HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ NHẰM TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ PHÒNG, CHỐNG BUÔN BÁN PHỤ NỮ, TRẺ EM
Trang 1HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ NHẰM TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢPHÒNG, CHỐNG BUÔN BÁN PHỤ NỮ, TRẺ EM (GIAI ĐOẠN 2005-2008)
PHẦN MỞ ĐẦU 2PHẦN NỘI DUNG 5Chương 1: TỘI MUA BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM TRONG BỘ LUẬT HÌNH
1 Một số khó khăn vướng mắc trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tội mua bán phụ nữ, trẻ em 24
2 Một số bất cập của các cấu thành tội phạm quy định tại các Điều 119 và Điều
120 BLHS 25Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
NHẲM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG BUÔN BÁN PHỤ NỮ, TRẺ EM 29
1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta nhằm đấu tranh phòng, chống tội mua bán phụ nữ và tội mua bán trẻ em 29
2 Các kinh nghiệm trên thế giới để phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử tội buôn bán phụ nữ, trẻ em hiệu quả 32
3 Những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự đấu tranh phòng, chống buôn bán phụ nữ, trẻ em 33KẾT LUẬN 54PHỤ LỤC 56 Danh mục tài liệu tham
khảo……….59
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Từ Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI đến nay, đất nước bước vàoquá trình đổi mới và phát triển Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa- xã hội đấtnước có nhiều chuyển biến tích cức Nền kinh tế phát triển, chính trị ổn định, đờisống vật chất và tinh thần của đại bộ phận các tầng lớp nhân dân, trong đó có phụ
nữ và trẻ em được cải thiện
Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi cơ chế, bên cạnh những mặt mạnh,mặt tích cực, thì cơ chế thị trường và điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi cũng đãbộc lộ những tồn tại và làm nảy sinh một số tệ nạn xã hội – trong đó có tội phạmmua bán phụ nữ và trẻ em
Ở Việt Nam hiện nay tình hình tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em đang ởmức báo động, với diển biến phức tạp và thủ đoạn ngày càng tinh vi Theo số liệuước tính sơ bộ của Cục phòng chống tệ nạn xã hội – Bộ lao động thương binh xãhội, tính từ năm 2005 đến tháng 6 năm 2008, cả nước có khoảng 1100 vụ buôn bánphụ nữ và trẻ em, trong đó có hơn 2800 nạn nhân bị mua bán
Mua bán phụ nữ và trẻ em là một tệ nạn xã hội phức tạp, liên quan đến mọimặt của đời sống xã hội, làm xói mòn về đạo đức, chà đạp lên nhân phẩm và quyềnlợi của phụ nữ và trẻ em, phá vỡ hạnh phúc gia đình, gắn liền sau đó là sự gia tăngcủa căn bện HIV/AISD, nạn rửa tiền, tham nhũng, di cư bất hợp pháp…
Từ thực trạng trên, Đảng và Nhà nước ta đã và đang tiến hành nhiều biệnpháp đấu tranh kiên quyết từng bước tiến tới đẩy lùi tệ nạn này khỏi đời sống xãhội Nhưng trên thực tế, kết quả thu được vẫn còn hạn chế
Trang 32 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Ở Việt Nam đã có một số công trình gián tiếp nghiên cứu về tội phạm muabán phụ nữ và trẻ em Nhưng đa số mới chỉ dừng lại ở việc phản ánh tình hình haynghiên cứu ở mức độ khái quát hoặc một số khía cạnh nhất định của tệ nạn này.Chưa có một đề tài nào nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện, theo cách tiếp cậncủa tội phạm học để từ đó đánh giá một cách đầy đủ tình hình mua bán phụ nữ vàtrẻ em ở Việt Nam, phân tích tìm ra nguyên nhân điều kiện và giải pháp phòngchống loại tệ nạn này nói chung và tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em nói riêngmột cách triệt để nhất Trong khi đó, việc đấu tranh phòng chống tội phạm muabán phụ nữ và trẻ em đang là vấn đề nóng bỏng mang tính cấp bách hiện nay
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài:”Hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm tăng cường hiệu quả phòng, chống buôn bán phụ nữ, trẻ em (giai đoạn 2005-2008)”
là rất cần thiết để góp phần hoàn thiện lý luận về vấn đề này, góp phần hỗ trợ choviệc đấu tranh phòng chống loại tệ nạn này một cách có hiệu quả
3 Mục đích, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là cung cấp một cách nhìn tổng quát vềtội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em ở Việt Nam trong những năm gần đây thongqua các tài liệu, số liệu thực tế (từ năm 2005 đến năm 2008), tìm ra những vướngmắc, khó khăn trong quá trình phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em,cũng như đề xuất những giải pháp nhằm phòng chống loại tội phạm này ở ViệtNam trong thời gian tới
Từ mục đích và phạm vi nghiên cứu nêu trên, đề tài có nhiệm vụ nghiêncứu:
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của loại tội phạm mua bánphụ nữ và trẻ em
Trang 4- Đưa ra các kiến nghị một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao kết quả côngtác phòng, chống tội mua bán phụ nữ và trẻ em.
4 Cơ cấu đề tài:
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra đề tại được cơ cấu như sau:Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được trình bày gồm 3 chương:
Chương I: Tội mua bán phụ nữ và tội mua bán trẻ em trong Bộ luật hình sự
hiện hành
Chương II: Những hạn chế về mặt pháp lý hình sự trong đấu tranh chống
buôn bán phụ nữ, trẻ em
Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm nâng cao
hiệu quả đấu tranh phòng, chống buôn bán phụ nữ, trẻ em
Trang 5PHẦN NỘI DUNG Chương 1: TỘI MUA BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM TRONG BỘ LUẬT HÌNH
Điều 115 về tội phạm mua bán phụ nữ quy định:
“1 Người nào mua bán phụ nữ thì bị phạt tù từ 2 đến 7 năm;
2 Phạm tội một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 5 năm đến
20 năm:
a Có tổ chức;
b Để đưa ra nước ngoài;
c Mua bán nhiều người.”
Về “Tội bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em” (Điều 149) quy định:
“1 Người nào có hành vi bắt trộm mua bán hoặc đánh tráo trẻ em thì bị phạt tù từ 1 năm đến 7 năm;
2 Phạm tội thuộc một trong các tội sau đây thì bị phạt tù từ 5 năm đến 20 năm:
a Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp;
b Để đưa ra nước ngoài;
c Bắt trộm mua bán hoặc đánh tráo nhiều trẻ em gây hậu quả nghiêm trọng khác;
Trang 6d Tái phạm nguy hiểm.”
Bên cạnh đó, BLHS còn quy định các tội danh khác, có liên quan đến việcmua bán phụ nữ và trẻ em, đó là tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112a); tội cưỡng dâm(Điều 113); tội cưỡng dâm người chưa thành niên (Điều 113a); tội giao cấu vớingười dưới 16 tuổi (Điều 114); tội dâm ô với trẻ em (Điều 202b) Trên thực tế,không chỉ đơn thuần là mua bán phụ nữ và trẻ em, mà còn có những tình tiết khácnhư tội hiệp dâm hoặc cưỡng dâm…
Do đó, khi xét xử, Tòa án sẽ căn cứ vào các chứng cứ cụ thể mà quy kếthành vi phạm tội để đưa ra bản án nghiêm minh, đúng pháp luật
Để đáp ứng hơn nữa yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tìnhhình mới, ngày 21/12/1999 Quốc hội khóa X kỳ họp thứ VI nhất trí thông quaBLHS năm 1999 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2000 Trong đó quy định tội mua bánphụ nữ và trẻ em và các tội phạm khác có liên quan đến tình trạng mua bán phụ nữ
và trẻ em Hành vi mua bán phụ nữ và trẻ em được quy định tại các Điều 119 vàĐiều 120 BLHS như sau:
1 Tội mua bán phụ nữ: (Điều 119 BLHS)
“1 Người nào mua bán phụ nữ thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.
2 Phạm tội thuộc trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 5 năm đến 20 năm:
a Mua bán phụ nữ vì mục đích mại dâm;
c Có tính chất chuyên nghiệp;
d Để đưa ra nước ngoài;
đ Mua bán nhiều người;
Trang 7Người phạm tội có thể là người thực hiện hành vi bán hoặc dùng người phụ
nữ để trao đổi, thanh toán, có thể là người thực hiện hành vi mua (trao đổi, thanhtoán) với mục đích khác nhau như: sử dụng họ làm mại dâm, làm trò tiêu khiểnkhác, để làm vợ, để bóc lột sức lao động, làm những công việc nặng nhọc quásức…, hoặc có thể họ vừa là người mua, vừa là người bán phụ nữ
Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm này trong những năm qua chothấy: khi thực hiện tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em người phạm tội dùng nhữngthủ đoạn khác nhau như: dụ dỗ, lừa gạt, cưỡng ép để đưa người phụ nữ đi bán, traođổi, thanh toán cho người khác hoặc có hành vi tham gia tổ chức các dịch vụ, môigiới hôn nhân, du lịch, tìm kiếm việc làm, chữa bệnh…để thúc đẩy người phụ nữđến chỗ bị mua, bán, trao đổi
- Đối với những cá nhân trong tổ chức chuyên đứng ra làm trung gianmôi giới cho người phụ nữ lấy chồng là những người nước ngoài (bao gồm người
có quốc tịch nước ngoài, người không có quốc tịch, người Việt Nam và nướcngoài) nếu chứng minh được giữa cá nhân đại diện cho tổ chức trung gian và ngườinước ngoài có sự mặc cả thỏa thuận về giá (tiền, vàng, hiện vật khác…) mà người
Trang 8nước ngoài phải trả dưới bất kỳ hình thức nào thì cá nhân đó cũng phạm tội muabán phụ nữ và trẻ em theo Điều 119 BLHS.
Người tổ chức, người xúi dục, người giúp sức cho người khác thực hiện mộttrong những hành vi nêu trên đều có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội muabán phụ nữ
- Trường hợp có nhiều người tham gia thực hiện hành vi mua bán phụ
nữ nhưng mỗi người thực hiện những hành vi khác nhau: người thì dụ dỗ, lội kéo,lừa gạt nạn nhân, người thì đưa nạn nhân đi, người thì trực tiếp bán…Trong trườnghợp này chỉ cần xác định mục đích chung của những người này là đưa phụ nữ đimau bán, trao đổi, thanh toán nhằm mục tiêu lợi nhuận,
- Cũng bị coi là phạm tội mua bán phụ nữ khi người đó có hành vi dùng
vũ lực, đe dọa dũng vũ lực, lợi dụng vị trí nghề nghiệp, quyền hạn của mình hoặcbất kỳ một hình thức nào khác có tính chất cưỡng ép để đưa người phụ nữ đi nơikhác nhằm mục đích trên
Như vậy, trong mọi trường hợp người phạm tội phải nhận thức được hành vicủa mình là hành vi mua bán phụ nữ, còn nếu họ không nhận thức được là hành vimua bán phụ nữ thì không phạm tội Vì là mua bán nên dấu hiệu thu lợi bất chínhcũng là dấu hiệu quan trọng nhưng nó không phải là dấu hiệu bắt buộc Việc ngườiphạm tội có thu lợi hay không điều đó không có ý nghĩa về mặt định tội, nếu có ýnghĩa thì cũng chỉ có ý nghĩa về mặt áp dụng hình phạt Hậu quả của hành vi muabán phụ nữ là người phụ nữ đã bị mua, bị bán, nhưng nếu người phạm tội đã thựchiện các hành vi nhằm mua, bán nhưng việc mua bán chưa xảy ra cũng không vìthế mà cho rằng chưa phạm tội mua bán phụ nữ mà trường hợp này là phạm tộichưa đạt
Trang 9b) Đối với người bị hại
Người bị hại trong vụ án mua bán phụ nữa là những người phụ nữ từ đủ 16tuổi trở lên bị mua, bán Nếu người bị hại là nữ giới chưa đủ 16 tuổi thì ngườiphạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này mà bị truy cứutrách nhiệm hình sự về tội mua bán trẻ em ( Điều 120 BLHS)
Người phụ nữ bị đem bán có thể nhận thức rõ là mình bị mua, bị bán nhưngcũng có khi không biết mình bị mua, bị bán Thậm chí có người phụ nữ còn tựnguyện để người khác mua bán, trong trường hợp này người phạm tội vẫn bị truycứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán phụ nữ theo Điều 119 BLHS
c) Các trường hợp phạm tội cụ thể
- Người nào thực hiện hành vi mua bán phụ nữ nếu không có các tìnhtiết quy định tại khoản 2 Điều 119BLHS áp dụng khung hình phạt theo quy địnhtại khoản 1 Điều 119 BLHS với mức hinnhf phạt tù từ 2 năm đến 7 năm
- Người thực hiện hành vi mua bán phụ nữ bị phạt tù từ 5 năm đến 20năm nếu thuộc một trong các tình tiết sau đây:
Mua bán phụ nữ vì mục đích mại dâm (điểm a khoản 2 Điều 119BLHS)
Mua bán phụ nữ vì mục đích mại dâm là trường hợp sử dụng người phụ nữ
bị mua, bị bán vào việc hoạt động mại dâm Đây là tình tiết thuộc ý thức chủ quancủa người phạm tội, do đó các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải có căn cứ xácđịnh người phạm tội biết người phụ nữ mà họ mua bán là để sử dụng vào mục đíchmại dâm, nếu không có căn cứ xác định người phạm tội biết mua bán phụ nữ vìmục đích mại dâm thì không thuộc trường hợp phạm tội này
Ví dụ: Vũ Đình Phúc là sinh viên năm thứ 3 Đại học Bách Khoa, do hamchơi không có khả năng chi trả đã bị đuổi học Phúc đã về quê (Ninh Bình) rủ rê lôi
Trang 10kéo được 2 cô gái (20 tuổi) tên là M.K là người cùng làng ra Hà Nội nhưng nói dối
là có công việc với mức lương 500.000 đồng/tháng, có nơi ở ổn định Khi đến HàNội, Phúc đã bán 2 cô gái trên cho nhà hàng karaoke Lệ Thu (Quận Thanh Xuân –
Hà Nội) làm gái bán dâm với giá 2.400.000 đồng
Đây là tình tiết mới được quy định tại khoản 2 Điều 119 BLHS năm 1999,
do đó những hành vi phạm tội mua bán phụ nữ vì mục đích mại dâm được thựchiện 0 giờ 00 ngày 1/7/2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 1/7/2000 mới phát hiện xử lý thìngười phạm tội chỉ bị truy cứu TNHS theo khoản 1 Điều 119 BLHS
Mua bán phụ nữ có tổ chức (điểm b khoản 2 Điều 119)
Cũng giống như phạm tội có tổ chức, phạm tội mua bán phụ nữ có tổ chức làtrường hợp có nhiều người tham gia, trong đó có người chủ mưu, cầm đầu, chỉhuy, có người trực tiếp thực hiện tội phạm, có người xúi giục hoặc giúp sức, nhưngtất cả đều chung một múc đích là làm thế nào để mua được, bán được phụ nữ Muabán phụ nữ có tổ chức là trường hợp phạm tội nguy hiểm hơn trường hợp phạm tộikhông có tổ chức, vì chúng có sự phân công vai trò, có sự câu kết chặt chẽ giữanhững người cùng thực hiện tội phạm, nên chúng dễ dàng thực hiện mua bán phụ
nữ và cũng dễ dàng che dấu hành vi phạm tội của mình
Ví dụ: Ngày 11/9/1998 phòng CSHS Công an thành phố Hà Nội khám phá ổchuyên lừa đảo phụ nữ về Hà Nội buôn bán, sau đó chúng đưa đến tỉnh Lạng Sơn
để đưa sang Trung Quốc bán, bắt 5 đối tượng do tên Nguyễn Việt Hùng (1961)cầm đầu Chúng phân công Nguyễn Thị Mai (1968), Bùi Thị Lệ (1956)đều ở quậnHai Bà Trưng- Hà Nội về các vùng xa, nơi có điều kiện kinh tế khó khăn đẻ lừađảo, rủ rê phụ nữ ra Hà Nội làm ăn với thu nhập khá, sau đó chúng đưa nhữngngười phụ nữ này đến Lạng Sơn giao cho Cao Quốc Phú và Nguyễn Minh Tâm(quê ở Lạng Sơn) có nhiệm vụ đưa các cô gái sang Trung Quốc Chúng đã khainhận gây ra 5 vụ lừa phụ nữ với 16 phụ nữ và bán với giá từ 2 – 3 triệu đồng/
Trang 11người TAND thành phố Hà Nội áp dụng điểm b khoản 2 Điều 119 BLHS tuyênphạt Hùng 12 năm tù và các đồng bọn khác từ 6 đến 8 năm tù.
Mua bán phụ nữ có tính chất chuyên nghiệp (điểm c khoản 2 Điều119)
Mua bán phụ nữ có tính chất chuyên nghiệp là người phạm tội lấy việc muabán phụ nữ là nguồn sống cho chính mình BLHS 1985 chưa coi tình tiết này làtình tiết tăng nặng hoặc là tình tiết định khung hình phạt, nhưng quan thực tiễn xét
xử cho thấy có một số tội phạm, trong đó có tội mua bán phụ nữ, người phạm tội
đã lấy việc phạm tội làm nguồn thu nhập chính của bản thân, nên Quốc hội đã sungtình tiết “phạm tội có tính chuyên nghiệp” là tình tiết định khung tăng nặng củamột số tội phạm, trong đó có tôi mua bán phụ nữ Đây là một yêu cầu cần thiết dothực tiễn xét xử đặt ra Khi áp dụng tình tiết này, cần lưu ý rằng khái niệm chuyênnghiệp ở đây được hiểu không đồng nghĩa với khái niệm nghề nghiệp của mộtngười, vì không thể coi phạm tội là một nghề kiếm sống Tính chất chuyên nghiệpcủa một hành vi phạm tội thể hiện ở chỗ tội phạm đó được lặp đi lặp lại nhiều lần
mà người phạm tội coi việc đó là phương tiện kiếm sống
Ví dụ: Đỗ Ngọc Tú (1958) quê ở tỉnh Lâm Đồng, là một kẻ sống lang thangkhông nghề nghiệp, thường tụ tập một số người cùng cảnh ngộ như mình chuyêntìm phụ nữ đưa sang Campuchia bán để lấy tiền Khi bị bắt, Tú đã khai là đã 8 lầncùng đồng bọn đưa 14 cô gái sang Campuchia bán với giá từ 1,5 triệu đồng đến 4triệu đồng/người
Tuy nhiên không phải mọi hành vi phạm tội cứ lặp đi lặp lại nhiều lần đềucoi là có tính chất chuyên nghiệp, mà chỉ những hành vi mà người phạm tội coi đó
là phương tiện kiếm sống chủ yếu mới có tính chất chuyên nghiệp
Trang 12Đây là tình tiết mới được quy định tại khoản 2 Điều 119 BLHS năm 1999,
do đó những hành vi phạm tội trước 0 giờ 00 ngày 1/7/2000 mà sau 0 giờ 00 ngày1/7/2000 mới bị phát hiện thì người phạm tội chỉ bị truy cứu TNHS theo khoản 1Điều 119 BLHS
Mua bán phụ nữ để đưa ra nước ngoài (điểm d khoản 2 Điều 119)Thực tiễn xét xử trong những năm qua cho thấy hầu hết các vụ mua bán phụ
nữ là để đưa ra nước ngoài và trong thời gian gần đây là đưa sang: Trung Quốc,Campuchia, Malaysia Vì vậy, hành vi mua bán phụ nữ để đưa ra nước ngoài đượccoi là hành vi mua bán phụ nữ để đưa ra nước ngoài được coi là tình tiết tăng nặng.Chỉ cần chứng minh người phạm tội có ý định đưa người phụ nữ bị mua bán ranước ngoài là thuộc trường hợp phạm tội này rồi, chứ không cần phải đưa ngườiphạm tội bị mua bán ra được nước ngoài trót lọt mới thuộc trường hợp phạm tộinày
Mua bán nhiều phụ nữ (điểm đ khoản 2 Điều 119)
Đây là trường có từ 2 người phụ nữ trở lên bị người phạm tội mua bán, trong
đó có thể có người bị đưa ra nước ngoài, có người không bị đưa ra nước ngoài,hoặc tất cả bị đưa ra nước ngoài Mua bán nhiều phụ nữ là trường hợp một lầnngười phạm tội mua bán nhiều phụ nữ, nếu người phạm tội mua bán nhiều phụ nữnhưng mỗi lần chỉ mua bán 1 người thì không thuộc trường hợp này
Mua bán nhiều lần (điểm e khoản 2 Điều 119)
Mua bán nhiều lần là trường hợp người phạm tội nhiều lần thực hiện hành vimua bán phụ nữ và mỗi lần hành vi mua bán đã cấu thành tội mua bán phụ nữ.Thực tiễn xét xử cho thấy, có thể mỗi lần mua bán 1 người phụ nữ, nhưng cũng cóthể trong các lần mua bán đó có lần mua bán nhiều người thì người phạm tội phảhi
Trang 13chịu TNHS theo điểm đ và e khoản 2 điều luật này Trường hợp người phạm tội đãmua bán nhiều lần đối với cùng một phụ nữ thì cũng bị coi là mua bán nhiều lần.
Như vậy, người phạm tội mua bán phụ nữ trong các trường hợp mua bánphụ nữ vì mục đích mại dâm; phạm tội có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; đểđưa ra nước ngoài; mua bán nhiều người hoặc mua bán nhiều lần thì bị truy cứuTNHS theo khoản 2 Điều 119 BLHS có khung hình phạt tù từ 5 năm đến 20 năm.Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến
50 triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm đi khỏi nơi cư trú từ 1 năm đến 5 năm theoquy định tại khoản 3 Điều 119 BLHS
2 Tội mua bán trẻ em (Điều 120 BLHS)
“1 Người nào mua bán, đánh trao hoặc chiếm đoạt trẻ em dưới bất kỳ hình thức nào thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm.
1 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
d) Mua bán, đánh trao hoặc chiếm đoạt nhiều trẻ em;
Trang 142 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm hoặc phạt quản chế từ 1 năm đến 5 năm…”
Đối với tội mua bán trẻ em được hiểu là hành vi dùng tiền (hoặc phương tiệnthanh toán khác như vàng, ngoại tệ…) để trao đổi, mua bán trẻ em như một thứhàng hóa nhằm mục đích thu lợi bất chính hoặc xuất phát từ tình cảm…
Cũng giống như tội mua bán phụ nữ, ở tội mua bán trẻ em người phạm tội cóthể là người thực hiện hành vi bán, có thể là người thực hiện hành vi mua hoặc cóthể họ vừa là người mua, vừa là người bán trẻ em với những mục đích khác nhaunhư: Để làm mại dâm, bóc lột sức lao động, để lấy các bộ phận cơ thể…Thực tiễnđấu tranh phòng, chống các loại tội phạm này cho thấy người phạm tội còn thựchiện các hành vi như: Nhận con nuôi trái phép, nhận con nuôi nhằm mục đích lợinhuận hoặc dùng trẻ em để trao đổi, thanh toán và khi thực hiện các hành vi trên,người phạm tội có thể biết hoặc không biết nguồn gốc xuất xứ của đứa trẻ, có thể
do chính bố mẹ các em đem bán, cũng có thể mua bán của người đã đánh tráo,chiếm đoạt Đối với trường hợp cha mẹ mang bán con mình cho người khác đểngười đó nuôi dưỡng, nếu thực chất vì khó khăn về kinh tế hoặc về lý do gì đókhông thể nuôi dưỡng được thì không xử lý hình sự nếu như họ không vì mục đích
vụ lợi, trường hợp có cơ sở xác định rõ cha mẹ bán con mình nhằm thu lợi thì họvận bị truy cứu TNHS theo Điều 120 BLHS
Cũng bị coi là phạm tội mua bán trẻ em đối với hành vi của người trực tiếplàm các thủ tục cho người nhận con nuôi không đúng theo quy định của pháp luật
về thủ tục nhận con nuôi, tìm mọi cách để đưa đứa trẻ đó trở thành con nuôi để thulợi nhuận
Trang 15Đối với người làm trung gian cho việc nhận con nuôi mà biết rõ họ nhận connuôi nhằm mục đích vụ lợi thì cũng bị truy cứu TNHS về tội này.
Cũng bị coi là phạm tội mua bán trẻ em (Điều 120), đối với người khôngphải là cha mẹ, nhưng theo quy định của pháp luật có trách nhiệm chăm sóc, quản
lý, giáo dục đứa trẻ (người giám hộ, người đỡ đầu) mà tự ý đem đứa trẻ mà mình
có trách nhiệm chăm sóc, quản lý, giáo dục cho người khác làm con nuôi nhằm thulợi
Không truy cứu TNHS theo quy ddinnhj Điều 120 BLHS đối với người vìhoàn cảnh túng thiếu không có khả năng nuôi con do mình đẻ ra mà phải cho làmcon nuôi và nhận một số tiền giúp đỡ của người nhận con nuôi
Người bị hại là người dưới 16 tuổi Tuổi của ngwoif bị hại là một tình tiếtthuộc yếu tố khách quan, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của người phạmtội, chỉ cần xác định người bị hại là người dưới 16 tuổi mà người phạm tội muabán, là phạm tội mua bán trẻ em
Nói chung đối với trường hợp trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, ngườiphạm tội thường có hành vi mua bán, nhất là đối với trẻ em gái, đói với trẻ emdưới 13 tuổi người phạm tội thường có hành vi mua bán để giao cho người khác,nhất là người nước ngoài làm con nuôi hoặc mục đích lợi nhuận khác
- Mua bán trẻ em không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều
120 BLHS (khoản 1 Điều 120) Đây là trường hợp phạm tội không có các tình tiếtđịnh khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 120 BLHS và người phạm tội bịtruy cứu TNHS theo khoản 1 Điều 120 BLHS có khung hình phạt tù từ 3 năm đến
10 năm, là tội phạm rất nghiêm trọng
Trang 16- Người thực hiện hành vi mua bán trẻ em bị phạt tù từ 10 năm đến 20năm hoặc tù chung thân (khoản 2 Điều 120) nếu có một trong các tình tiết sau đây:
Điều 120) xem phân tích ở tội mua bán phụ nữ (điểm b khoản 2 Điều 119)
(điểm b khoản 2 Điều 120) xem phân tich ở tội mua bán phụ nữ (điểm c khoản 2Điều 119)
khoản 2 Điều 120)
Mua bán trẻ em vì động cơ đê hèn cũng tương tự như trường hợp phạm tội
vì mục đích đê hèn khác, chỉ khác ở chỗ, sự hèn hạ của người phạm tội lại khôngtrực tiếp xâm hại đến thể xác của người định trả thù mà thong qua hành vi mua báncon em của người muốn trả thù, làm cho tinh thân của người phạm tội muốn trả thù
sự suy sụp
Ví dụ: Chỉ vì chị M không đồng ý kết hôn với T, nên T đã bàn vớii B (là emtrai T) mang con trai của chị M đến bán cho ông C ( là người chú họ) sau đó giả vờtìm kiếm nhằm gây cảm tình của chị M để chị M đồng ý kết hôn với mình
Nhìn chung mua bán trẻ em vì động cơ đê hèn cũng đều được hiểu là việcmua bán trẻ em thể hiện sự phản trắc, bội bạc, có tính ích kỷ cao như để trốn tránhnghĩa vụ nuôi dưỡng vì ghen ghét do tình trạng gì ghẻ con chồng…Đây là tình tiếtđịnh khung tăng nặng mới được quy định nên không áp dụng đối với hành vi phạmtội được thực hiện trước 0 giờ 00 ngày 1/7/2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 1/7/2000phát hiện xử lý
2 Điều 120)
Trang 17Là trường hợp một người hoặc nhiều người một lần hoặc nhiều lần đã muabán từ 2 trẻ em trở lên Do điều luật không quy định tình tiết “phạm tội nhiều lần”nên cần phải hiểu mua bán trẻ em bao gồm cả trường hợp 1 lần và trường hợpnhiều lần, nhưng số lượng trẻ em bị mua bán phải từ 2 trẻ ẻm trở lên.
2 Điều 120)
Mua bán trẻ em để đưa ra nước ngoài là trường hợp trước, trong hoặc saukhi mua bán trẻ em, người phạm tội có ý định đưa đứa trẻ đó ra nước ngoài Nếuđứa trẻ đó chưa bị đưa ra nước ngoài, nhưng nếu có căn cứ xác định người phạmtội có ý định đưa đứa trẻ đó ra nước ngoài, thì vẫn bị truy cứu TNHS theo điểm đkhoản 2 điều luật này Mục đích của việc đưa đứa trẻ ra nước ngoài làm gì, ngườiphạm tội có thể biết, nhưng nếu người phạm tội biết đưa đứa trẻ ra nước ngoài để
sử dụng vào mục đích vô nhân đạo hoặc vào mục đích mại dâm thì người phạm tộicòn bị truy cứu TNHS theo điểm e hoặc điểm g khoản 2 Điều 120
(điểm e khoản 2 Điều 120)
Mua bán trẻ em để sử dụng vào mục đích vô nhân đạo là trường hợp sử dụngđứa trẻ bị mua bán vào mục đích trái nhân đạo như: sử dụng đứa trẻ vào việc phạmtội, ăn xin, lao động cực nhọc để lấy tiền, để nghiên cứu thử nghiệm một loại thuốcnào đó, vẽ tranh khỏa thân, lấy bộ phận trên cơ thể của đứa trẻ…
(điểm g khoản 2 Điều 120)
Như mua bán trẻ em để đưa vào các ổ chứa, nhà hàng, khách sạn trong đó cóhoạt động mại dâm như mua bán các em gái về buộc phải bán dâm hoặc cung cấpcho người nước ngoài mua dâm…Đây là tình tiết định khung tăng nặng mới được
Trang 18quy định, nên không áp dụng đối với người có hành vi phạm tội thực hiện trước 0giờ 00 ngày 1/7/2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 1/7/2000 mới bị phát hiện xử lý.
Điều 120)
Là trường hợp người phạm tội trước đây đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng,tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội mua bántrẻ em hoặc trường hợp đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội muabán trẻ em
(điểm i khoản 2 Điều 120)
Mua bán trẻ em gây hậu quả nghiêm trọng là trường hợp do hành vi phạmtội mà gây ra những hậy quả nghiêm trọng cho con người và xã hội như: làm chođứa trẻ bị ốm đau, bệnh tật, thương tích, suy nhược thần kinh vì hoảng sợ, làmngười thân của đứa trẻ phải bỏ công việc đi tìm kiếm mất nhiều ngày, tốn kém tiềnbạc, làm ảnh hưởng lớn đến chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước như chínhsách cho người nước ngoài nhận trẻ em nước ta làm con nuôi, chính sách chămsóc, bảo vệ trẻ em…khi đánh giá hành vi mua bán trẻ em gây hậu quả nghiêmtrọng cần căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, trong một hoàn cảnh cụ thể, xem xétmột cách khách quan, toàn diện tất cả các tình tiết vụ án và hậu quả do hành vimua bán trẻ em gây ra để các định hậu quả của hành vi do người phạm tội thựchiện đã nghiêm trọng chưa
Như vậy phạm tội mua bán trẻ em thuộc các trường hợp: có tổ chức, có tínhchất chuyên nghiệp; vì động cơ đê hèn; mua bán nhiều trẻ em; để đưa ra nướcngoài; để sử dụng vào mục đích vô nhân đạo; vào mục đích mại dâm; tái phạmnguy hiểm; gây hậu quả nghiêm trọng thì người phạm tội bị truy cứu TNHS theo
Trang 19khoản 2 Điều 120 BLHS có khung hình phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tùchung thân (hình phạt mới được quy định trong BLHS năm 1999) Ngoài ra ngườiphạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng; cấm đảm nhiệmchức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm hoặcphạt quản chế từ 1 năm đến 5 năm.
Ngoài tội mua bán phụ nữ và trẻ em được quy định tại các Điều 119 và Điều
120 BLHS năm 1999 còn quy định một số các tội khác liên quan đến mua bán phụ
nữ và trẻ em, đồng thời nhằm bảo vệ các đồi tượng là phụ nữ và trẻ em như: tộigiao cấu với trẻ em (Điều 115); tội hiếp dâm (Điều 111); tội hiếp dâm trẻ em (Điều112); tội chứa mại dâm (Điều 254); tội môi giới mại dâm (Điều 255); tội mua dâmngười chưa thành niên (Điều 256); tội xuất cảnh, nhập cảnh trái phép (Điều 274)…
2 Tình hình điều tra, truy tố, xét xử tội mua bán phụ nữ, trẻ em giai đoạn 2005-2008
a) Tình hình chung của tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em
Nguồn gốc lịch sử của tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em xuất hiện từ rấtlâu trong lịch sử nhân loại, gắn liền với việc phân chia giai cấp trong xã hội và rađời cùng nhiều hình thái kinh tế chiếm hữu nô lệ, từ đó lan nhanh và phát triểnmạnh dưới nhiều hình thức trong nhiều hình thái kinh tế xã hội sau đó Trong xãhội chiếm hữu nô lệ - xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử loài người ta đã từngbiết đến giai cấp thống trị mang nô lệ ra bán đấu giá ở những nơi gọi là “chợ nôlệ” Một trong những nơi mà cho đến nay vẫn còn nhiều người biết đến trong sựkinh hoàng đó là các chợ nô lệ ở Ai Cập, Ấn Độ và một số chợ khác ở Châu Mỹkhi Critto Côlômbô khám phá ra châu Mỹ và thế kỷ XV Thời gian này tình hìnhmua bán nô lệ rất phổ biến và mang tính công khai hơn bao giờ hết
Tuy nhiên cùng với sự phát triển hoàn thiện của xã hội loài người qua cáchình thái kinh tế xã hội phong kiến, tư bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa…thì nhân
Trang 20loại tiến bộ đã không chấp nhận hiện tượng “buôn người” và coi đó là hành độngxác phạm nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người.Chính vì vậy mà ngày càng có nhiều điều ước quốc tế được thảo luận và thông qua
để lên án, đấu tranh với tệ nạn này: Năm 1904, một hiệp định quốc tế về việc ngănchặn mua bán nô lệ da trắng được thông qua, rồi công ước quốc tế năm 1914 vềviệc nghiêm cấm mua bán phụ nữ và trẻ em…và còn rất nhiều điều ước, hiệp ước,công ước quốc tế của Liên hợp quốc được ban hành, thông qua sau này để đấutranh với tội mua bán phụ nữ và trẻ em
Nhưng hiện nay tình hình mua bán phụ nữ và trẻ em trên thế giới vẫn tồn tại
và diễn biến ngày càng phức tạp, là hiểm họa của nhiều quốc gia trên thế giới (nhất
là các nước nghèo và các nước đang phát triển) là nguy cơ làm tan vỡ hạnh phúccủa nhiều gia đình
b) Thực trạng của tội mua bán phụ nữ và trẻ em ở Việt Nam
Ở Việt Nam, hiện tượng mua bán phụ nữ và trẻ em là một vấn đề phát sinhcùng với mặt trái của nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thịtrường và quá trình đô thị hóa Hiện nay, tội mua bán phụ nữ và trẻ em đang có xuhướng gia tăng Mua bán phụ nữ và trẻ em là tội phạm chà đạp lên nhân phẩm vàquyền lợi của phụ nữ và trẻ em, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống gia đình và xãhội, gắn liền với với lao động cưỡng bức, bóc lột tình dục, mại dâm với mục đíchthu lợi nhuận, giải trí chho một số người trên cơ sở kinh doanh, bóc lột thân xác,sức lao động của những người bị bán Hệ quả đi liền theo đó là sự gia tăng củabệnh HIV/AISD, nạn rửa tiền, tham nhũng, nhập cư bất hợp pháp, quyền phụ nữ vàtrẻ em bị vi phạm Theo số liệu thống kê của cục phòng chống tệ nạn xã hội – Bộlao động thương binh và xã hội, thống kê về tình hình mua bán phụ nữ và trẻ em ởViệt Nam đã cho thấy:
Từ năm 2005 đến năm 2008, ở nước ta xảy ra 1100 vụ buôn bán phụ nữ vàtrẻ em với 2800 nạn nhân, trong đó: Năm 2005, cả nước xảy ra 165 vụ mua bánphụ nữ và trẻ em với 365 đối tượng, lừa bán 382 nạn nhân Năm 2006, cả nước xảy
Trang 21ra 191 vụ với 421 đối tượng, lừa bán 499 nạn nhân; tăng 15,76% về số vụ, tăng10,2% về số đối tượng, tăng 30,62% về số nạn nhân so với năm 2005 Năm 2007
cả nước xảy ra 369 vụ buôn bán phụ nữ và trẻ em với 681 đối tượng, lừa bán 938nạn nhân; tăng 123,64% về số vụ, tăng 86,58% về số đối tượng, tăng 156,99% về
số nạn nhân so với năm 2005 Năm 2008, lực lượng Công an, Biên phòng các cấp
đã điều tra, khám phá 328 vụ, bắt 581 đối tượng buôn bán phụ nữ, trẻ em; Toà ánnhân dân các cấp đã xét xử sơ thẩm 217 vụ, 424 bị cáo, phạt tù chung thân một bịcáo và phạt 38 bị cáo mức án từ 15 đến 20 năm Tuy nhiên, tình hình buôn bán phụ
nữ, trẻ em ra nước ngoài vẫn diễn biến phức tạp tại nhiều tỉnh, thành phố, nhất làtại các tuyến, địa bàn trọng điểm Năm 2008 cả nước xảy ra 375 vụ buôn bán phụ
nữ và trẻ em với 718 đối tượng, lừa bán 981 nạn nhân; tăng 127,27% về sô vụ,tăng 96,71% về số đối tượng, tăng 168,77% về số nạn nhân so với năm 2005
3 Kết luận
Ta có thể dễ dàng nhận thấy tình hình mua bán phụ nữ và trẻ em ở nước tangày càng phức tập, có chiều hướng giá tăng cả về số vụ lẫn số đối tượng và cả sốnạn nhân Loại tội phạm này xảy ra ở nhiều địa phương trên cả nước và mang tínhxuyên quốc gia Một số vùng chủ yếu như: biên giới Việt- Trung, biên giới Việt –Lào, biên giới Việt- Campuchia Đối tượng mà những kẻ “buôn người” thườngnhằm vào là phụ nữ trẻ chưa có gia đình hoặc có hoàn cảnh khó khăn, trình độ vănhóa thấp, thiếu hiểu biết về thông tin, nhất là ở các vùng nông thôn nên dễ bị rủ rê,lôi kéo và lừa gạt hoặc là số trẻ em lang thang
Thủ đoạn của bọn “buôn người” thường rất tinh vi, xảo quyệt như: hứa hẹnđưa đi tìm công ăn việc làm có thu nhập cao rồi bán ra nước ngoài làm gái mạidâm hoặc phục vụ các nhu cầu khác; dụ dỗ đi buôn bán, đi su lịch biên giới hoặcnước ngoài rồi bán; hứa hẹn kết hôn, gả chồng giàu sang hoặc kết hôn trá hình rồiđưa qua biên giới bán cho người khác… Chúng thường lợi dụng hoàn cảnh khókhăn của nạn nhân, hứa giúp đỡ họ thoát khỏi nghèo đói, lấy được chồng tử tế, cócuộc sống gia đình khá giả Có kẻ lại vờ vĩnh yêu đương, hứa hẹn cưới xin hoặc
Trang 22tạo ra các bất lợi khác để ép buộc, đe dọa, mua chuộc nạn nhân và gia đình họ.Thậm chí, bắt cóc trẻ em, bắt cóc các cô gái lang thang cơ nhỡ, lỡ tàu lỡ xe đểbán…
Thứ nhất, phương thức, thủ đoạn của bọn “buôn người” ngày càng tinh vi,
xảo quyệt, kín đáo hơn
Phương thức, thủ đoạn của bọn tội phạm phổ biến nhất vẫn là lợi dụng phụ
nữ và trẻ em ở vùng nông thôn nghèo có trình độ văn hóa thấp, hoàn cảnh kinh tếkhó khăn, các đối tượng hứa hẹn tìm việc làm và có thu nhập ổn định ở thành phốrồi lừa qua biên giới bán… Bọn tội phạm thường lợi dụng kẽ hở thông qua cácdịch vụ tư vấn, môi giới hôn nhân với người nước ngoài, cho nhận con nuôi, dulịch, xuất khẩu lao động để lừa gạt buôn bán phụ nữ và trẻ em Không những thếbon tội phạm “buôn người” còn thiết lập các đường dây buôn bán phụ nữ, gái gọi,
du lịch tình dục xuyên quốc gia qua hệ thồng các trang web đen, qua điện thoại diđộng… Mặt khác, chúng còn chú ý dùng tiền của, vật chất với số lượng lớn đê muachuộc những cán bộ làm việc tại các cửa khẩu (Công an, Bộ đội biên phòng…) để
dễ dàng đưa phụ nữ trẻ em từ trong nước ra nước ngoài, đồng thời cũng nhằm tạo
ra “ô dù”, “bảo kê” để bọn chúng hoạt động lâu dài mà không bị phạt hiện, xử lý
Trang 23Thứ hai, trong nhận thức của một bộ phận cán bộ cấp ủy, chính quyền, đoàn
thể, nhất là ở cơ sở về hậu quả nghiêm trọng của loại tội phạm buôn người gây racho xã hội, cũng như tính chất của cuộc đấu tranh còn chưa đầy đủ Ở nhiều nơi,cấp ủy đảng, chính quyền còn xem nhẹ, thiếu quan tâm chỉ đạo các ngành, đoàn thểthực hiện các hoạt động phòng chống tội phạm Sự phối hợp giữa các ngành, đoànthể, nhất là các ngành chịu trách nhiệm chính trong khuôn khổ Chương trình130/CP (Chương trình Quốc gia phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em) cònthiếu chặt chẽ, chồng chéo; chưa chú trọng công tác phòng ngừa, nhất là các biệnpháp kinh tế - xã hội Hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử nhằm trấn áp tộiphạm buôn người của các cơ quan bảo vệ pháp luật chưa đáp ứng được yêu cầu
Thứ ba,, hệ thống chính sách, pháp luật có liên quan đến nhiệm vụ phòng,
chống buôn người chưa hoàn thiện, nhất là chính sách hình sự, dân sự, chăm sóc vàbảo vệ trẻ em, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, xuất nhập cảnh và xuất khẩu lao động,hồi hương và tái hòa nhập cộng đồng Nước ta chưa có văn bản luật về chống buônngười (Bộ luật Hình sự chỉ có một điều về tội buôn bán phụ nữ và trẻ em, hoặcđiều luật tương tự như tội tổ chức đưa người ra nước ngoài trái phép…)
Thứ tư, hợp tác quốc tế về đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn người
chưa đáp ứng được đòi hỏi của tình hình Trong những năm qua, Việt Nam đãtham gia nhiều công ước quốc tế về lao động, bảo vệ phụ nữ và trẻ em, phòngchống tội phạm xuyên quốc gia, hợp tác đa phương, song phương với nhiều tổchức quốc tế và nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ, thực hiện nhiều chương trình, dự ánhợp tác quốc tế về các lĩnh vực này Những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trongthời gian qua đã được quốc tế ghi nhận Tuy nhiên, trong tình hình tội phạm buônngười qua biên giới đang trở thành vấn đề toàn cầu, đòi hỏi chúng ta phải tích cựchợp tác quốc tế nhiều hơn nữa
Trang 242 Một số bất cập của các cấu thành tội phạm quy định tại các Điều 119 và Điều 120 BLHS
Qua việc tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam về phòng, chống cáctội mua bán phụ nữ và trẻ em, ta nhận thấy một số bất cập và chưa hợp lý như:
Thứ nhất: Ở Việt Nam cho đến nay chưa có một định nghĩa chính thức nào
về hành vi “mua bán phụ nữ và trẻ em” được quy định trong các văn bản pháp luậtcủa Nhà nước, mặc dù thuật ngữ này đã xuất hiện trong một số sách báo pháp lý vàcác văn bản mang tính pháp lý Pháp luật Việt Nam đấu tranh với hoạt động nàybằng cách sử dụng một số thuật ngữ có liên quan để quy định trong các điều luậtnhư “đưa trái phép phụ nữ và trẻ em ra nước ngoài”, “bắt cóc”…Rõ ràng nội hàmđược yêu cầu phòng ngừa và chống lại tệ nạn này Yêu cầu đặt ra là phải có ngaymột khái niệm về “mua bán phụ nữ và trẻ em” hoàn chỉnh, thống nhất Bởi vì nếukhông hiểu rõ và xác định được thế nào là mua bán phụ nữ và trẻ em để quy địnhtrong các văn bản pháp luật thì không có cơ sở pháp lý vững chắc cho các cơ quanchức năng và toàn năng xã hội hướng công tác đấu tranh phòng chống và lên án tộiphạm mua bán phụ nữ và trẻ em đạt hiệu quả
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các khái niệm trên và nghiên cứu các quyđịnh của pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam liên quan đến vấn đề này, tôi đưua
ra những dấu hiệu cấu thành của hành vi “mua bán phụ nữ và trẻ em” như sau:
1 Hành vi mua bán phụ nữ và trẻ em là hành vi đưa trái phép phụ nữ vàtrẻ em đi nơi khác để trao đổi lấy lợi ích vật chất
2 Thủ đoạn thực hiện hành vi mua bán phụ nữ và trẻ em không chỉ bóhẹp ở thủ đoạn cưỡng ép mà còn bao gồm cả các thủ đoạn khác nhưtuyển dụng, dụ dỗ, lừa gạt, giả làm người yêu, giới thiệu việc làm…Đồng thời để mua bán
Trang 253 Hình thức thực hiện hành vi mua bán bao gồm lén lút cả bí mật hợppháp và ngang nhiên công khai bất hợp pháp.
4 Phạm vi địa bàn mua bán không chỉ “qua biên giới” quốc gia mà phảibao gồm cả trong nội địa một quốc gia
5 Nạn nhân bị mua bán là phụ nữ và trẻ em nói chung
6 Chủ thể của hành vi bao gồm cả người Việt Nam và người nướcngoài
Từ những dấu hiện trên tôi xin đưua ra một số khái niệm về “mua bán phụ
nữ và trẻ em” như sau:
“Mua bán phụ nữ và trẻ em” là hành vi cưỡng ép, ép buộc hoặc dùng cáchình thức, thủ đoạn khác để đưa trái phép phụ nữ và trẻ em đi nơi khác (trong nộiđịa hoặc ra nước ngoài) nhằm bóc lột sức lao động, lạm dụng tình dục, phục vụ chohoạt động phạm tội, ăn xin hoặc các hình thức phục vụ khác mang mục tiêu lợinhuận”
Trong định nghĩa này hành vi “cưỡng ép, ép buộc hoặc dùng các hình thức, ,thủ đoạn khác” bao gồm cả việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, mua chuộc, dụ
dỗ, lừa gạt, thỏa thuận, bắt cóc…đối với nạn nhân để đưa hộ đi nơi khác thực hiệnmục tiêu, mục đích của kẻ mua bán
Thứ hai: Qua nghiên cứu tội phạm mua bán phụ nữ (Điều 119) và tội phạm
mua bán trẻ em (Điều 120) được quy định trong BLHS tôi thấy rằng hiện nay tìnhhình mua bán phụ nữ và trẻ em xảy ra tuy không chiếm tỷ lệ lớn nhưng rất nghiêmtrọng, nhất là tình trạng đưa nhiều phụ nữ ra nước ngoài để bán, nhận trẻ em làmcon nuôi trá hình…Có trường hợp đặc biệt nghiêm trọng như sau khi bị bán nhiềunạn nhân rơi vào cuộc sống cơ cực nơi xứ người, bị mua đi bán lại qua nhiều lân,
bị đẩy vào nhà chứa, ăn xin, thực hiện tội phạm, có người do tuyệt vọng không
Trang 26chịu nổi sự khổ nhục đã tự sát Bọn mua bán phụ nữ và trẻ em tổ chức thành đườngdây móc nối với người nước ngoài và đưa rất nhiều phụ nữ và trẻ em ra nước ngoàinhằm thu lợi bất chính, dư luận xã hội đòi hỏi phải nghiêm trị những tên cầm đầu,chỉ huy Nhưng mức hình phạt tối đa của tội mua bán phụ nữ và trẻ em cao nhấtcũng chỉ có 20 năm tù Mặt khác, việc bỏ tình tiết tái phạm nguy hiểm là tình tiếtđịnh khung tăng nặng trong tội này là không thỏa đáng, vì đây là một tội nguyhiểm và dư luận đang quan tâm, người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguyhiểm cần phải bị xử phạt nặng hơn Ngoài ra tôi còn thấy những trường hợp muabán phụ nữ và trẻ em gây hậu quả nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng cũng phảicoi là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt như trường hợp 17 cô gái mại dâm
bị đưa về từ Trung Quốc (ngày 27/6/2000) hiện đang chữa bệnh tại Trung tâmphòng chống tệ nạn tỉnh Cao Bằng Bên cạnh đó, khoảng cách mức hình phạt trongmột khung hình phạt quá dài, việc quy định hai khung hình phạt ở các Điều 119 vàĐiều 120 là bất hợp lý Vì vậy, theo tôi thì tội mua bán phụ nữ và mua bán trẻ emđược quy định tại Điều 119 và Điều 120 BLHS phải được cơ cấu lại cho hợp lý
Trang 27Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ NHẲM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG BUÔN
vi xảo quyệt nhằm mục đích kiếm lợi Hơn nữa các hành vi mua bán phụ nữ và trẻ
em đã trực tiếp xâm phạm đến nhân phẩm, đạo đức thuần phong mỹ tục của dântộc ta, xâm phạm đến những quyền cơ bản của con người, gây rối nền an ninh trật
tự của đất nước Chính vì vậy, từ khi giành lại chính quyền về tay nhân dân, Đảng
và Nhà nước ta cùng với việc lãnh đạo nhân dân thực hiện các nhiệm vụ xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, đã luôn quan tâm đến công tác bảo vệ an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội, quan tâm đến sự nghiệp giải phóng phụ nữ, chăm sóc, bảo vệ trẻ
em Đặc biệt, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống các loại tội hạm xâm phạm đếntính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người nói chung, của phụ nữ, trẻ
em nói riêng Riêng tội mua bán phụ nữ, trẻ em đã được xác định là một trongnhững nội dung quan trọng trong chương trình quốc gia phòng chống tội phạm,được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 31/7/1998
Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước trong đấu tranh, phòng, chốngtội phạm bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội là phải huy động sức mạnhtổng hợp của lực lượng, sử dụng đồng bộ các biện pháp để chủ động phòng ngừa,chủ động tấn công ngăn chặn mọi hàng động phạm tội Mỗi cơ quan Nhà nước,mỗi tổ chức xã hội và mọi công dân theo chức năng nhiệm vụ, nghĩa cụ của mình
Trang 28đều có trách nhiệm tham gia vào công tác phòng chống tội phạm nói chung và tộiphạm mua bán phụ nữ nói riêng Trong cuộc đấu tranh này, lực lượng Công annhân dân xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ được giao phải luôn giữ vai trò lànhững người xung kích, nòng cốt Điều đó được đặt ra xuất phát từ đặc điểm hoạtđộng của bọn tội phạm rất tinh vi xảo quyệt, có nhiều thủ đoạn để đối phó che dấuhành vi phạm tội của chúng, đòi hỏi phải có lực lượng mạnh, chuyên sâu để đốiphó với chúng Hơn nữa, lực lượng Công an nhân dân đã có hệ thống tổ chức vữngchắc, qua quá trình đấu tranh đã nắm vững tình hình tội phạm và có kinh nghiệm,biện pháp đấu tranh hữu hiệu, có thể phòng chống, ngăn chặn và điều tra khám phácác hành vi phạm tội xảy ra Vì vậy, trong chương trình quốc gia phòng chống tộiphạm, Chính phủ đã giao cho Bộ công an thực hiện đề ấn về đấu tranh phòngchống tội phạm hình sự trong đó có tội mua bán phụ nữ và trẻ em.
Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, tội mua bán phụ nữ vàtrẻ em nói riêng là yêu cầu khách quan, là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trìnhxây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Chính vìvậy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta rất quan tâm lãnh đạo, chỉ đạocông tác này Chỉ thị 33/CT-TW cảu Ban bí thư Trung ương Đảng “về chỉ đạophòng chống tệ nạ xã hội” đã khẳng định: “Phòng chống khắc phục có hiệu quảcác tệ nạn xã hội…là nhiệm vụ cấp bách hiện nay mà Đảng và Nhà nước phải kiênquyết lãnh đạo thực hiện…”
Để thực hiện có hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nóichung và tội mua bán phụ nữ và trẻ em nói riêng cần phải quán triệt các quan điểm,
tư tưởng chỉ đạo dưởi đây của Đảng:
- Việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội củađất nước phải gắn liền với việc giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc; ngăn chặn
Trang 29và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, và tội phạm hình sự trong đó có tôi mua bán phụ nữ vàtrẻ em.
- Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và cảu toàn xã hộidưới sự chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng và Nhà nước, nâng cao tráchnhiệm, vai trò chủ động của các ngành, các cấp và tầng lớp nhân dân trong côngtác đấu tranh phòng chống các tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự
- Kết hợp công tác phòng ngừa với đấu tranh trấn áp, xử lý các loại tệnạn xã hội, tội phạm xã hội trong đó lấy phòng ngừa là chính Đặc biệt coi trọngviệc xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, không ngừng tăng cường công táctuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật trong nhân dân, bài trừ ảnh hưởng xấu củavăn hóa phẩm độc hại Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong phòng chống tội phạm
và tệ nạn xã hội, trong đó có tội mua bán phụ nữ và trẻ em
- Xây dựng và thực hiện đồng bộ có hiệu quả các biện pháp phòngchống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội, từng bước ngăn chặn, tiến tới là giảm dầnloại tội phạm trong đó có tội mua bán phụ nữ và trẻ em
Bên cạnh đó để phòng chống tội mua bán phụ nữ và trẻ em, Đảng và Nhànước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật phòng chống tội mua bán phụ nữ vàtrẻ em như:
1 Bộ luật hình sự năm 1999 được xây dựng trên cơ sở BLHS năm 1985,trong đó các điều luật được quy định theo hướng bổ sung một số tình tiết tăng nặngđịnh khung hình phạt đối với những người phạm tội mua bán phụ nữ và trẻ em
2 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, có hiệu lực thihành từ ngày 1/1/2005, thay thế Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm
1991, trong đó quy định các điều khoản về bảo vệ tính mạng, sức khảo, danh dự,nhân phẩm của trẻ em