1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI TẬP MÔN MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

62 1,5K 13

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 635 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền sở hữu trí tuệ IPR- Intellectual Property Right là thuật ngữ chỉ việc bảo vệ sự sáng tạo của con người và trách nhiệm giải trình đối với sản phẩm thôngqua các cơ chế luật pháp như

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

-***** -BÀI TẬP MÔN MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Đề tài

SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Nhóm Sinh viên thực hiện: Trần Xuân Đặng

Trần Hùng Trường Nguyễn Ngọc Tùng

Lớp K54B

HÀ NỘI 09/2007

Trang 2

MỤC LỤC trang

Lời mở đầu 3

PHẦN I – TỔNG QUAN 4

1.1 Sở hữu trí tuệ là gì ? 4

1.2 Các loại hình SHTT 7

Các loại hình SHTT chủ yếu 7

Các loại hình sở hữu trí tuệ khác 12

1.3 Các Công ước và Hiệp ước Quốc tế về SHTT mà Việt Nam tham gia 13

1.4Thực thi và bảo hộ quyền SHTT ở Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế 17

Bối cảnh quốc tế 17

SHTT ở Việt Nam 19

1.5 Vấn đề bảo hộ và thực thi quyền SHTT ở Việt Nam 22

1.5.1 Sự cần thiết của vấn đề thực thi và bảo hộ quyền SHTT 23

1.5.2 Những thách thức và đòi hỏi đối với hệ thống bảo hộ quyền SHTT của Việt Nam 23 1.6 Thừa nhận và bảo vệ quyền SHTT có ý nghĩa gì? 28

PHẦN II – SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 30 2.1 Thực trạng của tình hình vi phạm bản quyền CNTT 30

Vi phạm bản quyền phần mềm toàn cầu 30

Vi phạm bản quyền phần mềm tại Việt Nam 34

2.2 Những nguyên nhân chính của tình trạng vi phạm quyền SHTT ở Việt Nam 41

2.3 Những hậu quả nghiêm trọng gây ra cho nền kinh tế - xã hội 45

2.4 Mặt “tích cực” của vi phạm SHTT 48

PHẦN III – GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ SHTT TRONG LĨNH VỰC CNTT Ở VIỆT NAM .50 3.1 Đánh giá chung 50

3.2 Giải pháp 50

3.3 Một số thành tựu đã đạt được 56

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN 61

Lời mở đầu

Trong khoản hơn chục năm gần đây, quyền SHTT đã trở thành một vấn đề kinh

tế và pháp lý trọng tâm trong nội bố của nhiều nước, cũng như trong các thương lượng, tranh chấp quốc tế Trên tầm nhìn vĩ mô, những đòi hỏi thắt chặt quyền SHTT trong thực tế thi hành cùng với sự kháng cự lại ý định lạm dụng ý niệm SHTT đã đặt quyền SHTT vào trung tâm của những liên hệ kinh tế song phương và

đa phương, biểu hiện thành hai xu hướng hiện đại, thứ nhất là sự phát triển mang tính khống chế của một nền Kinh tế Tri thức có nhân tố cốt lõi là trí tuệ và thứ hai

là trào lưu toàn cầu hóa

Thế giới mà chúng ta đang sống đang thay đổi ngày càng mạnh mẽ Chỉ nói riêng về kinh tế, cuộc cách mạng đang diễn ra không chỉ là cuộc cách mạng về tốc

độ, cũng không phải là cuộc cách mạng về năng suất mà là cuộc cách mạng về khái niệm - những khái niệm hoàn toàn mới Và CNTT không thể nằm ngoài guồng quay đó, SHTT trong lĩnh vực CNTT đang là một trong các vấn đề quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia, đặc biệt với những nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập, hứa hẹn những thời cơ và thách thức lớn.

Trang 4

PHẦN I – TỔNG QUAN

Trí tuệ là thứ tài sản vô hình của con người, vì cũng tài sản nên trí tuệ cũng cần

được bảo vệ như những tài sản hữu hình khác…

1.1 Sở hữu trí tuệ là gì ?

Các tác phẩm nghệ thuật và văn học; các biểu tượng, hình ảnh, tên, thiết kế dùngtrong thương mại: thông tin và lời nói được dùng lần đầu của những cá nhân sáng

tạo ra chúng được gọi là sở hữu trí tuệ (IP - Intellectual Property).

Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học

thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào Tác phẩm phát sinh là tácphẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm cải biên, chuyển thể

Tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sángtạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả

Quyền tác giả (Copyright) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do

mình sáng tạo ra hoặc sở hữu, bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản:

Trang 5

Quyền nhân thân bao gồm các quyền: đặt tên cho tác phẩm, đứng tên trên

tác phẩm, được nêu tên khi tác phẩm được công bố, sử dụng, công bố tácphẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm

Quyền tài sản gồm các quyền: làm tác phẩm phái sinh, sao chép, phân

phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao, truyền đạt tác phẩm đến côngchúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điên tửhoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác, cho thuê bản gốc hoặc bảnsao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính

Quyền sở hữu trí tuệ (IPR- Intellectual Property Right) là thuật ngữ chỉ việc

bảo vệ sự sáng tạo của con người và trách nhiệm giải trình đối với sản phẩm thôngqua các cơ chế luật pháp như bản quyền, bằng sáng chế, thương hiệu… Nói mộtcách đơn giản, bảo vệ quyền SHTT là hình thức đảm bảo rằng người khác sẽ khôngthể đòi quyền sở hữu các ý tưởng do người khác khởi phát

Quyền SHTT là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồmquyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp vàquyền đối với giống cây trồng

Chủ thể quyền SHTT là chủ sở hữu quyền SHTT hoặc tổ chức, cá nhân được

chủ sở hữu chuyển giao quyền SHTT

Vi phạm bản quyền là sao chép lại tác phẩm của người khác mà không xin

phép, thậm chí công bố công trình đó là của mình sáng tạo ra:

Sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản

ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cảviệc lưu trữ thường xuyên hoặc tạm thời tác phẩm dưới hình thức điện tử

Vi phạm về bản quyền một tác phẩm là sao chép nguyên văn một phần

hay toàn bộ tác phẩm đã có từ trước nhưng không có giấy cho phép của

Trang 6

người hay giới có bản quyền hay không sao chép nguyên văn nhưng toàn

bộ ý tưởng chi tiết cũng như thứ tự trình bày của một tác phẩm bị saochép Dạng vi phạm này khó phát hiện hơn nhưng vẫn có thể cho là mộtdạng vi phạm bản quyền nếu như có bằng chứng là "bản sao" bắt chướctheo nguyên mẫu

Vi phạm bản quyền của một sáng chế là sử dụng lại ý tưởng đã được

công bố là sáng chế và bằng sáng chế nguyên thủy vẫn còn đang trongvòng hiệu lực của luật pháp Cần lưu ý, một bằng sáng chế tại một quốcgia hay địa phương này khó có thể dùng để chứng minh rằng: một ứngdụng dựa trên sáng chế đó tại một quốc gia khác là vi phạm bản quyền,trừ khi bằng sáng chế đó có sự công nhận của quốc tế

Mô phỏng lại, hay viết lại (bằng một ngôn ngữ khác hay cách viết khác)miêu tả của một ý kiến sáng tạo đã được công nhận là một sáng chế còntrong thời hạn định nghĩa bởi chủ quyền cũng là một dạng vi phạm bảnquyền Dạng này tương đối khó phát hiện nhưng những dấu tích về cấutrúc ý tưởng hay phương cách dàn dựng kỹ thuật sẽ có thể là những dấutích chứng minh rằng một sáng chế đã bị đánh cắp hay không Thí dụ:việc sao chép lại các sáng chế trong phần mềm bằng cách dùng ngôn ngữlập trình khác ngôn ngữ của sáng chế nguyên thuỷ vẩn thường bị xem là

vi phạm bản quyền nếu người viết lại đó mô phỏng theo ý tưởng đã đượccấp bằng sáng chế

Nhãn hiệu chứng nhận là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá

nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhậncác đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cáchthức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính kháccủa hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu

Trang 7

Trong rất nhiều các nghành nghề của CNTT thì việc đăng ký nhãn hiệu là vấn đềquan trọng, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất, lắp ráp máy tính.

Những quyền lợi gắn liền với SHTT

Do SHTT cũng có nhiều đặc tính của sở hữu cá nhân và sở hữu tài sản thực sựnên những quyền lợi gắn liền với DHTT cho phép chúng ta có thể mua, bán, cấpphép hay thậm chí là cho không SHTT của chúng ta như tài sản thông thường Luật

về SHTT cho phép chủ sở hữu, người phát minh và tác giả bảo vệ tài sản của mìnhtrước việc sử dụng trái phép

Bản quyền là một thuật ngữ pháp lý mô tả quyền lợi

kinh tế của người sáng tác ra các tác phẩm văn học và

nghệ thuật, trong đó bao gồm quyền tái bản, in ấn và

trình diễn hay trưng bày tác phẩm của mình trước công

chúng

Bản quyền chủ yếu nhằm bảo vệ âm nhạc, phim ảnh, tiểu thuyết, thơ ca, kiếntrúc và các tác phẩm nghệ thuật có giá trị văn hóa khác Các chương trình máy tính

và ghi âm giờ đây cũng được bảo vệ

Bản quyền cũng được bảo vệ lâu hơn nhiều so với một số hình thức sở hữu trítuệ khác (Công ước Berne, công ước quốc tế được ký năm 1886, theo đó các nước tham gia công ước công nhận các tác phẩm được bảo hộ bản quyền của các nước thành viên,

Trang 8

quy định rằng thời gian bảo hộ bản quyền là 50 năm kể từ khi tác giả qua đời Theo Công ước Berne thì các tác phẩm văn học, nghệ thuật và các tác phẩm có giá trị khác được bảo

hộ bản quyền ngay từ khi ra đời Tác giả không cần phải đăng ký chính thức quyền bảo

hộ cho tác phẩm của mình tại những quốc gia là thành viên của Công ước đó.

Tuy nhiên, Công ước Berne cho phép cấp bản quyền có điều kiện, chẳng hạn như trường hợp của Hoa Kỳ chỉ bảo hộ bản quyền đối với những tác phẩm được sáng tác theo những hình thức nhất định).

Nhiều nước cũng có các trung tâm bản quyền quốc gia để quản lý hệ thống bảnquyền (Chẳng hạn như ở Hoa Kỳ, Hiến pháp cho phép Quốc hội ban hành luật để thiết lập hệ thống bản quyền và hệ thống này do Phòng Bản quyền thuộc Thư viện Quốc hội quản lý.

Khả năng nhanh chóng đăng ký quyền bảo hộ bản quyền đã làm cho các ngành công nghiệp giải trí khổng lồ của Hoa Kỳ phát triển mạnh mẽ, đóng góp 6% vào GDP năm 2002 của Hoa Kỳ, tương đương 626,2 tỷ đô-la Mỹ (báo cáo năm 2004 của Stephen Siwek) Báo cáo cũng định nghĩa các ngành công nghiệp được bảo hộ bản quyền “chủ yếu” là ngành báo chí, xuất bản sách, ghi âm, âm nhạc, tạp chí thường kỳ, phim ảnh, chương trình truyền hình và phát thanh, phần mềm máy tính

Chỉ tác giả hay những người được tác giả trao quyền - chẳng hạn như nhà xuấtbản, mới có toàn quyền khiếu nại về bản quyền Tuy nhiên cho dù là ai đang sở hữubản quyền đi chăng nữa thì quyền đó cũng có giới hạn

Ví dụ như ở Hoa Kỳ người ta có thể sao chép lại một phần tác phẩm với mục đích học tập, phê bình, đưa tin hay giảng dạy Những quy định tương tự về “sử dụng hợp lý” cũng có ở những quốc gia khác

Bản quyền không bảo vệ ý tưởng hay quy trình mới; nếu ý tưởng hay quy trìnhđược bảo hộ thì sẽ được bảo hộ trong bằng sáng chế.

Bằng sáng chế (Patent)

Trang 9

Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy định nhằm giảiquyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên Nếu có tínhmới và có khả năng áp dung công nghiệp, có thể đăng ký để được cấp "Bằng độcquyền giải pháp hữu ích" với thời hạn độc quyền là 10 năm, nếu thỏa mãn thêmđiều kiện "có trình độ sáng tạo", có thể đăng ký đế được cấp "Bằng độc quyền sángchế" với thời hạn độc quyền là 20 năm

Người ta có thể nói rằng bằng sáng chế là hợp đồng giữa một bên là toàn thể xãhội và một bên là cá nhân nhà phát minh Theo các điều khoản của hợp đồng này,nhà phát minh được toàn quyền ngăn chặn người khác không được áp dụng, sửdụng và bán một phát minh đã được cấp bằng sáng chế trong một khoảng thời giannhất định - hầu hết các nước quy định là 20 năm - để đổi lại việc nhà phát minhphải công bố chi tiết phát minh của mình cho công chúng

Nếu không có sự bảo hộ của bằng sáng chế thì nhiều sản phẩm đã không baogiờ xuất hiện, đặc biệt là những sản phẩm cần vốn đầu tư lớn nhưng một khi đã bán

ra thị trường thì dễ dàng bị các đối thủ cạnh tranh bắt chước làm theo Nếu không

có bằng sáng chế thì sẽ không thể có sự phát triển công nghệ (ít nhất là kể từ năm

1474 khi nước Cộng hòa Venice lần đầu tiên cấp bằng sáng chế thì việc bảo hộbằng sáng chế đã thúc đẩy sự phát triển và phổ biến những công nghệ mới)

Nếu các nhà sáng chế phải bảo vệ sáng chế của mình bằng cách giữ bí mật vềnhững sáng chế đó thì điều quan trọng hơn là những sáng chế không được công bốnày sẽ bị mai một đi

Tuy nhiên, việc xin cấp bằng sáng chế không hề đơn giản Bằng sáng chế khôngđược cấp cho những ý tưởng mơ hồ mà chỉ được cấp cho những đơn xin cấp bằngđược trình bày một cách cụ thể và cẩn thận Nhằm tránh việc bảo hộ cho nhữngcông nghệ đã được phổ biến hay công nghệ mà đến thợ thủ công bình thường cũng

dễ dàng làm được, những đơn xin cấp bằng sáng chế phải được các chuyên gia xem

Trang 10

xét Do đơn xin cấp bằng sáng chế khác nhau rất nhiều về giá trị của công nghệ màđơn đòi bảo hộ, người xin cấp bằng sáng chế phải nói rõ phạm vi bảo hộ hợp lý.(Phạm vi bảo hộ buộc người nộp đơn xin cấp bằng sáng chế phải rất thận trọngtrong việc đưa ra giới hạn về phát minh của mình và những gì sẽ được bảo hộ khỏi

sự xâm phạm) Việc này thường mất hai năm hoặc lâu hơn và rất tốn kém

Nhiều tập đoàn công nghiệp quốc tế đã xúc tiến việc đăng ký các sáng chế liênquan đến PM của họ tại Việt Nam Trên con đường hội nhập, có thể nói các sángchế mới thực sự là hệ xương sống của ngành công nghiệp PM

Bí mật kinh doanh (Trade secret)

Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ,chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh; mang lại giá trị và lợiích kinh tế lớn trong thực tại hay tương lai

Bí mật kinh doanh sẽ được báo hộ nếu đáp ứng đồng thời 3 điều kiên: khôngphải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được, khi được sử dụng trongkinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế cạnh tranh so vớingười không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó và, được chủ sởhữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không bị bộc lộ

và không dễ tiếp cận được

Ví dụ về bí mật kinh doanh có thể là công thức sản xuất ra các sản phẩm, chẳng hạn như công thức sản xuất Coca-Cola, cơ sở dữ liệu về danh sách khách hàng, bí mật kinh doanh thậm chí gồm cả chiến lược quảng cáo và quy trình phân phối.

Khác với bằng sáng chế, bí mật thương mại về lý thuyết được bảo vệ vô thờihạn và không cần thủ tục đăng ký gì Tuy nhiên, bí mật thương mại thường dễ bị lộ

và việc bảo vệ bí mật thương mại thì phải trả tiền

Trang 11

 Những công ty không thể dựa vào tòa án để bảo vệ những bí mật quan trọngthì phải dựa vào chính mình: phải hạn chế nghiêm ngặt số lượng người có thể tiếpcận các tài liệu, các thông tin cạnh tranh quan trọng; giáo dục các nhân viên chủchốt; giám sát chặt chẽ các ấn phẩm cũng như các buổi thuyết trình về sản phẩm…Cho dù việc giữ bí mật rất tốn kém nhưng các công ty lớn chủ yếu dựa vào việc giữ

bí mật khi không xin được bằng sáng chế, công ty càng lớn thì lại càng cần phápluật bảo vệ bí mật kinh doanh

Thông tin cần thiết cho những hoạt động quan trọng sẽ chỉ được tiết lộ khi bímật thương mại được bảo vệ đầy đủ

Nhãn hiệu (Trademark)

Nhãn hiệu là chỉ số chỉ dẫn thương mại, là dấu hiệu phân biệt để xác định mộtloại hàng hóa hay dịch vụ do các tổ chức, cá nhân cụ thể sản xuất hoặc cung cấp Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: là dấu hiệu nhìnthấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sựkết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc và, có khả năngphản biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ củachủ thể khác Thời hạn bảo hộ độc quyền nhãn hiệu là 10 năm và có thể gia hạntheo nhiều chu kỳ 10 năm tiếp theo

Nhãn hiệu đặc biệt quan trọng khi người sản xuất và tiêu dùng ở cách xa nhau

Trang 12

Một số nhãn hiệu nổi tiếng trên thế giới

Trẻ nhỏ đòi mua búp bê Barbie, đồ chơi lắp ghép Lego và xe ô tô đồ chơi Hot Wheel Một số người lớn mơ ước chiếc xe Ferrari, nhưng đa số đều có thể mua xe hơi hiệu Honda hay Toyota Những khách hàng này cần nhãn hiệu để tìm kiếm hay

né tránh hàng hóa và dịch vụ của các công ty khác

Ở hầu hết các nước trên thế giới, nhãn hiệu cần phải được đăng ký thì mới cóthể bảo hộ được và việc đăng ký cần phải được gia hạn Thế nhưng trong khi bảnquyền và bằng sáng chế tự hết hạn thì tên của công ty phục vụ khách hàng tốt sẽngày càng trở nên có giá Nếu giả sử nhãn hiệu cũng bị hết hạn thì khách hàng cũng

bị thiệt hại chẳng kém gì người sở hữu nhãn hiệu (Chúng ta thử tưởng tượng sẽ hỗn

loạn như thế nào khi các công ty vô danh lại bán sản phẩm của mình với nhãn hiệu của công ty khác Và chúng ta hãy thử xem xét trường hợp chất lượng đáng ngờ của tân dược giả và những điều tệ hại, thậm chí là tử vong, có thể xảy ra khi người

sử dụng không hề nghi ngờ gì về chất lượng của thuốc).

Trang 13

Việc bảo hộ nhãn hiệu cũng được sử dụng rộng rãi trong các môn thể thao vàước tính chiếm tới 2,5% giá trị thương mại toàn cầu

Chẳng hạn như hầu hết nguồn tài trợ cho các kỳ Thế vận hội Olympic không phải là từ các chương trình truyền hình có bản quyền mà là từ việc mua bán các quyền bảo hộ nhãn hiệu Lúc đầu, người mua những sản phẩm mang tên hay biểu trưng của các đội thể thao hay sự kiện nổi tiếng cho rằng không có sự liên hệ nào giữa sản phẩm với đội thể thao hay sự kiện, và đội thể thao hay sự kiện đó không bảo đảm cho chất lượng của sản phẩm, nhưng càng ngày họ càng nhận thấy có sự liên quan chặt chẽ giữa chúng Tính tới thời điểm năm 1993, chỉ riêng các đội bóng chày của Mỹ đã cấp phép sử dụng nhãn hiệu của họ cho số hàng hóa trị giá tới 2,5

tỷ đô-la.

 Các loại hình sở hữu trí tuệ khác

Ngoài một số các hình thức sở hữu trí tuệ quan trọng ở trên còn có rất nhiều loạihình bảo hộ đa dạng và đặc biệt:

Các chỉ dẫn địa lý cho chúng ta biết được một loại sản phẩm có xuất xứ từ một

địa phương với tên địa lý gắn chặt với chất lượng, danh tiếng hay đặc trưng của sảnphẩm đó

Chẳng hạn, một số nước bảo hộ riêng chỉ dẫn địa lý cho hàng hóa như rượu cô-nhắc của Pháp hay rượu whisky của Scotland Ở Hoa Kỳ, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ cùng với dấu hiệu và dấu hiệu chứng nhận

Chỉ dẫn địa lý được coi là một bộ phận của nhãn hiệu nhằm giúp khách hàngkhông bị nhầm lẫn và giúp bảo vệ lợi ích của cá nhân và doanh nghiệp

Ví dụ, các vận động viên và người biểu diễn nổi tiếng ở Hoa Kỳ có thể cấp phép hoặc cấm sử dụng tên và hình ảnh của mình vì mục đích thương mại sai trái, gian lận  Số tiền mà họ kiếm được từ việc cho phép dùng tên và hình ảnh của mình nhiều khi còn lớn hơn là từ những hoạt động dựa trên danh tiếng.

Trang 14

Kiểu dáng công nghiệp

Nhiều kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ như là sáng chế về kiểu dáng (

Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc) hay bản quyền ( ở Mỹ, các tác phẩm có kiểu dáng mỹ thuật thuần túy như đồ trang sức hay mẫu vải áp dụng cho các loại sợi được bảo

hộ bằng bản quyền Ngoài ra, Mỹ còn bảo hộ theo luật định hai loại hình đặc biệt

là các giống cây trồng mới, kiểu thân tàu độc đáo và con chíp máy tính).

Kiểu dáng chỉ nhằm mục đích chỉ rõ nguồn gốc thương mại có thể được bảo hộtheo luật về nhãn hiệu

Giải pháp hữu ích

1.3 Các Công ước và Hiệp ước Quốc tế về SHTT mà Việt Nam tham gia

Cho đến nay, Việt Nam đã tham gia các điều ước quốc tế quan trọng cũng như

đã ký kết các điều ước quốc tế song phương và đa phương về quyền SHTT

Công ước Stockholm về việc thành lập Tổ chức SHTT Thế giới

Tổ chức SHTT Thế giới (WIPO) được thành lập

trên cơ sở Công ước ký tại Stockholm này

14.07.1967 là một tổ chức liên chính phủ có trụ sở

tại Geneve, Thụy Sỹ và là một trong 16 tổ chức

chuyên môn của Liên Hiệp Quốc Công ước

Stockholm bắt đầu có hiệu lực từ năm 1970

WIPO có trách nhiệm thúc đẩy việc bảo hộ quyền SHTT trên phạm vi toàn thếgiới thông qua sự hợp tác giữa các quốc gia và quản lý các hiệp định, hiệp ước khácnhau liên quan đến các khía cạnh luật pháp và quản lý SHTT

Tính đến ngày 22.06.1999 số nước thành viên của WIPO là 171, Việt Nam làthành viên của WIPO từ ngày 02.07.1976

Trang 15

Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp

Công ước này được ký tại Paris năm 1883, những điều khoản của Công ước nàytập trung vào các vấn đề chủ yếu sau:

- Đối xử quốc gia: Mỗi nước thành viên của Công ước phải bảo hộ quyền sởhữu công nghiệp cho công dân của các nước thành viên khác như bảo hộ quyền sởhữu công nghiệp cho chính công dân nước mình

- Quyền ưu tiên: Nếu người yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nộp đơnđầu tiên của mình ở một nước thành viên của Công ước thì trong thời hạn nhất địnhsau ngày nộp đơn đầu tiên (12 tháng đối với sáng chế và mẫu hữu ích, 6 tháng đốivới nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp) có thể yêu cầu bảo hộ ở bất kỳ nước thànhviên nào và những đơn nộp sau được xem như có ngày nộp đơn cùng với ngày nộpđơn đầu tiên

Ngoài ra Công ước còn quy định một số điều khoản bắt buộc mà các nướcthành viên tuân thủ như tính độc lập của Bằng độc quyền sáng chế do nhiều nướccấp cho cùng một sáng chế, quyền được ghi tên vào Văn bằng bảo hộ của tác giả Tính đến ngày 22.06.1999 đã có tới 155 nước thành viên của Công ước Paris vềbảo hộ sở hữu công nghiệp, Việt Nam là thành viên của Công ước này kể từ ngày08.03.1949

Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế các nhãn hiệu

Thoả ước này được ký tại Madrid năm 1891, trong đó quy định việc đăng kýquốc tế nhãn hiệu tại Văn phòng quốc tế của WIPO ở Geneva

Theo Thoả ước này thì công dân của một nước thành viên muốn bảo hộ mộtnhãn hiệu của mình tại nhiều nước thành viên khác, trước tiên phải đăng ký nhãnhiệu của mình tại Cơ quan Sở hữu công nghiệp quốc gia, sau đó thông qua Cơ quan

Sở hữu công nghiệp quốc gia có thể nộp đơn đăng ký quốc tế cho Văn phòng quốc

Trang 16

tế của WIPO Văn phòng quốc tế sẽ công bố đơn đăng ký quốc tế và chỉ rõ nhữngnước thành viên mà người nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu của mình (nước đượcchỉ định) Nước được chỉ định có thời gian 1 năm để xem xét chấp nhận hoặc từchối bảo hộ nhãn hiệu trên lãnh thổ của mình Nếu sau 1 năm nước được chỉ địnhkhông có ý kiến thì nhãn hiệu coi như được chấp nhận bảo hộ ở nước đó.

Tính đến ngày 22.06.1999 Thoả ước Madrid có 51 thành viên, Việt Nam thamgia Thoả ước này từ ngày 08.03.1949 Tính đến nay đã có hơn 50000 nhãn hiệu củangười nước ngoài được chấp nhận bảo hộ tại Việt Nam thông qua Thoả ướcMadrid

Việt Nam cũng tham gia Nghị định thư liên quan đến Thoả ước Madrid vàotháng 10/2006

Hiệp ước Hợp tác Patent (PCT)

Hiệp ước Hợp tác Patent được ký tại Washington năm 1970, tạo khả năng chongười nộp đơn đăng ký sáng chế thuộc một quốc gia thành viên có thể nhận được

sự bảo hộ cho sáng chế của mình ở mỗi nước trong số nhiều nước thành viên khácbằng việc nộp một đơn duy nhất (gọi là đơn quốc tế) tại Cơ quan Sở hữu côngnghiệp quốc gia của nước thành viên mà người nộp đơn là công dân hoặc có chỗ ởthường trú hoặc nộp đơn cho Văn phòng quốc tế của WIPO tại Geneva

Hiệp ước Hợp tác Patent còn quy định chi tiết các yêu cầu đối với đơn quốc tế,tra cứu đơn quốc tế và thủ tục xử lý những đơn này ở Cơ quan Sở hữu công nghiệpcủa nước thành viên Hiện nay phần lớn đơn đăng ký sáng chế của nước ngoài nộpvào Việt Nam là thông qua Hiệp ước Hợp tác Patent

Tính đến ngày 22.06.1999 đã có 103 nước thành viên tham gia Hiệp ước, ViệtNam tham gia Hiệp ước này từ ngày 10.03.1993

Một số điều ước quốc tế đa phương khác mà Việt Nam đã và sẽ tham gia

Trang 17

- Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ

thuật và khoa học (Việt Nam tham gia từ năm 2004)

- Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản

xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng

- Thoả ước Lahay về Đăng ký quốc tế kiểu dáng công

nghiệp

- Hiệp ước luật nhãn hiệu hàng hoá được thông qua ngày 27-10-1994 tại

Geneva

- Hiệp ước Budapest về sự công nhận quốc tế đối với việc nộp lưu chủng vi

sinh, Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (Công ước UPOV)

- Hiệp ước Washington về sở hữu trí tuệ đối với bố trí mạch tích hợp

- Hiệp định thương mại về Quyền Sở hữu trí tuệ (TRIPS) trong hệ thống các

hiệp định của WTO là một trong những hiệp định quan trọng mà Việt Nam cam kếtthực hiện ngay khi là thành viên chính thức

1.4 Thực thi và bảo hộ quyền SHTT ở Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá

và hội nhập kinh tế quốc tế

Bối cảnh quốc tế

SHTT đang bị xâm phạm ở mức độ đáng báo động và trên một phạm vi lớn:

Một thế giới buôn bán hàng giả và hàng nhái

- Doanh số buôn bán hàng giả và hàng nhái theo ước tính lên đến 500 tỷ đôla/năm trên toàn thế giới

- Các số liệu thống kê dù là của Uỷ ban Châu Âu cho biết trong nửa đầu năm

2003, hải quan của các nước thành viên EU đã bắt giữ một lượng hàng giả

Trang 18

và hàng nhái trị giá 50 triệu đôla Để so sánh, thông báo của Uỷ ban Châu

Âu lưu ý rằng, trong cả năm 2002, các quan chức hải quan đã bắt giữ hànggiả trị giá 85 triệu đôla

- Theo một cuộc khảo sát vừa được ICC công bố thì 2/3 số hàng giả bị thugiữ ở Liên minh châu Âu có xuất xứ từ Trung Quốc

 Một vài ví dụ và số liệu trên giải thích tại sao việc chống vi phạm quyềnSHTT và làm hàng giả, hàng nhái lại là vấn đề thiết yếu và là trách nhiệm chungcủa tất cả quốc gia

Theo Timothy P Trainer - Chủ tịch Liên minh chống hàng giả quốc tế, Chủ tịch Trung tâm chiến lược SHTT toàn cầu thì “Thước đo đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của các công ty khổng lồ giờ đây không chỉ là trị giá cổ phiếu, thị phần, doanh thu và lợi nhuận ròng mà còn là sự hiện diện của hàng giả, hàng nhái trên thị trường“

Làn sóng tội phạm SHTT trên toàn cầu

Trong khi các doanh nghiệp là những người hưởng lợi hợp pháp thì một điềuhiển nhiên là, những kẻ phạm tội ăn cắp SHTT, nghĩa là sản xuất, trao đổi vàmua bán hàng giả và hàng nhái, cũng đồng thời thu lợi bất chính

Tội phạm về quyền SHTT vi phạm thương hiệu, bằng phát minh sáng chế,quyền tác giả, buôn lậu hàng hoá…có dấu hiệu ngày càng gia tăng và đang tác

động đến tất cả các ngành sản xuất: một tuyên bố của Ủy ban Chây Âu đã nhấn

mạnh việc số lượng sản phẩm bị vi phạm quyền SHTT ngày càng mở rộng, bao gồm cả thực phẩm, thuốc men, pin điện và các sản phẩm tiêu dùng khác.

Những số liệu thống kê về các vụ bắt giữ và số lượng hàng hoá thu được chothấy, các hoạt động sản xuất và buôn bán hàng giả và hàng nhái của từng nhóm

tội phạm có nhiều chiều hướng mới: mở rộng hoạt động vào các ngành hàng và

nhắm tới các sản phẩm được ưa thích của các công ty hợp pháp  Giới lãnh

Trang 19

đạo doanh nghiệp đang phải đối đầu với những đối thủ cạnh tranh bất hợp pháplắm tiền, nhiều của và có tổ chức.

Rõ ràng tội phạm SHTT được khuyến khích vì yếu tố kinh tế siêu lợi nhuậncũng như các biện pháp thực thi pháp luật không hiệu quả

Những tổn thất kinh tế lớn và nhiều hiểm họa đối với sức khỏe con người

và sự an toàn của xã hội

Năm 2004, báo cáo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới cho thấy 20 nước được cho

là thực hiện bảo vệ quyền SHTT nghiêm ngặt nhất nằm trong số 27 quốc gia đứng đầu về khả năng cạnh tranh phát triển kinh tế Ngược lại, 20 nước được cho là yếu kém nhất trong lĩnh vực này thuộc về số 36 nước có khả năng cạnh tranh kinh tế thấp nhất

Năm 1989, một vụ rơi máy bay ở Na-uy làm 55 người chết, nguyên nhân được cho là do các bộ phận của máy bay bị làm giả

Năm 1995 ở Niger, vắc-xin giả đã không thể bảo vệ người dân chống lại dịch viêm màng não và gây ra cái chết cho 2.500 người

Các nước và các tổ chức đang tiến hành nhiều biện pháp để chống lại tội phạm ăn cắp quyền SHTT

- Các quan chức ở Châu Âu đã ban hành các quy định kiểm soát biên giới mới

có hiệu lực từ ngày 01/7/2004, một trong các quy định này có nội dung cho phépbắt giữ hàng hoá bị nghi ngờ, ngay cả khi chủ sở hữu tài sản trí tuệ không cóđơn yêu cầu

- Các hiệp định, điều khoản được ký kết giữa các đối tác thương mại trên thếgiới đang nâng cao tiêu chuẩn để cải thiện tình hình thực thi quyền SHTT: đãbao gồm những yêu cầu tăng thêm quyền lực cho cơ quan quản lý nhà nước đểđược quyền hành động hợp pháp trong những trường hợp có hàng hoá di chuyển

Trang 20

qua biên giới và trong những trường hợp có tội phạm ăn cắp thương hiệu vàquyền tác giả

- Hàng hoá xuất khẩu và quá cảnh sẽ không còn được thông quan tự do nữa màphải tuân thủ quy định kiểm tra theo luật

SHTT ở Việt Nam

Ở Việt Nam hiện nay, xâm phạm quyền SHTT và vi phạm pháp luật về bảo hộquyền SHTT ngày càng có dấu hiệu trở thành phổ biến, và, mức độ phức tạp,nghiêm trọng của tình hình xâm phạm quyền SHTT ngày càng có dấu hiệu gia tăng

Nhìn chung, bức tranh toàn cảnh của hoạt động thực thi và bảo đảm thực thi quyền SHTT vẫn còn nhiều điểm tối

 Những người có quyền hưởng quyền SHTT chỉ tạo ra tác phẩm nhưng chưaquan tâm thực sự đến việc bảo vệ quyền của mình thông qua cách đăng kýbảo hộ tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền

 Các thiết chế hỗ trợ thực thi quyền SHTT chưa thật sự vào cuộc:

- Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa quan tâm đúng mức đến việcbảo vệ quyền SHTT

- Việc xử lý các hành vi vi phạm của các cơ quan, tổ chức chưa được thựchiện một cách nghiêm túc

- Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chưa đồng bộ, thiếu kinh nghiệm vàchưa đủ mạnh mẽ về chuyên môn cũng như các phương tiện cần thiết để cókhả năng xử lý các vi phạm một cách hữu hiệu

- Vai trò các cơ quan thực thi pháp luật chưa được phát huy một cách có hiệuquả Việc xét xử các tranh chấp về quyền tác giả và quyền sở hữu công

Trang 21

nghiệp tại Toà án chiếm tỷ lệ khiêm tốn so với các tranh chấp xảy ra trongthực tế.

 Nhiều tổ chức hiệp hội chưa nhận thức được sự cần thiết phải đứng ra bảo vệquyền lợi của các thành viên, ý thức chấp hành pháp luật của phần lớn nhândân trong xã hội chưa cao

Những tồn tại trên có nguyên nhân chính là do:

 Cơ chế bảo đảm thực thi chưa hoàn thiện, chưa đáp ứng được yêu cầu củathực tế

 Phương thức tổ chức các hoạt động và sự phối hợp của các thiết chế trong hệthống bảo đảm thực thi chưa thực sự hiệu quả

 Sự hiểu biết và ý thức pháp luật của cộng đồng xã hội đối với vấn đề của bảo

hộ quyền sở hữu trí tuệ còn nhiều hạn chế

 Bản thân các chủ thể hưởng quyền sở hữu trí tuệ chưa thực sự tích cực, chủđộng trong việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình

Một vài con số thống kê

Theo báo cáo của công an 43/64 tỉnh, thành, tính từ năm 2002 đến tháng 6/2007, có tới 1.092 vụ và 1.486 đối tượng sản xuất, buôn bán hàng giả bị phát hiện gây hại và đe dọa nghiêm trọng thị trường trong nước.

Thống kê sơ bộ về hàng giả bị bắt giữ trong gần 5 năm qua được công bố đã khiến nhiều người giật mình Cụ thể, 8 tấn bột ngọt; 85.000 tấn xi măng; 25 tấn mỹ phẩm; 35 triệu cơ số tân dược; 25.450 chai rượu các loại; 50.000 chai bia, nước giải khát; 50.000 tấn sắt, thép xây dựng; 15.000 tấn phân bón, thuốc bảo vệ thực vật…

Thị trường dược phẩm với nhãn hiệu Panadol, có 5 nhãn hiệu khác có kiểu dáng, tên gọi tương tự Hoặc như nước suối Lavie, cũng có nhiều sản phẩm nhái

Trang 22

Một só vụ vi phạm bản quyền điển hình trong thời gian qua:

Xâm phạm bản quyền tác phẩm ảnh, tác phẩm hội họa: sử dụng ngay tác phẩmđoạt giải thưởng quốc gia và quốc tế để biến thành tác phẩm của mình: tác phẩm

“Bình minh trên công trường” của Lương Văn Trung sao

chép từ một tác phẩm của họa sĩ Nga nhưng vẫn

đoạt huy chương đồng của Hội Mỹ thuật Việt Nam;

"Nụ hôn của gió", tác phẩm nổi tiếng của Trần Thế

Long từng bị một sinh viên vi phạm bản quyền trắng

trợn…

-Ca khúc “Tình thôi xót xa” của nhạc sĩ Bảo Chấn đã copy phần nhạc của một

bản nhạc nước ngoài là bản hòa tấu Frontier của nữ nhạc sĩ người Nhật KeikoMatsui

Nhà báo Phạm Thị Hà khởi kiện Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin về việc đã

xuất bản cuốn sách có nhan đề "Doanh nhân thành đạt và bài học kinh nghiệm

thương trường" đứng tên tác giả Phan Lan, trong đó có sử dụng 8 tác phẩm báo chí

nhưng không được sự đồng ý và không ghi đúng tên tác giả

"Máu của lá" của tác giả Phạm Minh Phong có nội dung giống "như khuôn đúc" với

truyện ngắn "Màu của lá" của nhà văn Võ Thị Hảo

Phần mềm " Hệ thống khai thác và quản lý thông tin iCMS" - giải Nhất TTVN

2003 của nhóm iCMS đã sử dụng trái phép mã nguồn mở CMSNET của tác giảFraser: Khi phân tích thử một file mã gồm 73 dòng lệnh thì kết quả là: copy nguyênvẹn không sửa đổi 63 dòng; đổi tên từ CMSNET sang TTVNCMS: 3 dòng; đổithông báo lỗi từ tiếng Anh sang tiếng Việt: 3 dòng; và thay đổi mã lệnh để hỗ trợ gõ

Tác phẩm "Nụ hôn của gió”

Trang 23

tiếng Việt: 4 dòng Tổng số thay đổi thấp hơn 15% và không có thay đổi về logicphần mềm  đã bị thu hồi lại giải nhất và danh hiệu cúp vàng TTVN 2003.

1.5 Vấn đề bảo hộ và thực thi quyền SHTT ở Việt Nam

Ngày 11-1-2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên

thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), điều này mở

ra cơ hội to lớn trong việc phát triển kinh tế đất nước nhưng

chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức đặc biệt là tuân thủ

các cam kết quốc tế về bảo hộ quyền SHTT.

1.5.1 Sự cần thiết của vấn đề thực thi và bảo hộ quyền SHTT

- Việc bảo hộ các quyền SHTT trước hết là do nhu cầu của sự phát triển và giaolưu quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá, khu vực hoá về kinh tế, thươngmại diễn ra ngày càng sôi động

- Bảo hộ quốc tế quyền SHTT là một hoạt động có tính tất yếu, khách quan,không ngừng được phát triển, thể hiện trên hai hướng:

+ Mở rộng phạm vi các đối tượng được bảo hộ bằng các thiết chế quốc tế

+ Không ngừng chi tiết hoá nội dung bảo hộ

- Luật SHTT là công cụ pháp lý hữu hiệu để Việt Nam thực hiện các điều ước quốc tế

1.5.2 Những thách thức và đòi hỏi đối với hệ thống bảo hộ quyền SHTT của Việt Nam

Việc gắn bảo hộ SHTT với quan hệ thương mại

song phương, đa phương trong khu vực và trên

phạm vi quốc tế, một mặt, sẽ tạo điều kiện thuận lợi

để có những cơ chế bảo hộ quốc tế hữu hiệu, mặt

Trang 24

khác, cũng sẽ gây ra rất nhiều sức ép và khó khăn cho các nước có trình độ khoahọc công nghệ thấp, đang trong quá trình hội nhập phải thực thi các cam kết quốc tế

về SHTT

Công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật về SHTT

Hệ thống pháp luật SHTT của Việt Nam hiện nay tương đối hoàn chỉnh, đồng

bộ và đã tiệm cận được với hệ thống pháp luật SHTT của các nước phát triển

Nỗ lực gia nhập WTO đã được hiện thực hoá một cách rất căn bản trong quátrình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật chung của Việt Nam Ngày 29-11-

2005, Quốc hội đã thông qua Luật Sở hữu trí tuệ, ngày 21 và 22-9-2006, Chính phủ

và các Bộ cũng đã ban hành hàng loạt Nghị định và Thông tư hướng dẫn thực hiệnLuật SHTT Đây là luật chuyên ngành về SHTT đầu tiên của Việt Nam Luật SHTTcũng thống nhất và tập hợp các quy định về SHTT rải rác trong các văn bản trướcđây trong một luật chung với sự phân định rõ ràng thành 3 lĩnh vực: bản quyền, sởhữu công nghiệp (SHCN) và giống cây trồng

+ Nghị định l00/2006/NĐ-CP ngày 21/09/2006 hướng dẫn thi hành một số điềucủa Bộ luật Dân sự và Luật SHTT về quyền tác giả và quyền liên quan, trong đógiải thích rõ về từng loại hình tác phẩm được đề cập trong luật quy định chi tiết vềnội dung quyền nhân thân và quyền tài sản, về thủ tục đăng ký, về các tổ chức tưvấn, dịch vụ quyền tác giả, cũng như một số chi tiết về thực thi quyền

Trang 25

+ Nghị định l03/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 hướng dẫn thi hành một số điềucủa Luật SHTT về SHCN, bao gồm việc xác lập quyền (đăng ký), quy định chi tiết

về chủ thể, nội dung, giới hạn, chuyển giao quyền SHCN, về hoạt động đại điệnSHCN và về các biện pháp thúc đẩy hoạt động SHCN

+ Nghị định l04/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 hướng dẫn thi hành một số điềucủa Luật SHTT về quyền đối với giống cây trồng, đặc biệt có quy định cụ thể vềtrình tự thủ tục xác lập quyền đối với giống cây trồng, bao gồm cả việc thẩm địnhhình thức và nội dung đơn

+ Nghị định l05-2006/ND/CP ngày 22/09/2006 hướng dẫn thi hành một số điềucủa Luật SHTT về bảo vệ quyền SHTT, bao gồm việc xác định hành vi, tính chất

và mức độ xâm phạm đối với từng đối tượng SHTT, cách xác định thiệt hại, thủ tụcyêu cầu và giải quyết yêu cầu xử lý xâm phạm, quy định về xử lý xâm phạm bằngbiện pháp hành chính, kiểm soát hàng hoá xuất và nhập khẩu liên quan đến SHTT,

về giám định SHTT, đồng thời quy định chi tiết về quản lý Nhà nước trong lĩnh vựcSHTT

+ Nghị định l06/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định về xử phạt vi phạmhành chính trong lĩnh vực SHCN Một điểm khác biệt quan trọng trong các quyđịnh về xử phạt hành chính được quy định trong Nghị định 106 so với các văn bảntrước đây là mức phạt hành chính đối với hành vi vi phạm quyền SHCN có thểđược tính đến 5 lần giá trị hàng hoá vi phạm

Khác với Nghị định 106/2006/NĐ-CP chỉ quy định về xử phạt vi phạm hànhchính trong lĩnh vực SHCN, các quy đinh về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảnquyền không được tách thành một Nghị định riêng mà được quy định thành mộtmục (mục 7, chương II) của Nghị định số 56/2006/NĐ-CP ngày 6/6/2006 về xửphạt hành chính trong lĩnh vực văn hoá thông tin

Trang 26

Các quy định về dịch vụ SHTT thuộc dịch vụ khoa học công nghệ (KHCN)cũng được Bộ KHCN ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết trong năm 2006 bởiThông tư 8/2006/TT- BKHCN ngày 4/4/2006.

+ Ngày 29/11/2006, Quốc hội cũng đã thông qua Luật chuyển giao công nghệtrong đó có quy định liên quan đến hoạt động thương mại hoá quyền SHTT nămtrong công nghệ Luật chuyển giao công nghệ có hiệu lực từ ngày 01/07/2007, theo

đó thị trường và các giao dịch chuyển giao công nghệ của Việt Nam được tự do hoámột cách cơ bản hơn so với các quy định trước đây

Với một số lượng khá đồ sộ các văn bản pháp luật được quy định trong vòngmột năm, năm 2006 có thể coi là một năm thành công trong quá trình xây dựng vàban hành văn bản pháp luật về SHTT của Việt Nam

Luật quốc gia đương nhiên phải phản ánh và phù hợp với đặc điểm chính trị,kinh tế, văn hóa, xã hội của quốc gia Đó là đòi hỏi sống còn của mọi văn bản phápluật Luật SHTT cũng được tổ chức nghiên cứu, thông qua quan điểm đó Tuynhiên, do luật góp phần quan trọng cho việc hội nhập quốc tế không chỉ riêng vềvăn hóa, mà còn là kinh tế, thương mại, thu hút đầu tư từ nước ngoài  Ngoài thỏamãn các đòi hỏi điều chỉnh quan hệ xã hội nội tại và bảo vệ lợi ích của quốc gia, nócòn phải đáp ứng các yêu cầu của hội nhập quốc tế

Luật SHTT đã tương thích với các chuẩn mực bảo hộ quốc tế, các điều ướcquốc tế song phương và đa phương bởi trong quá trình nghiên cứu xây dựng dự ánLuật SHTT Ban soạn thảo đã lấy ý kiến tư vấn của chuyên gia WIPO, chuyên gia

Dự án STAR Vệt Nam, các tổ chức quốc tế liên quan như: Liên đoàn quốc tế cácnhà soạn nhạc và soạn lời (CISAC), Liên đoàn quốc tế các tổ chức ghi âm (lFPI);tham khảo luật mẫu của WIPO; làm điều ước quốc tế về quyền tác giả và quyềnliên quan; các hiệp định song phương giữa Việt Nam - Hoa Kỳ, Việt Nam - Thuỵ

Sỹ, Luật của một số quốc gia như Mỹ, Trung Quốc Việt Nam cũng đã cử các

Trang 27

đoàn tham gia các hội thảo quốc tế liên quan đến các nội dung mới của luật phápquốc tế do WIPO tổ chức…

Hiện còn một vài quy định tại Luật sở hữu trí tuệ làm cho một số chuyên giaphân vân bởi lẽ Luật SHTT Việt Nam phải phù hợp với các đặc điểm kinh tế, vănhóa, xã hội Việt Nam Trong trường hợp có xung đột với các điều ước song phương

và đa phương thì căn cứ pháp lý để bảo hộ quyền lợi của các tổ chức, cá nhân củaViệt Nam cũng như các nước thành viên khác chính là các điều ước quốc tế đã kíkết

Việt Nam đã và đang có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về SHTT nhưng vấn đề thực thi đang cần một lộ trình và giải pháp phù hợp

Vấn đề đăng ký bảo hộ

Luật SHTT đã thực thi được một thời gian nhưng

nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn “ngậm ngùi” nhìn

sản phẩm, dịch vụ của mình bị xâm phạm bởi DN

đã tạo ra hay có được các đối tượng SHTT nhưng

không đăng ký thì ai cũng có quyền sử dụng  Việc

đăng ký các đối tượng sở hữu công nghiệp là rất cần

thiết

Theo quy định của Luật SHTT, quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế,kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý chỉ được xác lập trên cơ sở quyếtđịnh cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Cục SHTT) hoặccông nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế

Tuy vậy, nếu chỉ đăng ký bảo hộ mà không khai thác thì rõ ràng việc đăng kýđược xem như không có hiệu quả, thậm chí còn lãng phí

Trang 28

Một số DN làm tốt việc đăng ký nhãn hiệu ra nước ngoài như DASO và DACCO (47 nước), Vinataba (40 nước), Vinatea (20 nước), Vinamilk (11 nước), Kymdan (12 nước), Bitis (8 nước)

Theo số liệu thống kê, tính đến 30/6/2007 VN đã cấp 6.469 bằng độc quyền sáng chế (4,7% của người VN và 95,3% của người nước ngoài), 625 bằng độc quyền giải pháp hữu ích (60,1% của VN), 10.715 bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp (87,8% của VN), gần 130 ngàn nhãn hiệu (khoảng 30% của Việt Nam) và

12 chỉ dẫn địa lý (10 của VN)

1.6 Thừa nhận và bảo vệ quyền SHTT có ý nghĩa gì?

Hàng năm vào ngày 26 tháng 4, các chính phủ, tổ chức, doanh nghiệp trên toàncầu kỷ niệm Ngày SHTT Thế giới Đây là một cơ hội cho chúng ta nhìn lại tầmquan trọng của việc bảo vệ quyền SHTT

 Khuyến khích phát minh kỹ thuật và thu hút đầu tư, thúc đẩy sự tăng trưởngkinh tế và thịnh vượng của mỗi quốc gia

 Phát triển môi trường kinh doanh, văn hóa nghệ thuật, tạo ra nhiều công ănviệc làm, nhiều cơ hội mới cho người dân; bảo vệ sức khoẻ con người vàđảm bảo an toàn cho xã hội

Sáng tạo và áp dụng công nghệ mới có được là nhờ các công ty, các nhà phátminh, vì vậy, nỗ lực sáng tạo và công sức lao động của họ cần phải được pháp luậtbảo vệ và khuyến khích

Theo ước tính thì 70% giá trị đầu ra của kinh tế toàn cầu ngày nay do khu vực dịch vụ đem lại, rất nhiều trong số đó phụ thuộc vào sự tiến bộ của công nghệ Tính riêng ở Hoa Kỳ, các nghiên cứu trong thập kỷ vừa qua cho biết hơn 50% lượng hàng xuất khẩu của Hoa Kỳ hiện nay phụ thuộc vào việc bảo vệ các loại SHTT (so với dưới 10% cách đây 50 năm).

Trang 29

Báo cáo về Triển vọng Kinh tế Toàn cầu của Ngân hàng Thế giới năm 2002 đãkhẳng định tầm quan trọng ngày càng tăng của SHTT đối với các nền kinh tế toàncầu hóa hiện nay và phát hiện ra rằng “với các mức thu nhập khác nhau thì quyềnSHTT thường gắn liền với thương mại và các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoàilớn hơn và nhờ vậy có tốc độ phát triển kinh tế nhanh hơn”.

Việc thừa nhận và bảo vệ quyền SHTT ngày càng tăng cũng liên quan rất nhiềutới mức sống được nâng cao nhanh chóng ở những quốc gia như Trung Quốc và Ấn

Độ Chỉ vài năm trước đây, Ấn Độ đã không thể giữ được các kỹ sư và chuyên gia

máy tính hàng đầu của mình Việc thiếu các quy định về bảo vệ SHTT đã buộc các chuyên gia này di cư sang những quốc gia nơi mà thành quả lao động của họ được bảo vệ và những đối thủ cạnh tranh không được phép khai thác trái phép những tiến bộ khoa học Sau đó vào năm 1999, Quốc hội Ấn Độ đã thông qua một đạo luật bảo vệ sản phẩm trí tuệ của các chuyên gia máy tính Kết quả là Ấn Độ đã có ngành công nghiệp công nghệ cao sản xuất những phần mềm tiên tiến nhất thế giới

và sử dụng hàng ngàn nhân công mà lẽ ra đã rời Ấn Độ để sang những nước giàu

có hơn.

Vấn đề bảo vệ SHTT còn rất quan trọng đối với người tiêu dùng, chúng takhông thể có những tiến bộ trong ngành giao thông, truyền thông, nông nghiệp vàchăm sóc y tế nếu không bảo vệ mạnh mẽ quyền SHTT

Trang 30

PHẦN II – SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG LĨNH VỰC

CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

nghành nghề khác phát triển, đồng thời, vấn đề liên quan đến quyền SHTT cũng càng ngày càng trở thành một mối quan tâm trong các chu trình thiết kế, gia công, kinh doanh và sử dụng phần mềm của nhiều doanh nghiệp Và quyền SHTT vì thế cũng tất yếu bị xâm phạm nhiều hơn…

2.1 Thực trạng của tình hình vi phạm bản quyền CNTT

Hiện nay toàn thế giới đang báo động về sự bùng nổ về vi phạm quyền SHTT,nhất là trong lĩnh vực CNTT với những biểu hiện cơ bản là sử dụng trái phép cácphần mềm, sản xuất hàng lậu, hàng nhái tung ra thị trưòng…

Trang 31

Vi phạm bản quyền phần mềm toàn cầu

Theo nghiên cứu của Liên minh phần mềm doanh nghiệp (Bussiness Software

Alliance - BSA) và công ty chuyên dự báo và nghiên cứu thị trường CNTT thế giới IDC thì trong những năm gần đây tỉ lệ vi phạm bản quyền tại các quốc gia đã giatăng đáng kể, trong đó Việt Nam và Zimbabwe, Ukraine là ba quốc gia có tỉ lệ viphạm bản quyền phần mềm cao nhất thể giới, lên tới 90% Indonesia đứng ở vị trítiếp theo với 87%, sau đó là Pakistan với 86%, của Trung Quốc là 86%, Thái Lan

và Malayxia là 80%, Ấn Độ 72%, Hàn Quốc 46%, Singapore 40%,, Nhật Bản 28%,

…(năm 2005)

Riêng ở Trung Quốc, bốn trong năm chương

trình phần mềm được lắp đặt trong năm ngoái là vi

phạm bản quyền Mặc dù vậy, tỷ lệ vi phạm bản

quyền ở nước này đã giảm trong 2 năm liên tiếp

xuống 82% trong năm 2006 và đã tiết kiệm được 64

triệu USD Thị trường phần mềm hợp pháp ở Trung

Quốc đã lên gần 1,22 tỷ USD, tăng 88% so với năm

Cảnh sát Trung Quốc tiêu hủy

phần mềm lậu.

Ngày đăng: 07/04/2015, 09:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. www.chungta.com Khác
4. www.vietnamnet.vn Khác
5. www .interbrand.com Khác
6. vovnews.vn Khác
7. Tạp trí echip Khác
8. Tạp chí tia sáng Khác
9. Tạp chí Sách & đời sống Khác
10. Thời báo vi tính Sài Gòn Khác
11. PC World Việt Nam… Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w