xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức tại tỉnh Phú Thọ hiện nay
Trang 1Mục lục
Mở ĐầU 1
Chơng 1: MộT Số VấN Đề Lý LUậN Về CáN Bộ, CÔNG CHứC ở VIệT NAM HIệN NAY 7
1.1 quan niệm về công vụ 7
1.2 quan niệm về cán bộ, công chức 14
1.3 yêu cầu và nội dung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức 25
Chơng 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh phú thọ hiện nay 40
2.1 thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Phú Thọ hiện nay 40
2.2 Thực trạng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức tại tỉnh Phú Thọ 46
2.3 Đánh giá chung về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Phú Thọ .59
Chơng 3: Phơng hớng và giảI pháp xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức tại tỉnh phú thọ 65
3.1 Phơng hớng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức tại tỉnh Phú Thọ 65
3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm xây dung đội ngũ cán bộ, công chức tại tỉnh Phú Thọ 73
Kết luận 100
Danh mục tài liệu tham khảo 107
Trang 2Mở ĐầU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay, sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học công nghệ đã làm biến đổi sâu sắc tất cả các lĩnh vực của đờisống xã hội, mở ra một thời đại mới cùng sự phát triển của kinh tế tri thức Đặctrng cơ bản của kinh tế tri thức là nguồn nhân lực có trí tuệ, có kỹ năng, đợc đàotạo cơ bản, do vậy vai trò của “nguồn lực con ngời” ngày càng tăng, hàm lợng trítuệ trong các sản phẩm lao động ngày càng cao, giá trị của tri thức ngày càng đợckhẳng định ở mỗi quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới
Hội nhập kinh tế thế giới, đất nớc ta đã thực sự bớc vào sân chơi của kinh tếtri thức, mặc dù điểm xuất phát về kinh tế - xã hội của đất nớc ta còn thấp, nhng
Đảng ta đã vững vàng lãnh đạo Nhà nớc và nhân dân chủ động tham gia vào quátrình toàn cầu hóa, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh kinh tế với tất cả các quốc gia,dân tộc, các tổ chức kinh tế trên toàn thế giới Trong quá trình đó, tuy phải đốimặt với những nguy cơ, thách thức ngày càng nhiều hơn, song cũng đã và đang
mở ra cho đất nớc ta những cơ hội rất lớn để đi tắt, đón đầu, giúp cho đất nớc tanhanh chóng thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển, tiếp tục đẩy mạnh và hoànthành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc vì mục tiêu dân giàu, nớcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bớc đi lên chủ nghĩa xã hội.Mục tiêu cao cả đó do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo có thể trở thành hiện thựchay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó chất lợng nguồn nhân lực mà
đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lợng cao của đất nớc là yếu tố quan trọngnhất Chính vì vậy trong đờng lối lãnh đạo và điều hành đất nớc, Đảng và Nhà n-
ớc ta luôn chú trọng tới việc xây dựng, phát triển nguồn nhân lực phù hợp vớitình hình thực tiễn của đất nớc trong từng giai đoạn cách mạng cũng nh yêu cầutất yếu khách quan của nền kinh tế tri thức Trong đó, việc xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, làm cho đội ngũ cán bộ, côngchức của đất nớc thực sự có đủ cả đức và tài, giữ vững vai trò nòng cốt, là “… cái cái gốc của mọi công việc” [40] nh lời Bác Hồ đã dạy Vai trò của nguồn lực cán bộ,
công chức trong nền kinh tế tri thức đợc khẳng định là nhân tố quan trọng hàng
đầu trong phát triển kinh tế – xã hội, nh nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ IX đã xác định: "Hoàn thiện chế độ công vụ, quy chế cán bộ, công chức, coi
trọng cả năng lực và đạo đức; bảo đảm tính nghiêm túc, trung thực trong thi tuyển cán bộ, công chức Đào tạo, bồi dỡng cán bộ, công chức, trớc hết là cán bộ lãnh
đạo, cán bộ quản lý về đờng lối, chính sách, về kiến thức và kỹ năng quản lý hành chính Nhà nớc Sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức theo chức danh, tiêu chuẩn … cái Do vậy, nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu "
phát triển kinh tế tri thức có thể đợc coi là khâu đột phá trong chiến lợc phát triểnkinh tế - xã hội của đất nớc
Trang 3Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi trung du phía Bắc, nằm trong khuvực giao lu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc (vị trí địa lýmang ý nghĩa trung tâm của tiểu vùng Tây - Đông – Bắc), là cầu nối giao lukinh tế – văn hóa – khoa học kỹ thuật giữa các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ với cáctỉnh miền núi Tây Bắc Nền kinh tế của tỉnh những năm qua đã có b ớc phát triển,tuy nhiên cha ổn định vững chắc, cha tơng xứng với tiềm năng, lợi thế của vùng.Kinh tế chủ yếu phát triển theo chiều rộng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ứngdụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn chậm; tình hình an ninh, chínhtrị và trật tự xã hội còn có nhiều yếu tố tiềm ẩn khó lờng Vì vậy, công cuộc xâydựng và phát triển kinh tế xã hội, củng cố và tăng cờng quốc phòng an ninh; xâydựng hệ thống chính trị ở tỉnh Phú Thọ trong sạch vững mạnh là nhiệm vụ cấpbách, đặc biệt là phải nhanh chóng xây dựng và nâng cao chất lợng đội ngũ cán
bộ, công chức vững mạnh, đồng bộ, đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời kỳ
đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc Trớc những yêu cầu
bức thiết và thực tế ở địa phơng nên tôi chọn đề tài: “Xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức tại tỉnh Phú Thọ hiện nay” làm đề tài Luận văn thạc sĩ chuyên ngành
Lý luận và lịch sử Nhà nớc và Pháp luật
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề xây dựng và nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ, công chức đã đợccác nhà nghiên cứu khoa học xã hội, các nhà hoạt động chính trị trong nớc và
ngoài nớc quan tâm nh Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất l “ ợng đội ngũ cán bộ, công chức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất n-
ớc ” của PGS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm, NXB Chính trị
quốc gia, 2003; Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng đòi hỏi của Nhà “ nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” của TS Thang Văn
Phúc và TS Nguyễn Minh Phơng, NXB Chính trị quốc gia, 2004; Công vụ, “ công chức – Những khía cạnh pháp lý và hành chính” của GS.TS Phạm Hồng
Thái, 2004; Hệ thống công vụ và xu h “ ớng cải cách của một số nớc trên thế giới” của TS Thang Văn Phúc – TS Nguyễn Minh Phơng – TS Nguyễn Thu
Huyền, NXB Chính trị quốc gia, 2004; Về chế độ công vụ Việt Nam “ ” do
PGS.TS Nguyễn Trọng Điều chủ biên, NXB Chính trị quốc gia, 2007…
Vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cũng đợc đặc biệt quan tâmtrong các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ, cử nhân dới nhiều góc độ khác nhau
nh Luận án tiến sỹ luật học Trách nhiệm pháp lý của công chức trong điều kiện “ xây dựng nhà nớc pháp quyền hiện nay” của tác giả Ngô Hải Phan (2004); Luận
văn thạc sỹ luật học Nâng cao chất l “ ợng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền các xã miền núi đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện nay” của tác
giả Lê Đình Vỹ (2005); Đề tài khoa học cấp tỉnh Nghiên cứu các giải pháp về “
đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lợng cao tỉnh Phú Thọ” của ThS.
Nguyễn Quang Hậu (2008-2009); Luận văn thạc sỹ luật học Xây dựng đội ngũ “
Trang 4cán bộ, công chức hành chính nhà nớc theo yêu cầu cải cách hành chính của tỉnh Bình Phớc hiện nay ” của tác giả Giang Thị Phơng Hạnh (2009)…
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đều đề cập đến vấn đề cán
bộ, công chức, hoặc là ở dạng chung nhất hoặc đặt nó nằm trong từng phạm vinghiên cứu cụ thể đã cung cấp nhiều t liệu quý báu về cơ sở lý luận, về kiến thức,kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nớc Tuy nhiên, ngoàinhững vấn đề chung đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức thì với các
địa phơng khác nhau sẽ cần có yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức khácnhau phù hợp thực tiễn ở các địa phơng đó trong mỗi giai đoạn cách mạng, trongkhi đó cha có công trình nào nghiên cứu việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chứctại tỉnh Phú Thọ hiện nay Chính vì vậy, đây là vấn đề bức thiết cần đợc nghiên cứumột cách cụ thể, toàn diện trên cả phơng diện lý luận và thực tiễn nhằm góp phầnphục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Làm rõ một số vấn đề lý luận, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất ph ơng ớng và giải pháp chủ yếu xây dựng và nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ, côngchức trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đáp ứng với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đạihoá và hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn hiện nay
h-3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện đợc mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau
đây:
+ Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về xây dựng đội ngũ cán bộ, côngchức
+ Phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức ở tỉnh Phú Thọ qua đó nêu
ra những vấn đề tồn tại cần khắc phục cũng nh phân tích các nguyên nhân, hạnchế
+ Đề xuất phơng hớng và giải pháp xây dựng và nâng cao chất lợng đội ngũcán bộ, công chức ở địa bàn tỉnh Phú Thọ đáp ứng với yêu cầu mới hiện nay vànhững năm tiếp theo
4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức tại tỉnhPhú Thọ giai đoạn 2003-2008 và đề xuất giải pháp đến năm 2015, định hớng đếnnăm 2020
5 Phơng pháp nghiên cứu
- Dựa trên phơng pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin, t tởng Hồ Chí Minh
về công tác cán bộ, quá trình nghiên cứu sử dụng phơng pháp luận Duy vật biệnchứng và Duy vật lịch sử; phơng pháp thống kê, so sánh, phân tích, quy nạp, diễndịch và phơng pháp thực chứng để phân tích làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
Trang 5- Kế thừa có chọn lọc và phát huy kết quả các công trình nghiên cứu của cáctác giả khác có liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu nh: Luận án, luận văn, đềtài nghiên cứu, bài viết đăng trên các tạp chí, báo,
6 Đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận văn
6.1 Đóng góp khoa học của luận văn
- Khái quát có hệ thống, phân tích và đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ,công chức của tỉnh Phú Thọ trong những năm gần đây
- Đề xuất một số phơng hớng và giải pháp nhằm nâng cao chất lợng đội ngũcán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai
đoạn hiện nay
6.2 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ một số vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn xâydựng đội ngũ cán bộ, công chức tại tỉnh Phú Thọ, đặc biệt trong giai đoạn đẩymạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nớc và tham gia hội nhập quốc
tế hiện nay
- Luận văn có thể làm t liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy ởtrờng chính trị tỉnh và trung tâm bồi dỡng chính trị các huyện, thành, thị uỷ trongtoàn tỉnh
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3chơng, 8 tiết
Trang 6Chơng 1
MộT Số VấN Đề Lý LUậN Về CáN Bộ, CÔNG CHứC
ở VIệT NAM HIệN NAY
1.1 quan niệm về công vụ
1.1.1 Khái quát về công vụ
Cán bộ, công chức là những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đờisống nhà nớc và xã hội của tất cả các quốc gia vì cán bộ, công chức là những ng -
ời, trong nhiều trờng hợp, nhân danh nhà nớc, sử dụng quyền lực nhà nớc để thựchiện nhiệm vụ, chức năng quản lý nhà nớc, thi hành pháp luật, đa pháp luật vào
đời sống xã hội, sử dụng ngân sách nhà nớc và tài sản công Tất cả những hoạt
động đó đều trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hởng tới đời sống nhà nớc, xã hội,
đời sống cộng đồng dân c, quyền, tự do, lợi ích hợp pháp của công dân Do đó,khi nói đến cán bộ, công chức không thể không đề cập đến kết quả hoạt động củangời cán bộ, công chức thông qua chế độ công vụ, bởi công vụ là một dạng hoạt
động hay lao động đặc biệt do cán bộ, công chức của bộ máy nhà nớc thực hiện.Khi quan niệm về công vụ ra sao thì sẽ có một quan niệm nhất định về cán bộ,công chức tơng ứng Nói cách khác, quan niệm về cán bộ, công chức đợc xâydựng trên cơ sở gắn liền với quan niệm về chế độ công vụ Bản thân kết quả thựcthi công vụ lại là sản phẩm hoạt động của ngời cán bộ, công chức Ngợc lại, hiệulực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nớc tuỳ thuộc vào chất lợng thực thicông vụ của cán bộ, công chức
Từ góc độ lao động xã hội thì công vụ là một dạng lao động xã hội đặc biệtkhác với các loại lao động xã hội khác Công vụ là hoạt động nhà nớc do cán bộ,công chức nhà nớc thực hiện dựa trên cơ sở quyền lực nhà nớc và pháp luật, đợcbảo đảm bằng quyền lực nhà nớc, pháp luật và sử dụng quyền lực đó để thực thicác nhiệm vụ, chức năng quản lý nhà nớc
Công vụ là một khái niệm, một phạm trù mang tính lịch sử ở mỗi giai đoạnlịch sử khác nhau và ở mỗi chế độ nhà nớc khác nhau, nền công vụ đợc quy địnhkhác nhau do có những cách hiểu, quan niệm khác nhau về phạm vi khái niệmcông vụ Phạm vi công vụ luôn phụ thuộc vào quan điểm chính trị, chế độ chínhtrị - xã hội và bản chất của nhà nớc Từ những góc độ khác nhau, có những quanniệm khác nhau về công vụ, mỗi một chế độ chính trị - xã hội nhà khoa học lại
có thể đa ra quan niệm của mình về công vụ, vì đây là vấn đề lý thuyết Lý thuyết
là nhận thức, suy nghĩ của con ngời về thực tiễn Hoạt động của cán bộ, côngchức là có thật trong thực tiễn, còn đó là hoạt động gì, khác với các hoạt động,hay lao động xã hội khác nh thế nào là do con ngời suy nghĩ, phản ánh nó
Dới chế độ phong kiến, cả phơng đông và phơng tây với chính thể quân chủtuyệt đối, công vụ đợc xem nh một sứ mạng thiêng liêng cao cả, đợc xã hội trọng
Trang 7vọng, tôn vinh và cũng là nơi quy tụ các lợi ích vật chất, quyền thế về tinh thần
đối với nhân dân Việc tuân thủ mệnh lệnh của nhà vua tức là thực thi bổn phậncông vụ Do đó, công vụ xét cho cùng là chế độ phục vụ nhà vua Nhiều tác giảkhi nghiên cứu về công vụ của nhà nớc phong kiến Việt Nam đều cho rằng:
“Công vụ ngày xa là việc quan, là một công việc ai cũng xem là quan trọng, mộtphần là vì những chế tài mà các nhà cầm quyền có thể sử dụng, nhng phần vì đốivới xã hội, đối với tâm lý thông thờng của con ngời, những ngời đợc lên nhữngchức vị cao cũng đều đợc mọi tầng lớp xã hội kính trọng” [33]
- Trong nhà nớc t sản, công vụ xét về bản chất là sự phục vụ cho quyền lựccông Tuy nhiên, do sự khác nhau trong tổ chức nhà nớc nên ngay trong các nhànớc t sản cũng tồn tại một số quan niệm khác nhau về công vụ Tiêu biểu là haiquan niệm về công vụ làm cơ sở cho hai chế độ công vụ cơ bản sau đây:
Thứ nhất, chế độ công vụ chức nghiệp Trong chế độ này, công vụ đợc quanniệm nh một chức nghiệp, do đó nó đợc duy trì liên tục và ổn định không phụthuộc vào sự thay đổi của chính trị Ngời công chức đợc đào tạo, tuyển chọn mộtcách kỹ lỡng vào công vụ và đợc đảm bảo suốt đời Hệ thống công vụ này đợcgọi là hệ thống “chức nghiệp” Công chức đợc coi nh một loại ngời chuyên làmcông việc nhà nớc, địa vị của họ đợc tôn vinh Các nớc theo chế độ chức nghiệp
điển hình là Pháp, Đức, Canada,
Quan niệm này đã coi công vụ là một nghề nghiệp của con ngời, nên nềncông vụ này trở nên cứng nhắc, khó thay đổi Trong bản thân nền công vụ chia ranhiều thứ bậc theo văn bằng, tạo nên sự trì trệ, khó thích ứng với sự biến động.Chế độ công vụ theo chức nghiệp dẫn đến sự ổn định của nền hành chính, nhnglại làm cho nó thiếu năng động, cuối cùng có thể dẫn đến kìm hãm sự phát triển
về kinh tế Hạn chế này khiến các quốc gia đang phát triển có nền công vụ chứcnghiệp phải liên tục cải cách và tiếp thu các yếu tố tiến bộ của nền công vụ việclàm [51]
Thứ hai, quan niệm công vụ là một công việc nhất thời, một việc làm Căn
cứ để tuyển dụng, sắp xếp công chức chỉ dựa vào công việc, vào chức vụ ng ời đó
đảm nhiệm chứ không phải dựa vào bản thân ngời công chức đó Ngời ta coi việctìm kiếm công việc trong các cơ quan, tổ chức nhà nớc cũng không khác gì tìmkiếm công việc trong một doanh nghiệp t Ngời ta quan niệm công vụ là một việclàm chứ không phải là một nghề nghiệp, nên việc tuyển chọn công chức đợc tiếnhành theo nhu cầu của công việc Vì vậy, các cơ quan nhà nớc có thể thay đổi vịtrí công chức theo yêu cầu công việc và theo công trạng, năng lực của bản thântừng công chức Chế độ công vụ này tạo ra sự cạnh tranh nội bộ giữa các côngchức, đồng thời có sự cạnh tranh giữa những ngời trong công vụ và ngoài công
vụ Các nớc có nền công vụ theo chế độ việc làm là Mỹ, Hà Lan và các quốc giachịu ảnh hởng của Mỹ
Trang 8Do đặc điểm này mà nền công vụ việc làm (chức vụ) không tạo ra sự ổn
định cần thiết cho nền hành chính, đội ngũ công chức không có tính liên tục và
kế thừa Tuy vậy, nền công vụ này rất năng động và có hiệu suất cao, do tận dụng
đợc hết mọi khả năng của ngời công chức [51]
- Đối với các nớc đang phát triển, mới giành đợc độc lập, nền công vụ ở cácnớc này thờng mang đặc trng hỗn hợp, chịu ảnh hởng từ nhiều nền công vụ khác,công vụ phong kiến, công vụ chức nghiệp, công vụ việc làm, cũng nh bản sắcriêng của quốc gia đó Nền công vụ cha đợc định hình, thờng nghiêng về mô hìnhcông vụ nớc nào nó chịu ảnh hởng nhiều nhất, thông thờng là nớc cai trị trớc kia
- Trong nhà nớc xã hội chủ nghĩa trớc đây, có ý kiến cho rằng tồn tại mộtnền công vụ riêng, với đặc trng của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa trong đó
Đảng cộng sản giữ vai trò lãnh đạo Đội ngũ nhân sự trong tổ chức Đảng cũng
nh trong Nhà nớc đều do Đảng bố trí sắp xếp, quản lý, cùng hởng quy chế pháp
lý chung với các đối tợng cán bộ Đảng, tổ chức xã hội Việc luân chuyển nhânlực từ ngành này sang ngành khác, từ trung ơng đến địa phơng, từ tổ chức Đảng,
tổ chức xã hội sang cơ quan nhà nớc và ngợc lại rất đơn giản, không cần thituyển, kiểm tra, sát hạch và chuyển đổi chuyên môn nghề nghiệp “do yêu cầucủa tổ chức, do tổ chức phân công” Do vậy, không tạo ra sự ổn định và tínhchuyên nghiệp của nền công vụ, ngời công chức không tích lũy đợc kinh nghiệm,không thích nghi với công việc [51]
ở Việt Nam, hoạt động do các cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máycủa Nhà nớc, Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội khác thựchiện đều là hoạt động phục vụ lợi ích công, lợi ích chung của xã hội, của cộng
đồng Điều này bắt nguồn từ bản chất nhà nớc ta là nhà nớc của nhân dân, donhân dân và vì nhân dân, mục tiêu chung của hệ thống chính trị là xây dựng mộtxã hội dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Hoạt động củatất cả các chủ thể đó suy cho cùng đều đợc bảo đảm bằng ngân sách nhà nớc Vìvậy, có thể nói rằng đây là hoạt động “công vụ” với nghĩa đầy đủ nhất của từ vàchỉ có thể hiểu nh vậy mới thấy đợc đặc thù của chế độ chính trị ở nớc ta – Chế
độ chính trị có một đảng lãnh đạo nhà nớc và xã hội
Điều 2 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định “Hoạt động công vụ củacán bộ, công chức là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chứctheo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan”, qua đó có thểnhận thấy công vụ có những đặc điểm chính sau đây:
Một là, “công vụ” trớc hết là hoạt động có tính chất phục vụ Toàn bộ hoạt
động của bộ máy hành chính - nhà nớc thực chất có tính chất phục vụ Bản thânhoạt động hành pháp thực chất là nhằm đa pháp luật do quyền lập pháp ban hànhvào đời sống, do đó dới góc độ này, nó mang tính chất phục vụ quyền lập pháp
Đồng thời, quyền hành pháp còn mang tính chất phục vụ dân chúng và cả hoạt
Trang 9động t pháp, vì trong cơ quan t pháp vẫn có công chức làm việc Nhng tính chấtphục vụ ở đây gắn với nhà nớc, do nhà nớc thông qua bộ máy các cơ quan nhà n-
ớc, các cán bộ, công chức, viên chức thực hiện, do đó tính chất phục vụ ở đây,trực tiếp hay gián tiếp đều gắn với tính quyền lực và pháp lý
Hai là, hoạt động công vụ có tính chuyên nghiệp Tính chất này xuất phát từ
yêu cầu chuyên môn hóa của khách thể quản lý, của công vụ nhà nớc, đặc biệttrong điều kiện khoa học, công nghệ phát triển cao của thế giới hiện đại Nó
đồng thời là điều kiện cần thiết bảo đảm cho hoạt động công vụ có khả năng giảiquyết đợc các vấn đề nảy sinh trong việc thực hiện các chức năng của Nhà n ớctrong điều kiện hiện nay Tính chuyên nghiệp đợc hiểu cả ở hai mặt: là hoạt động
đòi hỏi phải có kiến thức chuyên môn về các ngành và lĩnh vực quản lý, đồngthời đòi hỏi cả hiểu biết về khoa học quản lý Thực tiễn chế độ công vụ n ớc ta
đang phát triển theo hớng coi công vụ là một nghề tơng tự nh chế độ công vụchức nghiệp, tuy có kết hợp ít nhiều với chế độ công vụ theo việc làm
Ba là, hoạt động công vụ có thể không trực tiếp làm ra của cải vật chất cho
xã hội nhng bảo đảm các điều kiện, hỗ trợ, tổ chức quản lý hoạt động sản xuấtcủa cải vật chất Nói cách khác, đó là hoạt động quản lý con ngời, nhằm tác độnglên con ngời hoặc phục vụ con ngời Đây là hoạt động của những ngời làm quản
lý chuyên nghiệp - công chức, những ngời thực hiện hoạt động hành chính - nhànớc theo cách nói thông dụng hiện nay; và của cả những ngời có uy tín và nănglực quản lý đợc bầu - cán bộ Ngoài ra, công vụ còn bao gồm cả hoạt động củacác chuyên gia trong các lĩnh vực hoạt động khác của Nhà nớc nh: giáo dục (giáoviên), khoa học - công nghệ (nghiên cứu viên, kỹ s, kiến trúc s ), y tế (bác sĩ ),văn hóa nghệ thuật (họa sĩ, nhạc sĩ, nhà văn ) Đây lại không phải là hoạt độngquản lý con ngời, mà là hoạt động trực tiếp làm ra những sản phẩm tinh thần choxã hội, tuy không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất
Bốn là, hoạt động công vụ nhà nớc đợc bảo đảm bằng ngân sách nhà nớc.
Đặc trng cơ bản của nhà nớc là nhà nớc đặt ra thuế và thu thuế để nuôi dỡng bộmáy nhà nớc, đảm bảo sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội… Đây là một đặc
điểm rất quan trọng để phân biệt hoạt động công vụ với hoạt động sản xuất kinhdoanh hay thực hiện các dịch vụ xã hội Vì vậy, mọi hoạt động công vụ của cán
bộ, công chức không vì mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và đợc bảo đảm hoạt độngbằng ngân sách nhà nớc
1.1.2 Các nguyên tắc của công vụ nhà nớc
Các nguyên tắc của công vụ nhà nớc là những t tởng chủ đạo, chi phối toàn
bộ nền công vụ nhà nớc Bản chất công vụ khác nhau nên có những nguyên tắcmang tính chính trị – xã hội khác nhau Các nguyên tắc của công vụ nhà nớc đ-
ợc xác định bởi nội dung hoạt động công vụ, nghĩa là suy cho cùng, đợc xác địnhbởi tính chất của nhà nớc, bởi bản chất giai cấp và tính xã hội của nhà nớc Khi
Trang 10nghiên cứu vấn đề này cũng cần phải thấy đợc mối liên hệ giữa bản chất nhà nớcvới bản chất của nền công vụ nhà nớc.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về công vụ nhà nớc nên cũng có sự khôngthống nhất về các nguyên tắc của công vụ nhà nớc, nhng nhìn chung, từ quanniệm coi công vụ nhà nớc chỉ là hoạt động của cán bộ, công chức nhà nớc thì cácnguyên tắc của công vụ nhà nớc nh sau:
- Thứ nhất, công vụ nhà nớc có nhiệm vụ, bổn phận phục vụ nhân dân, nhànớc, xã hội nói chung, thể hiện ở chỗ thực hiện công vụ nhà nớc là thực hiệnnhiệm vụ và chức năng nhà nớc; cán bộ, công chức nhà nớc phải chịu sự kiểm tracủa nhân dân và của cơ quan quyền lực nhà nớc; cán bộ, công chức thực thi công
vụ nhằm mục đích phục vụ nhân dân, phục vụ nhà nớc
- Công vụ nhà nớc đợc thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ.Nguyên tắc này thể hiện trớc hết là các cơ quan nhà nớc ở trung ơng xác địnhdanh mục các chức vụ trong cơ quan, tổ chức nhà nớc, định ra các phơng thứctuyển chọn, thăng chức, giáng chức và thuyên chuyển cán bộ, công chức; quy
định các ngạch, bậc công chức và chế độ đãi ngộ chung Khi quyết định nhữngvấn đề quan trọng đó, các cơ quan trung ơng cần phải tham khảo ý kiến của cáccơ quan nhà nớc ở địa phơng và các tổ chức xã hội, có phân cấp quản lý cán bộ,công chức rõ ràng, xuất phát từ các nguyên tắc phân biệt chức năng của Đảng vànhà nớc, phát huy tính tự chủ, tự quản địa phơng, xem trọng ý kiến và d luận xãhội…
- Đảm bảo dân chủ trong nền công vụ nhà nớc bởi đây là hoạt động có tínhchất phục vụ, đáp ứng các yêu cầu của công dân, do đó nhân dân có thể tham giavào việc đa ra các quyết định của các cơ quan nhà nớc và giám sát hoạt động củacác cơ quan nhà nớc đó
- Công khai và bình đẳng trong công vụ nhà nớc đòi hỏi các cơ quan nhà
n-ớc phải công khai hóa các hoạt động công vụ nhà nn-ớc, phải minh bạch trongcông vụ, trừ những vấn đề có liên quan tới bí mật quốc gia, bí mật công vụ vàliên quan tới an ninh quốc gia
- Đảm bảo bình đẳng trong hoạt động công vụ Đây là nguyên tắc có liênquan mật thiết với nguyên tắc dân chủ và công khai bởi mọi công dân đều có khảnăng tham gia nền công vụ tùy theo năng lực chuyên môn và phẩm hạnh, sứckhỏe của mình mà không lệ thuộc vào bất kỳ điều kiện khác nào Khi đã gia nhậpnền công vụ thì cán bộ, công chức đều bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụcông vụ, không bị phân biệt đối xử trong hoạt động công vụ giữa những ngờikhác nhau về giới tính, dân tộc và tôn giáo…
- Nguyên tắc hiến định trong hoạt động công vụ là đảm bảo tính pháp chế
Điều 12 Hiến pháp 1992 quy định: Nhà nớc quản lý xã hội bằng pháp luật, khôngngừng tăng cờng pháp chế xã hội chủ nghĩa Các cơ quan nhà nớc, tổ chức kinh
Trang 11tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnhchấp hành Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm,các vi phạm hiến pháp Nguyên tắc này đòi hỏi mọi cơ quan nhà nớc, mọi cán bộ,công chức khi thực thi công vụ đều phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp vàpháp luật, tôn trọng pháp luật và đặt công vụ nhà nớc trong một trật tự pháp luật Tóm lại, công vụ nhà nớc là một dạng lao động của xã hội, nhằm thực hiệnchức năng, nhiệm vụ của nhà nớc, lợi ích của nhân dân, của tập thể, của cá nhân.Hoạt động công vụ luôn gắn liền với quyền lực nhà nớc, đợc pháp luật điềuchỉnh, chủ yếu do cán bộ, công chức nhà nớc nhân danh quyền lực nhà nớc thựchiện, nhng đồng thời hoạt động công vụ cũng mang tính phục vụ và có sự thamgia, giám sát của nhân dân.
1.2 quan niệm về cán bộ, công chức
1.2.1 Quan niệm về cán bộ
Thuật ngữ “cán bộ” đợc sử dụng khá lâu tại các nớc xã hội chủ nghĩa và baohàm một diện rất rộng các loại nhân sự thuộc khu vực nhà nớc và các tổ chứcchính trị, tổ chức chính trị xã hội Thuật ngữ khi đó thờng dùng là “cán bộ, côngnhân viên chức”, bao quát tất cả những ngời làm công hởng lơng từ nhà nớc, kể
từ những ngời đứng đầu một cơ quan tới các nhân viên phục vụ nh lái xe, bảo vệhay lao công tạp vụ
Do những điều kiện lịch sử nhất định, suốt một thời gian dài trong đời sốngchính trị - pháp lý ở Việt Nam tồn tại một tập hợp khái niệm “cán bộ, công nhân,viên chức” không có sự phân biệt rạch ròi từng khái niệm cũng nh quy chế pháp
lý đối với từng nhóm Pháp lệnh cán bộ công chức năm 1998 (sửa đổi bổ sungnăm 2003) đề cập tới ba đối tợng cán bộ, công chức, viên chức nhng không thểhiện rõ ai là cán bộ, ai là công chức, ai là viên chức mà quy định chung các đối t -ợng “cán bộ, công chức” là công dân Việt Nam, trong biên chế Có thể nói, thuậtngữ cán bộ đợc sử dụng nh là một ớc lệ, cha thể hiện tính chất hành chính, cha rõnội hàm của khái niệm Đây cũng là một hạn chế của Pháp lệnh cán bộ, côngchức
Cụ thể hóa Pháp lệnh cán bộ, công chức, Chính phủ đã ban hành các Nghị
định số 114/2003/NĐ-CP về cán bộ, công chức xã, phờng, thị trấn; Nghị định số115/2003/NĐ-CP về chế độ công chức dự bị; Nghị định số 116/2003/NĐ-CP vềtuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong đơn vị sự nghiệp của Nhànớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; Nghị định số 117/2003/NĐ-CP vềtuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nớc Trêncơ sở nghiên cứu quy định của pháp lệnh và các nghị định, chúng ta có thể hiểucán bộ là “những ngời do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cáccơ quan nhà nớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ơng, ở cấptỉnh và cấp huyện”
Trang 12Cùng với xu hớng toàn cầu hóa về kinh tế, những thành tựu của sự phát triểnkinh tế - xã hội chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cờng mở rộng giao luhợp tác nhiều mặt với các nớc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại,
đồng thời, công cuộc cải cách hành chính ngày nay đặt ra nhu cầu chuyên biệthóa trong sự điều chỉnh pháp luật ngày càng rõ nét, đòi hỏi phải có sự thống nhất
về nhận thức trong sự phân định các khái niệm có liên quan Luật cán bộ, côngchức đợc Quốc hội ban hành tháng 11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 đãquy định cụ thể:
Cán bộ là công dân Việt Nam, đợc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức
vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhànớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ơng, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng(sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau
đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hởng lơng từ ngân sách nhà nớc.[44]
Nh vậy, đến nay khái niệm cán bộ đã đợc quy định cụ thể, rõ ràng, xác định
rõ nội hàm, đó là những ngời giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơquan nhà nớc thuộc hệ thống chính trị Việt nam, từ trung ơng đến cấp huyện,quận và tơng đơng Tùy góc độ và mục tiêu xem xét có thể phân biệt đội ngũ cán
bộ thành các nhóm khác nhau:
- Xét về loại hình có thể phân thành: cán bộ đảng, đoàn thể; cán bộ nhà n ớc;cán bộ kinh tế và quản lý kinh tế; cán bộ khoa học kỹ thuật
- Xét theo tính chất và chức năng, nhiệm vụ có thể phân thành: nhóm chínhkhách; nhóm lãnh đạo, quản lý; nhóm chuyên gia; nhóm công chức, viên chức.+ Nhóm chính khách: Những cán bộ lãnh đạo ở tầm vĩ mô của đất n ớc còn
đợc gọi là những nhà lãnh đạo chính trị cấp quốc gia hoặc là các chính khách.Các nhà chính trị có thể đợc phân loại theo những căn cứ khác nhau nh: nhàchính trị chuyên nghiệp và nhà chính trị không chuyên nghiệp; nhà chính trịtham gia bộ máy nhà nớc và nhà chính trị không tham gia bộ máy nhà nớc Họkhông thuộc đội ngũ công chức nhà nớc và ở mức độ nhất định, họ có vị trí độclập trong quan hệ với nền hành chính nhà nớc
Do hoàn cảnh và điều kiện chính trị - xã hội đặc thù của Việt Nam nêntrong đời sống xã hội cũng nh trong các chế định pháp lý cha có sự phân định rõràng chức danh và trách nhiệm của các nhà hoạt động chính trị Vấn đề chất l ợngcủa đội ngũ cán bộ, công chức và đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính trịcấp quốc gia có tầm quan trọng đặc biệt đối với công cuộc đổi mới Do đó, bồi d -ỡng, đào tạo và rèn luyện để hình thành rõ nét tâm lý, ý thức của các nhà lãnh
đạo chính trị để họ đạt tới tầm chính khách, đồng thời có quy chế hợp lý để cácchính khách thực hiện tốt vai trò, sứ mệnh của mình là việc làm hết sức cần thiếtnhằm góp phần nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nớc
Trang 13+ Nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý: bao gồm những ngời giữ chức vụ và tráchnhiệm điều hành trong một cơ quan, tổ chức, đơn vị, có ảnh hởng lớn đến hoạt
động của tổ chức, có vai trò quyết định và định hớng, điều khiển hoạt động củacả bộ máy
Thông thờng, cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý đợc hiểu tơng đồng vì cán
bộ lãnh đạo, quản lý đều phải là ngời giỏi nghiệp vụ chuyên môn, có khả năng tổchức công việc và đoàn kết tập thể
Tuy nhiên, khái niệm lãnh đạo và khái niệm quản lý không hoàn toàn đồngnhất với nhau Vì khái niệm “lãnh đạo” thờng dùng để chỉ khả năng định hớngxác định mục đích lâu dài và khả năng lôi cuốn, thúc đẩy mọi ngời, thờng đợcgắn liền với việc thiết lập đờng lối, chính sách Còn “quản lý” dùng để chỉ khảnăng tổ chức, xác định mục tiêu cụ thể để thi hành các đờng lối chính sách ấy.Chức năng quản lý là sự tiếp tục của chức năng lãnh đạo, là bớc đi kế tiếp củalãnh đạo, đó là khâu tất yếu để thực hiện sự lãnh đạo Trên thực tế, sự phân biệtnày chỉ là tơng đối nhng lại rất cần cho công tác tổ chức cán bộ, làm cơ sở choviệc xác định tiêu chuẩn, chức năng của ngời cán bộ lãnh đạo và ngời cán bộquản lý
+ Nhóm chuyên gia: gồm những ngời giỏi một nghề, một ngành, có trình độ
lý thuyết cao và năng lực hành động thực tiễn, năng lực nghiên cứu, sáng tạo, giảiquyết một vấn đề lý luận hay thực hành Họ phải có trình độ văn hóa rộng, hiểubiết chuyên môn sâu, có năng lực và vốn trí tuệ ngoại ngữ để cập nhật nhữngthông tin mới Đây là nhóm nhân lực bậc cao của xã hội, có vai trò nh một bộphận mũi nhọn của sự phát triển ở bất cứ lĩnh vực, ngành nghề nào, nếu thiếuchuyên gia thì công việc ở đó không thể đạt tới trình độ, chất lợng cao, vì vậy khinói đến đỉnh cao của chất lợng đội ngũ cán bộ công chức phải nói đến chuyêngia
+ Nhóm công chức, viên chức: bao gồm những ngời đợc tuyển dụng để trựctiếp thực thi các công việc hàng ngày của cơ quan, tổ chức, đ ợc hởng lơng theongạch bậc, trình độ và chức vụ Đây là nhóm có số lợng đông đảo trong toàn bộ
đội ngũ cán bộ, công chức
1.2.2 Quan niệm về công chức
Công chức là thuật ngữ đợc sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới
để chỉ những ngời đợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc thờng xuyên trong cáccơ quan nhà nớc và hởng lơng từ ngân sách nhà nớc Tuy nhiên, do tính đặc thùcủa từng quốc gia nên quan niệm về công chức ở các nớc không hoàn toàn thốngnhất Sự khác nhau này thể hiện trong các quan điểm dới đây:
- Quan điểm thứ nhất thờng xuất phát ở các nớc xã hội chủ nghĩa Do đồngnhất hoạt động công vụ với hoạt động quản lý của Đảng, đoàn thể dẫn đến quanniệm về khái niệm công chức không chỉ bao gồm các đối tợng làm việc trong cơ
Trang 14quan nhà nớc (cả lập pháp, hành pháp và t pháp) mà cả trong các tổ chức Đảng,
đoàn thể, thậm chí trong cả các đơn vị sản xuất
- Quan điểm thứ hai cho rằng, công chức bao gồm những ngời làm việctrong bộ máy nhà nớc nói chung, tơng ứng với quan niệm công vụ là hoạt độngcủa toàn bộ bộ máy nhà nớc (bao gồm hoạt động của công chức trong cơ quanquyền lực, xét xử, kiểm sát và cơ bản nhất là trong các cơ quan quản lý nhà nớc)
- Quan điểm thứ ba cho rằng, công chức bao gồm những ngời hoạt độngtrong các cơ quan hành chính, sự nghiệp của Nhà nớc và bộ máy phục vụ của cáccơ quan nhà nớc khác, giữ một công vụ thờng xuyên, ổn định
- Quan điểm thứ t thuần túy cho rằng, công chức chỉ bao gồm những đối ợng phục vụ trong bộ máy hành chính, giữ một chức vụ thờng xuyên và ổn định,quan niệm này xuất phát từ chỗ coi công vụ nhà nớc chỉ là hoạt động của các cơquan hành chính
t-Từ những quan niệm trên về công chức, mà ở những nớc khác nhau cũng cónhững quy định khác nhau về đối tợng này
ở Pháp, khái niệm công chức rất rộng, ngời công chức đợc phân thành hailoại Loại thứ nhất là những nhân viên công chức làm việc thờng xuyên trong bộmáy nhà nớc, bị chi phối bởi Luật công chức; loại thứ hai là những nhân viêncông chức bị chi phối bởi Luật lao động, bởi bản hợp đồng và luật t Họ đợc nhànớc hoặc cộng đồng lãnh thổ bổ nhiệm vào một công việc thờng xuyên trong cáccông sở hay công sở tự quản, kể cả các bệnh viện [42]
ở Trung Quốc, một nớc theo thể chế Cộng hòa dân chủ nhân dân, chế độmột Đảng lãnh đạo, khái niệm công chức nhà nớc dùng để chỉ những ngời côngtác trong các cơ quan hành chính nhà nớc các cấp, từ nhân viên phục vụ Gồm hailoại: Công chức lãnh đạo là những ngời thừa hành quyền lực hành chính nhà nớc,
đợc bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều chỉnh của Hiến pháp, Điều
lệ công chức và Luật tổ chức chính quyền các cấp; và công chức nghiệp vụ lànhững ngời thi hành chế độ thờng nhiệm, do cơ quan hành chính các cấp bổnhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức, họ chiếm tuyệt đại đa số côngchức nhà nớc, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành chính sách và pháp luật[42]
ở Mỹ, công chức bao gồm tất cả những nhân viên trong ngành hành chínhcủa Chính phủ, kể cả những ngời đợc bổ nhiệm về Chính trị nh Bộ trởng, Thứ tr-ởng, trợ lý Bộ trởng, ngời đứng đầu các cơ quan Chính phủ Tuy nhiên, khái niệmcông chức trong diện điều chỉnh của Luật Công chức lại không bao gồm nhữngcông chức đợc bổ nhiệm về chính trị, họ đợc gọi là công chức chức nghiệp Đặc
điểm của công chức Mỹ là không mang tính thờng xuyên liên tục mà tồn tại hệthống thải loại; việc tuyển chọn, bổ nhiệm công chức chủ yếu theo công trạng
Trang 15thực tế, công chức chỉ đợc tuyển dụng vào một công việc cụ thể mà không có con
đờng chức nghiệp [42]
ở Cộng hòa Liên bang Đức, công chức Đức bao gồm những nhân viên làmviệc trong các cơ quan, tổ chức văn hóa, nghệ thuật giáo dục và nghiên cứu khoahọc quốc gia, nhân viên công tác trong các doanh nghiệp công ích do nhà nớcquản lý, các nhân viên, quan chức làm việc trong các cơ quan chính phủ, giáo s
đại học, giáo viên trung học, tiểu học, bác sỹ, hộ lý bệnh viện, nhân viên lái xelửa… [42]
ở Việt Nam, khái niệm công chức đợc hình thành gắn liền với sự phát triểncủa nền hành chính nhà nớc Văn bản có tính pháp lý đầu tiên quy định về côngchức là Sắc lệnh số 76/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 20/5/1950, tại Điều
1 quy định “công chức là những công dân Việt Nam đợc chính quyền nhân dântuyển để giữ một chức vụ thờng xuyên trong các cơ quan chính phủ, ở trong hayngoài nớc, trừ trờng hợp riêng biệt do Chính phủ quy định” Sau đó, do nhu cầu
bổ sung nhân lực trong bộ máy nhà nớc ngày càng tăng, thực tiễn khi đó không
có đủ nguồn nhân lực phù hợp với những tiêu chuẩn quy định đối với công chứctheo Quy chế nên suốt một thời gian dài sau đó, chế độ công chức dần đợc thaythế bằng chế độ “cán bộ, công nhân viên chức” bao gồm tất cả những ng ời làmviệc trong các cơ quan nhà nớc, cơ quan Đảng, tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tếnhà nớc Tất cả đều thuộc biên chế nhà nớc, đợc gọi là “cán bộ, công nhân viênchức nhà nớc” chung chung, không phân biệt ai là cán bộ, công nhân, viên chứctheo cách quan niệm có tính truyền thống đã hình thành trớc đó Do vậy, pháp luậtkhông tiếp tục đi theo hớng điều chỉnh có tính chuyên biệt đối với từng đối tợnglao động phục vụ trong các cơ quan, tổ chức sự nghiệp của nhà nớc
Thuật ngữ công chức đợc sử dụng trở lại tại Nghị định số 169/HĐBT ngày25/5/1991 của Hội đồng Bộ trởng về công chức báo hiệu xu hớng mới trong sự
điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động công vụ và về công chức Theo quy
định tại Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 và Nghị định số117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 “về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ,công chức trong các cơ quan nhà nớc” nhằm cụ thể hóa Pháp lệnh cán bộ côngchức 1993 và sửa đổi bổ sung năm 2003, công chức nói tại nghị định này và cácvăn bản hớng dẫn thi hành đã đề cập một cách rõ ràng hơn về khái niệm cán bộ,công chức nhng vẫn cha có sự phân biệt giữa công chức hành chính với côngchức sự nghiệp
Trớc yêu cầu khách quan của tiến trình cải cách nền hành chính nhà nớc và
đòi hỏi chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhà nớc, Luật Cán bộ, công chứccủa nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đợc Quốc hội thông qua ngày13/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 đã quy định rõ: Công chức là côngdân Việt Nam, đợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ
Trang 16quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nớc, tổ chức chính trị xã hội ở trung
-ơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân màkhông phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trongcơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quanchuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lậpcủa Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nớc, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế
và hởng lơng từ ngân sách nhà nớc; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo,quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lơng đợc bảo đảm từ quỹ lơng của đơn
vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [44]
Từ quy định trên, ta thấy khái niệm công chức theo pháp luật Việt Nam có
điểm khác biệt lớn so với các nớc, công chức không chỉ bao gồm những ngời làmviệc trong hệ thống hành chính nhà nớc mà còn bao gồm cả những ngời làm việccho các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội nh các Ban Xây dựng Đảng;các tổ chức đoàn thể (ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Nôngdân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoànViệt Nam); các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân
Đây là đặc trng cơ bản nhất của công chức nớc ta, xuất phát từ đặc thù của thểchế chính trị và tổ chức bộ máy nhà nớc, Đảng, đoàn thể của nớc ta Theo đó,công chức đợc phân loại dựa trên các tiêu chí sau:
* Theo trình độ đào tạo: Công chức đợc chia làm ba loại:
- Công chức loại A: là ngời đợc bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đàotạo chuyên môn giáo dục đại học và sau đại học
- Công chức loại B: là ngời đợc bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đàotạo chuyên môn giáo dục nghề nghiệp
- Công chức loại C: là ngời đợc bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đàotạo chuyên môn dới giáo dục nghề nghiệp
Cách phân loại này có ý nghĩa nhất định về lý luận và thực tiễn trong việctiêu chuẩn hóa trình độ chuyên môn của công chức, khuyến khích họ phấn đấuhọc tập, nâng cao trình độ, thăng tiến theo chức nghiệp
Trang 17- Công chức lãnh đạo, chỉ huy;
- Công chức chuyên môn, nghiệp vụ
Việc phân loại công chức nh trên là việc làm có ý nghĩa thiết thực về mặt lýluận và thực tiễn đối với việc cơ cấu, quy hoạch, quản lý công chức trong hoạt
động công vụ Trên cơ sở cách phân loại này để có những tiêu chí khác nhautrong việc đánh giá, sử dụng, đề bạt, xử lý công chức vi phạm một cách thíchhợp, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới xây dựng nhà nớc pháp quyền xãhội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
1.2.3 Đặc trng của đội ngũ cán bộ, công chức
Hoạt động quản lý nhà nớc chủ yếu đợc vận hành thông qua nền công vụ và
đội ngũ cán bộ, công chức nhà nớc, do vậy, cán bộ, công chức có những đặc trngsau đây:
1.2.3.1 Là chủ thể của nền công vụ, có trách nhiệm thực thi công vụ và
đợc Nhà nớc đảm bảo các điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để có khả năng và yên tâm thực thi công vụ
Đội ngũ cán bộ, công chức nhà nớc là hạt nhân cơ bản của nền công vụ, làchủ thể thực sự tiến hành các công vụ cụ thể và là yếu tố đảm bảo cho nền công
vụ hoạt động, vận hành có hiệu quả mà không thể chuyển giao cho bất kỳ tổchức, cá nhân nào bên ngoài Họ là những ngời trực tiếp thi hành quyền lực nhànớc, lao động của họ thực chất là lao động quyền lực, khác với lao động sản xuất,kinh doanh và các dạng lao động xã hội khác; đợc trao quyền để thực thi công
vụ, đồng thời có bổn phận phục vụ xã hội, công dân và chịu những ràng buộcnhất định do liên quan đến chức trách đang đảm nhiệm
Để thực hiện công vụ, ngời cán bộ, công chức nhà nớc đợc cung cấp những
điều kiện cần thiết để tiến hành các hoạt động công vụ nh trụ sở, phơng tiện, ;
đợc đảm bảo các quyền lợi vật chất và tinh thần nh hởng lơng từ ngân sách nhànớc tơng xứng với chức trách nhiệm vụ đợc giao, sự đảm bảo này có tính ổn định,lâu dài, thực tế là suốt đời nếu nh họ không vi phạm kỷ luật buộc thôi việc hoặc
bị truy tố trớc pháp luật
1.2.3.2 Là lực lợng lao động chuyên nghiệp, có tính chuyên môn hóa cao với các hoạt động diễn ra thờng xuyên, liên tục trên phạm vi rộng và mang tính phức tạp.
Các cơ quan nhà nớc từ Trung ơng đến địa phơng đều đợc tổ chức và hoạt
động theo những nguyên tắc nhất định nhằm quản lý, điều hành xã hội theo phápluật và bằng pháp luật, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, xãhội… với các mặt hoạt động hết sức phong phú và phức tạp vì lợi ích của nhà nớc
và của toàn xã hội, đảm bảo cho xã hội ổn định và phát triển Tất cả các hoạt
động đó đều diễn ra hàng ngày, trực tiếp hoặc gián tiến liên quan đến cuộc sốngcủa tất cả mọi ngời dân, chính vì vậy, ngay từ khi tuyển dụng, các cơ quan nhà n-
Trang 18ớc đã yêu cầu ngời dự tuyển phải có chuyên môn, có đủ tiêu chuẩn về độ tuổi,phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống… Do vậy, đội ngũ cán bộ, công chức là lựclợng lao động mang tính chuyên nghiệp, thực hiện công vụ thờng xuyên, liên tục,
có trình độ chuyên môn hóa cao để giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi mìnhquản lý, điều hành một cách nhanh chóng, kịp thời, có hiệu quả
1.2.3.3 Đội ngũ cán bộ, công chức nhà nớc tơng đối ổn định, luôn mang tính kế thừa và không ngừng đợc nâng cao về chất lợng.
Khác với công chức của các nớc theo chế độ công vụ việc làm, cán bộ, côngchức nớc ta hoạt động ổn định và đợc bảo hộ bằng “biên chế nhà nớc” Đội ngũcán bộ, công chức không ngừng đợc đào tạo, bồi dỡng nâng cao về trình độchuyên môn, nghiệp vụ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển khách quan của xã hội.Việc tuyển dụng nguồn nhân lực chất lợng cao, thu hút, khuyến khích nhân tàikhông ngừng đợc chú trọng nhằm đảm bảo đợc đội ngũ kế cận và hạn chế đếnmức thấp nhất những sai lầm có thể xảy ra trong tuyển dụng cán bộ, công chứcnhà nớc
1.2.3.4 Luôn trung thành với Đảng, Chính phủ, với Tổ quốc và nhân dân.
Đây là đặc điểm cơ bản của đội ngũ cán bộ, công chức xuất phát từ truyềnthống tốt đẹp của nhân dân ta và từ đặc điểm lịch sử, quá trình đấu tranh cáchmạng ở Việt Nam Nhà nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời từ thắnglợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 do nhân dân thực hiện dới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Về phơng diện pháp lý, Nhà nớc ta là thiếtchế quyền lực do nhân dân bầu ra theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu nhằmphục vụ lợi ích của nhân dân, bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân Dovậy, ngoài việc thực hiện các đờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nớc, tronghoạt động của mình, các cơ quan nhà nớc, cán bộ, công chức phải luôn tôn trọngnhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe vàchịu sự giám sát của nhân dân
1.3 yêu cầu và nội dung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
1.3.1 Yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay
Tại hội nghị Ban Chấp hànhTrung ơng Đảng lần thứ ba (khoá VIII), Đảng ta
đã xác định mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của thời kỳ cụngnghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp từTrung ơng đến cơ sở, đặc biệt là cán bộ đứng đầu, có phẩm chất và năng lực, cóbản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trờng giai cấp công nhân, đủ về số l-ợng, đồng bộ về cơ cấu, bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục và vững vàng giữa cácthế hệ cán bộ nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hóa – hiện đạihóa đất nớc, giữ vững độc lập tự chủ, đi lên chủ nghĩa xã hội; bảo đảm có đủ
Trang 19nguồn cán bộ để mỗi nhiệm kỳ có thể đổi mới khoảng 30%- 40% số cán bộ lãnh
đạo Đảng, Nhà nớc, đoàn thể các cấp, cán bộ lãnh đạo lực lợng vũ trang; phấn
đấu đến năm 2020 số cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng trở lên bằng khoảng4% dân số cả nớc nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới của nền công vụ chuyênnghiệp Cụ thể:
- Về số lợng: Trên cơ sở phân định rõ từng loại cán bộ, công chức với các
loại lao động khác để xác định số lợng cán bộ, công chức nhà nớc một cách hợp
lý dựa trên dân số và trình độ, yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nớc
- Về cơ cấu: Trên cơ sở xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan,
tổ chức bộ máy nhà nớc trong những điều kiện mới để xây dựng cơ cấu đội ngũcán bộ, công chức khoa học, hợp lý về trình độ, ngạch bậc, lứa tuổi, giới tính, dântộc trong cả đội ngũ và trong mỗi cơ quan, đơn vị
- Về chất lợng: Để thực hiện tốt công cuộc xây dựng đất nớc trong thời kỳ
mới, đội ngũ cán bộ, công chức phải đáp ứng các yêu cầu sau:
+ Về năng lực:
• Năng lực chuyên môn: Trớc hết, cán bộ, công chức phải có kiến thức
chuyên môn về lĩnh vực đợc giao trách nhiệm quản lý; có kiến thức cơ bản vềquản lý nhà nớc, về pháp luật từ đó có ý thức tuân thủ pháp luật, áp dụng phápluật khi thi hành công vụ, có sự chủ động, linh hoạt xử lý các vấn đề trên cơ sởpháp luật; Có bản lĩnh nghề nghiệp, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm
về hành vi công vụ của mình Chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ;
có chính kiến, phát kiến tham mu đề xuất với lãnh đạo trong các lĩnh vực đợcgiao Mặt khác, phải có trình độ ngoại giao, ngoại ngữ, tin học để có thể sử dụngtốt các phơng tiện khoa học kỹ thuật hiện đại và thực hiện tốt việc giao dịch vớicác đối tác nớc ngoài
• Năng lực tổ chức quản lý: Ngời cán bộ, công chức phải là ngời có bản lĩnh,
có khả năng quan sát nắm đợc các nhiệm vụ từ tổng thể tới chi tiết để tổ chức cho
hệ thống hoạt động đồng bộ có hiệu quả; Bình tĩnh, tự chủ nhng quyết đoán dứtkhoát trong công việc, có kế hoạch làm việc rõ ràng và tiến hành công việc nhấtquán theo kế hoạch; Năng động, sáng tạo, phản ứng nhanh nhạy, dám nghĩ, dámlàm, dám chịu trách nhiệm, luôn biết lờng trớc mọi tình huống có thể xảy ra, biếttập trung dồn đúng tiềm lực vào các khâu yếu, biết tận dụng thời cơ có lợi cho hệthống; Có tác phong đúng mực, thông cảm và hiểu cấp dới, có thái độ chânthành, đồng thời hớng cho cấp dới tác phong cộng tác, giúp đỡ lẫn nhau; Biết sửdụng đúng ngời, đánh giá đúng ngời, biết xử lý tốt các mối quan hệ trong vàngoài hệ thống, quan hệ tốt, đúng mực với ngời dới quyền và với cấp trên
+ Về phẩm chất chính trị, đạo đức:
Trong mọi giai đoạn cách mạng, phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị làyêu cầu quan trọng cơ bản nhất đối với đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là trong
Trang 20bối cảnh hiện nay, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế kèm theo những mặt tráicủa cơ chế kinh tế thị trờng cùng các tác động tiêu cực nảy sinh hàng ngày đặt rayêu cầu đội ngũ cán bộ, công chức phải tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác-
Lê nin, t tởng Hồ Chí Minh, quan điểm đờng lối của Đảng, chính sách và phápluật của Nhà nớc, tích cực trong công cuộc đổi mới đất nớc; Có bản lĩnh và kiên
định trong công việc đợc giao; Biết biến nhận thức chính trị của mình thành nhậnthức của mọi ngời, tạo đợc lòng tin và lôi cuốn mọi ngời tham gia Tùy từng vịtrí, thẩm quyền của mỗi cán bộ, công chức khác nhau mà yêu cầu về phẩm chấtchính trị cũng khác nhau Cán bộ, công chức giữ cơng vị càng cao, phạm vi ảnhhởng càng rộng thì bản lĩnh chính trị càng phải vững vàng, nhất là các cán bộ,công chức có nhiệm vụ đề ra chủ trơng, đờng lối, các chính sách của Nhà nớc
Đạo đức công vụ của ngời cán bộ, công chức gồm: đạo đức cách mạng, đạo
đức cá nhân và đạo đức nghề nghiệp; trong đó đạo đức cách mạng là nền tảng, làgốc, là sức mạnh của ngời cán bộ, công chức Đạo đức cách mạng thể hiện ở:tinh thần yêu nớc nồng nàn, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lậpdân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có hiệu quả đờng lối của Đảng,chính sách và pháp luật của Nhà nớc; Cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô t Đạo
đức cá nhân của ngời cán bộ, công chức trớc hết thể hiện ở ý thức, niềm tin vào
định hớng xã hội chủ nghĩa, quyết tâm thực hiện mục tiêu dân giàu, nớc mạnh,xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; tôn trọng, giữ gìn kỷ luật, kỷ c ơng, sống vàlàm việc theo pháp luật, có lối sống lành mạnh, không tham ô, lãng phí, có tráchnhiệm cao trong thi hành công vụ, có lòng nhân ái, vị tha, ứng xử đúng đắn trongquan hệ gia đình, bè bạn và trong xã hội, có tinh thần hớng thiện, hiếu học Đạo
đức nghề nghiệp của ngời cán bộ, công chức thể hiện trớc hết ở lòng say mê, cầnmẫn, tinh thần trách nhiệm và đề cao kỷ luật trong thi hành công vụ
+ Về văn hóa:
Văn hóa ứng xử là một trong những yếu tố phản ánh trình độ văn hóa củamột cơ quan, tổ chức, cá nhân; là cơ sở để hình thành tác phong, phong cách củangời cán bộ, công chức; là nền tảng tạo nên t chất, cốt cách của ngời cán bộ,công chức Do đó, trong giao tiếp và ứng xử, cán bộ, công chức phải có thái độlịch sự, tôn trọng đồng nghiệp; Ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực rõ ràng, mạchlạc, không nói tục, nói tiếng lóng; phải lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp, thựchiện dân chủ và đoàn kết nội bộ Trong giao tiếp và ứng xử với nhân dân, cán bộ,công chức phải có tác phong lịch sự, giữ gìn uy tín, danh dự cho cơ quan, tổchức, đơn vị và đồng nghiệp; nhã nhặn, lắng nghe ý kiến, giải thích, hớng dẫn rõràng, cụ thể về các quy định liên quan đến giải quyết công việc; Không đợc cóthái độ hách dịch, nhũng nhiễu, gây khó khăn, phiền hà khi thi hành công vụ
Nh vậy, yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, công chức trong điều kiện hiện nay
là vừa phải có phẩm chất chính trị, đạo đức, vừa có năng lực chuyên môn và tổ
Trang 21chức điều hành Thực tế cho thấy, nếu có đội ngũ cán bộ, công chức tài giỏi thìmọi chủ trơng, đờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nớc vào cuộc sống đợcthuận lợi và đạt hiệu quả cao; nếu đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất chínhtrị và phẩm chất đạo đức yếu kém sẽ gây nên độc đoán, chuyên quyền, tiêu cực,tham nhũng, khiến cho tài sản Nhà nớc sẽ bị thất thoát, lòng tin của ngời dân bịgiảm sút, kinh tế đình trệ và tình hình xã hội bị rối loạn Do vậy, Đảng và Nhà n-
ớc cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để đội ngũ cán bộ, công chức phát huy khảnăng phục vụ, cống hiến nhiều nhất cho đất nớc, đáp ứng yêu cầu của công cuộcxây dựng, phát triển đất nớc trong thời kỳ mới
1.3.2 Nội dung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
1.3.2.1 Tuyển dụng, sử dụng, quản lý cán bộ, công chức
bộ, công chức ngày càng chính quy, hiện đại có đủ năng lực chuyên môn, phẩmchất chính trị, đạo đức để phục vụ nhân dân
Bầu là hình thức quan trọng thể hiện tính dân chủ, tính chính trị- xã hội
nhằm thiết lập đội ngũ cán bộ trong bộ máy nhà nớc Đó là việc bầu cử đại biểuQuốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp và nhiều chức danh lãnh đạo trong
hệ thống các cơ quan nhà nớc Chẳng hạn Quốc hội bầu Chủ tịch nớc, Thủ tớngChính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao; Hội đồng nhân dân bầu Chủ tịch,Phó Chủ tịch và các thành viên Uỷ ban nhân dân
Thi tuyển là hình thức phổ biến đóng vai trò rất quan trọng để thiết lập đội
ngũ cán bộ, công chức ở nớc ta hiện nay Theo đó, Nghị định 117/2003/NĐ-CPngày 10/10/2003 đã quy định: “việc tuyển dụng công chức phải thông qua kỳ thitheo quy chế thi tuyển Ngời không qua thi tuyển công chức không đợc tuyểndụng vào biên chế theo quy định tại khoản 1 điều 1 của Nghị định này” Nộidung thi tuyển cần bám sát yêu cầu chức danh cần tuyển, trong đó chú trọng kiếnthức về hành chính nhà nớc và sự hiểu biết về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức
mà thí sinh dự thi sẽ công tác nếu trúng tuyển Ngoài yêu cầu về trình độ chuyên
Trang 22môn, ngoại ngữ, tin học theo tiêu chuẩn chức danh đã quy định, tuỳ đặc thù củamột số loại cán bộ, công chức, mỗi cơ quan, địa phơng còn có quy định bổ sungcho phù hợp với địa phơng, đơn vị mình Phần lớn các cơ quan đều tổ chức cả haihình thức thi viết và thi vấn đáp Có nơi áp dụng hình thức thi trắc nghiệm đểtuyển chọn Trong đó, kết hợp cả đánh giá kỹ năng thực hành với đánh giá phongcách, ngoại hình và khả năng giao tiếp Đây là những yêu cầu cần thiết đối vớimỗi cán bộ, công chức.
Ngời có đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật cán bộ côngchức nếu cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở miền núi, biên giới,hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã
hội đặc biệt khó khăn thì đợc tuyển dụng thông qua xét tuyển.
Khi cán bộ, công chức đã trúng tuyển qua kỳ thi công chức, đã có quyết
định tuyển dụng và xếp lơng theo đúng tiêu chuẩn, ngạch, bậc của công chức
nh-ng cha đợc bổ nhiệm vào nh-ngạch cônh-ng chức thì phải qua thời gian thử việc (thờigian tập sự), cụ thể đợc quy định nh sau:
- Đối với ngạch chuyên viên và tơng đơng: thời gian tập sự là 12 tháng
- Đối với ngạch cán sự và tơng đơng: thời gian tập sự là 6 tháng
- Đối với ngạch nhân viên và tơng đơng: thời gian tập sự là 3 tháng
Thời gian tập sự có ý nghĩa rất quan trọng đối với ngời đã trúng tuyển qua
kỳ thi tuyển công chức, đồng thời cũng nh đối với cơ quan tuyển công chức Đây
là khoảng thời gian để "ngời công chức trẻ" học các kỹ năng, kiến thức chuyênmôn, chiêm nghiệm lại những kiến thức đã tiếp thu trong nhà trờng
* Sử dụng cán bộ, công chức
Việc sử dụng cán bộ, công chức phải chú trọng tới việc dùng đúng ngời,
đúng việc, đúng năng lực, sở trờng, đúng chuyên môn đợc đào tạo, đối với cán
bộ, công chức là lãnh đạo cần bố trí đúng khả năng, đúng vị trí mà cán bộ, côngchức có thể đảm nhiệm để đạt đợc hiệu quả cao Sự bố trí, sắp xếp, phân côngcông tác cho cán bộ, công chức đúng đắn sẽ đảm bảo cho họ hoàn thành tốtnhiệm vụ đợc giao, giúp họ tự rèn luyện nâng cao trình độ về mọi mặt và giúp tậpthể giải quyết những vấn đề vớng mắc Tuy nhiên, nếu sử dụng cán bộ, côngchức không đúng, sẽ không phát huy đợc năng lực, sở trờng cũng nh mức độhoàn thành nhiệm vụ của họ Chính vì vậy, khi sử dụng cán bộ, công chức, HồChí Minh rất chú trọng đến việc giao trách nhiệm cho cán bộ, công chức, Ng ờinói: “Thả cho họ làm, thả cho họ phụ trách, dù sai lầm chút ít cũng không sợ”[40] Đây là phơng pháp sử dụng cán bộ, công chức một cách mạnh dạn qua thửthách Tất nhiên ngời lãnh đạo phải vạch ra cho ngời thực thi phơng hớng, kếhoạch, tạo điều kiện cho ngời đợc giao nhiệm vụ thi thố tài năng, dám nghĩ, dámlàm, từ đây, ngời lãnh đạo kịp thời uốn nắn những khuyết điểm đợc bộc lộ qua
Trang 23công việc của cấp dới mình Qua nhiều năm mà kiến thức của mỗi ngời khôngbồi bổ, khác nào một cỗ máy chạy lâu ngày không đợc tra thêm dầu mỡ
* Quản lý cán bộ, công chức
Quản lý là quá trình điều khiển, tức là quá trình lập kế hoạch, tổ chức lãnh
đạo và kiểm tra các công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị vàviệc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt đợc các mục đích xác định
Quản lý là thuộc tính bất biến, nội tại của một quá trình hoạt động xã hội.Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội tồn tại và phát triển.Trong đó, yếu tố con ngời, chủ yếu là ngời quản lý và ngời bị quản lý giữ vai tròtrung tâm trong chu trình, trong hoạt động quản lý Nh vậy, quản lý cán bộ, côngchức là một khâu của công tác nhân sự trong hệ thống chính trị nớc ta, thuộctrách nhiệm trực tiếp của các cơ quan có thẩm quyền về lãnh đạo và quản lýtrong hệ thống chính trị, với sự giúp đỡ của các cơ quan tham mu về công tácnhân sự ở các cấp, các ngành từ Trung ơng tới cơ sở Nguyên tắc quản lý cán bộ,công chức là Đảng Cộng sản Việt Nam thống nhất lãnh đạo và quản lý đội ngũcán bộ, công chức, đồng thời phát huy đầy đủ trách nhiệm của các tổ chức thànhviên trong hệ thống chính trị; đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể cáccơ quan lãnh đạo và quản lý có thẩm quyền (theo phân công, phân cấp) ra quyết
định đi đôi với việc thực hiện đầy đủ trách nhiệm cá nhân của những cán bộ,công chức lãnh đạo và quản lý có thẩm quyền trong công tác này
Việc quản lý cán bộ, công chức đợc thực hiện theo quy định phân cấp của
Đảng và Nhà nớc; và do bầu cử đợc thực hiện theo quy định của Luật Tổ chứcQuốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy bannhân dân, điều lệ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
1.3.2.2 Quy hoạch cán bộ, công chức
Quy hoạch (xác định phơng hớng, kế hoạch phát triển dài hạn, bớc đi, cácnguồn lực…) là một yêu cầu khách quan đối với mọi lĩnh vực hoạt động của toànxã hội, nhất là trong thế giới ngày nay, khi khoa học công nghệ phát triển, quátrình toàn cầu hoá đang tiếp diễn mạnh mẽ Quy hoạch càng phù hợp với yêu cầu
và thực tế khách quan bao nhiêu, càng đảm bảo cho quá trình phát triển thuận lợi
và có hiệu quả cao bấy nhiêu Ngợc lại, quy hoạch sai, gây lãng phí khôn lờng Quy hoạch cán bộ, công chức là kế hoạch tổng thể, dài hạn để tạo nguồncán bộ, công chức nhằm đáp ứng nhiệm vụ trớc mắt và lâu dài cho công tác cán
bộ Hiến pháp nớc ta quy định: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thống nhấtcông tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn bộ hệ thốngchính trị Đờng lối, chủ trơng và Điều lệ của Đảng từ trớc đến nay cũng quy định
nh vậy Theo đó, quy hoạch cán bộ, công chức là một khâu cơ bản trong công táccán bộ, nhằm chủ động tạo nguồn nhân sự trẻ, tập hợp đợc nhiều nhân tài; làm cơ
sở cho việc đào tạo, bố trí, sử dụng và phát triển đội ngũ cán bộ trong hệ thống
Trang 24chính trị bảo đảm về số lợng và chất lợng, có cơ cấu hợp lý và sự chuyển tiếpvững vàng giữa các thế hệ Có hai loại đối tợng cán bộ, công chức cần quy hoạch
là đối tợng rộng và đối tợng hẹp Đối với mỗi loại đối tợng, nội dung, phơng pháplàm quy hoạch phải khác nhau, nhng phải đợc thực hiện công khai dới sự lãnh
đạo tập trung, thống nhất của các cấp ủy đảng, đồng thời có sự phân cấp hợp lý
về thẩm quyền quy hoạch cán bộ, phù hợp với phân cấp quản lý, sử dụng cán bộ;quy hoạch phải sát với thực tiễn trên cơ sở nắm chắc đội ngũ hiện có, nguồn cán
bộ và dự báo trớc yêu cầu phát triển đồng thời phải gắn với các khâu trong côngtác cán bộ một cách đồng bộ từ trên xuống dới, đảm bảo nguyên tắc “mở” và
Đối tợng hẹp của quy hoạch cán bộ là đội ngũ cán bộ, công chức trong hệthống chính trị, trớc hết là phải chú trọng quy hoạch cán bộ, công chức lãnh đạo,quản lý Đây là đối tợng chính của công tác quy hoạch cán bộ, công chức trongthời gian qua Quy hoạch cán bộ, công chức có thể ngắn hạn (một nhiệm kỳ 5năm) hoặc dài hạn (hai đến ba nhiệm kỳ 5 năm) và đợc điều chỉnh, bổ sung quaviệc đánh giá cán bộ, công chức và nguồn cán bộ, công chức đợc quy hoạch hàngnăm Trong quy hoạch cán bộ, công chức ngắn hạn, phải chú trọng lựa chọn đ avào quy hoạch để đào tạo, bồi dỡng những cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý,
có độ tuổi trẻ, có thành tích xuất sắc Đối với quy hoạch cán bộ, công chức dàihạn cần tạo nguồn cán bộ, công chức có thành tích trong lao động, công tác; sinhviên có thành tích xuất sắc và đạo đức tốt trong quá trình học tập ở nhà tr ờng vàtham gia công tác xã hội Các cơ quan lãnh đạo và quản lý cán bộ, công chứclãnh đạo chủ chốt có trách nhiệm trực tiếp làm quy hoạch cán bộ, công chức mộtcách dân chủ, khách quan, có sự giúp đỡ của các cơ quan tham mu, coi trọng việclấy ý kiến tiến cử của nhân dân
1.3.2.3 Đào tạo, bồi dỡng cán bộ, công chức
Đào tạo là quá trình tác động đến con ngời nhằm làm cho họ lĩnh hội vànắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống để chuẩn bị
Trang 25cho họ thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao độngnhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nềnvăn minh của loài ngời Có nhiều dạng đào tạo: Đào tạo cấp tốc, đào tạo chuyênsâu, đào tạo cơ bản, đào tạo lại, đào tạo ngắn hạn, đào tạo từ xa,
Khái niệm bồi dỡng cũng dùng gần nh khái niệm đào tạo, nhiều trờng hợp,hai khái niệm đào tạo và bồi dỡng đợc sử dụng đồng thời Nếu đào tạo là quátrình làm cho con ngời có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định thì bồi dỡnglàm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất Nghĩa là hai hoạt động này đều hớng tớicùng một mục tiêu nhng có điểm khác là, đào tạo đi từ cái cha có thành có hoặccái cha đủ "chuẩn" thành đủ "chuẩn; còn bồi dỡng làm tăng thêm giá trị cái đã
có, cũng là quá trình tác động đến con ngời nhằm làm cho họ có thêm nhữngkiến thức, kỹ năng nhng ở mức độ thấp hơn, với các hình thức chủ yếu thông quacác lớp tập huấn hoặc cập nhật kiến thức với thời gian ngắn hơn nhiều so với quátrình đào tạo
Đào tạo, bồi dỡng cán bộ, công chức là một khâu của công tác cán bộ Đàotạo, bồi dỡng giúp cán bộ, công chức cập nhật, trang bị thêm, trang bị mới kiếnthức, kỹ năng thực thi công vụ Trong đào tạo và bồi dỡng công chức cần cónhững tính toán cân nhắc, đào tạo bồi dỡng có trọng tâm trọng điểm Đào tạo, bồidỡng cán bộ, công chức nhà nớc thực chất là việc cung cấp các tri thức, huấnluyện một cách có kế hoạch, có tổ chức theo nhiều hình thức nhằm xây dựng độingũ công chức có năng lực, giỏi về chuyên môn, có phẩm chất chính trị, phẩmchất đạo đức, ổn định và hiệu quả trong hoạt động công vụ Việc đào tạo, bồi d-ỡng cán bộ, công chức phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch, tiêu chuẩn đối vớitừng chức vụ, tiêu chuẩn nghiệp vụ của từng ngạch Kinh phí đào tạo, bồi dỡngcán bộ, công chức do ngân sách nhà nớc cấp Chế độ đào tạo, bồi dỡng do các cơquan, tổ chức có thẩm quyền quy định
1.3.2.4 Điều động, luân chuyển cán bộ, công chức
Điều động là khái niệm để chỉ việc cấp có thẩm quyền điều chuyển cán bộ,công chức từ một cơ quan, tổ chức này sang một cơ quan, tổ chức khác nhằm giảiquyết nhiệm vụ công vụ, hoặc tăng cờng cán bộ, công chức cho cơ quan, tổ chức
để xử lý, giải quyết một nhiệm vụ đột xuất hoặc nhằm mục đích rèn luyện, thửthách cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý trong quy hoạch Điều động mang tính
đơn phơng, do cơ quan tổ chức có thẩm quyền quyết định trên cơ sở xét thấy có
sự phù hợp giữa nhu cầu điều động và khả năng của cán bộ, công chức thì trìnhcơ quan có thẩm quyền quyết định điều động Cán bộ, công chức đợc điều động
có quyền trình bày nguyện vọng của mình để cơ quan có thẩm quyền xem xét,cân nhắc trớc khi ra quyết định; khi đã có quyết định điều động thì phải nghiêmchỉnh chấp hành
Trang 26Tùy theo mục đích điều động có thể phân chia cán bộ điều động thành baloại: cán bộ, công chức thuộc diện điều động; cán bộ, công chức thuộc diện tăngcờng và cán bộ, công chức thuộc diện luân chuyển Với mục đích điều độngnhằm giải quyết một nhiệm vụ công vụ thì cán bộ, công chức đợc điều chuyểntrong trờng hợp này thuộc diện điều động Nhằm đáp ứng các yêu cầu điều động,cán bộ, công chức thuộc diện này thờng là những cán bộ đã kinh qua công táclãnh đạo, quản lý ở địa phơng và bộ, ngành, trung ơng, có kinh nghiệm xử lý cáctình huống đặt ra của thực tiễn và nằm trong quy hoạch cán bộ và thờng khôngquy định rõ thời hạn điều động Đối với cán bộ, công chức trong diện tăng c ờngthờng đợc sử dụng để đáp ứng yêu cầu cấp bách, đột xuất trong từng thời điểmnhất định ở các địa phơng, địa bàn với t cách là t vấn, tham mu chứ không thựcquyền quản lý, điều hành Cán bộ, công chức thuộc diện luân chuyển là nhữngcán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý trong quy hoạch cán bộ của trung ơng, địaphơng; còn trẻ, có triển vọng hoặc cán bộ, công chức dự nguồn để trở thành cán
bộ, công chức lãnh đạo, quản lý Chủ trơng luân chuyển của Đảng ta đợc thể hiệnqua Nghị quyết số 11/NQ-TW ngày 25/01/2002 của Bộ Chính trị, Nghị quyếtnhấn mạnh việc luân chuyển cán bộ, công chức lãnh đạo và quản lý là tạo điềukiện để rèn luyện, bồi dỡng, thử thách, giúp cho họ trởng thành nhanh và toàndiện hơn, đáp ứng yêu cầu trớc mắt và lâu dài của toàn bộ hệ thống chính trị,từng bớc điều chỉnh cán bộ, công chức lãnh đạo quản lý một cách hợp lý hơn,tăng cờng cho những nơi có yêu cầu cấp bách; tạo nên những bớc đột phá gópphần đổi mới sâu sắc công tác đào tạo, bồi dỡng cán bộ, công chức lãnh đạo,quản lý, khắc phục một số hạn chế trong công tác cán bộ
1.3.2.5 Chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức
Chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức là hệ thống các quan điểm,chủ trơng, mục tiêu của Đảng và Nhà nớc Việt Nam về công tác cán bộ, côngchức kèm theo các giải pháp thực hiện các mục tiêu đó nhằm xây dựng đội ngũcán bộ, công chức đồng bộ, có chất lợng đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ chính trịtrong mỗi thời kỳ, bao gồm: chính sách tuyển dụng, bổ nhiệm và miễn nhiệm cán
bộ, công chức; chính sách đào tạo, bồi dỡng cán bộ, công chức; chính sách tiền
l-ơng; chính sách khen thởng, kỷ luật cán bộ, công chức; chính sách bảo vệ và cácchính sách đãi ngộ khác đối với cán bộ, công chức… Chế độ, chính sách cán bộ,công chức là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nớc, có tầm quantrọng đặc biệt Trong điều kiện một Đảng cầm quyền, Đảng thống nhất lãnh đạocông tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, chính sách cán bộ, côngchức là chính sách thống nhất trong hệ thống chính trị Mỗi lĩnh vực, bộ phậnhợp thành của hệ thống chính trị có thể vận dụng chính sách cán bộ chung đểthực hiện cho phù hợp với điều kiện cụ thể, qua đó góp phần bổ sung, hoàn chỉnhchính sách ấy
Trang 27Đảng và Nhà nớc ta có chế độ, chính sách thích hợp bảo đảm lợi ích vật chất
và động viên tinh thần cho cán bộ Tinh giảm biên chế, nâng cao năng suất, chấtlợng, hiệu quả lao động, chống tham nhũng, lãng phí, mở rộng bảo hiểm xã hội,tăng tỷ lệ động viên thu nhập quốc dân vào ngân sách nhà nớc, đổi mới cơ bảnchính sách bảo đảm lợi ích vật chất cho từng loại cán bộ, trớc hết là chế độ tiền l-
ơng, nhà ở và phơng tiện đi lại… Chính sách cải cách tiền lơng và các chế độ,chính sách đãi ngộ cán bộ, công chức của Đảng đang đợc thực hiện có hiệu quả.Sửa đổi, bổ sung các quy định về chế độ phụ cấp ngoài tiền lơng theo ngạch, bậctheo cấp chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức làm việc ở những nơi xaxôi, hải đảo, miền núi Ban hành và thực hiện chế độ tiền thởng đối với cán bộ,công chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và các chế độ đãi ngộ khác ngoài tiền l-
ơng đối với cán bộ công chức đồng thời đề ra nhiều chính sách, hình thức thíchhợp để tôn vinh những ngời có công với nớc, những ngời có tài, có đóng góp lớncho sự nghiệp đổi mới
1.3.2.6 Trách nhiệm cán bộ, công chức
Hiện nay, sự thiếu tinh thần trách nhiệm của không ít cán bộ, công chứckhông chỉ gây trở ngại cho việc cải cách bộ máy nhà n ớc mà còn làm cho nhândân bất bình, lo lắng, bức xúc trớc tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí,suy thoái về t tởng, chính trị và phẩm chất đạo đức, lối sống của một bộ phận cán
bộ đảng viên vẫn còn nghiêm trọng; kỷ cơng phép nớc trong nhiều việc, nhiềulúc cha nghiêm Vì vậy, pháp luật đặt ra nhiều quy định về trách nhiệm đối vớicán bộ, công chức nhằm đảm bảo trật tự, kỷ luật trong hoạt động công vụ
- Trong quản lý nhà nớc, trách nhiệm pháp lý của cán bộ, công chức là
ph-ơng tiện bảo vệ trật tự pháp luật, bảo đảm trật tự, kỷ luật, kỷ cph-ơng trong hoạt
động của bộ máy quản lý Đây là mục đích chung của trách nhiệm pháp lý củacán bộ, công chức Bên cạnh đó, trách nhiệm pháp lý của cán bộ, công chức còn
có các mục đích cụ thể, trực tiếp, nh: giáo dục cán bộ, công chức đạo đức công
vụ, ý thức tôn trọng phục vụ nhân dân, thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật, phòngngừa các vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức Mục đích phòng ngừa baogồm việc ngăn chặn sự tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm của cán bộ, công chức,răn đe và giáo dục để phòng ngừa các vi phạm đó
Tùy theo mức độ nguy hiểm của hành vi, tính chất của khách thể bị xâmhại, quan hệ giữa khách thể vi phạm và công vụ đợc giao mà pháp luật quy địnhcác hình thức trách nhiệm pháp lý khác nhau đối với cán bộ, công chức: tráchnhiệm kỷ luật, trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm vậtchất
- Trách nhiệm chính trị là trách nhiệm trớc tổ chức Đảng và tổ chức xã hội,trách nhiệm trớc tập thể cơ quan nơi công chức làm việc, trách nhiệm của đạibiểu dân cử trớc cử tri Pháp luật nớc ta những năm gần đây đã quan tâm đến vấn
Trang 28đề này, đặc biệt là trong công tác đề bạt, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chức vàviệc đánh giá cán bộ, công chức hàng năm đối với trách nhiệm của cán bộ, côngchức là đảng viên trớc tổ chức đảng và trách nhiệm của công chức trớc tập thể cơquan nơi ngời công chức đó làm việc Nó đợc áp dụng cho các cán bộ, công chức
là đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng và khi cán bộ, công chức không hoàn thànhnhiệm vụ, dao động về t tởng, phẩm chất năng lực yếu kém sẽ phải chịu tráchnhiệm trớc tập thể công chức nơi làm việc Hình thức kỷ luật trên không thay thếviệc áp dụng các chế tài pháp lý đối với những cán bộ, công chức vi phạm phápluật
- Trách nhiệm đạo đức là loại hình trách nhiệm xã hội có vai trò quan trọngtrong đời sống xã hội, trong hoạt động quản lý, đặc biệt là đối với những n ớc ph-
ơng Đông, trong đó có Việt Nam Đó là sự tự vấn lơng tâm, sự lên án của xã hội,cộng đồng dân c đối với ngời vi phạm các chuẩn mực đạo đức xã hội Sự tha hóa
đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức sẽ làm giảm sút niềm tin của nhân dân
đối với chính quyền Cơ sở của trách nhiệm đạo đức là vi phạm các quy tắc chuẩnmực đạo đức xã hội Những quy tắc chuẩn mực này có thể thành văn (đợc vănbản luật hóa) hoặc không thành văn Do đó, ở góc độ này việc vi phạm đạo đức
có thể áp dụng trách nhiệm chính trị - pháp lý, còn ở góc độ khác việc vi phạm
có thể áp dụng biện pháp lên án xã hội
Trang 29Chơng 2
Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức
tỉnh phú thọ hiện nay 2.1 thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Phú Thọ hiện nay
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội của tỉnh Phú Thọ
2.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Phú Thọ là tỉnh thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc, nằm trong khuvực giao lu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc (vị trí địa lýmang ý nghĩa trung tâm của tiểu vùng Tây - Đông - Bắc) Phía Đông giáp Hà Nội(mới), phía Đông Bắc giáp Vĩnh Phúc, phía Tây giáp Sơn La, phía Tây Bắc giápYên Bái, phía Nam giáp Hòa Bình, phía Bắc giáp Tuyên Quang Với vị trí “ngã
ba sông” cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội, Phú Thọ cách trung tâm Hà Nội
80 km, cách sân bay Nội Bài 60 km, cách cửa khẩu Lào Cai, cửa khẩu ThanhThuỷ hơn 200 km, cách Hải Phòng 170 km và cảng Cái Lân 200 km
Phú Thọ nằm ở trung tâm các hệ thống giao thông đờng bộ, đờng sắt và ờng sông từ các tỉnh thuộc Tây - Đông - Bắc đi Hà Nội, Hải Phòng và các nơikhác Là cầu nối giao lu kinh tế - văn hoá - khoa học kỹ thuật giữa các tỉnh đồngbằng Bắc Bộ với các tỉnh miền núi Tây Bắc Quốc lộ 2 qua Phú Thọ đi TuyênQuang, Hà Giang sang Vân Nam (Trung Quốc), quốc lộ 70 đi Yên Bái, Lào Caisang Vân Nam (Trung Quốc), quốc lộ 32 qua Phú Thọ đi Yên Bái, Sơn La, cùngvới các tỉnh bạn trong cả nớc và quốc tế [68]
đ-Với địa hình bị chia cắt, Phú Thọ đợc chia thành tiểu vùng chủ yếu Tiểuvùng núi cao phía Tây và phía Nam của Phú Thọ, tuy gặp một số khó khăn vềviệc đi lại, giao lu song ở vùng này lại có nhiều tiềm năng phát triển lâm nghiệp,khai thác khoáng sản và phát triển kinh tế trang trại Tiểu vùng gò, đồi thấp bịchia cắt nhiều, xen kẽ là đồng ruộng và dải đồng bằng ven sông Hồng, hữu Lô, tả
Đáy Có thể nói, toàn bộ diện tích đất đai của Phú Thọ là diện tích gò đồi
Tỉnh Phú Thọ gồm 13 huyện, thành, thị gồm: thành phố Việt Trì, thị xã PhúThọ; các huyện Đoan Hùng, Hạ Hoà, Thanh Ba, Cẩm Khê, Phù Ninh, Lâm Thao,Tam Nông, Thanh Thuỷ, Thanh Sơn, Tân Sơn và Yên Lập; 275 đơn vị hành chínhcấp xã Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá của tỉnh
2.1.1.2 Đặc điểm về dân c
Phú Thọ có dân số 1.345.498 ngời Trong đó, lao động xã hội toàn tỉnh là727.500 ngời, chiếm 59,8% dân số Trên địa bàn tỉnh có 28 dân tộc, đông nhất làdân tộc Kinh, chiếm 85,89% dân số của tỉnh Dân số là ngời dân tộc thiểu sốchiếm 14,11% số dân toàn tỉnh Trong số các dân tộc thiểu số, dân tộc Mờngchiếm 13,62%; dân tộc Dao chiếm 0,92%; dân tộc Sán Chay chiếm 0,22%; dântộc Tày chiếm 0,15%; dân tộc Mông chiếm 0,05%; dân tộc Thái chiếm 0,04%;
Trang 30dân tộc Nùng chiếm 0,03%; dân tộc Hoa chiếm 0,02%; dân tộc Thổ chiếm0,01%; dân tộc Ngái chiếm 0,008% [68].
Trình độ dân trí: Đến nay đã phổ cập giáo dục tiểu học cho 13/13 huyện, thị,thành phố với 100% số xã; tỷ lệ ngời biết chữ đạt 98,3% dân số Số học sinh phổthông niên học 2009-2010 có trên 307.250 em, số giáo viên là 14.183 ngời Sốthầy thuốc có 2.597 ngời, bình quân y, bác sĩ trên 1 vạn dân là 206 ngời
2.1.1.3 Đặc điểm về kinh tế – xã hội
Thời gian qua, nền kinh tế Phú Thọ phát triển đúng hớng, phù hợp với đờnglối phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần GDP tăng bình quân đạt 8,4%năm, cao hơn mức tăng bình quân của cả nớc là 6,7% Về GDP/ngời, Phú Thọ
đứng thứ 3 trong số các tỉnh trung du miền núi Bắc bộ; đứng thứ 34 trong 61 tỉnh,thành của cả nớc Về GDP công nghiệp/ngời, Phú Thọ đứng thứ 3 trong số cáctỉnh trung du miền núi Bắc bộ; đứng thứ 10 trong 61 tỉnh, thành của cả nớc.Cơ cấu kinh tế đang dịch chuyển cơ bản đúng hớng tạo điều kiện thúc đẩynền kinh tế phát triển, thực hiện quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa Cácngành công nghiệp mũi nhọn tiếp tục phát triển khá, nhất là công nghiệp chếbiến nông, lâm sản, thực phẩm và sản xuất vật liệu xây dựng Một số doanhnghiệp đợc tổ chức sắp xếp lại, đầu t chiều sâu, tạo ra sản phẩm có chất lợng cao,
đợc thị trờng chấp nhận, nh gạch CMC, bia Henninger, que hàn, giầy thể thao Tiểu thủ công nghiệp đợc chú trọng, đẩy mạnh sản xuất, nâng cao chất lợng và
đa dạng hóa sản phẩm, giá trị sản xuất tăng 42% so năm 1996, nhiều ngành nghềtruyền thống đợc khôi phục và phát triển Giá trị gia tăng nông lâm nghiệp cónhịp độ tăng trởng bình quân đạt 5,6%/năm, chăn nuôi tiếp tục phát triển; Rừng
tự nhiên, rừng trồng tăng lên cả số lợng và chất lợng, độ che phủ của rừng đạt35,8% Các ngành dịch vụ cũng có mức tăng trởng khá, đạt khoảng 9,8%/năm.Mạng lới thơng mại, dịch vụ đợc quy hoạch, sắp xếp lại, kết hợp tăng cờng côngtác quản lý thị trờng, chống buôn lậu, gian lận thơng mại và kinh doanh tráiphép, đảm bảo lợi ích của ngời tiêu dùng và nhà sản xuất, đẩy mạnh tiêu thụ.Ngành tài chính, ngân hàng, du lịch và các ngành dịch vụ khác đều có nhữngkhởi sắc góp phần xứng đáng vào sự ổn định và phát triển chung của nền kinh tế.Giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 65,4 triệu USD, tăng bình quân 12,2%/năm.Các mặt hàng xuất khẩu ngày càng đa dạng, phong phú Nhiều mặt hàng xuấtkhẩu mới có uy tín đợc thị trờng chấp nhận Các mặt hàng truyền thống tiếp tụctăng khá và ổn định nh chè chế biến, hàng may mặc Các thành phần kinh tế đợckhuyến khích, phát triển, cũng đóng góp phần xứng đáng vào sự phát triển chungcủa nền kinh tế, đời sống của các tầng lớp dân c ngày càng đợc cải thiện, các mặtxã hội cũng có sự chuyển biến tích cực Xây dựng mới 20 công trình thủy lợi,củng cố sửa chữa một số công trình đầu mối, trọng điểm khác, tăng thêm3.673ha đợc tới tiêu chủ động Đầu t đa vào sử dụng 231,5km đờng dây cao thế,
Trang 31255 km đờng dây hạ thế và 133 trạm biến áp, tăng thêm 77 xã có điện lới Làmmới và nâng cấp 329,2km đờng nhựa, đờng cấp phối, hàng chục km cấp thoát n-
ớc đô thị
2.1.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Phú Thọ hiện nay
2.1.2.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức thuộc Ban Thờng vụ Tỉnh
ủy quản lý (Phụ lục 1)
Đội ngũ cán bộ, công chức cấp tỉnh, huyện và các cơ quan ngành dọc củaTrung ơng đóng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (thuế, thống kê, bảo hiểm xã hội ) doBan Thờng vụ Tỉnh ủy quản lý có 346 ngời, trong đó có 45 ngời là nữ, chiếm13%, ngời dân tộc có 24 ngời chiếm 6,93%
Về độ tuổi, số có độ tuổi dới 30 tuổi không có ngời nào; số ngời có độ tuổi từ
31 đến 40 tuổi có 22 ngời chiếm 6,4% ; số ngời có độ tuổi từ 41 đến 50 tuổi có
123 ngời chiếm 35,5% ; số có độ tuổi trên 51 tuổi có 201 ngời chiếm tỷ lệ 58,1%
Nh vậy, số cán bộ cấp tỉnh, huyện và các cơ quan ngành dọc do Ban Thờng vụTỉnh ủy quản lý phần lớn tuổi tơng đối cao, trên 50 tuổi chiếm 58,1%
Về trình độ chuyên môn đào tạo có 51 ngời có trình độ trên đại học (gồmthạc sỹ, tiến sỹ) chiếm tỷ lệ 14,74%; có 289 ngời có trình độ đại học chiếm tỷ lệ83,53%; số còn lại có trình độ cao đẳng và trung cấp
Về trình độ lý luận chính trị, có 333 ngời đã đợc đào tạo cao cấp lý luậnhoặc cử nhân chính trị, chiếm 96,2%; có 13 ngời có trình độ trung cấp lý luận,chiếm 3,8%
Về bố trí theo chuyên ngành đào tạo có 346 ngời đợc bố trí đúng chuyênngành đào tạo, chiếm tỷ lệ 100%; trong số này có 100% hoàn thành xuất sắcnhiệm vụ
Nh vậy đội ngũ cán bộ, công chức do Ban Thờng vụ Tỉnh ủy quản lý có98,27% có trình độ đại học và trên đại học; 96,2% có trình độ cao cấp lý luận, và
có 59,8% đợc đạo tạo chính quy, 40,2 % đào tạo tại chức; phần lớn đợc bố trí
đúng chuyên môn và đều hoàn thành tốt nhiệm vụ
2.1.2.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức thuộc cấp tỉnh, cấp huyện, các cơ quan ngành dọc của trung ơng
a Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức là trởng, phó phòng hoặc tơng
đ-ơng (Phụ lục 2)
Đội ngũ cán bộ, công chức là trởng, phó phòng hoặc tơng đơng ở tỉnh PhúThọ có 1719 ngời, trong đó nữ có 413 ngời chiếm 24,02%, ngời dân tộc có 99ngời chiếm 5,76% Về độ tuổi, dới 30 tuổi có 35 ngời chiếm tỷ lệ 2,03%; từ 31
đến 40 có 364 ngời chiếm tỷ lệ 21,18%; từ 41 đến 50 có 685 ngời chiếm tỷ lệ39,85%; từ 51 đến 55 tuổi có 384 ngời chiếm 22,34%; ngời có độ tuổi từ 55 tuổitrở lên có 251 ngời chiếm 14,6%
Trang 32Về trình độ chuyên môn đào tạo có 95 ngời có trình độ trên đại học (gồmthạc sỹ, tiến sỹ) chiếm tỷ lệ 5,53%; 1474 ngời có trình độ đại học chiếm tỷ lệ85,75%; số còn lại có trình độ cao đẳng và trung cấp
Về loại hình đào tạo có 780 ngời đợc đào tạo chính quy chiếm tỷ lệ 45,38%;
có 939 ngời đợc đào tạo tại chức chiếm tỷ lệ 54,62%
Về trình độ lý luận chính trị, trong tổng số cán bộ giữ chức trởng, phóphòng và tơng đơng có 1016 ngời có trình độ cao cấp lý luận hoặc cử nhân chínhtrị, chiếm tỷ lệ 59,1%; có 539 ngời có trình độ trung cấp lý luận chiếm tỷ lệ31,36%; có 164 ngời có trình độ sơ cấp, chiếm tỷ lệ 9,54%
Nh vậy đội ngũ cán bộ giữ chức vụ trởng, phó phòng và tơng đơng có91,28% có trình độ đại học và trên đại học; 59,1% có trình độ cao cấp lý luận; có45,38% đợc đạo tạo chính quy, 54,62 % đào tạo tại chức Trên 76% là có độ tuổi
từ 41 tuối trở lên Có 91,27% đợc bố trí đúng chuyên ngành đào tạo; có 98,89%
là hoàn thành tốt nhiệm vụ
b Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác chuyên môn và nhân
viên phục vụ tại tỉnh Phú Thọ (Phụ lục 3)
- Về số lợng và cơ cấu, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác chuyên môn
và nhân viên phục vụ tại tỉnh Phú Thọ có 5393 ngời, trong đó nữ có 2162 ngời
chiếm 40,09%, ngời dân tộc thiểu số có 220 ngời chiếm 4,08%
- Về độ tuổi của đội ngũ này cho thấy: ngời có độ tuổi dới 30 là 1236 ngờichiếm tỷ lệ 22,92%, độ tuổi từ 31 đến 40 có 1763 ngời chiếm tỷ lệ 32,69 %; độtuổi từ 41 đến 50 có 1543 ngời chiếm tỷ lệ 28,61%; ngời có độ tuổi từ 51 đến 55tuổi có 623 ngời chiếm 11,55%; trên 55 tuổi có 228 ngời chiếm 4,23%
- Về trình độ chuyên môn đào tạo có 3053 ngời có trình độ từ đại học trở lênchiếm 56,61%; Trình độ cao đẳng và trung cấp có 1708 ngời chiếm tỷ lệ 31,67%,
số có trình độ sơ cấp hoặc cha qua đào tạo là 632 ngời chiếm tỷ lệ là 11,72%(100% là nhân viên phục vụ)
- Về loại hình đào tạo có 2727 ngời đợc đào tạo chính quy chiếm tỷ lệ50,56%; 2034 ngời đợc đào tạo tại chức chiếm tỷ lệ 37,72%; còn lại là các hìnhthức đào tạo khác
- Về trình độ lý luận chính trị, có 1506 ngời có trình độ sơ cấp lý luận chiếm
tỷ lệ 27,93%; số có trình độ trung cấp 1861 ngời chiếm tỷ lệ 34,51%; trình độcao cấp là 155 ngời chiếm 2,87%; số còn lại cha qua đào tạo
- Về bố trí công việc theo chuyên ngành đào tạo và khả năng hoàn thànhnhiệm vụ, đội ngũ này có 93,99 % bố trí đúng chuyên ngành đào tạo, số còn làgần đúng hoặc không đúng với chuyên ngành đào tạo; có 90,69% là hoàn thànhtốt nhiệm vụ, 9,18% hoàn thành nhiệm vụ, còn lại là không hoàn thành nhiệm vụ
2.1.2.3 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, phờng, thị trấn
(Phụ lục 4)
Trang 33Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức của 275 xã, phờng thị trấn trên địabàn tỉnh cho thấy:
- Về số lợng và cơ cấu, có 5121 ngời trong đó cán bộ nữ là 1538 ngờichiếm 30,03%; có 475 là ngời dân tộc thiểu số chiếm 9,28%
- Về độ tuổi: độ tuổi dới 30 có 634 ngời chiếm tỷ lệ 12,38%; tuổi từ 31 đến
45 có 2471 ngời chiếm 48,25%; từ 46 tuổi trở lên có 2016 ngời chiếm tỷ lệ39,37%
- Về trình độ văn hóa có 4540 ngời tốt nghiệp trung học phổ thông chiếm tỷ
lệ 88,65%; tốt nghiệp trung học cơ sở có 581 ngời chiếm 11,35%
- Về trình độ chuyên môn cho thấy: đại học có 684 ngời chiếm 13,36%;trình độ cao đẳng, trung cấp có 2811 ngời chiếm 54,89%; trình độ sơ cấp có 271ngời chiếm 5,29%; số cha qua đào tạo 1355 ngời chiếm tỷ lệ 26,46%
- Về trình độ lý luận có 1358 ngời cha qua đào tạo chiếm 26,52%; 1467
ng-ời có trình độ sơ cấp chiếm 28,65%; 2255 ngng-ời có trình độ trung cấp chiếm 44,03%;trình độ cao cấp hoặc cử nhân chính trị có 41 ngời chiếm 0,8%
Nh vậy đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, phờng, thị trấn có 13,36% cótrình độ đại học, 0,8% có trình độ cao cấp lý luận Cha đạt chuẩn về chuyên môn
có 1355 ngời chiếm 26,46%; cha đạt chuẩn về văn hóa có 581 ngời chiếm11,35%, 26,52% cha đạt chuẩn về trình độ lý luận chính trị
2.2 Thực trạng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức tại tỉnh Phú Thọ
2.2.1 Công tác quy hoạch cán bộ, công chức
Xác định quy hoạch cán bộ, công chức là một khâu cơ bản trong công táccán bộ, Tỉnh đã ban hành nhiều văn bản quan trọng nh Kế hoạch số 04-KH/TUngày 03/4/1998 triển khai hớng dẫn số 11-HD/TCTW ng y 5/11/1997 của Banày 5/11/1997 của Ban
Tổ chức Trung ơng về quy hoạch cán bộ; Kế hoạch số 34-KH/TU ngày10/8/2003 hớng dẫn triển khai xây dựng quy hoạch cán bộ giai đoạn 2005-2010
và 4 chức danh chủ chốt giai đoạn 2010-2015 ở 3 cấp tỉnh, huyện, xã; Chỉ thị số31-CT/TU ngày 8/3/2005 về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TWngày 30/11/2004 của Bộ Chính trị và hớng dẫn số 47-HD/TCTW của Ban Tổchức Trung ơng; Quyết định số 2386/2006/QĐ-UBND ngày 29/8/2006 của ủyban nhân dân tỉnh về quy hoạch đào tạo bồi dỡng cán bộ, công chức tỉnh Phú Thọgiai đoạn 2006-2010
Trên cơ sở đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức, các cấp ủy đảng
đã chủ động xây dựng kế hoạch, cơ chế chính sách cụ thể để tạo nguồn cán bộ.Lấy quy hoạch cán bộ cấp dới làm căn cứ cho việc xây dựng quy hoạch cán bộcấp trên, quy hoạch cấp trên đã góp phần thúc đẩy và tạo điều kiện cho quyhoạch cấp dới Trong quá trình xây dựng quy hoạch cán bộ, các cấp uỷ, tổ chức
Trang 34đảng đã chú trọng tổ chức quán triệt, hớng dẫn, tập huấn triển khai theo hớng mởrộng, dân chủ, khách quan, chặt chẽ, có chất lợng Cán bộ đa vào diện quy hoạch
đợc đánh giá theo các tiêu chuẩn cơ bản của chức danh cán bộ Bắt đầu hìnhthành cơ chế phát hiện và đào tạo có định hớng đối với những cán bộ trẻ, có triểnvọng Khắc phục việc khép kín trong từng ngành, địa phơng, đơn vị; hàng năm
đều rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cán bộ Tính đến nay Tỉnh uỷ đã chín
đợt chỉ đạo xây dựng, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cán bộ ở các cấp, các ngànhphục vụ công tác cán bộ thờng xuyên, công tác nhân sự đại biểu Hội đồng nhândân, ủy ban nhân dân các cấp và nhân sự đại hội đảng bộ các cấp Theo đó, chấtlợng nguồn cán bộ đợc đa vào quy hoạch khá dồi dào, phong phú, nhiều đơn vị
đã đảm bảo hệ số 2 trở lên cho Ban Thờng vụ và từ 2-3 ngời cho một chức danhchủ chốt Chất lợng cán bộ đa vào nguồn có sự chuyển biến khá so với cấy ủy đ-
ơng nhiệm về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, độ tuổi 100% cán bộ dựnguồn đều có trình độ chuyên môn cao đẳng, đại học trở lên, lý luận chính trị đạttrung, cao cấp Tuổi bình quân số cán bộ dự nguồn khóa sau trẻ hơn khóa trớc 1-
2 tuổi Cụ thể, sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, đầu năm 2007 đã xác nhậnquy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý nh sau:
- Xây dựng dự nguồn Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVII (2010-2015)gồm 110 đồng chí, trong đó nữ là 21 đồng chí (bằng 19,1%), 100% có trình độchuyên môn đại học trở lên trong đó có 26,4% có trình độ trên đại học, 94,6%trình độ cao cấp lý luận chính trị trở lên Xây dựng dự nguồn Ban Thờng vụ Tỉnh
ủy gồm 30 đồng chí, quy hoạch 27 đồng chí vào các chức danh lãnh đạo chủ chốtkhóa XVII, 9 đồng chí dự nguồn 4 chức danh chủ chốt giai đoạn 2015-2020
- Dự nguồn giám đốc, phó giám đốc sở và tơng đơng là 527 đồng chí, trong
đó nữ là 16,5% Trình độ chuyên môn trên đại học là 11,4%, cao đẳng, đại học là88,6%, cao cấp lý luận chính trị trở lên là 81,4%
- Đối với cấp huyện và đảng bộ trực thuộc: đã giới thiệu đợc 1029 cán bộ dựnguồn Ban Chấp hành đảng bộ, trong đó nữ là 20,6% Dự nguồn chức danh diệnTỉnh uỷ quản lý là 335 đồng chí (nữ 46 đồng chí), trình độ cao đẳng trở lên là93%, cao cấp lý luận chính trị trở lên là 24,4%
- Dự nguồn trởng, phó phòng, ban và tơng đơng cấp tỉnh là 5231 đồng chí,trong đó nữ là 24,5%
- Đối với cán bộ chủ chốt cấp xã: đã xây dựng đợc dự nguồn bí th 1042 đồngchí, dự nguồn phó bí th 1075 đồng chí, dự nguồn chủ tịch Hội đồng nhân dân 1009
đồng chí, dự nguồn chủ tịch ủy ban nhân dân 1046 đồng chí [18]
Nhìn chung, chất lợng quy hoạch cán bộ của các cơ quan, đơn vị ngày càng
đợc nâng cao, bớc đầu đã đi vào nề nếp, có những bớc tiến quan trọng song vẫncòn bộc lộ nhiều bất cập Việc quy hoạch cán bộ lãnh đạo còn hạn chế, một số
đơn vị còn nhầm lẫn công tác quy hoạch cán bộ với công tác nhân sự; ch a thực
Trang 35hiện tốt yêu cầu "mở" và "động", vẫn còn tình trạng bị động, khép kín trong côngtác quy hoạch cán bộ; nguồn quy hoạch cha phong phú, cơ cấu cán bộ cha đảmbảo cơ cấu ba độ tuổi, cán bộ trẻ ít, tuổi bình quân còn cao Một số nơi việc nhậnxét, đánh giá cán bộ cha đi vào thực chất, còn mang tính hình thức; tỷ lệ cán bộ
đào tạo không cơ bản (tại chức, chuyên tu) đa vào quy hoạch các chức danh lãnh
đạo chủ chốt các đơn vị trong tỉnh giai đoạn hiện nay và khoảng 5-7 năm tới còncao (khối huyện, thị, thành khoảng 20-30%) Việc thực hiện đồng bộ quy hoạch
ở cả ba cấp tỉnh, huyện, xã còn nhiều tồn tại, vớng mắc đặc biệt là ở cấp xã, việcquy hoạch thực chất chỉ là các kế hoạch nhân sự, cha có sự phân loại đối tợngquy hoạch để đa đi đào tạo, bồi dỡng do đội ngũ cán bộ vừa mỏng vừa thiếu lạikhông chủ động đợc về ngân sách phải phụ thuộc vào cấp trên
Ngoài ra, một vấn đề lớn hiện nay là mối quan hệ giữa quy hoạch cán bộtrong hệ thống chính trị và ngoài hệ thống chính trị mà nếu không giải quyết vấn
đề này sẽ cha thể hiện đợc tầm chiến lợc của quy hoạch cán bộ trớc sự thay đổicủa xã hội Trong quy hoạch hiện nay cha thể hiện rõ một nội dung cơ bản làphát hiện, bồi dỡng và sử dụng ngời tài hớng tới các tầng lớp doanh nhân, chủtrang trại, tiểu chủ vào đội ngũ cán bộ đoàn thể, mặt trận, hội đồng nhân dân hayhớng tới những ngời ngoài Đảng khi hội đủ các tiêu chuẩn cơ bản có thể dự bịhay kế cận vào một số vị trí chủ chốt, nhất là ở cấp cơ sở
2.2.2 Tình hình tuyển dụng, sử dụng, quản lý cán bộ công chức
Việc bố trí, sử dụng cán bộ, công chức ở các cấp, ngành trong tỉnh thực hiệntheo quy trình, công khai, dân chủ, khách quan trên cơ sở đánh giá đúng cán bộ,công chức, nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, ngời đứng đầu cơ quan, đơn vị đồngthời phát huy đợc vai trò, trí tuệ của tập thể trong tác cán bộ Những năm quaviệc đề bạt, bổ nhiệm đúng tiêu chuẩn, đúng thời điểm và đặc biệt là chọn lựa
đúng ngời để giao nhiệm vụ đã khuyến khích, động viên cán bộ, công chức pháthuy khả năng của bản thân Từ sau khi tái lập tỉnh (tháng 1/1997) đến nay đãxem xét, bổ nhiệm và giới thiệu ứng cử các chức danh cán bộ, công chức lãnh
đạo chủ chốt đối với 646 lợt cán bộ, công chức 98,3% cán bộ, công chức đợc bổnhiệm, giới thiệu ứng cử có trình độ đại học về chuyên môn trở lên, 89,7% cótrình độ cao cấp lý luận chính trị trở lên (trong đó từ năm 2002 đến nay bổ nhiệm
463 lợt cán bộ, công chức bảo đảm gần 100% có trình độ đại học chuyên môn và98% có trình độ cao cấp lý luận chính trị trở lên) Thực hiện Nghị quyết 42- NQ/
TW của Bộ Chính trị, công tác đề bạt, bổ nhiệm đã đợc thực hiện theo quy hoạchcán bộ, 78,6% đợc bổ nhiệm đúng quy hoạch Hơn 90% lợt cán bộ, công chứcthuộc các sở, ban, ngành đợc đề bạt vào chức danh trởng, phó phòng, ban, giám
đốc, phó giám đốc sở đúng quy hoạch và định hớng của tỉnh Công tác phân cấpquản lý tổ chức và cán bộ cũng đợc chú trọng, h ng loạt các văn bản quy định vềày 5/11/1997 của Banphân cấp quản lý tổ chức và cán bộ đã đợc ban hành nh Quyết định số
Trang 36543-QĐ/TU ngày 28/12/2007 của Ban Thờng vụ Tỉnh ủy Phú Thọ về "phân cấpquản lý tổ chức và cán bộ", Quyết định số 2765/2006/QĐ-UB ngày 03/10/2006của ủy ban nhân dân Tỉnh về "phân cấp quản lý tổ chức và cán bộ để thống nhấtthực hiện trong khối quản lý nhà nớc và khối sự nghiệp" Tiến hành đánh giá,nhận xét, phân loại cán bộ, công chức thờng xuyên hàng năm, thông qua thựctiễn, phát hiện những cán bộ, công chức có năng lực, có phẩm chất đạo đức, tcách tốt để có kế hoạch đào tạo, bồi dỡng, bố trí, sử dụng Nhìn chung, công tác
bố trí, quản lý và sử dụng cán bộ đã cơ bản đảm bảo đúng năng lực, sở trờng,chuyên môn đợc đào tạo, từng bớc trẻ hoá đội ngũ cán bộ, kết hợp tốt ở ba độtuổi, đảm bảo tính kế thừa và phát triển Tuy nhiên ở một số đơn vị, việc bố trí, sửdụng cán bộ nhiều khi còn chủ quan, cha thật công tâm, cha hợp lý, thiếu dânchủ, hoặc dân chủ hình thức, cha lấy hiệu quả công việc làm thớc đo; cha thật sự
đổi mới, cha thật quan tâm đến những ý kiến khác với ý kiến tập thể, thờng làthống nhất với ý kiến của ngời đứng đầu Bố trí cán bộ trong nhiều trờng hợp cònnặng về cơ cấu, lúng túng, bị động khi bố trí cán bộ chủ chốt ở một số ngành và
địa phơng, cha mạnh dạn để bạt cán bộ trẻ, cán bộ nữ
Trong công tác tuyển dụng, Tỉnh chủ trơng tuyển những ngời có đủ tiêuchuẩn, đáp ứng yêu cầu ngạch cán bộ, công chức cần tuyển, phù hợp với yêu cầucủa mỗi cơ quan, đơn vị Phần lớn các đơn vị đã áp dụng hình thức thi tuyển cán
bộ, công chức một cách công khai; còn hình thức xét tuyển trên cơ sở hợp đồngtrong chỉ tiêu biên chế hoặc hợp đồng không thời hạn hiện nay chủ yếu đợc cáccơ quan khối Đảng, đoàn thể áp dụng Công tác thi tuyển đợc tổ chức hàng nămtheo quy định và đợc thực hiện ngày một chặt chẽ Đã thực hiện tuyển dụng cán
bộ, công chức vào các cơ quan nhà nớc cấp tỉnh, cấp huyện phải tốt nghiệp đạihọc hệ chính quy và phải qua thi tuyển, từng bớc quản lý chặt chẽ chất lợng vàtiêu chuẩn đội ngũ cán bộ, công chức và nguồn cán bộ lâu dài Nhìn chung, quátrình tổ chức thi tuyển đã căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật của trung -
ơng và của tỉnh về công tác thi tuyển để triển khai, tuân thủ các quy định về quytrình, thủ tục, nội dung, hình thức thi một cách chặt chẽ; trong đó có nguyên tắccông khai, khách quan đợc tuân thủ, thông báo trên Báo Phú Thọ, Đài Phát thanhtruyền hình tỉnh để mọi ngời đợc biết và đăng ký tham gia Hàng năm, tỉnh đãtuyển dụng đợc hàng trăm ngời có trình độ chuyên môn đáp ứng đợc yêu cầucông tác tại các cơ quan, đơn vị ở các cấp; đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnhkhông ngừng đợc củng cố về mặt số lợng và chất lợng
Tuy nhiên, công tác tuyển dụng cán bộ, công chức ở Phú Thọ còn nhiều bấtcập về phơng thức, cách thức tuyển dụng, đặc biệt là quy định nội dung và cácmôn thi tuyển Nội dung thi tuyển tập trung quá nhiều vào các vấn đề lý luậnchung, nhẹ về kiến thức chuyên môn, cha xác định đợc những nội dung, yêu cầuthống nhất cho việc thi tuyển phù hợp với từng loại đối tợng Việc phân cấp tuyển
Trang 37dụng hiện nay cha chặt chẽ và cách thức tiến hành còn nhiều sơ hở, tạo điều kiệncho hoạt động ngầm của nạn chạy chọt, tiêu cực phát triển Hơn nữa, do yêu cầucủa công việc, các cơ quan, đơn vị thờng phải tạm tuyển hợp đồng Nhiều trờnghợp là con em cán bộ lãnh đạo, trong ngành gửi gắm do vậy, khi thi tuyển các đốitợng này đợc u tiên hơn các thí sinh tự do Việc thi tuyển trở nên hình thức vì chủyếu, thí sinh đợc cơ quan, đơn vị đã hợp đồng giới thiệu đi thi thì mới đợc tuyểndụng còn thí sinh đăng ký tự do, dù cho đợc điểm cao nhng nhiều khi không đợccơ quan, đơn vị có nhu cầu xem xét, tuyển dụng vì đã có ngời giữ chỗ Vấn đề
đáng chú ý là các đối tợng này thờng không đủ bằng cấp, trình độ theo quy định,
đợc tiếp nhận vào cơ quan làm hợp đồng rồi mới đi đào tạo, bồi dỡng theo hìnhthức chuyên tu, tại chức, do đó trình độ văn hóa khi tuyển đúng tiêu chuẩn, nh ngnăng lực thực sự lại rất hạn chế, không theo kịp yêu cầu của tình hình và củacông việc thực tế
2.2.3 Đào tạo, bồi dỡng đội ngũ cán bộ, công chức
Với mục tiêu: "Đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ cao theo quy
hoạch, kế hoạch, nhằm nâng cao chất lợng nguồn nhân lực và xây dựng phát triển đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất đạo
đức tốt, có trình độ lý luận chính trị, lập trờng t tởng vững vàng, có đủ năng lực quản lý, điều hành và thực thi công vụ, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế" Trong công tác đào tạo, bồi dỡng
cán bộ, công chức, Tỉnh ủy đã ban hành nhiều văn bản quan trọng nh Nghị quyết
số 07-NQ/TU ngày 23/11/2006 về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi ỡng cán bộ, công chức trong giai đoạn 2006-2010; Đề án xây dựng nguồn cán bộlãnh đạo, quản lý trẻ giai đoạn 2003-2015; Nghị quyết số 103/2007/NQ-HĐNDngày 31/5/2007 của Hội đồng nhân dân tỉnh về chơng trình nâng cao chất lợngnguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập kinh
d-tế quốc d-tế giai đoạn 2006-2010, định hớng đến 2015; Đề án Đào tạo đội ngũ cán
bộ công chức có trình độ cao tỉnh Phú Thọ đến năm 2020 Các chơng trình đàotạo đợc thực hiện theo quy chế do Ban Thờng vụ Tỉnh ủy ban hành và kế hoạch
tổ chức triển khai thực hiện của Ban Tổ chức Tỉnh ủy Đối tợng đào tạo áp dụngcho: cán bộ đơng chức, dự nguồn quy hoạch trong hệ thống chính trị của tỉnh, utiên cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là ngời dân tộc thiểu số có triển vọng, có lý lịch
rõ ràng Nhìn chung, công tác đào tạo, bồi dỡng cán bộ nói chung đợc hầu hếtcác cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm, tạo điều kiện; tình trạng cán bộ "nợ" tiêuchuẩn về trình độ đang giảm dần; việc phối hợp với các cơ quan Trung ơng, cáccơ sở đào tạo trong công tác đào tạo, bồi dỡng cán bộ ngày càng chặt chẽ và
đồng bộ hơn; chủ động hơn trong việc mở lớp, chiêu sinh, tuyển sinh, quản lýhọc viên trong quá trình đào tạo và sử dụng cán bộ sau đại học; kịp thời khắc
Trang 38phục những khó khăn, vớng mắc trong công tác đào tạo, bồi dỡng cán bộ, qua đó
đã tạo nên những chuyển biến tích cực về chất lợng và cơ cấu ngạch công chức
- Về lý luận chính trị: 5 năm qua, đã có gần 900 cán bộ, công chức thuộccác cơ quan đơn vị trong tỉnh tốt nghiệp cử nhân, cao cấp chính trị, hơn 5000 cán
bộ, công chức tốt nghiệp trung cấp lý luận chính trị Nhìn chung ngời đợc cử đihọc lý luận chính trị đều là cán bộ, công chức đơng chức hoặc dự nguồn trởng,phó phòng Đến nay đã có 96,2% cán bộ, công chức lãnh đạo diện Tỉnh uỷ quản
lý có trình độ cao cấp, cử nhân chính trị, tăng 19,2% so với năm 2003 [18]
- Về chuyên môn, nghiệp vụ: đội ngũ cán bộ, công chức lãnh đạo các cơquan cấp tỉnh 99,4% có trình độ đại học trở lên, tăng 5,9% so 2002, 21,8% cótrình độ trên đại học Cán bộ, công chức lãnh đạo cấp huyện có 95,3% trình độ
đại học trở lên, 6,1% có trình độ trên đại học Cán bộ, công chức dự nguồn chứcdanh Tỉnh uỷ quản lý có 100% trình độ cao đẳng, đại học trở lên tăng 5,7% so
2002, trong đó 10,7% có trình độ trên đại học Ngoài ra các cấp uỷ, chính quyền
đã chủ động mở nhiều lớp bồi dỡng về quản lý nhà nớc, quản lý kinh tế, công tác
đảng, công tác đoàn thể, bồi dỡng kiến thức quốc phòng, an ninh, chuyên mônnghiệp vụ mới, ngoại ngữ, tin học…vì vậy trình độ cán bộ, công chức ngày mộtnâng cao [15,16,18,56]
Nhìn chung, công tác đào tạo, bồi dỡng cán bộ, công chức tại tỉnh Phú Thọ
đã có những bớc chuyển biến tích cực, số lợng cán bộ, công chức hàng năm đợc
đào tạo, bồi dỡng ngày càng tăng, gắn với quy hoạch, sử dụng cán bộ Tuy nhiên,bên cạnh đó, việc đào tạo, bồi dỡng vẫn cha thực sự gắn với cơ cấu phát triểnkinh tế của tỉnh Cha chú trọng đúng mức đến đào tạo nâng cao chuyên mônnghiệp vụ, tỷ lệ cán bộ đào tạo trên đại học thấp, chủ yếu tập trung và đào tạo hệtại chức Nội dung đào tạo còn trùng lặp, không cần thiết, ngời có trình độ cửnhân luật, cử nhân hành chính vẫn phải học chơng trình chuyên viên, chuyên viênchính Trình độ ngoại ngữ, tin học và kỹ năng chuyên môn của một số cán bộ,công chức cha phù hợp để đáp ứng yêu cầu quan hệ công tác Cha quan tâm đến
đào tạo đội ngũ chuyên gia đầu ngành, nhất là đối với các ngành kinh tế, kỹ thuậtphục vụ trực tiếp cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Công tác đào tạo,bồi dỡng cán bộ chủ chốt, công chức cấp xã đã có nhiều cố gắng song ch a đạtyêu cầu, chất lợng đội ngũ cha đồng đều, tỷ lệ cán bộ cha cập chuẩn còn cao
2.2.4 Điều động, luân chuyển cán bộ, công chức
Thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị, Ban Thờng vụ Tỉnh
ủy đã ban hành Chỉ thị số 11-CT/TU ngày 20/8/2002; kế hoạch số 42-KH/TUngày 9/10/2003 về luân chuyển cán bộ, công chức cấp xã; quyết định số4247/QĐ-UBND ngày 04/12/2009 về điều động cán bộ, công chức… đồng thờihớng dẫn các cấp ủy đảng, các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện công tác điều
động, luân chuyển cán bộ, công chức Trong quá trình chỉ đạo, thực hiện công
Trang 39tác điều động, luân chuyển cán bộ, công chức, Ban Thờng vụ Tỉnh uỷ luôn lấyquy hoạch cán bộ làm căn cứ, gắn với việc sắp xếp kiện toàn tổ chức, bố trí, sửdụng cán bộ, công chức và quan tâm đến chính sách động viên, hỗ trợ vật chất
đối với cán bộ luân chuyển Theo quy định, căn cứ vào yêu cầu công tác, trình độnăng lực, t cách đạo đức, cán bộ lãnh đạo từ cấp phó phòng trở lên đều có thể đợccác cơ quan có thẩm quyền xem xét để bộ nhiệm lại, điều động, luân chuyển đếncác vị trí phù hợp Việc làm này không những có thể bồi dỡng năng lực, trình độcho cán bộ, công chức chuẩn bị bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn mà còn làm chocông tác cán bộ trở nên cởi mở hơn, cán bộ, công chức phải nỗ lực phấn đấu côngtác, học tập và rèn luyện hơn
Sau hơn 6 năm thực hiện luân chuyển cán bộ, công chức theo tinh thần Nghịquyết số 11-NQ/TU, tỉnh Phú Thọ đã luân chuyển đợc 680 lợt cán bộ, công chứclãnh đạo, quản lý và dự nguồn các chức danh lãnh đạo, quản lý (có biểu thống kêkèm theo) Trong đó cán bộ, công chức lãnh đạo thuộc diện Ban Thờng vụ Tỉnh
uỷ quản lý là 190 lợt, 98 cán bộ cấp huyện và 127 cán bộ, công chức lãnh đạothuộc các sở, ban ngành, đoàn thể tỉnh đợc thực hiện luân chuyển giữa các phòngban trong nội bộ Luân chuyển cán bộ diện Ban Thờng vụ Tỉnh uỷ quản lý đợc
đặc biệt quan tâm, chú trọng Nhiều đồng chí có năng lực, nằm trong quy hoạch
dự nguồn lãnh đạo tỉnh đã đợc thực hiện luân chuyển qua nhiều cơng vị công tác(có những đồng chí đã đợc luân chuyển qua 2- 3 chức danh) Nhìn chung, ở bất
kỳ cơng vị công tác nào, các đồng chí đều khẳng định đợc khả năng của mình,
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đợc giao, đã và đang là dự nguồn nhân sự chủ chốtcủa địa phơng, đơn vị Ngoài ra, Tỉnh uỷ đã điều động, bố trí công tác cho hơn 60
đồng chí cán bộ, công chức lãnh đạo thuộc diện Ban Thờng vụ Tỉnh uỷ quản lýnhằm đáp ứng yêu cầu trong các giai đoạn
Tuy nhiên, công tác điều động, luân chuyển cán bộ, công chức của tỉnh mớichỉ thực hiện ở mức độ hẹp Luân chuyển cán bộ, công chức từ cấp huyện xuốngcấp xã cha nhiều; cán bộ theo quy hoạch còn hạn chế; nguồn cán bộ trong quyhoạch, nhất là cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ xuất thân từ thành phần công nhâncòn ít, cha đảm bảo yêu cầu Ranh giới phân định cán bộ luân chuyển theo quyhoạch để đào tạo, bồi dỡng nguồn kế cận với cán bộ, công chức đợc điều động,
bố trí, sắp xếp theo yêu cầu nhiệm vụ có lúc, có nơi cha thực sự rõ ràng
2.2.5 Chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức
Cùng với việc thực hiện kịp thời, đầy đủ các chính sách chung của Đảng vàNhà nớc đối với cán bộ, Tỉnh uỷ, ủy ban nhân dân tỉnh đã vận dụng ban hànhmột số chính sách riêng của tỉnh để thu hút, sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ,công chức nh Quy định 151-QĐ/TU ngày 25/4/2001 của Ban Thờng vụ Tỉnh ủy
về việc thực hiện một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức; Quyết
định 164-QĐ/TU về nâng lơng trớc thời hạn; Nghị quyết số
Trang 40187/2009/NQ-HĐND ngày 24/7/2009 và các Quyết định số 2640/2009/QĐ-UBND, Quyết định
số 2641/2009/QĐ-UBND ngày 10/9/2009 của ủy ban nhân dân tỉnh quy địnhmức hỗ trợ cho cán bộ, công chức, viên chức đi học và mức u đãi thu hút ngời cótrình độ cao về tỉnh công tác…
Về chính sách đào tạo, bồi dỡng cán bộ, công chức: Trên cơ sở quy hoạch
cán bộ và kế hoạch đào tạo, bồi dỡng cán bộ, công chức các cơ quan, đơn vị đãthực hiện tốt việc chọn cử và khuyến khích cán bộ, công chức đi học, tạo điềukiện thuận lợi về thời gian, hỗ trợ kinh phí học tập Tỉnh có chính sách quy địnhtrợ cấp và chế độ u đãi đối với cán bộ, công chức đi học nh: đợc hởng nguyên l-
ơng đối với cán bộ, công chức nhà nớc; đợc cấp tiền mua giáo trình, tiền học phí,tiền lệ phí thi, tiền đi thực tập, thuê nhà ở; trợ cấp 1 phần tiền ăn ở xa trờng; tiềntàu xe đi về; trợ cấp tiền làm luận án tốt nghiệp, trong đó tiến sỹ khoa học là 30triệu đồng; tiến sỹ, bác sỹ chuyên khoa cấp II, dợc sỹ chuyên khoa cấp II là 20triệu đồng; thạc sỹ, bác sỹ chuyên khoa cấp I, dợc sỹ chuyên khoa cấp I là 15triệu đồng Khi đợc cấp văn bằng học vị, học hàm đợc hởng chế độ u đãi 1 lần:Giáo s, Tiến sỹ khoa học là 30 triệu đồng; Phó giáo s, Tiến sỹ, Bác sỹ chuyênkhoa II, Dợc sỹ chuyên khoa II: 25 triệu đồng; Thạc sỹ, Bác sỹ chuyên khoa I, D-
ợc sỹ chuyên khoa I: 15 triệu đồng; trợ cấp thêm cho cán bộ nữ đi học ngắn hạn:200.000đ/tháng, dài hạn 100.000đ/tháng; tiền gửi trẻ cho con nhỏ dới 24 tháng300.000đ/tháng đối với các trờng trong tỉnh, 500.000đ/tháng đối với các trờngngoài tỉnh [62]
Về chế độ thu hút nhân tài về công tác tại tỉnh: bớc đầu đã thu đợc kết quả
tốt Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học loại giỏi về công tác ở tỉnh những năm gần
đây tăng khá Qua gần 4 năm thực hiện chính sách thu hút cán bộ, công chức,riêng khối các cơ quan hành chính sự nghiệp trong tỉnh đã thu hút đợc 53 ngời;trong đó sinh viên tốt nghiệp đại học loại giỏi ở các trờng đại học trong cả nớc vềcông tác tại Trờng đại học Hùng Vơng, Trờng trung học phổ thông chuyên HùngVơng, Khu di tích lịch sử Đền Hùng và một số trờng chuyên nghiệp, trờng trunghọc phổ thông trong tỉnh là 28 ngời [61]
Các cơ quan, đơn vị thờng xuyên quan tâm bảo đảm điều kiện làm việcthuận lợi cho cán bộ, công chức; vận dụng thực hiện chính sách tiền l ơng, chuyểnngạch, nâng ngạch, nâng lơng trớc thời hạn đối với cán bộ, công chức có thànhtích xuất sắc; triển khai có hiệu quả công tác thi đua khen thởng, tạo động lực tốtcho đội ngũ cán bộ, công chức Ngoài ra, theo phân cấp quản lý, trên địa bàn tỉnh
đã thực hiện các chính sách u đãi về chăm sóc sức khoẻ, về thăm hỏi, thăm viếng,
tổ chức tang lễ khi cán bộ hoặc ngời thân từ trần, Đặc biệt công tác điều dỡng
đối với cán bộ diện chính sách bao gồm cán bộ diện Ban Thờng vụ Tỉnh uỷ quản
lý nghỉ hu, đại diện gia đình có công với nớc, cán bộ lão thành cách mạng, cán
bộ tiền khởi nghĩa, cán bộ đợc tặng thởng Huy hiệu 40 năm tuổi đảng trở lên…