1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thị trường các yếu tố sản xuất

25 614 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 468,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thị trường các yếu tố sản xuất

Trang 1

`Mục Lục

`Mục Lục 1

A.THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG 2

1.Cầu lao động 2

2.Cung lao động: 4

B.THỊ TRƯỜNG VỐN 6

1.Thị trường dịch vụ vốn hiện vật 6

2.Thị trường vốn hiện vật 13

3.Điều chỉnh khi có rủi ro Mô hình định giá tài sản 18

4.Lãi suất 19

C.THỊ TRƯỜNG ĐẤT ĐAI 22

1.Đặc điểm của thị trường đất đai: 22

2.Cung về đất đai cho thuê: 22

3.Cầu về thuê đất đai: 22

4.Tiền thuê đất do cung cầu xác định: 23

5.Giá cả đất đai 24

Trang 2

A.THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

 Nguyên tắc thuê yếu tố sản xuất:

- Chi phí cận biên của một yếu tố sản xuất (MC)

- Sản phẩm biên của một yếu tố sản xuất (MP): mức sản phẩm tăng thêm khi thuê thêm một đơn vị đầu vào yếu tố sản xuất

- Doanh thu biên (MR): là mức doanh thu tăng thêm do bán được thêm một đơn vị sản phẩm

- Doanh thu sản phẩm biên của một yếu tố sản xuất (MRP=MR.MP): là phần doanh thu tăng thêm do sử dụng thêm một đơn vị đầu vào

NGUYÊN TẮC THUÊ LÀ: MRP=MC

1 Cầu lao động

- Là số lượng lao động mà doanh nghiệp muốn thuê và có khả năng thuê tại các mức tiền công khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định Cầu đối với lao động là cầu thứ phát, nó phụ thuộc vào cầu đối với hàng hoá và dịch vụ trên thị trường hàng hoá Cầu đối với lao động phụ thuộc vào giá cả lao động W

- Nguyên tắc thuê lao động nhằm tối đa hoá lợi nhuận:

 Nếu MRP > W: thuê thêm lao động

 Nếu MRP = W: số lượng lao động đạt tối đa hoá lợi nhuận

 Nếu MRP < W: không nên thuê thêm lao động

- Đường cầu lao động: chính là đường doanh thu sản phẩm biên của lao động MRPL, là đường dốc xuống và có độ dốc âm

Trang 3

- Với vốn biến đổi: Khi tiền công giảm, doanh nghiệp sẽ thuê thêm lao động ( lượng lao động từ AB) Đồng thời doanh nghiệp cũng sẽ tăng thêm máy móc, lúc này MRPsẽ tăng lên (MRPL1  MRPL2) Lượng lao động lúc này sẽ là C Và đường cầu lúc này là DL A và C nằm trên đường cầu DL.

- Các nhân tố tác động đến việc thuê lao động:

Trang 4

 Khi mức tiền công thay đổi thì lượng lao động được thuê sẽ thay đổi ngược chiều với nó.

 Ảnh hưởng của sự thay đổi về năng suất: Năng suất tăng lên thì đường MRP sẽ dịch chuyển sang phải, số lượng lao động được thuê cũng sẽ tăng lên và ngược lại

2 Cung lao động:

- Là khả năng cung ứng sức lao động của người lao động, là số lượng người đang tìm kiếm việc làm

- Các nhân tố ảnh hưởng đến cung lao động:

 Sự thoả mãn nhu cầu của con người

 Các áp lực về kinh tế

 Phạm vi thời gian

• Đường cung lao động:

Trang 5

• Đường cung lao động uốn ngược Phần uốn ngược của đường cung lao động xuất

hiện khi hiệu ứng thu nhập do tiền lương tăng lên lớn hơn hiệu ứng thay thế Giả

sử mức tiền công là W($/h), lúc này W cũng là mức trả cho sự nghỉ ngơi của lao động Khi tiền công tăng lên:

 Hiệu ứng thay thế:Tiền công tăng thì giá của sự nghỉ ngơi cũng tăng, vì thế khuyến khích người lao động làm việc thay cho nghỉ ngơi

 Hiệu ứng thu nhập: Khi mức tiền công tăng sẽ tăng sức mua của người lao động, nghĩa là lợi ích nghỉ ngơi sẽ tăng lên Do đó khuyến khích người lao động làm ít giờ hơn Khi hiệu ứng thu nhập vượt quá hiệu ứng thay thế thì kết quả sẽ là đường cong uốn ngược

Trang 6

B.THỊ TRƯỜNG VỐN

Khi nói đến vốn với tư cách là một yếu tố đầu vào thực sự của quá trình sản xuất, chúng ta ngầm giả định rằng, đó là nói đến vốn hiện vật chứ không phải là vốn tài chính

Vốn hiện vật được hiểu là các dự trữ hàng hóa, vốn dĩ được tạo ra trong một quá

trình sản xuất trước song lại được sử dụng để sản xuất ra các hàng hóa hay dịch vụ khác.Nhà xưởng, máy móc, thiết bị, các công cụ sản xuất… là những hình thức biểu hiện khác nhau của vốn hiện vật Chúng là những thứ do con người tạo ra song lại không được sử dụng như những vật phẩm tiêu dùng nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng trực tiếp của con người Chúng được sử dụng trong quá trình sản xuất như một yếu tố đầu vào bên cạnh các đầu vào khác như lao động, đất đai… Cùng với đất đai,vốn hiện vật là những tài sản hữu hình quan trọng của các doanh nghiệp và của nền kinh tế Chúng là tài sản vì chúng có thể tồn tại và sử dụng lâu bền, có thể bảo lưu và giữ gìn giá trị trong một thời gian dài Chúng mang tính chất hữu hình bởi vì chúng là những yếu tố đầu vào thực sự, tồn tại dưới dạng hiện vật mà người ta có thể sờ mó, cảm nhận được

Vốn tài chính ( tiền, cổ phiếu, trái phiếu, ) là những thứ không thể sử dụng để trực

tiếp tạo ra các hàng hóa hay dịch vụ khác được, mặc dù người ta có thể dùng chúng để mua hay chuyển đổi thành những yếu tố sản xuất thực sự

1 Thị trường dịch vụ vốn hiện vật

- Dịch vụ vốn hiện vật chính là dòng lợi ích mà người ta có thể khai thác được ở hàng hóa vốn (máy móc, thiết bị, nhà xưởng…) trong một khoảng thời gian nào

đó

Ví dụ: Khi chúng ta muốn sử dụng dịch vụ của chiếc máy cày trong 8 giờ đồng hồ

để cày ruộng, chúng ta không phải mua cả chiếc máy cày đó mà chỉ cần thuê nó trong khoảng thời gian cần thiết trên Thuê chiếc máy cày có nghĩa là ta đã tham gia vào thị trường dịch vụ vốn

- Thị trường dịch vụ vốn chính là thị trường thuê và cho thuê tài sản vốn Cái mà người ta mua, bán ở đây không phải là chính bản thân tài sản vốn mà chỉ dịch vụ vốn Đơn vị tính ở đây bao giờ cũng gắn với yếu tố thời gian Ví dụ: chúng ta

Trang 7

không thể nói thuê 10 chiếc máy cày chung chung mà là thuê 10 chiếc mày cày trong 8 giờ Lượng dịch vụ máy mà chúng ta thuê ở đây là 80 giờ máy Giá cả ở đây không phải là tiền thuê một đơn vị dịch vụ vốn.

Cầu về dịch vụ vốn của doanh nghiệp

- Cầu về dịch vụ vốn của một doanh nghiệp do doanh thu sản phẩm biên của vốn quyết định Đường cầu về dịch vụ vốn thực chất là phần dốc xuống của đường

doanh thu sản phẩm biên của vốn (MRP K) Có thể đưa ra một số kết luận chính sau:

1) Đường cầu dịch vụ vốn là một đường dốc xuống chủ yếu phản ánh tính chất giảm dần của doanh thu sản phẩm biên khi lượng vốn sử dụng tăng lên

2) Sự dịch chuyển của đường cầu dịch vụ vốn của doanh nghiệp bị quy định bởi các yếu tố sau:

a Số lượng các yếu tố đầu vào khác phối hợp với vốn Nếu số lượng này

tăng lên, sản phẩm biên của vốn sẽ tăng, cầu về dịch vụ vốn cũng sẽ tăng Trong trường hợp này, đường cầu về dịch vụ vốn sẽ dịch chuyển sang phải (và lên trên) Ngược lại, nếu số lượng các yếu tố sản xuất khác không phải là vốn giảm, cầu về dịch vụ vốn cũng giảm, đường cầu về dịch vụ vốn sẽ dịch sang trái (và xuống dưới)

b Công nghệ sản xuất Nếu doanh nghiệp có điều kiện áp dụng một cách

thức hay một công nghệ sản xuất tiên tiến hơn, có năng suất cao hơn, sản phẩm biên của mỗi đơn vị vốn cũng tăng lên Trong trường hợp này, đường cầu về dịch

vụ vốn của doanh nghiệp sẽ dịch chuyển sang phải Sự thụt lùi về công nghệ, ngược lại, sẽ làm giảm nhu cầu về dịch vụ vốn của doanh nghiệp mặc dù trường hợp này hiếm xảy ra

c Giá cả hay doanh thu biên của sản phẩm đầu ra Nếu những yếu tố này

tăng, doanh thu sản phẩm biên ở từng đơn vị vốn đều tăng, do đó, cầu về dịch vụ vốn của doanh nghiệp cũng tăng Trong trường hợp ngược lại, khi thị trường đầu

ra suy thoái, giá cả hay doanh thu biên đầu ra giảm, cầu về dịch vụ vốn sẽ giảm

Trang 8

Cầu thị trường về dịch vụ vốn

- Cầu thị trường về một loại dịch vụ vốn phản ánh tổng hợp quan hệ giữa tổng số đơn vị dịch vụ vốn mà các doanh nghiệp tham gia trên thị trường sẵn sàng mua tương ứng với các mức giá (tiền thuê vốn) Đường cầu chung về một loại dịch vốn trên thị trường là đường tổng hợp theo chiều ngang các đường cầu của các ngành riêng biệt về cùng một loại dịch vụ này Còn đường cầu về một loại dịch vụ vốn của một ngành thì lại được xây dựng trên cơ sở tổng hợp theo chiều ngang các đường cầu tương ứng của các doanh nghiệp trong ngành

- Cung ứng về dịch vụ vốn xuất phát từ những người sở hữu tài sản vốn Chính những người sở hữu những chiếc xe tải, máy ủi đất… là những người cho thuê những yếu tố sản xuất này

- Trong nền kinh tế, lượng cung ứng dịch vụ vốn của một người chủ sở hữu vốn hay của cả thị trường phụ thuộc vào tổng số dự trữ tài sản vốn Trong một thời gian quá ngắn, dự trữ một loại tài sản vốn trong cả nền kinh tế gần như cố định Ví dụ:

Để xây dựng thêm một nhà máy, lắp ráp thêm một dây chuyền sản xuất người ta cần có thời gian Lượng nhà máy hay dây chuyền sản xuất sẵn có trong nền kinh tế được coi là cố định trong một thời điểm nào đó Trên cơ sở này, người ta giả định lượng cung về một loại dịch vụ vốn trong ngắn hạn của cả nền kinh tế là cố định – đường cung tương ứng là một đường thẳng đứng Ngay cả trong ngắn hạn, dù tổng lượng tài sản vốn là cố định, tổng lượng cung dịch vụ vốn vẫn có thể thay đổi theo mức tiền thuê Vấn đề là người ta có thể sử dụng tài sản vốn cho cả những mục đích phi sản xuất hay cho những nhu cầu dự trữ cá nhân Nếu tiền thuê quá thấp,

Trang 9

lượng dịch vụ vốn được tung ra cung ứng thường không phải là lượng tối đa có thể cung ứng từ quỹ tài sản vốn hiện có Tuy nhiên, khi tiền thuê vốn tăng lên, người

ta có thể cho thuê vốn với tổng số giờ thuê cao hơn bằng cách hy sinh số giờ dịch

vụ vốn được giữ lại làm dự trữ cho nhu cầu cá nhân

- Quyết định mua sắm tài sản vốn để cho thuê của những người sở hữu vốn là một quyết định đầu tư có tính chất dài hạn Vì vậy ở đây chúng ta sẽ tập trung vào phân tích khía cạnh dài hạn của quyết định cung ứng dịch vụ vốn Xét về ngắn hạn, sự cung ứng dịch vụ vốn phụ thuộc nhiều vào lượng tài sản vốn đã mua sắm,

do đó thực chất bị chi phối bởi các quyết định dài hạn

- Trong điều kiện thị trường dịch vụ vốn mang tính cạnh tranh, về dài hạn điểm cân bằng thị trường sẽ bảo đảm cho những người cung ứng có lợi nhuận kinh tế bằng không Nếu lợi nhuận của những người cung ứng còn cao hơn mức này, sự nhập ngành của những người cung ứng mới sẽ làm nguồn cung dịch vụ vốn tăng lên, giá thuê vốn hạ xuống và lợi nhuận của những người cho thuê vốn giảm Ngược lại, trong trường hợp lợi nhuận kinh tế của những người cho thuê vốn hiện hành là âm, thì sự rút lui khỏi ngành của một số người cung ứng sẽ là cơ chế để đẩy lợi nhuận của những người cung ứng dịch vụ vốn còn lại lên Vì vậy, giá thuê vốn trong dài hạn chính là mức tiền thuê cân bằng dài hạn Nó đảm bảo cho những người sở hữu vốn có lợi nhuận kinh tế bằng không

- Giá thuê vốn là mức tiền thuê vốn đảm bảo cho người sở hữu vốn bù đắp được tất

cả các chi phí cơ hội cần thiết phát sinh từ việc cung ứng dịch vụ vốn (cho thuê vốn) và có mức lợi nhuận kinh tế bằng không

- Đối với một người đầu tư mua sắm tài sản vốn, những khoản chi phí cơ hội liên quan đến việc cho thuê một đơn vị vốn thông thường bao gồm:

1) Chi phí cơ hội của khoản tiền đầu tư phải bỏ ra để mua sắm tài sản vốn2) Chi phí bảo dưỡng, khấu hao tài sản vốn;

3) Chi phí giao dịch để tiến hành việc cho thuê

- Trước hết, để có thể tiến hành được việc cho thuê vốn, người kinh doanh dịch vụ vốn phải bỏ tiền ra mua sắm tài sản vốn Chi phí cơ hội của việc sở hữu một đơn

vị tài sản vốn chính là số tiền lãi mà người này phải hy sinh do số tiền được dành

để mua tài sản vốn không thể đem cho vay được nữa Giả sử giá mua một đơn vị

Trang 10

tài sản vốn là 200 triệu đồng, lãi suất thực tế (tức mức lãi suất đã điều chỉnh theo lạm phát) trên thị trường là 5%, thì chi phí cơ hội của việc mua sắm và nắm giữ một đơn vị tài sản vốn trong 1 năm sẽ là: 200 triệu đồng × 0,05 = 10 triệu đồng Vậy giá thuê vốn trong một năm trước hết phải bù đắp được khoản chi phí này.

- Trong thời gian tài sản vốn được đem cho thuê, nó sẽ bị hao mòn hữu hình và vô hình theo thời gian và do việc sử dụng Do đó giá trị của nó bị giảm đi Ti ền thuê vốn cũng phải bù đắp được khoản giá trị mất mát này Nói cách khác, nó phải trang trải được các chi phí bảo dưỡng và khấu hao để duy trì giá trị tài sản vốn như

cũ Ví dụ, nếu trung bình mức độ hao mòn của tài sản vốn sau 1 năm sử dụng là 10%, thì chi phí bảo dưỡng, khấu hao của 1 đơn vị tài sản vốn trong ví dụ ở trên là: 200 triệu đồng × 0,1 = 20 triệu đồng

- Từ các giả định trên, giá thuê vốn của 1 đơn vị vốn trong 1 năm là: (10 + 20) = 30

(triệu đồng).Tổng quát hơn, nếu gọi r là lãi suất thực tế, d là tỷ lệ khấu hao, bảo dưỡng trung bình, P là mức giá mua tài sản, ta có:

Giá thuê vốn thuần túy cần có = P (r + d)

Đẳng thức này cho thấy giá thuê vốn cần có phụ thuộc vào 3 yếu tố: mức giá tài sản vốn, lãi suất, tỷ lệ khấu hao Đây là cơ sở để chúng ta hiểu đường cung dịch vụ vốn trong dài hạn

- Đường cung dịch vụ vốn thể hiện quan hệ giữa lượng dịch vụ vốn sẵn sàng được những người sở hữu vốn cung ứng tương ứng với các mức giá thuê khác nhau Trong dài hạn, đường cung dịch vụ vốn phải là một đường dốc lên Trong dài hạn,

để lượng cung dịch vụ vốn trong cả nền kinh tế tăng lên, lượng tài sản vốn được mua sắm làm dự trữ vốn phải tăng lên Tuy nhiên, để khuyến khích những người sản xuất tài sản vốn gia tăng sản lượng cung ứng nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắm tăng lên, giá bán tài sản vốn phải tăng (thật ra, điều này cũng chỉ để cân bằng lại với sự gia tăng trong chi phí biên sản xuất của tài sản vốn khi sản lượng của nó

tăng lên) Từ đẳng thức trên, có thể thấy, khi giá mua tài sản tăng, mức giá thuê

vốn cũng phải tăng lên theo Nói cách khác, chỉ khi giá thuê vốn tăng lên, người ta mới được khuyến khích để có thể gia tăng được lượng cung dịch vụ vốn trong dài hạn Quan hệ thuận chiều giữa hai biến số này chứng tỏ đường cung dịch vụ vốn dài hạn là một đường dốc lên

Trang 11

- Trong ngắn hạn, đường cung dịch vụ vốn thường rất kém co giãn nên có thể tạm coi như một đường thẳng đứng Còn đường cung dài hạn là một đường dốc lên và

co giãn hơn Khi lãi suất hay tỷ lệ hao mòn vốn thay đổi, đường cung dịch vụ vốn

Để đơn giản, giả sử S1 là một đường thẳng đứng biểu thị lượng cung dịch vụ vốn trong ngắn hạn là cố định E là điểm cân bằng thị trường trong ngắn hạn vì nó là giao điểm của đường cầu D1 và đường cung S1 Giả sử đường cung dài hạn của thị trường về loại dịch vụ vốn này là đường SLR Như ta đã biết, đó là một đường dốc lên Giả định E cũng là điểm cân bằng dài hạn Nó cũng là giao điểm giữa đường SLR với đường cầu D1 Tại điểm cân bằng E, mức giá thuê vốn cân bằng là R1.

- Giả định vì một lý do nào đó, nhu cầu về loại dịch vụ vốn này tăng lên Đường cầu

D1 dịch chuyển sang phải thành đường D2 Ngay tức thời, lượng cung dịch vụ vốn

là cố định, không tăng lên được Để thị trường cân bằng trở lại phù hợp với sự gia

Trang 12

tăng của nhu cầu, giá thuê vốn trong ngắn hạn tăng nhanh lên thành R2 Dĩ nhiên,

đó là mức giá quá cao so với giá thuê vốn cần có dài hạn Mức giá cao này sẽ khuyến khích những người kinh doanh cho thuê vốn, trong khoảng thời gian dài hơn, sẽ mua sắm thêm tài sản vốn nhằm mở rộng hoạt động cho thuê Đường cung ngắn hạn sẽ dịch chuyển dần sang phải Tương ứng giá thuê vốn cũng sẽ giảm dần theo đà tăng lên của cung Cho đến khi đường cung ngắn hạn dịch chuyển đến

thành đường S2 và thị trường dịch chuyển đến một điểm cân bằng dài hạn mới F (F là giao điểm của cả D2 với S2 và SLR) thì quá trình gia tăng tài sản vốn mới dừng lại Trong điều kiện đường cầu là D2, giá thuê vốn cân bằng dài hạn tăng lên

từ R1 thành R3, đồng thời lượng dịch vụ vốn được giao dịch cũng tăng Mức giá thuê R3 tuy cao hơn R1 song lại nhỏ hơn R2 nhờ khả năng gia tăng được lượng dịch vụ vốn cho thuê để đáp ứng nhu cầu cao hơn Đến điểm F, thị trường hoàn

thành quá trình điều chỉnh từ ngắn hạn sang dài hạn của mình

- Các yếu tố sản xuất được sử dụng cùng với nhau trong quá trình sản xuất sản phẩm đầu ra Vì thế, một sự thay đổi trên một thị trường yếu tố có thể tác động đến thị trường các yếu tố sản xuất còn lại, đặc biệt là trong dài hạn Chẳng hạn, sự tăng lương trên thị trường lao động không chỉ làm cho lượng cầu giảm đi, do đó lượng lao động được các doanh nghiệp thuê mướn giảm đi Sự kiện này còn có thể tác động đến cả thị trường dịch vụ vốn Một mặt, lương tăng đồng nghĩa với chi phí sử dụng đầu vào lao động trở nên đắt đỏ hơn Vì trong một chừng mực nhất

Ngày đăng: 07/04/2015, 09:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Cân bằng trên thị trường dịch vụ đất. Khi cầu về dịch vụ đất tăng, giá thuê đất - Thị trường các yếu tố sản xuất
Hình 1 Cân bằng trên thị trường dịch vụ đất. Khi cầu về dịch vụ đất tăng, giá thuê đất (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w