh cơ chế kinh tế phù hợp với thông lệ quốc tế nhưng vẫn phải đản bảo yêu cầu khuyến khích doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, bảo hộ hợp
lý sản xuất trong nước và bù đắp cho Ngân sách phần thiếu hụt do cắt giảm thuế nhập khẩu
2.1.2 Hạn chế
Trang 16Gian lận, thất thu thuế còn nhiều
Thất thu thuế là hiện tượng trong đó những khoản tiền từ các cá nhân
tổ chức có tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh hay có những điều kiện cơ sở vật chất nhất định so với khả năng của họ cần phải đóng góp vào ngân sách nhà nước, song vì lý do xuất phát từ phía nhà nước hay người nộp thuế mà nhữn khoản tiền đó không được nộp vào ngân sách nhà nước
Thất thu thuế la một hiện tượng thực tế khách quan vốn có của bất kỳ
hệ thống thuế khóa nào Nó phản ánh hai mặt của một vấn đề: Lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người nộp thuế Trên thực tế thì hai lợi ích này thường mâu thuẫn với nha, Nhà nước luôn có khuynh hướng tăng nguồn thu
từ thuế, trong khi đó người nộp thuế luôn mong muốn càng giảm thuế phải nộp càng nhiều thì càng tốt Hay nói cách khác, ở đâu có thuế khóa thù ở đó
có thất thu
Ở nước ta, hiện tượng gian lận trong khấu trừ, hoàn thuế giái trị gia tăng càng lâm vào tình cảnh rất đáng lo ngại Giân lận thuế không chỉ gây thiệt hại về nguồn thu cho ngân sách Nhà nước mà còn có những tác động xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh và sự tăng trưởng của nền kinh tế
Mặc dù ngành thuế ngày càng có nhiều nỗ lực, nhưng các biện pháp chống thất thu thuế xem ra chưa hữu hiệu, dường như người ta mới tận thu được với các đơn vị và công dân gương mẫu trong nghĩa vụ thuế, còn những người cố tình trốn thuế thì không bị chế tài
Rất nhiều doanh nghiệp, khách sạn, cửa hàng … không làm hóa đơn cho khách hàng, còn khách hàng thì rất nhiều người cũng không có nhu cầu lấy hóa đơn ( trừ các doanh nghiệp cần lấy hóa đơn để khấu trừ thuế GTGT ) Phần lớn khoản thu không nhỏ đó Nhà nước không được thuế, cả thuế GTGT và thuế doanh nghiệp Tình trạng đó không những gây tổn hại cho lợi ích đất nước mà còn tạo ra sự bất bình đẳng về nghĩa vụ thuế của công dân, vô hình trung tạo thêm sự cạch tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp
Phối hợp các ngành còn lỏng lẻo