sự ảnh hưởng của hương ước đối với pháp luật Phong kiến Việt Nam; ảnh hưởng đến làng xã và người nông dân Việt
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hương ước là một nét văn hoá, là một hiện tượng pháp luật phổ biếntrong xã hội phong kiến Việt Nam Hương ước xuất hiện từ thế kỷ XV và tồntại dai dẳng trong suốt thời gian dài đến tháng 8/1945 Sau một thời gian giánđoạn, năm 1989, hương ước lại xuất hiện Sự xuất hiện lại của hương ước làmột vấn đề lý thú mà giới “Dân tộc học”, “pháp luật” nghiên cứu
Nghiên cứu hương ước có nhiều ý nghĩa
Thứ nhất, nó giúp phần tìm hiểu làng xã người Việt ở Đồng bằng Trung
du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Hầu hết các làng Việt ở đây, trước Cách mạngtháng 8 đều có hương ước Hương ước bao gồm các quy ước về nhiều mặt vềđời sống của làng xã Nó phản ánh quá trình hình thành, phát triển của làng xãngười Việt Trong các nguồn tài liệu thành văn về xã hội làng Việt cổ truyền,hương ước là nguồn tài liệu quan trọng để tìm hiểu làng Việt xưa Hương ướcthể hiện một cách chân phương bộ mặt xã hội cổ truyền của dân tộc; đồngthời nó là tư liệu gốc để nhận biết bức tranh văn hoá tổng hợp của làng vănhoá người Việt Nhất là ngày nay, khi tầng lớp người hiểu biết về làng Việttrước Cách mạng tháng 8 đang ngày một cạn dần, thì hương ước mãi là mộtnguồn tư liệu quan trọng
Thứ hai, nghiên cứu hương ước góp phần tìm hiểu văn hoá của tộcngười Việt Như vậy, vô hình chung, hương ước phản ánh rõ nét văn hoá dântộc Việt Để phát triển nền văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc, kết hợpgiữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại, để phục vụ cho việc phát triển đấtnước hiện nay thì việc nghiên cứu và xử lý văn hoá làng là rất quan trọng Do
đó, hương ước có giá trị như một tư liệu gốc
Thứ ba, nghiên cứu hương ước, góp phần tìm hiểu lịch sử phong kiếnViệt Nam qua các triều đại Làng Việt là một đơn vị tụ cư, nó được hìnhthành rất sớm Sau này đến thế kỷ VII (năm 622) cấp xã được thành lập
Trang 2Trong chế độ lịch sử Phong kiến Việt Nam, làng xã luôn là nỗi trăn trở củatriều đại Hầu như các bước phát triển thăng trầm của Nhà nước Phong kiếnđều được phản ánh rất nhiều trong hương ước Mặt khác, hương ước ra đời donhu cầu phát triển nội tại của các cộng đồng cư dân Lúc đầu, Nhà nướcPhong kiến nghi ngờ Sau đó, Nhà nước Phong kiến lợi dụng hương ước bằngcách lồng tư tưởng Nho giáo vào trong cộng đồng làng xã Vì vậy nghiên cứuhương ước giúp cho chúng ta hiểu được “nắm làng”, “quản lý làng xã” củaNhà nước Phong kiến.
Thứ tư, nghiên cứu hương ước còn góp phần chỉ ra những mặt hợp lý,tích cực của hương ước (đứng từ góc độ pháp luật) trong việc quản lý xã hội ởnông thôn, đồng thời còn chỉ ra được những mặt hạn chế, tiêu cực của hươngước trong việc quản lý xã hội ở nông thôn hiện nay, nhất là việc xây dựng ýthức pháp luật cho người nông dân và đặc biệt là xem xét, kết hợp giữa “luật”
và “tục” trong xã hội nông thôn ngày nay
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khi xem xét lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng ta cần phải đặt hươngước trong mối quan hệ với tổ chức làng xã người Việt; hương ước trong mốiquan hệ với phong tục người Việt; hương ước trong quan hệ giữa Nhà nước
và pháp luật
Ba vấn đề này, từ lâu đã được các nhà nghiên cứu khoa học trong vàngoài nước quan tâm Các tác giả người Pháp, có lẽ là những người nghiêncứu về làng Việt tương đối nhiều Nhưng khi nghiên cứu về làng Việt, họ chủyếu đề cập đến phong tục, lệ tục của làng Việt cổ đại
Người đặt viên gạch đầu tiên là Phan Kế Bính, với tác phẩm: “ViệtNam phong tục” Trong tác phẩm này, Phan Kế Bính có dẫn một bản hươngước của làng Đề Kiều, xã Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh về vấn đề “nghĩa thương”.Tiếp đó, Ngô Tất Tố có hai thiên phóng sự: “Tập án cái đình” và “việc làng”.Quảng Ninh và Vân Đình đã tố cáo chế độ cường hào, thực dân, qua các bản
Trang 3hương ước trong tác phẩm vấn đề dân cày; Vũ Văn Khiếu với “Đất lề quêthói”
Sau Cách mạng tháng 8, Nguyễn Hồng Phong có viết: “Xã thôn ViệtNam” Đây là một tác phẩm đầu tiên, giới thiệu hoàn vị về làng xã ngườiViệt Có thể nói người khám phá vai trò của hương ước một cách gợi mở nhất
là Từ Chi (Trần Từ) trong tác phẩm “cơ cấu tổ chức làng Việt cổ truyền ở BắcBộ” Tinh thần chủ yếu của tác phẩm này là nhìn hương ước như một cươnglĩnh điều hoà các quan hệ xã hội trong làng Việt
Sau đó hàng loạt những bài viết, những cuốn sách viết về hương ướcnhư: Bùi Xuân Bính và Vũ Duy Mền trong bài: “hương ước – khoán ướctrong làng xã người Việt” đăng trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 3/1982.Năm 1984 Bùi Xuân Bính lại viết: “lệ làng phép nước” Trong thời kỳ này có
lẽ đây là cuốn sách đầu tiên, bước đầu đã giới thiệu một cách tương đối có hệthống Từ nguồn gốc, điều kiện xuất hiện hương ước, nội dung cơ bản củahương ước, mối quan hệ giữa hương ước và pháp luật nhà nước phong kiến,tác động tích cực, tiêu cực, đặt hương ước trong di sản của thời kỳ quá độtiến lên chủ nghĩa xã hội
Với Nghị quyết 10 của Bộ chính trị BCH Trung ương Đảng khoá VInăm 1986 (ban hành tháng 4/1988) về việc giao quyền sử dụng đất ổn địnhlâu dài cho nhân dân, hộ gia đình, vị trí của làng xã đã được đề cao Từ đó, nóphát sinh ra nhu cầu lật lại hương ước Ban đầu nhu cầu này trỗi dậy mạnh
mẽ ở tỉnh Hà Bắc.Cũng từ đó mà nó đẩy mạnh sự tìm tòi, nghiên cứu hươngước Hàng loạt các tác phẩm nghiên cứu hương ước cũ đề ra hướng đi cho
“hương ước mới” (ví dụ: xây dựng qui ước làng văn hoá mới ở Hà Bắc – do
Sở văn hoá, thông tin tỉnh Hà Bắc xuất bản năm 1993) Rồi hàng loạt nhữngbài trên tạp chí cùng với những cuốn sách, luận án về hương ước như: “hươngước lệ làng” của Lê Đức Tiếp – NXB chính trị quốc gia 1998, luận án Phótiến sĩ khoa học lịch sử mã số 50310: Một số hương ước làng Việt ở đồngbằng Bắc Bộ của Bùi Xuân Đính Ở các tỉnh cũng “nở rộ” trong việc sưu tập
Trang 4hương ước như: Hà Tây, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Nghệ An, Thái Bình, Hà Bắc,Hải Dương nhất là năm 1999, đã có cuộc hội thảo quốc tế về luật tụng và sựphát triển của nó ở nông thôn Việt Nam hiện nay Tinh thần của hội thảo này
đã được phản ánh rất rõ trong cuốn: “Luật tục và sự phát triển của nó trong xãhội nông thôn Việt Nam ngày nay” (NXB chính trị Quốc gia năm 2000)
Nếu cắt ngang những công trình đã được nghiên cứu về hương ước,chúng ta có thể chia làm 4 nhóm như sau:
+ Nghiên cứu hương ước trong mối quan hệ với Phong tục và tổ chứclàng xã: Phan Kế Bính, Ngô Tất Tố, Trần Từ, Vũ Văn Khiếu, Phan ĐạiDoãn
+ Các tác giả nghiên cứu hương ước làm đối tượng chính như Bùi XuânĐính, và người đi đầu là Vũ Duy Mền
+ Các tác giả sưu tầm và giới thiệu hương ước các tỉnh: Như hươngước tỉnh Hà Tây, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hà Bắc, Hải Dương
+ Các tác giả nghiên cứu hương ước trong mối quan hệ với pháp luật:Đào Trí Úc, Nguyễn Đăng Dung, Hoàng Kim Quế, Lê Hồng Sơn, HoàngĐình Thắng
Như vậy, thành quả nghiên cứu về hương ước là rất lớn, nhất là từ thập
kỷ 90 trở lại đây Tuy nhiên nó còn mang nặng tính phong trào và họ trú trọngnhiều về phương diện “dân tộc học” nếu đứng từ góc độ pháp lý để nhìn nhậnthì các nhà khoa học pháp lý đã bàn đến hương ước nhưng phần lớn là so sánhmối quan hệ giữa hương ước và pháp luật Vấn đề “ảnh hưởng của hươngước đối với pháp luật Phong kiến Việt Nam” còn tương đối mờ nhạt
Do đó việc nghiên cứu sự ảnh hưởng của hương ước đối với pháp luậtPhong kiến Việt Nam, nhất là trong giai đoạn hiện nay chúng ta đang hoànthiện pháp luật, sự xuất hiện “tái lập hương ước” là vấn đề rất cần thiết Vìvậy, tôi chọn đề tài này làm luận văn tốt nghiệp Đại học Luật của mình
3 Mục đích đối tượng phạm vi nghiên cứu đề tài
Trang 53.1 Mục đích: Luận văn tập trung vào tìm hiểu sự ảnh hưởng củahương ước đối với pháp luật Phong kiến Việt Nam; ảnh hưởng đến làng xã vàngười nông dân Việt Trên cơ sở đó luận văn đưa ra một số ý kiến về việc kếthừa phát huy những mặt tích cực khắc phục những mặt hạn chế của hươngước còn ảnh hưởng đến xã hội ta hiện nay Nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý xãhội nông thôn, đồng thời nhằm tăng cường hiệu lực của pháp luật ở nông thôntrong điều kiện hiện nay.
3.2 Đối tượng: Luận văn nghiên cứu những yếu tố được phản ánhtrong hương ước có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp với pháp luật
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Xét về bình diện không gian: Luận văn nghiên cứu hương ước ở làng
xã châu thổ Bắc Bộ Đây là các vùng được hình thành lâu đời và nó còn lưugiữ được nguồn tư liệu lớn hương ước
Xét ở bình diện thời gian: Luận văn nghiên cứu hương ước trước Cáchmạng tháng 8 năm 1945 đồng thời cũng có xem xét ở chừng mực nhất định để
so sánh với thời điểm hiện nay
4 Nguồn tư liệu
Luận văn chủ yếu sử dụng bản hương ước đã được công bố trên cácsách, tạp chí từ trước tới nay, đồng thời luận văn có sự kế thừa những thànhtựu nghiên cứu về hương ước của các tác giả đã đi trước
5 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, luận văn đã vận dụng phương pháp duy vật biệnchứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, các văn kiện của ĐảngCSVN, các văn bản pháp luật hiện hành của Nhà nước
Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể, chủ yếu là
để giải quyết những vấn đề đặt ra như phương pháp dân tộc học, phương pháplịch sử, phương pháp thống kê
6 Đóng góp của luận văn
Trang 6Đây là công trình đã hệ thống hoá được cơ bản các nguồn tài liệu, cácquan điểm nghiên cứu có mối quan hệ đến giữa hương ước và pháp luật.
Bước đầu chỉ ra được những biểu hiện về ảnh hưởng của hương ướcđối với pháp luật Nhà nước phong kiến
Đồng thời luận văn cũng đưa ra được một số những ý kiến đóng góptrong quá trình xây dựng quy ước làng văn hoá hiện nay
7 Bố cục của đề tài
Phù hợp với mục đích nội dung và phạm vi nghiên cứu luận văn đượcchia làm 3 chương, lời nói đầu và kết luận
Trang 7CHƯƠNG I
NGUỒN GỐC VÀ ĐIỀU KIỆN XUẤT HIỆN HƯƠNG ƯỚC
1.1 Nguồn gốc của hương ước
Trước khi nghiên cứu về nguồn gốc và điều kiện xuất hiện của hươngước, chúng ta cần phải có quan niệm đúng đắn về thuật ngữ hương ước,khoán ước
Mỗi người Việt Nam từ trong tiềm thức có lẽ ai cũng hiểu câu thànhngữ “phép vua thua lệ làng” Lệ - là một từ Hán Việt; Làng là một từ Nômdùng để chỉ một đơn vị tụ cư nhỏ nhất nhưng nó chặt chẽ và hoàn chỉnh nhấtcủa người nông dân Việt Trong các văn bản, để cho đơn giản, các nhà nghiêncứu thay vào đó chữ hương ước, khoán ước(22)
Như vậy, hương ước, khoán ước hiểu một cách nôm na là lệ làng Nó lànhững quy ước liên quan đến mọi mặt đời sống của làng xã Nó bao gồm cảnhững điều lệ được ghi chép thành văn bản và những điều lệ không được ghichép thành văn bản mà được truyền khẩu trong dân gian
Các làng Việt trong thời kỳ phong kiến gọi là lệ làng thành văn bằngnhiều tên gọi khác nhau, do tục lệ ở mỗi nơi nên có thể gọi là: hương ước,khoán lệ; khoán ước; hương lệ; cựu khoán Nhưng do được gọi bằng tên gì
đi nữa thì trong mỗi bản đó đều bao gồm những quy ước liên quan đến đờisống mọi mặt của từng làng mà từ trước đến nay, chúng ta vẫn hay gọi bằnghai từ phổ biến hơn là:Hương ước và khoán ước
Khoán ước lần đầu tiên được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư vàocuối đời Trần, năm 1370
Đến thế kỷ thứ XV, nhất là dưới thời vua Lê Thánh Tông, thuật ngữkhoán ước – quy ước của dân làng trở nên tương đối phổ biến Khoán ước làmột từ Hán gốc được du nhập vào Việt Nam và đã được Việt hoá Khoán(bằng cứ); ước (quy ước), từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, thuật ngữ này dầnđược thu hẹp lại
Trang 8Cũng như khoán ước, hương ước cũng là một từ nguyên Hán được dunhập vào Việt Nam Từ thế kỷ XV, hương ước bắt đầu xuất hiện trong làng xãngười Việt nhưng nó chỉ thấp thoáng, chưa phổ biến Đến thế kỷ XVII, hươngước ngày càng được phổ biến, và nhất là đến thế kỷ XX, hương ước trở thànhmột thuật ngữ quen thuộc rộng rãi trong làng xã Sự lên ngôi của hương ước
đã tự nó làm mờ nhạt đi khoán ước Nhiều nơi không dùng thuật ngữ khoánước Hương ước là sản phẩm của làng, nó là những quy ước, những quy địnhđược các thành viên trong làng xã cùng nhau tuân thủ, thực hiện Hương ước
có nội dung phong phú, tuỳ vào phong tục của từng làng Nó quy định hầu hếtcác mặt hoạt động của làng xã người Việt như: Hội tư văn, tư võ, hội thiện,phe giáp, ngõ xóm cho đến cách tổ chức hoạt động của các thiết chế làng xã
Kể cả các hoạt động xã hội như hội hè, đình đám, lễ tế, khao vọng và cáchoạt động kinh tế Đó là những quy ước chung của hương ước Hương ướccủa từng làng xã của người Việt bên cạnh những quy ước chung lại có nhữngnét riêng phù hợp với phong tục tập quán của mỗi làng xã
Như đã khẳng định: Hương ước là sản phẩm của làng xã Vì vậy, muốnhiểu được nguồn gốc và điều kiện xuất hiện hương ước nhất thiết phải nhậnbiết tối thiểu về làng xã
Khi tìm hiểu về nông thôn Việt Nam chúng ta bắt gặp từ “Làng – xã”cùng với 2 từ này là “Thôn” Tuy nhiên, khái niệm này cho đến nay vẫn chưathống nhất
Làng – là một từ Nôm, là đơn vị tụ cư nhỏ nhất nhưng chặt chẽ vàhoàn chỉnh nhất, bởi nó có địa vực riêng, có cơ cấu tổ chức và tục lệ riêng,hoàn chỉnh và ổn định qua quá trình phát triển của lịch sử Xã là từ Hán dùng
để chỉ đơn vị hành chính cấp thấp nhất của nhà nước phong kiến ở các vùngnông thôn Việt Trên vùng đồng bằng và Trung du Bắc Bộ thường thì mỗilàng là một xã “nhất xã, nhất thôn” (theo thống kê của các nhà dân tộc họcBùi Xuân Đính thì 74.18%) hoặc cùng có vài ba làng một xã Mỗi một “làng”hợp thành xã gọi là “thôn” Như vậy “thôn” thực chất là “làng Một đơn vị tụ
Trang 9cư nhỏ nhất Nhưng trong giao tiếp người Việt chủ yếu dùng “làng” Từ lànglàm cho người Việt cảm thấy gần gũi và cảm thông với nhau hơn Còn thôn -được sử dụng trong giấy tờ mang nặng tính hành chính.
Trong quá trình hình thành và phát triển, làng Việt được phân chia nhưsau:
- Phân theo thời gian hình thành: Có các làng đầu công nguyên, cáclàng thời Lý - Trần, làng thời Lê sơ, Lê - Trịnh - Nguyễn; làng thời Nguyễn
và cả những làng mới hình thành gần đây do những chính sách phát triển kinhtế- văn hoá của Nhà nước ta
- Phân theo vùng địa lý: có các loại làng miền Bắc; các làng miềnTrung; làng miền Nam; làng Trung du; làng đồng bằng; làng ven biển
- Phân theo nghề nghiệp: có các làng thủ công; các loại làng nôngnghiệp; làng chài; làng muối
- Phân loại theo phương thức thành lập: có các loại làng do nhóm cưdân khai hoang tập thể hoặc nhà nước thực hiện chính sách khai hoang
- Phân theo tôn giáo: ngoài các vùng làng Lương; chúng ta còn có làngCông giáo; làng theo đạo Cao Đài, Hoà Hảo
Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX các công xã nông thôn bị “phong kiếnhoá” rất sâu sắc Nó đã biến làng Việt từ công xã nông thôn trở thành công xãnông thôn phong kiến hoá
Do yêu cầu khách quan của cuộc sống cộng đồng, cần phải qui địnhmối quan hệ giữa các thành viên với nhau, và giữa các thành viên với các tổchức cộng đồng Những quy định này ban đầu rất sơ lược, đơn giản và dần nóphát triển thành tục lệ; tập quán truyền khẩu từ đời này sang đời khác Nguồngốc của hương ước vốn có từ tục lệ dân gian đó (lệ làng truyền khẩu)
Đi tìm cội nguồn của hương ước trước hết chúng ta phải dựa vào lờigiải thích thông thường của người nông dân Như chúng ta đã biết, hương ướcđược người nông dân gọi nôm na là lệ làng, mà lệ làng bao gồm cả nhữngđiều lệ được ghi chép vào những điều lệ không được ghi chép từ “bất thành
Trang 10văn” lên “thành văn” Lần dở lại hương ước cổ, còn khá nhiều hương ước ghilại những tập tục thề, hội thề của người Việt xưa Ban đầu hội thề là hình thứcsinh hoạt dân gian Tục thề có từ thời xa xưa- công xã nguyên thuỷ.,
Tục thề vừa là hình thức vừa là biểu hiện sinh động của tục lệ dân gian
Nó đã trải qua quá trình biến đổi trong lịch sử phát triển xã hội người Việt Có
lẽ khi trình độ kinh tế, xã hội chưa phát triển nắm thì tục thề được duy trì chủyếu từ đời này sang đời khác Đó cũng là một tục lệ của làng xã Việt Nam Lễthề đầu tiên được ghi trong truyền thuyết giả sử là lễ thề truyền ngôi của vuaHùng thứ 18 cho An Dương Vương Lễ thề sư trước khi xuất quân đi đánhgiặc Đông Hán của Hai Bà Trưng Vào đời Lý (1010 – 1225) và đời Trần(1220 -1400) đều ghi lại lễ thề trong chính sử Năm 1416, trước sự xâm lượccủa quân Minh; Lê Lợi cùng 18 người bạn thân tín của mình làm lễ tuyên thệ,nguyện một lòng sống chết đuổi giặc Lễ tuyên thệ là cơ sở cho cuộc khởinghĩa Lam Sơn này Sau chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang, Lê Lợi,Nguyễn Trãi đã tổ chức hội thề Đông Quan, kết thúc chiến tranh, chấm dứtách đô hộ hai mươi năm của giặc Minh trên đất nước ta
Việc hương ước của khá nhiều làng cách đây chưa lâu, vẫn còn quyđịnh nghi thức thề bồi
Ví dụ:Tục uống khoán trong hương ước của làng Hạ Bằng (Thạch Thất– Hà Tây) quy định: “Ngày mồng 2 tháng giêng hàng năm có lệ uống khoán,uống máu ăn thề; thề không ăn gian nói dối không lấy cắp của nhau” (Hươngước của làng Hạ Bằng Thạch Thất – tài liệu do Vũ Duy Mền sưu tầm)
Hay hương ước làng Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu - Nghệ Tĩnh) cũng quyđịnh: Mỗi năm vào ngày đầu xuân, cả làng tổ chức uống máu ăn thề “để tỏ cảlàng đều là một lòng cùng nhaua cho nghiêm phép làng” (Quỳnh Đôi sự tích
cổ kim hương biên, phòng tư liệu Viện sử học) Phép làng ở đây trước hết là
sự đoàn kết giữ an ninh chung cho nội bộ làng cùng việc trả thù bảo vệ danh
dự chung của cộng đồng Điều này được thể hiện qua lời thề mà mỗi thànhviên phải đọc trước “thần linh” trong lễ ăn thề: “Tôi là Nguyễn Văn Mỗ,
Trang 11tuổi, ở làng Quỳnh Đôi; cùng với vợ con tôi trong làng, nếu có ăn trộm con gàcon lợn, lúa má,vải lụa và tôm cá trong đầm hoặc làm gì không thuận vớilàng xóm thì đến khi chết xin không được đưa ma tôi xin uống chén rượunày để thần linh soi xét”.(Quỳnh Đôi sự tích cổ kim hương biên, phòng tư liệuViện sử học), hoặc: hàng năm, ngày tiệc của làng Dị Nậu (Tam Nông – Vĩnhphú) vào tháng 2 âm lịch hàng năm, tổ chức cuộc săn bắn tập thể lấy thịt thú
về cúng Thành Hoàng Làng lập ra “khoán ước văn báo”, quy định khi đuổibắt thú dữ nếu ai bị thương thì được làng chạy chữa hoàn toàn cho đến khilành lặn Người nào chết, làng chịu ma chay chôn cất và con cháu người đóđược cấp một đơn gọi là “đơn mua ngôi” (mua vị thứ ở làng) mà không phảitrả tiền (36) Như vậy, hội thề là hình thức tục lệ cổ xưa từng đóng vai tròquan trọng trong đời sống tinh thần, trong tín ngưỡng nhằm củng cố cộngđồng làng xã người Việt Hội thề là sản phẩm mang tính xã hội Ở Việt Nam
cư dân đã biết đến nghi thức đó và duy trì tục thề đến mãi sau này
Nhìn chung, tục thề phong phú đa dạng; nó có thể tiến hành ở khắp nơi;với những hình thức từ “ấu trĩ” sơ khai nhất đến những nghi thức xa hoa tốnkém và phát triển thành “hội thề” Trong dịp đó những người có mặt phảicùng nhau uống máu một con vật thường là (gà, ngựa, trâu) để làm vật hysinh, hoà với rượu, trước thần linh, đọc thề mà nội dung tuỳ theo mục đích,tôn chỉ của tổ chức đó Nhằm vào mục đích cố kết lòng người bảo vệ cộngđồng làng nước, đảm bảo danh dự, lòng tự trọng, niềm tin của con người Vì
lẽ đó ghi nhận sự cần thiết phải bảo lưu tục thề, lễ thề phải được tiến hànhmột cách nghiêm túc, trật tự, chặt chẽ và nó phải được qui định một cách cụthể Được coi như một tục lệ từ xa xưa truyền lại và được hội nhập cuộc sốngcủa cộng đồng làng xã
Do yêu cầu củng cố cộng đồng, do sự phát triển tăng dần từng bước củalàng xã đòi hỏi tục thề cùng các hoạt động khác cần phải văn bản hoá Tục thềsau này được ghi trong hương – khoán ước Như vậy, chuyển tục thề truyềnkhẩu thành tục lệ tục thề được văn bản hoá là quá trình chuyển từ lệ làng chưa
Trang 12thành văn sang lệ làng thành văn; đây chính là căn cứ để nói lên rằng hươngước, khoán ước được bắt đầu từ tục thề dân gian (36).
Bên cạnh tục thề, hương ước còn bắt nguồn từ những tục lệ khác Mộttục lệ rất gần gũi với người Việt xưa đó là tục lệ thờ cúng (lệ hậu) Chúng tabiết tục lệ thờ cúng tổ tiên trong mọi gia đình, dòng họ cả nước đã có từ xưacủa người Việt Trong cuốn “Việt Nam phong tục” của Phan Kế Bính – 1917
đã nhận xét: “Tục phụng sự tổ tiên của ta là thành kính, ấy cũng là một lòngbất vong bản, cũng là nghĩa cử của người” Như thế thờ cúng tổ tiên là thựchiện nếp sống đạo đức tâm linh Một mặt nó biểu hiện quan niệm về tínngưỡng cổ xưa của người Việt về cõi sống và cõi chết Mặt khác tục thờ cúngcủa tổ tiên vừa tỏ lòng nhớ ơn tổ tiên, duy trì niềm tin thiêng liêng phù hộ chomình Nếp sống văn hoá ấy không có một giáo lý, giáo đường, giáo chủ mà nóchỉ đem lại niềm tự tin cho con người Đồng chí Phạm Văn Đồng đã từngkhẳng định: “Từ xưa xưa, dân tộc Việt Nam ta không có tôn giáo theo nghĩathông thường như nhiều nước khác Còn tôn giáo là thờ cúng thì mọi gia đìnhđều phải thờ cúng ông bà tổ tiên đó là đặc trưng đáng trọng của người ViệtNam” (17)
Tục thờ cúng tổ tiên được duy trì, sau đó mới phát triển dần dần và mởrộng thành lệ “gửi hậu ở chùa” Nhất là đến thời nhà Lý, phật giáo đã pháttriển trong tiềm thức của người Việt Thời kỳ này nhà Lý đã bỏ tiền ra để tu
bổ, xây dựng nhiều chùa Đến thời Trần thì phật giáo đã phát triển đến cựcthịnh, nhiều người đã cúng tiền, ruộng vào chùa để làm điều thiện cầu may
Vì thế mà nhà chùa cũng có ruộng đất riêng gọi là “ruộng tự điền”
Ngay từ ban đầu, tục gửi hậu là do tuỳ tâm và chứa đựng nhiều ý nghĩatốt đẹp Nhưng từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII trở đi, khi chế độ phong kiếnbước vào giai đoạn khủng hoảng, bọn chức dịch trong làng xã đã lợi dụng tục
lễ hậu để phục vụ cho quyền lợi riêng của chúng Đến thời Nguyễn, họ cũngtoan dùng phật giáo làm cơ sở cho mưu đồ của mình và liên tiếp phản công
Trang 13vào phật giáo Nhưng phật giáo đâu chỉ ở trong nội dung mà chủ yếu ở trongnhân dân.
Như thế, tục gửi hậu xuất phát từ tục thờ cúng tổ tiên của người Việt.Sau đó tục gửi hậu được văn bản hoá Cụ thể, là những gửi hậu vào chùa sẽđược ghi lại vào bia hậu để duy trì đến đời sau, biết để đến thờ cúng Bia hậucũng đánh dấu quá trình và hoàn thiện dần từng mặt của hương ước Đâycũng là chứng cứ xác đáng về nguồn gốc của hương ước
Tóm lại: lễ thề, tục thề ghi trong hương ước, tục gửi hậu ghi trong biahậu ở làng xã là các chứng cứ nói lên nguồn gốc của hương ước Đồng thời
nó còn khẳng định hương ước vốn bắt nguồn từ tục dân - lệ làng từ truyềnkhẩu sang thành văn và hương ước ra đời
1.2 Những điều kiện để xuất hiện hương ước
Hương ước là sản phẩm của làng xã người Việt Do sự hình thành vàphát triển của mỗi làng là không giống nhau; sự chi phối của các điều kiệnchủ quan, khách quan là không giống nhau vì thế mà hương ước ra đời cũngkhông hoàn toàn giống nhau Nhìn chung sự ra đời của hương ước do nhiềunguyên nhân và điều kiện cụ thể chi phối
1.2.1 Nhu cầu phát triển của làng xã
1.2.1.1 Sự gia tăng dân số và mở rộng làng xã
Làng xã Việt Nam đã có từ rất lâu Sự xuất hiện tên gọi của làng xã nóichung cũng như làng Việt cổ do những yêu cầu cấp thíêt đặt ra Tên gọi là củalàng xã thể hiện sự giao tiếp ngay trong nội bộ dân cư làng xã Khẳng định viphạm lãnh thổ và dân cư của làng mình; phân biệt làng này với làng khác.Thứ hai tên làng là công cụ giao tiếp giữa các làng với nhau mà chủ yếu làcông cụ giao tiếp của những người đứng đầu làng với nhau và với cấp trêncủa họ Thứ ba khi Nhà nước ra đời làng xã trở thành tế bào cơ sở của tổchức hành chính thì buộc làng xã phải có tên gọi để chịu sự kiểm soát của cấptrên Như vậy, làng xã ra đời cũng là một nhu cầu xã hội (41)
Trang 14Buổi ban đầu, làng là một điểm tụ cư của những người trồng trọt, có lẽtrong làng chỉ có một vài họ, sau đó nó được tăng lên nhiều Cùng với sự pháttriển của dân đinh, làng ngày càng được mở rộng Làng đầu tiên trùng với xã,
có khi chỉ có 40 -60 hộ gọi là “đại xã” hoặc từ 10 đến 30 hộ gọi là “tiểu xã”
Vào đầu Cong nguyên, dân số nước ta áng chừng hơn 1 triệu người.Đến thời kỳ Bắc thuộc dân số của ta tăng xấp xỉ 2,5 triệu người (theo điều tra
hộ khầu nhà Hán) Đến thời Lý - Trần (1010 – 1400) lãnh thổ nước ta mởrộng đến Quảng Bình và phía Bắc Tỉnh Quảng Trị
Như vậy, tái sản xuất nhân khẩu của tiểu nông lúa nước có liên quanđến làng xã; liên quan đến việc di dân và khẩn hoang Nó gắn liền với di dânkhai hoang, tái lập làng xã Sự tăng gia dân binh do tự nó dẫn tới sự phức tạpgiữa các quan hệ làng xã Quan hệ giữa làng cũ, làng mới, làng to, làng nhỏ,làng này, làng kia đang là vấn đề bức xúc Chưa nói đến kết cấu kinh tế làngViệt khá phức tạp Nó có một làng đơn thuần là đơn nguyên nông nghiệp;nhưng phổ biến là làng đa nguyên nông – công – thương nghiệp Thêm vào
đó là mối quan hệ phức tạp nay lại càng phức tạp hơn Nó làm cho quan hệlàng xã vốn đã phức tạp nay lại càng phức tạp hơn Trước tình hình đó, cáclàng buộc phải có những qui ước riêng cho mình để điều chỉnh các quan hệ xãhội, đặt chúng vào trật tự nhất định làm cơ sở và tạo điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển của làng xã Từ những cơ sở kinh tế, xã hội đó hương ước ra đời
1.2.1.2 Sự mở mang kinh tế
Kinh tế làng Việt từ nhiều thế kỷ trước nói chung là nông nghiệp, quan
hệ kinh tế chủ yếu giữa tiểu tư hữu về ruộng đất, hoặc giữa nông dân vớinhau Ngoài ra còn có những quan hệ kinh tế phong kiến khác: quan hệ giữađịa vị, địa chủ với nông dân - những người nghèo khổ
Kinh tế làng Việt phổ biến từ nhiều thế kỷ trước không phải duy nhất
là nông nghiệp; tất nhiên nông nghiệp là quan trọng nhất Mọi giao dịch traođổi của cư dân thông qua chợ làng Chợ làng là điểm kinh tế cơ bản để làngtồn tại Từ Bắc vào Nam, cứ vài ba làng lại có một chợ - kinh tế nông thôn
Trang 15Nhìn chung, kinh tế hàng hoá ở nông thôn ngày trước thường là qui mônhỏ, vốn liếng ít Chợ làng bao gồm một số người buôn bán nhỏ, chuyênnghiệp (hàng xén, hàng vải ) vài người thợ thủ công (thợ rèn, thợ cạo ) một
số người nông dân chạy chợ “đòn gánh đè vai”, “lấy công làm lãi” và nhữngngười tiểu nông đem các sản phẩm chăn nuôi, trồng trọt để đi trao đổi Chợlàng, phường hội thủ công nghiệp là những thành tố có những tính chất thànhthị Các phường hội tự nguyện: các phường của những người làm nghề thủcông hoặc buôn bán; các phường hội vì mục đích góp vốn như phường hộithóc, gạo hoặc tiền, các phường hội vì mục đích hiếu hỷ chợ làng vàphường hội tồn tại phổ biến trong nông thôn khiến cho nông nghiệp và kinh tếhàng hoá nhỏ, giản đơn hoà lẫn vào nhau thành một thể thống nhất thúc đẩyviệc đô thị hoá Nhìn một cách tổng thể, quá trình đô thị hoá ở Việt Nam làquá yếu ớt, tỷ trọng thấp kém Ở đồng bằng Sông Hồng, vào thế kỷ XVII,XVIII có những đô thị lớn như Thăng Long, Phố Hiến, nhưng vị trí kinh tếcủa nó cũng không lớn lắm Sang thế kỷ XIX, Thăng Long suy giảm, PhốHiến tiêu vong Ở đàng trong, vào thế kỷ trên có Sài Gòn, Hội An, Mỹ Tho lànhững đô thị lớn, có sức sống lâu dài, có tác dụng không nhỏ trong xã hội.Chính sự mở mang kinh tế, đô thị hoá đã tác động trực tiếp vào quan hệ làngxã: quan hệ kinh tế nông nghiệp; thủ công nghiệp; buôn bán đã đan xen vàonhau, khiến cho chúng ta vốn phức tạp lại càng phức tạp hơn
1.2.1.3 Sự nảy sinh của nhiều tổ chức xã hội
Ban đầu làng xã Việt Nam tồn tại bộ máy hành chính rất gọn Đứngđầu bộ máy hành chính trong làng là lý trưởng, chịu trách nhiệm trước nhànước phong kiến về làng xã của mình Đứng sau là lý trưởng còn các phó lý:trương tuần có nhiệm vụ trông coi việc tuần phòng, bảo đảm an ninh làng xã
và các Thư lại đảm bảo các loại giấy tờ Ngoài ra còn có các xóm trưởng; thủkhoán giúp việc cho lý trưởng Bên cạnh bộ máy hành chính là sự hiện diện
cả một cơ cấu tổ chức xã hội bao gồm nhiều loại cơ cấu tổ chức quần chúngkhác
Trang 16- Xóm ngõ: được tổ chức theo quan niệm hệ địa vực có sự kết hợp vớiquan hệ huyết thống Thông thường ở mỗi một làng đều có 4 đến 6 xóm Cácxóm được xác định ranh giới bằng luỹ tre.
- Dòng họ của người Việt là một tổ chức một thể chế cộng đồng huyếtthống được hình thành trong một quá trình lịch sử vào thời kỳ “phụ hệ giatrưởng” ở vị trí chủ yếu Trong dòng họ thường có chi, có phái Chẳng hạn họNguyễn gồm có các chi: Nguyễn Đoàn, Nguyễn Quý, Nguyễn Doanh sốlượng gia đình trong chi phái cũng không giống nhau Có họ nhiều chi, phái,nhiều gia đình Nguyên tắc huyết thống là phân biệt trưởng thứ và thân phậncũng được thừa kế theo thứ bậc này Trong làng thường có chục họ pháttriển bao gồm các họ khai làng; hộ đông đinh Họ ít đinh, họ khoa bảng.Trong mỗi một họ lại có tôn chỉ mục đích riêng Ví như họ phả, họ Nguyễn(Hà Trung – Thanh Hoá) cũng đề ra hình thức khen thưởng, khuyến học,khuyến yếu, khuýên tài với nội dung các tộc qui, gia huấn có thể khái quátnhư sau:
- Khuyến hiếu, đề cao hiếu, nghĩa trang họ hàng
- Hoà mục trong xóm làng: đề cao sự nhượng nhịn bao dung nhân hậutheo các ứng xử với hàng xóm
- Tôn ty trật tự trong họ hàng, hàng xóm: trẻ kính già, trò kính thầy,dưới trọng trên
Như vậy, chính dòng họ đã góp phần bảo lưu bản sắc văn hoá truyềnthống: gia đình hiếu lễ, học hành; xóm làng ổn định
Các gia đình dòng họ tồn tại như một sức mạnh tâm lý nên trong nhiềutrường hợp, người trong dòng họ thường liên kết lại với nhau để nắm lấy chức
vụ trong bộ máy quản lý làng xã cũng như quyền hành việc làm
- Giáp: là tập hợp của những người theo lớp tuổi với quan hệ huyếtthống của nam giới Một giáp từ các đinh Nam từ khi lọt lòng đã làm lễ vọnggiáp đến cụ ông cao tuổi nhất của một dòng họ, xóm ngõ khác nhau được chialàm nhiều mâm hay bàn Thông thường, giáp là tổ chức giữ vai trò quan trọng
Trang 17trong các công việc của làng Trong các loại hình trên, sự hiện diện của cácquan hệ thân tộc, dòng họ khá nổi trội Người Việt thường có câu “trong họngoài làng” Quan hệ họ hàng tồn tại khá vững vàng bằng các hoạt động thờcúng tổ tiên, lập gia phả, tu bổ nhà thờ Kinh tế càng phát triển thì quan hệdòng họ lại càng củng cố hơn Quan hệ dòng họ biện chứng vững chắc Bởi
vì cái kết cấu “vừa làng - vừa họ” đã tồn tại khá lâu và đậm nét trong công xãnông thôn Việt Nam Bên cạnh đó là quan hệ kết hôn trai gái giữa các dòng
họ với nhau Tất cả các mối liên hệ trên tạo ra mối liên kết họ hàng nhiềuchiều, đan chéo và phức tạp trong làng
Như vậy, cùng trên một mảnh đất “làng” mà có nhiều họ sinh sống ắtphải nảy sinh nhiều quan hệ phức tạp giữa họ này, họ kia, phái này, phái kia,người trong họ với người ngoài làng Họ hàng, làng xã với quan hệ phức tạp
đã lan toả ở mọi nơi, nó len lỏi vào các quan hệ xã hội khác Vì vậy, trong cơchế hoạt động của làng xã, phải có “hương ước” để điều chỉnh các quan hệđó
Bên cạnh bộ máy xã hội đương thời, sự gia tăng dân đính, mở mangkinh tế cùng với sự nảy sinh thêm các loại hình tổ chức xã hội khiến chonhững tục lệ truyền khẩu không còn phù hợp với cuộc sống hiện tại, đòi hỏilàng xã phải đưa ra những qui ước chặt chẽ hơn trên văn bản Những qui tắctrước kia phỉa sửa lại, điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với việc văn bản hoánhững tập quán trước đây Bộ “luật tụng” hay “tập quán khác” thành văn mà
ta quen gọi là hương ước ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của làng xã
1.2.2 Sự can thiệp của nhà nước phong kiến đối với làng xã
Ban đầu, nhà nước phong kiến chưa với tay sâu xuống làng xã củangười Việt Sau đây, nhà nước phong kiến ngày càng can thiệp sâu hơn ởnhiều phương diện
Vào thời Hùng Vương, ở mỗi đơn vị tụ cư của người Việt cơ cấu tổchức đơn giản, quan hệ giữa làng với nhà nước trung ương còn khá lỏng lẻo.Đến thời kỳ Bắc thuộc (179 TCN – 905), tình hình làng xã so với thời Hùng
Trang 18Vương không khác là bao, các quan hệ xã hội bên trong từng đơn vị tụ cưchưa phức tạp lắm.
Từ thế kỷ X trở đi, nền độc lập dân tộc đã thúc đẩy sự phát triển mọimặt của làng xã Với sự ra đời của nhà nước phong kiến trung ương tậpquyền, đời sống của làng xã bắt đầu bị can thiệp mà điểm khởi đầu là nhữngcải cách của Khúc Hạo Năm 907, Khúc Hạo định lại các đơn vị hành chính,đổi hương làm giáp và đặt chức quản giáp (giữ việc thu thuế và bắt lính) Ởdưới giáp, đơn vị hành chính nhỏ nhất là xã do “chánh lệnh trưởng và tá lệnhtrưởng” cầm đầua Như vậy, lần đầu tiên, bên cạnh các thiết chế tổ chứctruyền thống: xóm ngõ, dòng họ, bộ máy quản lý cũ (có thể là một hội đồnggồm những cụ già giàu kinh nghiệm sản xuất và am hiểu luật tục), trong xãhội người Việt đã xuất hiện một thiết chế mới, do nhà nước trung ương tậpquyền áp đặt nhằm hướng các đơn vị tụ cư đó vào quỹ đạo nhà nước để bảođảm các quyền thu về thuế, phu và lính Từ đây, cuộc sống làng mạc trở nênphong phú, phức tạp và quá trình lệ thuộc của nó vào nhà nước trung ươngcũng ngày càng rõ rệt
Đến thời Trần, cũng trên cơ sở phân chia các đơn vị tụ cư của ngườinông dân Việt Nam thành xã, nhà nước phong kiến trung ương phân bổ cácchức “đại tư xã” và “tiểu tư xã” nắm quyền ở các cấp nắm quyền ở các cấphành chính đó “Đại tư xã” là quan ngũ phẩm trở nên, “tiểu tư xã” là quan ngũphẩm trở xuống chịu trách nhiệm quản lý hộ khẩu, thuế khoá Những chínhsách đó đã tác động đến cơ cấu tổ chức, đời sống chính trị và các quan hệ xãhội cũng như các phong tục tập quán làng xã
Trật tự đẳng cấp theo khuôn mẫu phong kiến dần dần hình thành Đồngthời trong phạm vi từng luỹ tre xanh ấy, chế độ tư hữu ruộng đất bắt đầu pháttriển- dù ở mức độ thấp - tạo tiền đề để phân hoá giai cấp Đời sống làng xãngày càng phức tạp cả về cơ cấu tổ chức và mối quan hệ xã hội Sự phức tạpcủa các mối quan hệ đó đòi hỏi phải có quy ước bằng văn bản để điều chỉnh
Trang 19Tuy nhiên, cũng lúc đó, cuộc xâm lược và đô hộ 20 năm của nhà Minh vàquá trình trên bị gián đoạn.
Sang thế kỷ thứ XV, sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quânMinh, sự ra đời của triều Hậu Lê - một nhà nước phong kiến tập quyền cao độ
- đã thúc đẩy sự phát triển của các làng xã trên tất cả các mặt: cơ cấu tổ chức,phân tầng giai cấp và đẳng cấp, cũng như sự lệ thuộc vào quỹ đạo của nhànước Trung ương và như vậy đời sống của từng khung tụ cư ấy ngày càngphức tạp theo chiều hướng “phong kiến hoá” Ba sự kiện đáng để chúng tachú ý đến đó là:
* Một là: với việc đổi lại chức “xã quan” thành “xã trưởng” đồng thờiđịnh lại tiêu chuẩn của những viên chức trong bộ máy đó Nhà nước phongkiến đã tạo ra trong cư dân mỗi làng Việt một tầng lớp tập trung nhiều quyềnlực về chính trị, kinh tế, pháp luật
* Hai là: ban hành chính sách “quân điều” nhằm quy chế hoá việc chialại ruộng đất trong làng xã theo hướng ưu tiên quan lại, những người có phẩmhàm, chức tước, bằng cấp, đã huỷ dân quyền “tự trị” của mỗi làng đối với thứtài sản quan trọng nhất của cư dân nông nghiệp
* Ba là: dùng Nho giáo thay cho Phật giáo làm hệ tư tưởng chính thốngcủa Nhà nước phong kiến tập quyền Như vậy trong mỗi xã thân, một tầng lớpnho sỹ (đỗ đạt cũng như không đỗ đạt) ngày một đông đảo sống theo khuônmẫu Nho giáo Cùng với đó, là tầng lớp quan lại phong kiến trong làng được
ưu đãi về nhiều mặt: giảm sưu thuế, tạp dịch Những chính sách ấy đã đemđến một loạt hệ quả đối với các làng xã
Như vậy có thể nói từ đời Lê Thánh Tông (1460 -1496) trở đi, diệnmạo làng Việt, về mặt thiết chế tổ chức đã tương đối hoàn chỉnh có: dòng họ,xóm ngõ, phường hội, bộ máy quản lý xã thôn theo truyền thống, tổ chức đạidiện cho nhà nước phong kiến ở làng
Dưới tác động của các chính sách của nhà nước phong kiến và sự pháttriển nội tại của làng xã, cùng với sự hoàn chỉnh về phương diện thiết chế tổ
Trang 20chức sự phân tầng giai cấp và đẳng cấp trong từng đơn vị tụ cư của ngườiViệt cũng diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc Nhìn chung từ thế kỷ XV, quan hệphong kiến ngày càng chi phối mạnh mẽ đời sống làng mạc, nhưng người dânvẫn duy trì được phong cách sống của mình, với những truyền thống tốt đẹp,với những phong tục tập quán cổ truyền có hiệu lực Công xã tuy mất quyền
tự trị nhưng vẫn tồn tại phổ biến Nhà nước phong kiến phải chấp nhận một sốtục lệ cổ truyền của công xã
Trong tình hình đó, những quy ước truyền miệng không đáp ứng đượcyêu cầu điều chỉnh các mối quan hệ nảy sinh giữa các thiết chế, các “đẳngcấp” trong từng làng cũng như giữa các làng với nhà nước phong kiến, lệ làngbức thiết phải được văn bản hoá Hương ước ra đời
1.2.3 Xuất hiện tầng lớp Nho sỹ
Như chúng ta đã biết, Nho giáo vốn từ Trung Quốc du nhập vào ViệtNam với tư cách là vũ khí tinh thần, tư tưởng để thiết lập một trật tự xã hộiphù hợp với lợi ích và chính sách bành trướng xâm lược và đồng hoá của bọnphong kiến Hán tộc Ngay từ khi “đặt chân”lên đất nước ta, Nho giáo vấpphải sức đề kháng hết sức quyết liệt Bởi vì những giáo lý của nó vốn rất xa lạvới nếp sống và tập tục truyền thống của nhân dân ta Do vậy, lúc đầu, Nhogiáo mới chỉ cầm được ở các đô thị hay trung tâm chính trị, còn ở nông thôn,những phong tục tập quán và nếp sống cổ truyền vẫn đứng vững vì thế, chưathể xuất hiện trong từng luỹ tre xanh đó, tầng lớp nho sỹ
Từ thế kỷ X với nền độc lập dân tộc, giai cấp phong kiến Việt Nam đãtrưởng thành qua 10 thế kỷ Bắc thuộc, thực sự nắm chính quyền Yêu cầu xâydựng một nhà nước trung ương tập quyền thống nhất để đáp ứng sự nghiệpdựng nước và giữ nước làm cho nho giáo đã dần dần chiếm một vị trí ưu thếtrong kiến trúc thượng tầng, cũng như trong đời sống xã hội Cuối thời Trần(thế kỷ XIV) nho giáo phát triển mạnh mẽ và có hướng lấn át phật giáo (lịch
sử Việt Nam tập 1 trang 218) Sang thời Lê (thế kỷ XV) nho giáo giành được
vị trí thống trị và trở thành hệ tư tưởng chính thống của chế độ phong kiến
Trang 21(lịch sử Việt Nam tập 1 trang 275) Do đó, tầng lớp nho sĩ đông đảo dần ngàycàng chiếm vị trí ưu thế Không chỉ trong bộ máy nhà nước phong kiến, màcòn cả trong sinh hoạt làng xã Bằng mọi cách, triều đình phong kiến và cảđội ngũ nho sĩ quan liêu bằng mọi cách làm cho nho giáo thâm nhập vào nhândân và do vậy nó ảnh hưởng tới sự tồn tại, phát triển của những nếp sống vàphong tục cổ truyền Cùng với đó, những cơ sở “nội công” nảy sinh tronglàng xã cũng là miếng đất tốt tươi để tiếp nhận nho giáo.
+ Trước hết: nền nông nghiệp lúa nước với tổ chức lao động chính làtiểu gia đình phụ quyền, đề cao vai trò của người gia trưởng và tôn ti trật tựtrong gia đình phù hợp với giáo lý của đạo nho
+ Hai là:Sự phân tầng giai cấp và đẳng cấp nông thôn ngày càng sâusắc đã tạo nên trong cư dân mỗi cộng đồng thôn xã một hệ thống nhiều thangbậc, phân biệt nhau bởi những quyền lợi và nghĩa vụ riêng biệt Bậc thangđẳng cấp của bộ máy quan liêu phong kiến đã thúc đẩy nho giáo phát triển Đihọc thi đỗ để làm quan là động cơ chính của mọi người Như vậy, nho giáo đãcắm được trên miếng đất của làng xã với mốc từ thời Lê Bên cạnh đội ngũnho sỹ quan lại đội ngũ nho sỹ bình dân, những nho sỹ không đỗ đạt sau baonăm dùi mài kinh sử không thể vào “quan trường” cũng trở về thôn quê ngàycàng đông đảo hơn, chi phối làng xã Từ những phân tích ở trên cho thấy, từcuối thời Trần trở đi, trong mỗi làng Việt đã có những điều kiện cần và đủ đểthảo ra những hương ước nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội ngày càngphức tạp đang nảy sinh trong từng tụ cư đó Những điều kiện đó là:
- Cơ cấu tổ chức hoàn chỉnh, các phong tục tập quán các lệ làng ngàymột phức tạp
- Nhà nước phong kiến ngày càng can thiệp sâu vào làng xã
- Trong mỗi làng đã xuất hiện tầng lớp nho sỹ có thể đại diện cho làngsoạn thảo các sổ sách giấy tờ (hương ước)
Tóm lại: nhìn một cách tổng quát, quá trình ra đời và phát triển hươngước
Trang 221 Từ nửa cuối thời Trần trở về trước, làng xã hoàn chỉnh dần về cơ cấu
tổ chức và tục lệ, chuẩn bị điều kiện cho sự ra đời của hương ước
2 Từ cuối thời Trần đến thời Lê sơ, làng xã ngày càng bị phong kiếnhoá, cơ cấu tổ chức tương đối hoàn chỉnh, đời sống xã hội ngày càng thêmphong phú và phức tạp Hương ước ra đời
3 Từ thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XIX, làng xã bị phong kiến hoá sâusắc, hương ước “nở rộ”
4 Từ đầu thế kỷ XX đến tháng 8 năm 1945 thời kỳ cuối cùng củahương ước, thời kỳ “cải lương hành chính” nhằm đến nắm các làng xã, vớichế độ thuộc địa của thực dân Pháp
Trang 23CHƯƠNG II
SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA HƯƠNG ƯỚC ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT
PHONG KIẾN VIỆT NAM
2.1 Giá trị pháp lý của hương ước
Như đã phân tích, hương ước trở thành phổ biến từ thế kỷ XV trở đi,khi nhà nước Trung ương với tay sâu vào từng đơn vị tụ cư của người nôngdân Việt Nội dung của hương ước khá phong phú Nhìn chung nó quy địnhcác mặt: ranh giới lãnh thổ; sản xuất và bảo vệ môi trường; cơ cấu tổ chức vàquan hệ xã hội, tín ngưỡng; nghĩa vụ của làng xã đối với Nhà nước; các hành
vi vi phạm của những quy định của hương ước, hình thức khen thưởng và xửphạt; soạn thảo sửa đổi bổ sung hương ước Nhưng không phải bản hươngước nào cũng đầy đủ những nội dung trên Tùy điều kiện cụ thể mà hươngước có nội dung dài ngắn và những điều khoản liên quan tới các mặt của đờisống làng xã chiếm tỷ lệ về vị trí khác nhau Hương ước là sản phẩm củalàng, nó gắn liền với sự hình thành và phát triển của đời sống làng xã ViệtNam Vì vậy hương ước không chỉ ảnh hưởng tới tâm tư tình cảm, phong tụctập quán của người Việt mà còn ảnh hưởng tới pháp luật của phong kiến ViệtNam
Nhiều công trình nghiên cứu từ trước đến nay đã chỉ rõ hương ước,hương ước có vai trò quan trọng trong đời sống làng Việt cổ truyền Tuynhiên các công trình đó ít lưu ý đến vai trò của hương ước với tư cách là mộtcông cụ quản lý Trước khi bàn về vai trò của hương ước trong quản lý làng
xã xin đề cập đến khai niệm quản lý
Quản lý, theo chúng tôi là sắp đặt chăm nom các hoạt động của mộtcộng đồng Nó có hàm ý vừa là tổ chức vừa là cai quản các hoạt động đó Đốitượng của quản lý khá rộng: Quản lý kinh tế, quản lý xã hội, quản lý vănhoá mỗi đối tượng có một thường thức và những công cụ quản lý khácnhau: bằng pháp luật, bằng phong tục, bằng đạo đức, bằng tôn giáo tín
Trang 24ngưỡng mà các thành viên và cấc thiết chế tổ chức trong cộng đồng phảituân thủ.
Trong phạm vi đang bàn, quản lý xã hội là tổ chức và cai quản các đơn
vị dân cư có địa vị riêng, tương đối ổn định có cơ cấu tổ chức, lệ tục, tínngưỡng và sinh hoạt văn hoá cộng đồng riêng, dần dần được Nhà nước phongkiến lắp ghép thành các đơn vị hành chính cáp cơ sở Nội dung chủ yếu củaquản lý xã hội làng xã là điều chỉnh các mối quan hệ giữa các giai tầng xã hội,cai quản các thíêt chế tổ chức trong làng, để làng được duy trì và phát triểntrong thế ổn định, để Nhà nước nắm được các yêu cầu về sưu thuế, binh dịch
từ các đơn vị tụ cư đó
Với ý nghĩa trên, chúng tôi xét vai trò của hương ước trong quản lý xãhội làng xã, cũng là tìm hiểu tính hai mặt của hương ước, được thể hiện dướigóc độ sau đây:
2.1.1 Hương ước – công cụ để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trongcộng đồng làng, công cụ để quản lý làng xã
Như đã trình bày, hầu hết các điều của hương ước quy định trách nhiệm
và chế độ thưởng phạt trước hết và chủ yếu đối với các cá nhân trong làng,trong việc thực hienẹ các công việc của cộng đồng Với các điều khoản này,hương ước trực tiếp kiểm soát thái độ ứng xử của từng thành viên, khôngphân biệt già trẻ, nam nữ thuộc bất kỳ hình thức tổ chức và giai tầng xã hộinào có địa vị hoặc tài sản ra sao Từ ăn mặc, đi lại, nói năng, thăm hỏi, họphành cho đến nghĩa vụ đối với gia đình họ mạc làng xóm trong các việc machay cưới xin, khao vọng, việc biện lễ, tế lễ, việc canh tuần phòng đều đượcquy định chặt chẽ, tỉ mỉ trong hương ước, không ai được vi phạm Như vậythông qua hương ước làng xã quy định nghĩa vụ và quyền lợi của từng cánhân đối với cộng đồng; đồng thời giám sát việc tuân thủ lệ làng của mỗi cánhân đó Hành động vi phạm lệ làng của người thường chỉ có liên quan tớibản thân người đó Tóm lại bằng cách trực tiếp tác động đến từng thành viêncủa cộng đồng qua việc kiểm soát thái độ ứng xử hàng ngày của từng cá nhan,
Trang 25hương ước đã tạo ra sự ràng buộc, sự áp đặt và cả sự cưỡng chế của cộngđồng đối với mọi con người trong làng Và nhờ đó, hương ước còn làm nhiệm
vụ quan trọng khác: là sợi dây nối liền các tổ chức xã hội trong làng xã
Như đã trình bày trong mỗi làng Việt xưa kia người nông dân Việt hợplại với nhau trong nhiều hình thức tổ chức khác nhau, xóm ngõ, dòng họ, phegiáp, phường hội và theo các thiết chế của bộ máy chính trị xã hội cấp xã.Đây là thiết chế cộng đồng theo trục ngang Mỗi tổ chức có tiêu chuẩn xétnhận thành viên riêng, có chức năng và cơ cấu vận hành riêng trong tổng thểlàng xã Theo nhà Dân tộc học Trần Từ, các hình thức tập hợp người như vậy,
có thể nói cơ cấu tổ chức làm việc rất đa dạng nhưng cũng rất rời rạc lẻ tẻ Vìthế thể chế đều có một cuộc sống riêng chẳng có liên hệ gì với nhau Bởi vậy,
có thể coi chúng là những “ốc đảo” trong “đại dương” của làng mạc tiểunông Tuy nhiên theo dòng thời gian, cuộc sống làng mạc vẫn tiếp diễn với tất
cả sự đa dạng của nó Trong sự vận hành không ngừng theo nhịp điệu đó củacuộc sống làng mạc, mỗi tổ chức trên đã góp phần riêng và có thể hiện vai tròcủa mình –như đã trình bày ở phần nội dung của hương ước Vậy giữa vô vànnhững “ốc đảo” đó, cái gì đã nối chúng lại với nhau, khiến cho làng Việt cổtruyền, tưởng chừng như rời rạc, lẻ tẻ và phức tạp bởi các thíêt chế tổ chức đóvẫn vận hành như một guồng máy thống nhất để cho làng xã vẫn tồn tại vớitính cách vừa là đơn vị tụ cư của người nông dân, vừa là cấp hành chính cuốicùng của chế độ phong kiến? Ở đây, câu trả lời hữu lý trước hết là do bộ máyquản lý làng xã đã điều hoà các thiết chế tổ chức lại với nhau, để cho các thiếtchế ấy vận hành theo một cơ chế thống nhất Để làm được công việc quản lý,
bộ máy chính quyền nào cũng phải dùng tới những biện pháp hành chính vớitính chất áp đặt mà về thực chất, suy cho cùng đều là bạo lực Tuy nhiên, bộmáy quản lý làng xã ở đây cũng như những thiết chế tổ chức khác trong làngvẫn chỉ là một “ốc đảo”, không được nối với các “ốc đảo”cần phải điều hoàkia bằng sợi dây ràng buộc hữu cơ, do vậy mà không thể trực tiếp tác động tớitừng thiết chế hay từng “ốc đảo” một Chính ở đây hương ước đã đóng vai trò
Trang 26điều hoà trung gian ấy Bởi vì, như đã trình bày hương ước tác động trực tiếptới từng thành viên cộng đồng bằng cách kiểm soát thế ứng xử hàng ngày của
cá nhân đó Hương ước không hoàn toàn trực tiếp giúp cho bộ máy quản lýlàng xã nắm các tổ chức, để rồi thông qua mỗi tổ chức tác động đến từngthành viên Tuy nhiên, từng cá nhân có bổn phận phải tuân thủ những nghĩa
vụ và quyền lợi mà lệ làng định ra đều là thành viên hay đến sinh hoạt ở mộtxóm ngõ, một dòng họ, một phe giáp hoặc một phường hội trong làng Do vậy
mà từng tổ chức đó khống chế làm trái ngược với hương ước được Như vậy
là, bằng cách trực tiếp tác động đến từng thành viên của cộng đồng qua việckiểm soát hành vi ứng xử hàng ngày của mỗi người hương ước đã giúp cho bộmáy quản lý làng xã nắm được các tổ chức cấu thành trong guồng máy củalàng, “xâu” chúng lại với nhau bằng công việc trong một thế phân côngchung, hài hoà và chặt chẽ Từ chỗ là quy ước về lối sống cho từng thànhviên, hương ước đóng vai trò là “cương lĩnh tinh thần”, điều chỉnh các hoạtđộng của mọi tổ chức trong làng
Như vậy, tạo ra sự ràng buộc, áp đặt và cưỡng chế của cộng đồng làng
xã đối với mỗi cá nhân, nắm cá nhân để nắm tổ chức và khuôn các tổ chức ấyvận hành thống nhất trong một chính thể hữu cơ, đó là vị trí pháp lý lớn nhấtcủa hương ước
Tuy nhiên, hương ước không chỉ đơn thuần là quy định trách nhiệm của
cá nhân đề từ đó nắm tổ chức mà còn quy định cả trách nhiệm của một số tổchức hay “hạng dân” trong làng đối với cộng đồng Chẳng hạn, quy định cácxóm ngõ phải tu bổ hào lũy, lập các đội phiên tuần để bảo vệ làng xóm; cácgiáp phải biện lễ nhờ thành hoàng, cắt cử người phục vụ đám rước Đến lượtchúng, các tổ chức lại phân bổ cho các thành viên Hơn nữa, nhiều bản hươngước còn quy định trách nhiệm liên đới với giữa tổ chức cá nhân từng thànhviên Một người không hoàn thành nghĩa vụ với làng hoặc vi phạm lệ làng thì
cả tổ chức mà người đó tham gia cũng phải chịu phạt Như vậy, hương ước đãtạo ra sự cưỡng chế của cộng đồng, tạo ra thế của cộng đồng làng xã bằng 2
Trang 27con đường: vừa kiểm soát thế ứng xử của mỗi cá nhân để nắm tổ chức, lại vừaquy định trách nhiệm cho các tổ chức để kiểm soát cá nhân Con đường thứnhất là chủ yếu, con đường thứ hai tuy là “bổ sung” nhưng cũng rất quantrọng Nhờ sự cưỡng chế đó, hương ước đã giúp cho bộ máy quản lý làng xã
có một “cơ sở pháp lý” hay “thông lệ pháp lý” để quản lý xã hội làng mạc
Theo trục dọc, trong làng xã vị trí của con người được xác định trongmột loạt mối quan hệ xã hội dựa trên nền tảng tư tưởng là ý thức hệ Nho giáođược hương ước “chính thức hoá” và cụ thể hoá Có thể chia các mối quan hệnày làm hai loại, một là quan hệ trong gia đình (mở rộng ra là quan hệ dònghọ) và là hai là quan hệ ngoài gia đình Loại quan hệ thứ nhất như đã trìnhbày, làng xã khẳng định quyền của nam giới, quyền của người cha trong giađình Nam giới mới là thành viên “chính thức” đại biểu cho quyền thừa kế,thừa tự, chỉ có người cha mới có quyền cao nhất trong quản lý gia đình, chính
vì vậy mà có quyền và có trách nhiệm về mọi hành vi của các thành viêntrong gia đình Bởi thế, con cái phải có trách nhiệm vâng lời, nuôi dưỡng,hiếu thảo với cha mẹ, ông bà (hương ước của khá nhiều làng có điều khoảnphạt những kẻ bất hiếu, bất mực) Các quan hệ gia đình này được mở rộng radòng họ đó trưởng họ phải chịu trách nhiệm về các hành vi mình trước làngxã) Vì thế ở nhiều làng, một thành viên nào đó vi phạm lệ làng thì dòng họphải chịu phạt lây
Loại quan hệ thứ hai ở ngoài gia đình được phân chia theo hai dòngkhác nhau: dòng “thiên tước” và dòng “vương tước” Dòng “thiên tước”khẳng định vị trí của người hơn tuổi và người già thể hiện rõ nhất ở hệ thốngngôi thứ trong tổ chức giáp), tuy còn đậm nét ở một số sinh hoạt của làng và ởmột số làng xã, nhưng nhìn chung đã phải nhường bước cho quan hệ theo
“vương tước”, tức các quan hệ theo bằng cấp, phẩm hàm và chức tước củaNhà nước Điều ấy, có nghĩa là mỗi thành viên trong làng tuỳ theo bằng cấp,phẩm hàm, chức tước, tài sản và tuổi tác mà được phân định vào một cấp bậcriêng trong hệ thống ngôi thứ của làng; từ đó được hưởng những quyền lợi
Trang 28riêng về khẩu phần ruộng công, phân chia biếu, chỗ ngồi ở đình, có chứcnăng quyền hạn riêng trong tế lễ, trong khi bàn cũng như khi điều hành việclàng Tất cả được cụ thể hoá trong hương ước và trở thành một trong nhữngvấn đề trọng yếu của đời sống làng xã Cũng cần nhắc lại rằng, hệ thống thangbậc xã hội làng xã này theo “mô hình” dựa trên ý thức hệ nho giáo, càng củng
cố thêm thế kiểm soát chặt chẽ của làng xã với con người
Tóm lại, trục dọc trong quản lý làng xã là những quy định được ghitrong hương ước về các mối quan hệ trong và ngoài gia đình, họ hàng,trong
đó nét nổi bật là con cháu phải phục tùng và hiếu thảo với cha mẹ, ông bà, trẻphải kính già, người ít tuổi phải nhường người hơn tuổi, dứoi phải phục tùngtrên, nữ giới phải phục tùng nam giới, người có chức vụ thấp phải phục tùngngười có chức vụ cao hơn, “bị trị” phải chịu “thống trị” Các mối “quan hệđứng” này dựa vào và lồng vào các “quan hệ ngang” tạo thành thế kiểm soátcủa cộng đồng làng xã đối với mọi thành viên trong làng để quản lý xã hội
Việc dùng hương ước để điều chỉnh các quan hệ trong làng được mởrộng ra trong sự kết hợp với những quan niệm về đạo đức truyền thống Nhưnhiều công trình đã chỉ rõ, hương ước vốn là những quy ước, những tục lệlàng xã được tuân thủ từ lâu đời, đến giữa thế kỷ XV được văn bản hoá.Những tục lệ đó vốn là những quy ước cổ sơ của làng, trong đó có quy địnhxét nhận thành viên, bảo vệ an ninh, bảo vệ “phong hoá”, tổ chức thờ cúngdựa trên tập quán và những quan niệm về đạo đức truyền thống từ ngàn xưa
đã “ăn” vào máu thịt người nông dân Hương ước đã bảo lưu, kế thừa nhữngmặt trên Bởi vậy, trong hương ước của nhiều làng điều có những điều khuyếnkhích mọi người ăn ở hoà thuận, đoàn kết giúp đỡ nhau trong đời sống thườngngày, ngăn ngừa và xử phạt các hiện tượng đánh chửi nhau, rượu chè, quan hệnam nữ bất chính; khuyến khích mọi người xây dựng đóng góp làng xóm Hơn nữa, một số làng còn dựa vào hương ước hình thức thề bồi, uống khoán(lễ mình thệ) vốn là hình thức sinh hoạt tôn giáo rất cổ trước khi trình bày nội
Trang 29dung điều khoản về vấn đề này (làng Thụy Khuê – Hà Tây, làng Trung Liệt Bắc Ninh).
-Tóm lại, với việc kế thừa những tập tục dựa trên nền đạo đức và tínngưỡng truyền thống, hương ước mặc dù do các Nho sĩ soạn thảo, vẫn “đi vàolòng người nông dân”, được họ tuân thủ, chấp nhận như một truyền thốnglàng mạc nghìn đời, từ đó duy trì cuộc sống làng xã, hương ước dựa trêntruyền thống, để rồi chuyển thành truyền thống, đó là bài học kinh nghiệmquản lý làng xã bằng hương ước
2.1.2 Sự giống và khác nhau giữa pháp luật và hương ước
2.1.2.1 Những điểm giống nhau:
- Với tư cách là những quy ước nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xãhội cả hương ước và pháp luật nhà nước đều có nội dung phong phú liên quantới nhiều mặt của đời sống: các lĩnh vực kinh tế chính trị xã hội, văn hoá giáodục, chế độ thưởng phạt (cả trên văn bản cũng như trong thực tế) của hươngước cũng như trong pháp luật đều rất nghiêm ngặt Hình thức xét xử của luậtpháp và hương ước rất hà khắc thể hiện rất rõ tính chất tàn khốc của bạo lựcthời kỳ phong kiến
Với các điều khoản liên quan đến từng mặt của đời sống quy định rõmức hình phạt đối với từng hành vi vi phạm cả lệ làng, pháp luật đã buộc cánhân phải tuân thủ nghiêm túc Nhờ có chế độ xử phạt nghiêm minh ấy màpháp luật và lệ làng đã tạo ra 1 sự cưỡng chế để hướng con người sống theonhững quy tắc chung Đó là hiệu lực thực tế và giá trị pháp lý của bất kỳ một
bộ phận hay “tập quán pháp thành văn nào”
- Hương ước – Pháp luật đều giống nhau cơ bản ở mục đích tạo ra sựthật tự công bằng và ổn định cho xã hội, định hướng cách cư xử của cá nhântheo một khuôn mẫu chung
- Hương ước và pháp luật được thực thi trong sự kết hợp với các yếu tốkhác như: đạo đức, dư luận, thíêt chế tổ chức
Trang 30Ví dụ: Hương ước và pháp luật đều qui định phạt người “bất hiếu”,riêng pháp luật phong kiến quy định tội “thập ác” - mười tội nặng phải chết;trong đó có 5 tội quy định liên quan đến vi phạm đạo đức Một người vi phạmpháp luật hay hương ước thì cả làng xã và nhà nước đều dùng các tổ chức màngười ấy tham gia (dòng họ, đoàn thể) để tạo ra dư luận hay sức ép phê phán.
Nhờ có các yếu tố và cũng là các đặc điểm trên đây, cả hương ước vàpháp luật đều tạo ra sự ràng buộc, sự áp đặt và sự cưỡng chế để hướng conngười sống theo những quy tắc chung nên tính hiệu lực thực tế của chúng đềutương đối cao Tính hiệu lực cao của hương ước và pháp luật có được là dochúng vừa áp dụng chế độ xử phạt trực tiếp, lại vừa áp dụng liên đới chịutrách nhiệm đối với các tổ chức mà người vi phạm là thành viên Do đó nó cótác dụng ngăn chặn các hành vi vi phạm rất cao
2.1.2.2 Những điểm khác nhau
Do hương ước là sản phẩm của làng xã Ghi chép lệ tục và những quyđịnh riêng của từng làng; pháp luật là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắtbuộc chung, nên hai loại văn bản này có những điểm khác nhau cơ bản
+ Nội dung của hương ước đơn giản, gọn nhẹ hơn so với pháp luật:Chẳng hạn, luật Hồng Đức có 722 điều liên quan đến hầu hết các mặtcủa đời sống: còn một bản hương ước của người Việt chỉ gồm có vài chụcđiều khoản liên quan đến một số mặt nào đó của cuộc sống làng mạc Mặtkhác, mỗi một mặt của đời sống xã hội được pháp luật nhà nước cụ thể hoáthành vài chục, thậm chí hàng trăm điều khoản Ví dụ: về hôn nhân gia đình,luật Hồng Đức quy định thành 58 điều, (từ điều 283 đến 340), trong khi đó, ởcác bản hương ước vấn đề này chỉ được ghi thành một hoặc một vài điều ngắngọn Điều này do tính và phạm vi điều chỉnh của từng loại văn bản quy định.Tính phong phú và phức tạp của đời sống một nước có nhiều đơn vị hànhchính, nhiều thành phần cư dân, yêu cầu đảm bảo cho cuộc sống phong phú
và phức tạp ấy đi vào quỹ đạo chung làm cho luật pháp phải có những điềukhoản liên quan đến những vấn đề mà các bản hương ước – công cụ điều
Trang 31chỉnh đời sống một cộng đồng làng cụ thể, không thể có, chẳng hạn, việc quyđịnh “lệ danh” (tội danh) “đấu tụng” (kiện tụng), “trá ngụy” - tội phản quốc
và cũng có những vấn đề liên quan đến một số phương diện nào đó trong đờisống thường ngày, nhưng lại không được ghi hoặc ít được ghi trong hươngước
Ví dụ: Vấn đề điền sản, hương hoả
Trong khi đó, luật Hồng Đức lại thể chế hoá 32 điều (điền sản), 13điều (hương hoả) còn luật của chúng ta hiện nay được thể chế hoá thànhnhiều văn bản luật riêng rẽ, điều chỉnh nhiều mặt của đời sống (luật hình sự,luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình )
+ Trong các văn bản pháp luật, gần như tất cả các điều khoản đều gắnvới một quy định về khung hình phạt và mức hình phạt cụ thể (ví dụ: hình sựphần riêng), còn trong hương ước, nhìn chung đa số các điều khoản có quyđịnh điều khoản, song trong khá nhiều trường hợp, không ghi mức hình phạt
cụ thể đối với người vi phạm mà thay vào đó là những lời khuyên răn chungchung với lời lẽ nặng về răn đe, thuyết phục tình cảm như: không nên, cấm,cấm không được Nhiều điều khoản chi ghi những quy định chung chung.Điều này do đặc tính của lệ tục là nặng về khuyến cáo, khuyên răn, khuyếnthiện
+ Trong văn bản pháp luật ít có các hình thức khen thưởng như hươngước, chi phần nhiều là hình thức xử phạt Điều này do tính nặng về áp đặt,cưỡng chế, trấn áp pháp luật quy định, khác hẳn với hương ước là ngoài tính
áp đặt, còn có tính khuyến cáo, khuyên răn, khuyến thiện
+ Về khung hình phạt:
Hương ước đơn giản hơn so với pháp luật Trong hương ước chỉ cókhung hình phạt chính là đánh đập, phạt tiền, hạ vị trí ngôi thứ, tẩy chay đámtang và đuổi ra khỏi làng Còn pháp luật phổ biến quy định mức hình phạt ngũhình: xuy (đánh roi), trượng (đánh gậy), đồ (phạt làm khổ sai), lưu (đầy đi nơi
Trang 32xa) và tử (chết), nhưng mỗi mức lại gồm nhiều bậc khác nhau, ví dụ: Xuy có
5 bậc từ 10 đến 50 roi, trượng gồm 5 bậc từ 60 đến 100 trượng
Cùng với sự phong phú về khung hình phạt là sự nặng nề của các hìnhthức xử phạt của pháp luật phong kiến so với hương ước Trong năm hìnhthức xử phạt của hương ước chỉ có một hình thức xâm phạm đến thân thểngười vi phạm đó là “đánh đập” và hình thức này rất ít khi được áp dụng.Trong khi đó, luật pháp phong kiến, tất cả các hình thái đều xâm phạm dãman đến thân thể người phạm luật: (đánh roi, đánh gậy, chém, thắt cổ, thíchchữ vào mặt, chặt chân tay ) Điều này thể hiện tính chất khốc liệt của phápluật phong kiến, khác xa với hương ước chỉ nặng về răn đe, khuyên bảo,khuyến thiện như đã trình bày ở trên Hình thức xử phạt của hương ước cònnhẹ hưn so với pháp luật còn được thể hiện ở chỗ, lệ làng không có mức hìnhphạt cao nhất là tử hình cho bất kỳ hành vi vi phạm nào, trong khi đó phápluật phong kiến quy định 10 tội nặng phải chết (thập ác) Tuy nhiên việc xửphạt của hương ước có nét tinh tế là nó “đánh” vào cả những nỗi “sợ hãi vôhình” điều tâm linh sâu thẳm của con người tiền công nghiệp, ví dụ: Truấtngôi thứ, tẩy chay sinh hoạt, tẩy chay đám tang, và cao nhất là đuổi ra khỏilàng
Hương ước nhiều khi được “thiêng hoá” nhiều làng vào dịp đầu xuân tổchức lễ “minh thệ”, ví dụ: như các làng Tiên Sơn- Hà Bắc, và trong tâm thứccủa người nông dân, việc tuân thủ các điều khoản thi trong hương ước nhất làcác điều khoản về sự việc thờ thần đều liên quan đến sự phù hộ hay tráchphạt của thần linh đối với từng cá nhân hay cả cộng đồng Đây là những ràngbuộc vô hình nhưng hữu hiệu của hương ước mà pháp luật không có được
+ Trong hương ước hầu như không có hình thức giảm tội cho hành vi
vi phạm của người vi phạm nào dù người đó thuộc thành phần xuất thân và cóđịa vị xã hội nào trong làng Trong khi đó, pháp luật phong kiến có quy địnhchế độ “bát nghị”: nghị thân, nghị cố, nghị hiền, nghị nặng, nghị công, nghị