Có thể kể đến 3 trường hợp sau: thương vụhợp nhất giữa ba NHTMCP Đệ Nhất, Việt Nam Tín Nghĩa và Sài Gòn; thương vụ sápnhập giữa NHTMCP Nhà Hà Nội và NHTMCP Sài Gòn- Hà Nội và thương
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT TRONG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP NGÂN HÀNG 3
I Khái niệm 3
II Động cơ của sáp nhập, thâu tóm ngân hàng 4
1 Động cơ tích cực 4
2 Động cơ xấu 6
CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG MUA BÁN, SÁP NHẬP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 7
I Sáp nhập ngân hàng thời kỳ sơ khai của hệ thống ngân hàng Việt Nam 7
II Việc tham gia vốn của nhà đầu tư nước ngoài vào NHTM tại Việt Nam 8
III Các diễn biến về Sáp nhập, thâu tóm ngân hàng gần đây 10
1 SCB- Tín Nghĩa- Đệ Nhất 10
2 SHB- Habubank 13
3 Sacombank- Eximbank 18
CHƯƠNG 3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN SÁP NHẬP TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP 22
I Khái quát tình hình lợi ích nhóm và sở hữu chéo trong hệ thống NH Việt Nam 22
II Một số đề xuất nhằm hạn chế tác động tiêu cực của sở hữu chéo 24
KẾT LUẬN 26
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Kiểm soát quyền lực thị trường luôn là mục tiêu theo đuổi của các doanh nghiệp.Thị trường chứng khoán ra đời giúp các doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu sáp nhập vàmua lại dễ dàng hơn Hoạt động mua bán, sáp nhập giữa các ngân hàng cũng khôngnằm ngoài xu hướng này Đặc biệt, Thông tư số 04/2010/TT-NHNN do Ngân hàngNhà nước ban hành ngày 11/02/2010 là cơ sở pháp lý để các ngân hàng có thể thựchiện mua lại và sáp nhập doanh nghiệp Kể từ khi Thông tư số 04 có hiệu lực, đã cónhiều thương vụ ngân hàng được sáp nhập Có thể kể đến 3 trường hợp sau: thương vụhợp nhất giữa ba NHTMCP Đệ Nhất, Việt Nam Tín Nghĩa và Sài Gòn; thương vụ sápnhập giữa NHTMCP Nhà Hà Nội và NHTMCP Sài Gòn- Hà Nội và thương vụ giữaSacombank và Eximbank
Trong 3 thương vụ sáp nhập trên mặt dù có 2 thương vụ sáp nhập này đã hoàn tất
và đi vào hoạt động được một thời gian, nhưng nghiên cứu tổng thể và quá trình thựchiện cũng như động lực thúc đẩy sáp nhập và những khó khăn trong giai đoạn thựchiện sáp nhập thì chưa được thực hiện đầy đủ Các thông tin giải thích lý do tại sao cácngân hàng tham gia vào việc sáp nhập cũng như những thách thức cản trở đến hiệu quảsáp nhập chỉ được đề cập manh mún và rời rạc Như vậy, đề tài này được viết nhằmgiải thích rõ ràng các động lực phía sau hoạt động mua lại và sáp nhập giữa các ngânhàng; phân tích các nhân tố gây khó khăn cho các ngân hàng trong quá trình tham giahoạt động mua lại và sáp nhập; và gợi mở các giải pháp để nâng có hiệu quả sáp nhập.Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1 Mô tả cơ sở lý thuyết trong lĩnh vực mua bán và sáp nhập ngân hàng Chương 2 Phân tích hoạt động mua bán và sáp nhập của các ngân hàng thương
mại tại Việt Nam
Chương 3 Những vấn đề đặt ra từ hoạt động mua bán và sáp nhập giữa các ngân
hàng tại Việt Nam và giải pháp
Trang 3CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT TRONG LĨNH VỰC MUA BÁN
VÀ SÁP NHẬP NGÂN HÀNG
I Khái niệm
Sáp nhập: là hình thức một hoặc một số NH sáp nhập vào một NH khác bằng cách
chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang NH nhận sáp nhập,đồng thời chấm dứt sự tồn tại của NH bị sáp nhập
Hợp nhất: là hình thức hai hoặc một số NH hợp nhất thành một NH mới bằng cách
chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang ngân hàng mới đó,đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các ngân hàng bị hợp nhất
Mua lại: là hình thức một NH mua toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp
pháp của NH khác Sau khi mua lại, NH bị mua lại trở thành công ty trực thuộc của
NH mua lại
Hoạt động sáp nhập có thể được phân thành 2 loại:
Sáp nhập tự nguyện là quá trình kết hợp hai ngân hàng có sự đồng thuận cao của
cả hai Ban lãnh đạo ngân hàng cũng như sự nhất trí của đại đa số cổ đông từ hai phía
Sáp nhập bắt buộc là sự kết hợp giữa các ngân hàng theo sự chỉ đạo, định hướng
của cơ quan quản lý Tương tự như vậy, Hoạt động mua lại công ty cũng được phânthành 2 loại Mua lại có sự thỏa thuận giữa 2 bên hoặc mua lại có tính chất ép buộc saukhi tích lũy được đủ số lượng cổ phiếu để có thể thôn tính được công ty mục tiêu.Mặc dù hình thức khác nhau giữa việc mua lại và hợp nhất, nhưng xét trên phươngdiện mục đích của sáp nhập thì hoạt động M&A có thể được phân chia thành 3 loạikhác nhau
- M&A theo chiều ngang là sự kết hợp các ngân hàng có cùng dòng sản phẩm và dịch vụ.
Sự kết hợp giữa các ngân hàng thương mại hoặc giữa các ngân hàng đầu tư là loại hìnhM&A theo chiều ngang
- M&A theo chiều dọc là sự kết hợp giữa các ngân hàng cung cấp các sản phẩm dịch,
dịch vụ ngân hàng khác nhau Mục đích chính của loại hình M&A này nhằm đểđảm bảo nguồn lực cung cấp không bị gián đoạn hoặc bị ảnh hưởng bởi sự biếnđộng của thị trường
- Sáp nhập tổ hợp xảy ra giữa hai ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực khác nhau hoàn
toàn nhằm tạo ra một ngân hàng mới đa dạng về sản phẩm và dịch vụ
Việc tái cấu trúc NHTM là một vấn đề cần thiết và chịu sự tác động của 4 vấn
đề chính:
Trang 4- Thiếu vốn tự có;
- Gặp khó khăn về thanh khoản;
- Các vấn đề yếu kém về quản trị doanh nghiệp và quản lý rủi ro
II Động cơ của sáp nhập, thâu tóm ngân hàng
1 Động cơ tốt
Tận dụng qui mô
Hai hay nhiều ngân hàng sáp nhập vào nhau sẽ tạo nên được qui mô lớn hơn vềvốn, con người, số lượng chi nhánh… Từ đó sẽ tạo ra đươc khả năng cung ứng vốn chonhững dự án lớn hơn, đòi hỏi vốn nhiều và kéo dài với lãi suất cạnh tranh Hơn nữa,với sự gia tăng về số lượng chi nhánh, ngân hàng sau sáp nhập sẽ đáp ứng được nhucầu ngày càng gia tăng của khách hàng một cách tốt hơn
Việc sáp nhập sẽ dẫn đến sự cắt giảm những chi nhánh của hai hay nhiều ngân hàngtrước đây có cùng địa bàn hoạt động để duy trì một chi nhánh, phòng giao dịch từ đó sẽcắt giảm được một số lượng nhân viên, cắt giảm chi phí thuê văn phòng, chi phí tiềnlương nhân viên, chi phí hoạt động của chi nhánh, phòng giao dịch Chi phí hoạt động
sẽ giảm xuống, doanh thu tăng lên sẽ là yếu tố làm cho hiệu quả hoạt động của ngânhàng sau sáp nhập cao hơn
Đồng thời, hai hay nhiều ngân hàng riêng lẻ có những sản phẩm khác nhau khi kếthợp lại sẽ tạo ra việc sử dụng các sản phẩm hỗ trợ cho nhau hoặc thay thế lẫn nhau sẽlàm gia tăng tính tiện ích của sản phẩm dịch vụ ngân hàng sau sáp nhập từ đó sẽ thuhút khách hàng nhiều hơn, giá trị dịch vụ của sản phẩm sẽ ngày càng cao hơn dẫn đếnhiệu quả hoạt động của ngân hàng tăng trưởng hơn
Tận dụng hệ thống khách hàng của các bên
Mỗi ngân hàng sẽ tạo ra đặc thù kinh doanh riêng có Do vậy khi kết hợp lại sẽ cónhững lợi thế riêng để khai thác bổ sung cho nhau Chẳng hạn như ngân hàng có hệthống khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi kết hợp với ngân hàng chuyêncho vay đối với cá nhân và các doanh nghiệp nhỏ thì sản phẩm cho vay đối với cácnhân viên của doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ được ngân hàng chuyên cho vay cá nhân sửdụng triệt để nhằm khai thác lợi thế vốn có của mình Hoặc khi ngân hàng nhỏ sápnhập vào ngân hàng lớn thì họ có điều kiện để kinh doanh những sản phẩm mà trướckia họ không có khả năng thực hiện như lập phòng kinh doanh ngoại tệ chẳng hạn.Muốn phát triển một phòng giao dịch ngoại tệ phải có đầu tư lớn về công nghệ, nhânlực và năng lực quản trị rủi ro Điều này vượt ra ngoài khả năng của các ngân hàng nhỏnên sau khi sáp nhập các ngân hàng nhỏ có điều kiện hơn để tham gia vào những lĩnhvực mà trước đây bản thân họ không thể thực hiện được
Trang 5Ngân hàng sau sáp nhập sẽ được kế thừa hệ thống khách hàng của hai ngân hàngtrước sáp nhập, từ đó khách hàng sẽ được cung cấp các sản phẩm dịch vụ mà trước đâyngân hàng kia không có, làm tăng sự gắn bó của khách hàng với ngân hàng đồng thờităng nguồn thu nhập cho ngân hàng.
Hơn nữa, khi một trong hai hay nhiều ngân hàng có chi nhánh hoặc phòng giao dịchtại những địa bàn mà bên còn lại không có cơ sở kinh doanh thì ngân hàng kia có thểkhai thác các khách hàng của ngân hàng này để cung cấp các sản phẩm của mình thay
vì thiết lập chi nhánh hoặc phòng giao dịch mới vừa tốn kém chi phí vừa mất rất nhiềuthời gian để xây dựng hệ thống khách hàng Như vậy hiệu quả chung của ngân hàngsau sáp nhập sẽ cao hơn rất nhiều so với hiệu quả của hai ngân hàng đơn lẻ cộng lại
Giảm chi phí huy động do việc chạy đua lãi suất
Trong thời kỳ cuối năm 2007 sang đầu năm 2008, các NHTM Việt Nam lạc vàocuộc đua lãi suất huy động, đỉnh điểm là tháng 2 năm 2008, sau rất nhiều cuộc họp củaHiệp hội ngân hàng Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước, cuộc đua lãi suất vẫn rất gay gắtkể cả sau khi bỏ trần lãi suất, áp dụng lãi suất cho vay không vượt quá 150% lãi suất cơbản nhưng một số NHTMCP vẫn duy trì lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng trên19%/năm Cá biệt có ngân hàng chạy đua lãi suất tiền gửi 24 giờ với lãi suất 20%/năm.Thực trạng đó cho thấy áp lực cạnh tranh lãi suất huy động của các NHTMCP ViệtNam rất gay gắt khi có bất kỳ biến cố khó khăn nào của nền kinh tế xảy ra Lượng tiềngửi trong hệ thống ngân hàng của dân cư không tăng lên đáng kể trong khi số dư tiềngửi của các ngân hàng chạy lòng vòng sang nhau Vậy nên, khi ngân hàng sáp nhập lại,đặc biệt là các ngân hàng nhỏ và yếu bị các ngân hàng lớn thâu tóm thì số lượng cácNHTM Việt nam sẽ giảm xuống, khi đó áp lực cạnh tranh lãi suất sẽ giảm xuống, nănglực tài chính được cải thiện đáng kế, sẽ khó có thể diễn ra cuộc chạy đua lãi suất huyđộng tương tự như hồi tháng 2 năm 2008 Các ngân hàng nhỏ sẽ bị ngân hàng lớn thâutóm từ đó hình thành nên những ngân hàng lớn mạnh hơn trước, chi phí huy động sẽgiảm xuống đáng kể so với trước khi thực hiện sáp nhập làm cho hiệu quả hoạt độngcủa ngân hàng tốt hơn, dẫn đến năng lực cạnh tranh tăng lên đủ sức vượt qua nhữngbiến cố khó khăn của nền kinh tế
Thu hút nguồn nhân sự giỏi
Sự phát triển rất nhanh của ngành ngân hàng Việt Nam nói chung và khốiNHTMCP nói riêng trong thời gian qua đã làm cho thị trường lao động rất khan hiếmnhân sự ngành tài chính - ngân hàng Các ngân hàng mới thành lập đều phải xây dựngmột đội ngũ cán bộ nòng cốt vững chắc, những nhân sự này đòi hỏi phải có kinhnghiệm trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, có kỹ năng quản lý tốt Do vậy để xây
Trang 6dựng được “đội ngũ khủng” như vậy thì không có cách nào hiệu quả bằng lôi kéo nhân
sự ở những ngân hàng đã hoạt động lâu năm, đồng thời các ngân hàng muốn mở rộngqui mô hoạt động cũng phải tuyển dụng nhân sự cho chi nhánh, phòng giao dịch mớinên dẫn đến hiện tượng dịch chuyển nhân sự từ ngân hàng này sang ngân hàng khác.Năm 2007 đánh dấu thời điểm khan hiếm nhân sự ngành ngân hàng lên đến đỉnh điểm,các ngân hàng khốn đốn trong việc tuyển dụng các nhân sự giỏi, do đó họ thường tìmcách lôi kéo những nhân sự giỏi của các ngân hàng khác
Vì thế khi hai hay nhiều ngân hàng sáp nhập lại sẽ tạo ra được đội ngũ nhân sự lớnđể chọn lọc hình thành nên đội ngũ nhân sự mới tiềm năng và đầy năng lực, có thể thựchiện các chiến lược kinh doanh mới, những lĩnh vực, sản phẩm dịch vụ mà trước đây
do thiếu nhân sự giỏi nên không thể thực hiện được như kinh doanh ngoại tệ, sản phẩmoptions… Từ đó sẽ tạo nên thế mạnh riêng có của ngân hàng sau sáp nhập, hiệu quảhoạt động tăng trưởng rõ nét, gia tăng khả năng để theo đuổi các mục tiêu như ngânhàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam, tập đoàn tài chính lớn nhất VN…
Đa dạng hóa rủi ro
M&A giúp các ngân hàng đa dạng hóa rủi ro thông qua lĩnh vực đầu tư và danhmục đầu tư, cơ sở khách hàng hàng và chất lượng khách hàng cũng như củng cố nguồnvốn cho nhu cầu thanh khoản
Nhằm gia tăng giá trị doanh nghiệp
Việc sáp nhập ngân hàng lại với nhau dẫn đến tận dụng được lợi thế kinh doanhtrên qui mô lớn, giảm bớt các chi phí nếu thực hiện mở rộng qui mô hoạt động, cắtgiảm được nhân sự dư thừa thiếu hiệu quả, tận dụng được hệ thống khách hàng để pháttriển các sản phẩm hỗ trợ, mở rộng được lĩnh vực kinh doanh, sản phẩm mới khi cóthêm các nhân sự giỏi sẽ làm cho hiệu quả hoạt động của ngân hàng sau sáp nhập tăngcao, dẫn đến giá trị tài sản của ngân hàng tăng lên, giá trị tài sản của cổ đông tăng dẫnđến giá cổ phiếu của ngân hàng sau sáp nhập sẽ được các cổ đông hiện hữu tin tưởng,các nhà đầu tư quan tâm và đánh giá cao hơn
Do vậy, sáp nhập không chỉ đơn thuần là phép cộng giá trị của hai hay nhiều ngânhàng lại với nhau, nếu tận dụng được các lợi thế, giá trị ngân hàng sau sáp nhập sẽ lớnhơn rất nhiều lần phép cộng số học của các ngân hàng bị sáp nhập lại
Trang 72 Động cơ xấu
Phục vụ cho lợi ích nhóm cổ đông cá biệt
Trong quá trình thâu tóm và sáp nhập ngân hàng làm cho quyền lợi của các cổ đôngthiểu số bị ảnh hưởng rất lớn Các nhóm cổ đông lớn sẽ tranh thủ quyền biểu quyết củamình để gây ảnh hưởng đến các quyết định phục vụ riêng cho lợi ích riêng mình, ví dụnhư lợi dụng ngân hàng để phục vụ cho các công ty sân sau của mình
Sở hữu chéo
Các ông chủ ngân hàng tìm cách thâu tóm cổ phần của nhau, để lách các quy định
về giới hạn tín dụng, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro của NHNN, làm gia tăngviệc cho vay thiếu kiểm soát
Trang 8CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG MUA BÁN, SÁP NHẬP CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
I Sáp nhập ngân hàng thời kỳ sơ khai của hệ thống ngân hàng Việt Nam:
Tháng 5/1990, Hội đồng Nhà nước thông qua 2 Pháp lệnh Ngân hàng:
- Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
- Pháp lệnh Ngân hàng, HTX tín dụng và công ty tài chính
Từ đây, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã bắt đầu quá trình chuyển đổi mạnh mẽ,căn bản và toàn diện phù hợp với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần của Đảng, Nhà nước, chính thức chuyển cơ chế hoạt động từ 1 cấp trởthành 2 cấp (Hệ thống một cấp bao gồm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và hệ thốngchi nhánh từ trung ương đến địa phương phân bố theo địa giới hành chính Hệ thốngnày vừa đảm nhận chức năng quản lý Nhà nước về các mặt hoạt động tiền tệ, ngânhàng, tín dụng và thanh toán vừa thực hiện chức năng kinh doanh của một ngân hàngthương mại Kiểu tổ chức hệ thống ngân hàng như thế này thích hợp với đặc thù của cơchế quản lý kế hoạch tập trung bao cấp lúc bấy giờ nhưng khi nền kinh tế chuyển sang
cơ chế kinh doanh thì nó tỏ ra kém hiệu quả và không còn phù hợp nữa Hệ thống haicấp bao gồm Ngân hàng Nhà nuớc và Ngân hàng chuyên doanh Ngân hàng Nhà nước,được tổ chức thành hệ thống từ trung ương đến cấp tỉnh, thực hiện chức năng quản lýNhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng Ngân hàng chuyên doanh bao gồm Ngânhàng Công Thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam, Ngânhàng Đầu Tư Xây Dựng Việt Nam và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, thực hiệnchức năng kinh doanh theo những lĩnh vực tương ứng với tên gọi.)
Vào những năm 1992-1993, tại khu vực TP.HCM đã xảy ra những vụ sáp nhập NHmang tính chất sơ khai Đầu tiên là các cơ sở sản xuất, kinh doanh có huy động vốn bị
vỡ nợ như: Nước hoa Thanh Hương, Đại Thành, Xacogiva , rồi đến sự phá sản và giảithể của các hợp tác xã (HTX) tín dụng, quỹ tín dụng kéo dài từ những năm 1989-1990,
đã gây ra những biến động lớn, buộc một số HTX tín dụng còn lại đã hợp nhất hìnhthành nên những NH thương mại cổ phần đầu tiên trên địa bàn TP.HCM (ngoại trừEximbank, Saigon Bank và HDB), để thỏa các điều kiện theo khuôn khổ các quy địnhcủa các pháp lệnh về NH Nếu như năm 1991 chỉ mới có 9 ngân hàng thương mại,trong đó có đến 4 ngân hàng quốc doanh thì đến năm 1993 số lượng ngân hàng thươngmại đã gia tăng lên đến 56 trong đó có đến 41 ngân hàng thương mại cổ phần Một sốtrường hợp điển hình như:
Trang 9- Vào ngày 21/12/1991, Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) được thànhlập và đi vào hoạt động trên cơ sở chuyển thể Ngân hàng phát triển kinh tế Gò Vấp
và sáp nhập với ba hợp tác xã tín dụng Tân Bình, Thành Công, Lữ Gia
- Ngân hàng TMCP Phát Triển Mê Kông thành lập năm 1992, tiền thân là ngân hàngTMCP nông thôn Mỹ Xuyên, với trụ sở chính đặt tại thành phố Long Xuyên, tỉnh
- Ngân hàng Đệ Nhất thành lập năm 1993 trên cơ sở chuyển đổi HTX Tín dụng Q.5
- Ngân hàng Quế Đô thành lập trên cơ sở chuyển đổi HTX Tín dụng Phong Phú
- Ngoài ra còn có sự hình thành của một số ngân hàng khác như: Nam Á, Đại Nam,Nam Đô, Việt Hoa, Phương Nam, và Nông Thôn An Bình
Trong thời kỳ những năm 1997-2004, cũng xảy những vụ sáp nhập NH mà chủ yếu
là sáp nhập của NHCP nông thôn vào các NHCP đô thị như các vụ:
- Ngân hàng Phương Nam: Sáp nhập Ngân hàng TMCP Đồng Tháp năm 1997, Sápnhập Ngân hàng TMCP Đại Nam năm 1999, Năm 2000 mua Qũy Tín Dụng NhânDân Định Công Thanh Trì Hà Nội, Năm 2001 sáp nhập Ngân hàng TMCP NôngThôn Châu Phú, Năm 2003 Sáp nhập Ngân hàng TMCP Nông Thôn Cái Sắn, CầnThơ
- Ngân hàng Sacombank: Sáp nhập Ngân hàng TMCPNT Thạnh Thắng (Cần Thơ)năm 2001
- Ngân hàng Đông Á: Sáp nhập Ngân hàng TMCPNT Tân Hiệp (Kiên Giang) năm2004
So với các NH khác, Phương Nam trong thời kỳ đó được xem là đã sáp nhập nhiều
NH nông thôn nhất Những hệ quả sau sáp nhập khá âm thầm, ít có thông tin Cònnhững nguyên do, động cơ trước sáp nhập nghe nói cũng khá tế nhị: có những trườnghợp bất đắc dĩ, bị ép uổng, thậm chỉ chỉ đơn giản là trừ nợ
Trang 10II Việc tham gia vốn của nhà đầu tư nước ngoài vào NHTM tại Việt Nam
Kết quả tham gia của nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam rất khả quan Cụ thểhiện có đến 13 NHTMCP có vốn nhà đầu tư nước ngoài tham gia và nhìn chung, 13NHTM này đều không nằm trong đối tượng của những NH yếu kém, thậm chí phần lớnthuộc nhóm đầu
tư với các TCTD Việt Nam, và khuyến khích các TCTD nước ngoài tham gia góp vốnmua cổ phần, sáp nhập hợp nhất vào các TCTD yếu kém của Việt Nam trên cơ sở tuânthủ các quy định của pháp luật
Để cụ thể chủ trương này, vừa qua Vụ đã trình Chính phủ chủ trương sửa đổi Nghịđịnh 69 trong đó 2 điểm mà nhà đầu tư nước ngoài hết sức quan tâm:
(i) Trước đây, theo nghị định 69, một nhà đầu tư nước ngoài được NHNN xem xétmua cổ phần tại TCTD Việt Nam tối đa là 15% vốn điều lệ TCTD, trong trường hợp
Trang 11cần thiết trình Chính phủ xin ý kiến về nâng mức sở hữu lên 20% Tuy nhiên Nghị định
69 sửa đổi sẽ cho phép các nhà đầu tư nước ngoài là đối tác chiến lược của TCTD ViệtNam được sở hữu 20% vốn cổ phần mà không cần phải trình Chính phủ
(ii) Theo nghị định 69, tổng mức sở hữu cổ phần của tất cả các nhà đầu tư nướcngoài và người có liên quan tại TCTD không quá 30% vốn điều lệ Theo tinh thần của
đề án 254, nghị định 69 sửa đổi trình Chính phủ theo hướng, trong trường hợp đặc biệt,phục vụ quá trình tái cơ cấu, có thể trình Chính phủ cho phép nhà đầu tư tham gia trên30% vốn điều lệ của TCTD đối với từng trường hợp cụ thể
Với sự sửa đổi này nếu được thông qua sẽ là cơ hội để các nhà đầu tư thâm nhậpsâu hơn vào thị trường Việt Nam và ý nghĩa hơn là tham gia vào quá trình tái cơ cấuTCTD Việt Nam Việc mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài tại các TCTD là trên cơ
sở tự nguyện và sự lựa chọn đối tác của TCTD Việt Nam Vì vậy trong thời gian quacác TCTD Việt Nam bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài đạt được những thành tựuđáng kể như: tăng năng lực tài chính thông qua tăng vốn điều lệ và thặng dư vốn cổphần; năng lực quản trị điều hành được cải thiện đáng kể thông qua tái cơ cấu bộ máy,
tư vấn, đào tạo của TCTD nước ngoài, mở rộng nghiệp vụ hoạt động, mở rộng quan hệđại lý…
Dự thảo Nghị định thể hiện khá rõ sự lo ngại các tổ chức nước ngoài, nhất là cácngân hàng thương mại có thể sẽ lũng đoạn hệ thống ngân hàng VN
Do đó, ngoài quy định khống chế tỷ lệ sở hữu, dự thảo còn quy định: việc mua cổphần không gây ảnh hưởng đến sự an toàn, ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng,không tạo ra sự độc quyền hoặc hạn chế cạnh tranh trong hệ thống tổ chức tín dụngViệt Nam và còn quy định: nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân chỉ được mua cổ phầncủa tổ chức tín dụng cổ phần Việt Nam đã niêm yết cổ phiếu trên Sở Giao dịch Chứngkhoán
Tuy nhiên, việc định lượng cụ thể việc ảnh hưởng đến sự an toàn, ổn định của hệthống tổ chức tín dụng Việt Nam là điều rất khó trên thực tế Nhiều tổ chức tín dụngyếu kém hiện nay đang muốn tăng vốn chủ sở hữu thông qua việc bán cổ phần để giảiquyết hai vấn đề cốt tử, đó là nợ xấu và tính thanh khoản Việc tìm dòng vốn nội đểbán cổ phần trong bối cảnh thị trường vốn nội địa ảm đạm như hiện nay sẽ rất khókhăn, do đó, việc tìm dòng vốn ngoại đang được nhiều ngân hàng quan tâm
Nhiều tổ chức nước ngoài cho rằng, quy định về tỷ lệ sở hữu hiện nay của Ngânhàng Nhà nước đã không hấp dẫn các tổ chức nước ngoài và họ kiến nghị tỷ lệ này cóthể xem xét nâng lên mức 51% hoặc lên tới 65%
Trang 12Khi tỷ lệ sở hữu đạt tới mức này, ngân hàng ngoại mới có thể có được tiếng nóitrong việc xây dựng chiến lược phát triển, kể cả xử lý nợ xấu của ngân hàng nội bởi vì
họ vừa có kinh nghiệm, kỹ năng đánh giá nợ xấu vừa có nguồn vốn để có thể tham giavào quá trình xử lý nợ xấu của ngân hàng nội
III Các diễn biến về Sáp nhập, tâu tóm ngân hàng gần đây:
1 SCB- Tín Nghĩa- Đệ Nhất
1.1 Giới thiệu khái quát về ngân hàng SCB- Tín Nghĩa- Đệ Nhất
Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn
Tên GD: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN
Tên tiếng Anh: SAIGON COMMERCIAL BANK (SCB)
Tiền thân là Ngân hàng TMCP Quế Đô được thành lập năm 1992 theo Giấy phéphoạt động số 00018/NH-GP ngày 06/06/1992 của Thống đốc Ngân Hàng Nhà NướcViệt Nam và giấy phép thành lập số 308/GP-UB ngày 26/06/1992 của UBND TP.HCMcấp, đến ngày 08/04/2003, chính thức đổi tên thành Ngân hàng TMCP Sài gòn (SCB).SCB là một trong những Ngân hàng TMCP hoạt động có hiệu quả trong hệ thốngtài chính Việt Nam Cụ thể, từ 27/12/2010 vốn điều lệ đạt 4.184.795.040.000 VNĐ;đến 30/09/2011 tổng tài sản của SCB đạt 77.985 tỷ đồng, tăng gần 30% so với đầunăm Mạng lưới hoạt động gồm 132 điểm giao dịch trải suốt từ Nam ra Bắc
Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Nam Tín Nghĩa
Tên GD: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM TÍN NGHĨA Tên tiếng Anh: VIETNAM TIN NGHIA COMMERCIAL JOINT STOCK BANK
(VIETNAM TIN NGHIA BANK)
Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa tiền thân là Ngân hàng TMCP Tân Việtđược thành lập theo Giấy phép hoạt động số 0164/NH–GP ngày 22 tháng 08 năm 1992
do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp Ngày 18/01/2006, Ngân hàng TMCP Tân Việtđược đổi tên thành Ngân hàng TMCP Thái Bình Dương theo Quyết định số 75/QĐ-NHNN Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu từ năm 2008, một lần nữa vào tháng01/2009 Ngân hàng TMCP Thái Bình Dương đã được đổi tên thành Ngân hàng TMCPViệt Nam Tín Nghĩa theo Quyết định số 162/QĐ-NHNN nhằm cơ cấu lại tổ chức vàphát triển theo kịp xu thế mới
Tính đến cuối tháng 9/2011, TinNghiaBank có vốn điều lệ đạt 3.399.000.000 VNĐ;tổng tài sản đạt 58.939 tỷ đồng, tăng 26% so với năm 2010, vượt 7,16 % kế hoạch.Mạng lưới hoạt động gồm 83 điểm giao dịch từ Nam ra Bắc
Trang 13 Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Đệ Nhất
Tên GD: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐỆ NHẤT
Tên tiếng Anh: FIRST JOINT STOCK BANK (FICOMBANK)
Ngân hàng TMCP Đệ nhất được thành lập theo Giấy phép hoạt động số 0033/NH–
GP ngày 27 tháng 04 năm 1993 do NHNN Việt Nam cấp và giấy phép thành lập số534/GP-UB do Uỷ ban nhân dân TP.HCM cấp ngày 13 tháng 5 năm 1993 Trong bốicảnh hoạt động theo khung pháp lý cho NHTM tại Việt Nam, ngày 02/8/1993 Ngânhàng TMCP Đệ Nhất đã chính thức khai trương và đi vào hoạt động
Tính đến 30/09/2011, Ficombank có Vốn điều lệ đạt 3.000.000.000 VNĐ Kết quảhoạt động kinh doanh đã “phá” chỉ tiêu về tổng tài sản khi đạt hơn 17.100 tỷ đồng,vượt 128% so kế hoạch Mạng lưới hoạt động gồm 26 điểm giao dịch tại TP.HCM, HàNội và một số thành phố lớn
1.2 Thực trạng sáp nhập của NH TMCP Sài Gòn
Ngày 01/01/2012, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài gòn (Ngân hàng hợp nhất)chính thức đi vào hoạt động sau khi hợp nhất từ 3 ngân hàng: Ngân hàng Thương mạicổ phần Sài gòn (SCB), Ngân hàng Đệ nhất (Ficombank) và Ngân hàng Việt Nam Tínnghĩa Trước khi hợp nhất, ba ngân hàng nói trên lâm vào tình trạng mất khả năngthanh khoản trầm trọng Về chất luợng tài sản, nợ xấu của TinnghiaBank đang ở mức1,7% tổng tín dụng tại thời điểm 30 tháng 9, trong đó, khỏang 374 tỉ đồng là khỏan nợkhông có khả năng thu hồi chiếm khoảng 89,15% Trong khi đó, nợ xấu củaFicombank chiếm khoảng 2,2% vào cuối năm 2010 Trong 3 ngân hàng thì SCB hiệnđang có nợ xấu cao nhất, khảong 12,46% tại thời điểm cuối năm 2010 Về cơ cấu huyđộng, hiện nay SCB đang phụ thuộc vào vốn hỗ trợ từ NHNN và vay trên thị truờnglien ngân hàng Tổng huy động từ hai nguồn này đã tăng đáng kể, từ mức 18,9% cuốinăm 2010 lên 27.9% vào cuối tháng 9 năm 2011
1.2.1 Nguyên nhân chính dẫn đến sáp nhập
Chủ yếu do họ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn (chủ yếu vàolĩnh vực bất động sản), gặp khi thị trường biến động, nhất là khi nguồn vốn huy độngngắn hạn không còn dồi dào như trước nên rủi ro thanh khoản xảy ra Các khoản nợquá hạn thị trường 1 (TT1) của ngân hàng tăng và ở mức cao, đặc biệt là các khoản nợquá hạn của các tổ chức kinh tế Huy động TT2 đến hạn không chi trả được cũng tăngcao, tạo áp lực thanh khoản lớn Trong khi đó, việc sử dụng nguồn bị mất cân đối lớn
do kỳ hạn huy động tương đối ngắn, nhưng lại cho vay và đầu tư khá dài khiến tìnhhình tài chính trở nên nghiêm trọng hơn
Trang 14Trạng thái vàng âm tới hàng nghìn lượng gây áp lực lớn thanh khoản cho ngânhàng Cũng tại thời điểm này, hầu hết các tỷ lệ an toàn hoạt động đều thấp hơn quyđịnh Cụ thể, ngân hàng không duy trì được đủ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ an toàn vốn tốithiểu thấp hơn 9%, tỷ lệ thanh khoản thấp hơn quy định, tỷ lệ dư nợ cho vay liên quanđến vốn tự có và nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn đều vượt quy định… cùngvới nhiều rủi ro khác.
Còn một nguyên nhân sâu xa khác, chính là áp lực từ Nghị định 141/2006/NĐ-CPngày 26/01/2011 về việc bắt buộc các ngân hàng thương mại tăng vốn điều lệ từ mức1.000 tỷ đồng đến năm 2008 và nâng lên 3.000 tỷ đồng đến năm 2011 Bởi, khi tăngvốn điều lệ thì buộc các ngân hàng thương mại tăng tổng tài sản lên mức tương ứng đểtránh lỗ Vì thế, họ liên tục mở chi nhánh và tìm khách hàng cho vay- điều không dễdàng, vì những vị trí đắc địa, khách hàng tốt đã bị những ngân hàng lớn đi trước chiếmgiữ, và lối thoát duy nhất là tìm khách hàng dễ cho vay nhất, dễ kiếm lời nhất, khảnăng cung bao nhiêu vốn cũng hết, đó là bất động sản Thậm chí, ngay cả cho vay tiêudùng cũng chảy vào bất động sản Do đó, vấn đề đáng quan tâm hơn cả là ngân hànglấy đâu ra hàng nghìn tỷ đồng đẻ tăng vốn pháp định, nhất là trong điều kiện thị trườngchứng khóan liên tục sụt giảm
Trước tình hình này, hội đồng quản trị của ba ngân hàng đã tự nguyện sáp nhập vớinhau thành một ngân hàng dưới sự bảo trợ của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển ViệtNam (BIDV), và cần tới sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước thông qua khoản vay táicấp vốn Tổng số vốn hỗ trợ liên ngân hàng của BIDV cho ba nhà băng (tính đến tháng12/2012) là trên 2.400 tỷ đồng (trên tổng số tài sản được ba nhà băng đem ra đảm bảo
là 30.000 tỷ đồng)
1.2.2 Kết quả sau 1 năm sáp nhập của NH TMCP Sài Gòn
Ngân hàng hợp nhất có vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng, tổng tài sản là 150.000 tỉ đồng,
và có hơn 200 chi nhánh, phòng giao dịch
Tính đến 31/12/2012, tổng số dư huy động TT1 của SCB đạt 106.712 tỷ đồng, tăng35,7% so với đầu năm Trong đó, huy động trên 12 tháng chiếm 21,9% SCB chủ yếuhuy động bằng VNĐ và giảm huy động vàng, ngoại tệ Tính ra, tỷ trọng huy động vàngcòn chiếm 14,8%, và ngoại tệ là 5,9% Tổng dư nợ tín dụng của SCB tăng đến 35,3%
so với năm trước, đạt 87.166 tỷ đồng Trong đó, tỷ lệ nợ xấu giảm từ 12,8% xuống8,8%, tức giảm hơn 31,4% Năm 2012, SCB đã có lãi trước thuế 77 tỷ đồng Tổng tàisản hợp nhất của SCB tại thời điểm 31/12/2012 đạt 149.206 tỷ đồng, tăng 4,391% tỷđồng so với đầu năm, chủ yếu do cơ cấu lại các khỏan nợ
Tỷ lệ an tòan vốn đạt 10,7% đáp ứng được quy định của NHNN
Trang 15Sau hơn 1 năm cơ cấu lại, SCB cho biết, trong quý I/2013, ngân hàng đã thanh toánbổ sung 6.972 tỷ đồng tiền gốc và 1.639 tỷ đồng các khoản vay tái cấp vốn NHNN Số
dư tái cấp vốn của NHNN tại SCB ở thời điểm 31/3/2013 là 2.800 tỷ đồng NHNN đã
có văn bản chấp thuận cho SCB gia hạn các khoản vay này với thời hạn tối đa 24tháng, không tính lãi phạt quá hạn và áp dụng lãi suất tái cấp vốn phù hợp với từng thờikỳ
Như vậy cho đến nay, SCB đã thanh toán cho NHNN là 9.478 tỷ đồng và lãi vay1.377 tỷ đồng, đưa số dư các khoản vay tái cấp vốn NHNN từ 18.134 tỷ hồi đầu nămxuống 9.772 tỷ đồng Còn các khoản vay liên ngân hàng, SCB có số dư các khoản huyđộng trên TT2 của ngân hàng ở mức 18.251 tỷ đồng, giảm 15.648 tỷ đồng so với đầunăm Đặc biệt, SCB đã hoàn trả khoản vay hỗ trợ từ BIDV gồm 2.464 tỷ đồng nợ gốc
và gần 179 tỷ đồng nợ lãi
Theo SCB, các khoản vay TT2 giảm trong năm 2012 chủ yếu do ngân hàng thựchiện cân đối sử dụng nguồn vốn huy động mới trên TT1, thu nợ, thu lãi từ hoạt độngtín dụng để trả bớt nợ liên ngân hàng Ngân hàng này còn đàm phán, thương lượngthành công với các tổ chức tín dụng (TCTD) về việc gia hạn và giảm lãi suất với cáckhoản vay quá hạn của SCB Tỷ lệ an toàn vốn đạt 10,7%, đáp ứng được quy định củaNHNN
Rõ ràng việc tái cơ cấu 3 NHTM này lại với nhau đã mang lại cơ sở thành côngnhất định Đây là nền tảng vững chắc, tạo cơ sở pháp lý, để NHNN hành động mạnhhơn Chính vì vậy, với Thông tư 07 có hiệu lực từ ngày 27/4, NHNN sẽ "rắn tay" hơnnhằm giải quyết triệt để những yếu kém trong hệ thống NHNN căn cứ vào thực trạngtài chính, mức độ rủi ro và vi phạm pháp luật của TCTD, để quyết định đặt các TCTDvào tình trạng kiểm soát đặc biệt hay không Hiện tại, dưới sự giám sát chặt chẽ củaNgân hàng Nhà nước, SCB đang đẩy mạnh triển khai các giải pháp cơ cấu lại tổng thể,bao gồm cả cơ cấu lại các khoản tiền vay/tiền gửi và tổ chức tài chính nhận ủy thác củacác tổ chức tín dụng theo kế hoạch tái cơ cấu giai đoạn 2013-2014 và Phương án cơcấu lại nợ thị trường 2 (thị trường liên NH) đã được NHNN phê duyệt