1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm hình sự đối với người không tố giác tội phạm

63 839 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trách Nhiệm Hình Sự Đối Với Người Không Tố Giác Tội Phạm
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 315 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trách nhiệm hình sự đối với người không tố giác tội phạm

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Bên cạnh những thành tựu đạt được về kinh tế, văn hóa, xã hội…của đấtnước sau 20 năm đổi mới, thì một vấn đề nhức nhối là sự gia tăng của tình hìnhtội phạm, các loại tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp, tinh vi, đòi hỏi sự nỗlực không ngừng và trách nhiệm cao của các cơ quan tiến hành tố tụng và ngườitiến hành tố tụng và sự phối hợp chặt chẽ của quần chúng nhân dân trong việcđấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm Cụ thể hóa quan điểm này, ngay trong

qui định tại Điều 4 Bộ luật hình sự năm 1999 nêu rõ “các cơ quan Công an,

Kiểm sát, Tòa án, Tư pháp, Thanh tra và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm thi hành đầy đủ chức năng nhiệm vụ vủa mình, đồng thời hướng dẫn công dân đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm…Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm” Trong Nghị quyết

08 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời

gian tới cũng đã khẳng định “phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham

gia vào công tác tư pháp…thu hút đông đảo nhân dân tham gia bảo vệ tổ quốc, đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật, có biện pháp bảo vệ và khen thưởng những người tố giác tội phạm…” Như vậy, Pháp luật khẳng định nhiệm vụ bảo

vệ an ninh, trật tự xã hội, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dânkhông chỉ thuộc về cơ quan pháp luật mà còn có vai trò rất lớn của đông đảo cáclực lượng trong xã hội

Đối với một số tội phạm mà sự biểu hiện rõ ràng trên thực tế của hành vi,hậu quả, mối quan hệ nhân quả, các cơ quan có thẩm quyền sẽ thuận lợi hơntrong việc xử lý vụ án Khi chủ thể của tội phạm đã được xác định thì vẫn đề cầntập trung làm rõ là động cơ, mục đích phạm tội, mức độ thiệt hại…Ngược lại,đối với một số tội phạm mà chủ thể của tội phạm còn chưa xác định được (ngườiphạm tội ẩn) thì các bước tiếp theo của vụ án sẽ gặp nhiều khó khăn

Tội không tố giác tội phạm nằm trong chương các tội xâm phạm hoạtđộng tư pháp, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về các tội xâm phạm

Trang 2

hoạt động tư pháp nói chung và một số tội cụ thể của chương này nói riêngnhưng chưa có một công trình khoa học nào về tội không tố giác tội phạm, sựnghiên cứu của các tác giả mới chỉ dừng lại ở một số bài viết trên báo, tạp chí…

Dưới góc độ một khóa luận tốt nghiệp, tôi chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu cácqui định của Bộ luật hình sự 1999 về tội không tố giác tội phạm và thực tiễn xét

xử, đưa ra những dấu hiệu cơ bản để phân biệt tội không tố giác tội phạm vớimột số trường hợp phạm tội khác; giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự củangười không tố giác tội phạm Khóa luận có đề cập tới một vài điểm chưa hoànthiện trong pháp luật hình sự, trong thực tiễn xét xử về tội không tố giác tộiphạm mà không chỉ ra nguyên nhân và giải pháp đấu tranh với tội phạm này.Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,khóa luận sử dụng các phương pháp lịch sử, thống kê, phân tích, tổng hợp, sosánh…để nghiên cứu đề tài

Bố cục của khóa luận ngoài 2 phần mở đầu và kết luận, được chia làm 3chương

Chương 1: Lịch sử lập pháp, khái niệm và các yếu tố cấu thành tội không

Trang 3

CHƯƠNG 1 Lịch sử lập pháp, khái niệm, cấu thành tội phạm tội không tố giác tội phạm 1.1 Lịch sử lập pháp tội không tố giác tội phạm.

Trong các triều đại phong kiến Việt nam qua thư tịch cổ, chúng ta có thểbiết được bộ luật thành văn đầu tiên của nhà nước ta có từ thời Lý thế kỉ thứ XI

và còn ghi rõ “Hình thư” được ban hành vào thời Lý Thái Tông 1402 Nhưngnhững bộ luật này không còn tồn tại và chỉ được nhắc trong sử sách mà thôi.Hiện nay còn lại bộ luật Hồng Đức hay còn gọi là “Quốc triều hình luật” và

Bộ luật Gia Long, trong đó Bộ luật Hồng Đức là Bộ luật tiêu biểu của pháp luậtcác triều đại phong kiến Việt Nam Phân tích các qui định trong Bộ luật, có thểthấy nhà làm luật phong kiến không định nghĩa về khái niệm tội phạm, họ quanniệm tội phạm theo hướng thiên về dấu hiệu hình thức của tội phạm Bộ luật mô

tả cụ thể nội dung năm loại hình phạt: xuy, trượng, đồ, lưu, tử tương ứng vớinăm loại hình phạt là năm loại tội được thừa nhận trong Bộ luật Theo hướng đó,không tố giác tội phạm được qui định rải rác trong năm loại tội đó Do không cókhái niệm cụ thể về một loại tội phạm nên cách sử dụng thuật ngữ trong các điều

luật cũng không đồng nhất Trong Điều 157 Quốc triều hình luật “các quan

giám lâm, quan chủ ty biết thuộc viên phạm tội mà không phát giác, xử biếm hai

tư, đàn cư quan biết mà không phát giác, tội cũng như thế…” Theo qui định

trên, “không phát giác” là hành vi được mô tả trong luật nhưng theo Điều 500

“Những người biết có kẻ mưu phản loạn, mưu đại nghịch, thì phải đến mật báo ngày với các quan ty gần đó, nếu không tố cáo thì xử tội lưu đi châu xa…”[24].

Như vậy, “mật báo” mới là hành động được mô tả trong điều luật Một trường

hợp khác, Điều 71 “Người trốn qua cửa quan ra khỏi biên giới đi sang nước

khác thì bị chém…Người giữ cửa quan không phát giác bị xử tội đồ làm chủng điền binh…”[24], thuật ngữ được sử dụng lại là “không phát giác”

Trang 4

Tuy có nhiều cách gọi khác nhau về hành vi không tố giác tội phạm songquan điểm của nhà làm luật thể hiện rất rõ ràng:

Một là, không phát giác, không tố cáo, không mật báo…về hành vi phạm tộicủa người khác đều bị coi là tội phạm

Hai là, hình phạt áp dụng đối với người không tố giác so với người đã thựchiện tội phạm được giảm nhẹ Tùy theo loại tội mà mức độ giảm nhẹ hình phạt

là ít hay nhiều, có thể được xử nhẹ hơn 2 bậc (Điều 522) “Những kẻ đúc trộm

tiền đồng, thì không kể thủ phạm hay tòng phạm đều xử tội chém, chủ chứa xử cùng tội, láng giềng biết mà không báo, thì xử nhẹ hơn 2 bậc”[24] Hoặc có thể

chỉ được xử nhẹ hơn một bậc như qui định tại Điều 650 “Những tù nhân bị lưu

hay đồ ở nơi lưu hay nơi đồ chưa đến hạn tha mà đã bỏ trốn thì đều phải tội xử tội chém…nếu không phát giác thì xử tội nhẹ hơn kẻ tù trốn ấy một bậc…”[24].

Ba là, miễn hình phạt đối với người không phát giác là người thân Diệnngười thân được qui định khá rộng, không chỉ bao gồm những người ruột thịtcùng huyết thống mà còn mở rộng đến hàng vợ anh em, anh em chồng (Điều39) Tuy nhiên đối với các tội mưu phản thì không được miễn hình phạt, nếukhông phát giác những tội này thì người không phát sẽ phải chịu hình phạt tùytheo loại tội cụ thể

Bốn là, trách nhiệm hình sự đối với người không tố giác không chỉ đặt rađối với dân thường mà Bộ luật Hồng Đức còn qui định người không phát giác là

quan lại, người có quyền hoặc người đang làm công vụ Điều 246 “… Việc

chánh phó ngũ trưởng không phát giác thì tội nhẹ hơn người lính trốn hai bậc…”, Điều 157 “Các quan giám lâm, quan chủ ty biết thuộc viên phạm tội mà không phát giác, xử biếm hai tư…”, Điều 411 “Những kẻ mưu làm phản, mưu làm việc đại nghịch thì bị xử tội chém bêu đầu…Quan sở tại không phát giác thì phải tội tùy theo việc nặng nhẹ…”.

Đến triều Nguyễn đã xây dựng được một bộ luật lớn nhất của chế độ phong

kiến Việt Nam, có thể nói đây là “một bộ luật đầy đủ và hoàn chỉnh nhất của

Trang 5

nền cổ luật Việt Nam”[20;tr.7] Trong Bộ luật không có qui định mô tả hành vi

không tố giác cũng như không đặt vấn đề loại trừ trách nhiệm hình sự về tội nàycho một số đối tượng có quan hệ thân thuộc nhất định đối với người phạm tội

mà họ không tố giác Một điểm khác nữa của Bộ luật Gia Long so với Quốctriều Hình luật trong việc qui định về trách nhiệm hình sự đối với người không

tố giác tội phạm đó là việc thưởng cho người đã tố giác tội phạm

Đối với trường hợp tội mưu phản đại nghịch Điều 223 “…người nào biết đi

tố cáo cho quan bắt tội phạm thì chủ cấp tài sản”, hoặc Điều 325 - tội lén đúc

tiền bằng đồng qui định “phàm ai lén đúc tiền bằng đồng thì bị treo cổ giam

chờ…Ai tố cáo bắt được thì quan thưởng cho 50 lạng bạc”.

Như vậy pháp luật phong kiến Việt Nam tuy chưa mô tả cụ thể hành vikhông tố giác tội phạm trong luật nhưng đã có những sự ghi nhận đầu tiên, cơbản về tội không tố giác như hình phạt, các trường hợp được miễn trách nhiệmhình sự…

Sau cách mạng tháng 8 – 1945, chế độ thuộc địa – phong kiến ở miền Bắc

bị xóa bỏ, chính quyền dân chủ nhân dân đã được xây dựng Ở miền Nam, Pháp

và Mĩ đã dựng nên chính quyền ngụy Sài gòn Đáng chú ý trong thời kì này là

bộ Hình luật canh cải năm 1972 tại Nam phần, qui định khá rõ ràng về tội không

tố giác tội phạm Điều 117 qui định “Sẽ bị phạt khổ sai hữu hạn người Việt Nam

hay ngoại kiều nào đã biết những mưu tính hay những hành vi phản nghịch, gián điệp mà không thông báo cho nhà chức trách quân sự, hành chính hay tư pháp ngay từ lúc biết.

Cũng phạt khổ sai hữu hạn người Việt Nam hay ngoại kiều nào có liên lạc với một người mà hoạt động có thể phương hại tới quốc phòng mà không báo cho nhà chức trách quân sự, hành chính hay tư pháp ngay từ lúc nhận ra hoạt động đó”.

Trang 6

Do đặc điểm của đất nước Việt nam thời kì Pháp thuộc chưa thống nhất,trong xã hội còn tồn tại nhiều phe phái, lực lượng phản cách mạng lăm le giànhchính quyền về tay mình nên pháp luật thời kì này cũng có nhiều đặc thù:

Thứ nhất, nhà làm luật liệt kê những đối tượng là chủ thể của tội không tốgiác các tội xâm hại tới quốc phòng, an ninh bao gồm cả người Việt Nam vàngoại kiều

Thứ hai, nhà làm luật đặc biệt chú trọng tới các tôi phạm như xâm phạm hay

có thể phương hại tới an ninh quốc gia: phản nghịch, gián điệp…Hình phạt ápdụng là khổ sai hữu hạn Ngoài các tội kể trên, trách nhiệm hình sự đối với

người không tố giác có thể là “bị phạt giam từ một tháng đến ba năm, và bị

phạt vạ từ một ngàn đến năm chục ngàn đồng hoặc một trong hai hình phạt ấy”

- Mục 9 Điều 237

Kế thừa và phát triển những qui định của pháp luật hình sự nước ta giaiđoạn trước đó, Bộ luật hình sự năm 1985 đã thể hiện được một cách rõ ràngchính sách hình sự của Đảng và Nhà nước, qui định một cách cụ thể về tộikhông tố giác tội phạm thành một điều luật riêng Điều 19 Bộ luật hình sự 1985

nêu rõ “Đối với một số tội phạm qui định trong Bộ luật, người nào biết rõ tội

phạm đó đang thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác” Bởi vậy, Bộ luật hình sự qui định

những hành vi trên cấu thành tội phạm độc lập tại Điều 247 Bộ luật hình sự Như vậy, so với các Bộ luật trước đó, Bộ luật hình sự 1985 đã tiến bộ hơnhẳn về mặt kĩ thuật lập pháp kể cả về mặt hình thức lẫn nội dung Có thể rút ramột số nhận xét sau:

Đứng đầu về mức độ nguy hiểm trong các tội phạm là tội xâm phạm an ninhquốc gia, không phụ thuộc vào khoản nào, có tình tình tiết tăng nặng hay giảmnhẹ trách nhiệm hình sự không?

Trang 7

Nhà làm luật cũng nghiêm trị các hành vi xâm phạm tài sản xã hội chủnghĩa: Tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 133), Tội trộm cắp tài sản xãhội chủ nghĩa (Điều 132), Tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 129).

Do đặc thù thời kì này sử dụng chế độ tem phiếu, phân phối hàng hóa nêntrong qui định của pháp luật cũng xuất hiện các tội: Tội chiếm đoạt tem phiếu,tội làm hoặc lưu hành tem, phiếu, giấy tờ làm giả dùng vào việc phân phối (Điều172)…

Không phải không tố giác mọi tội phạm đều bị coi là tội phạm, nhà làm luậtchỉ qui định không tố giác một số tội phạm có tính nguy hiểm cao cho xã hội vàmột số khoản có tình tiết tăng nặng của một số điều Tội giết người (Điều 101),Tội cướp tài sản của công dân (Điều 151), Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sảncủa công dân (Điều 152)…luôn luôn cấu thành tội không tố giác nếu người nàobiết rõ hành vi giết người, bắt cóc…đang xảy ra, hoặc đã xảy ra Còn đối vớimột số tội như tội đầu cơ (Điều 165), tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ(Điều 227), người không tố giác chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu tội mà

họ không tố giác thuộc các khoản 2, 3 Điều 227; khoản 2, 3 Điều 165…

Khung hình phạt được qui định bao gồm: Cảnh cáo, cải tạo không giam giữđến một năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm, là tội ít nghiêm trọng

Với những bước tiến trong kĩ thuật lập pháp về tội không tố giác tội phạm,

Bộ luật hình sự 1985 đã góp phần quan trọng vào công tác đấu tranh phòngchống loại tội phạm này trong suốt gần 15 năm Mặc dù vậy, những qui định đó

do quá cụ thể nên thiếu tính khái quát, số lượng điều luật liệt kê còn nhiều, mặtkhác, do tình hình xã hội thay đổi nên một số tội đã được loại bỏ: tội chiếm đoạttem phiếu…không còn phù hợp nên cần thiết phải có Bộ luật hình sự mới thaythế Trên cơ sở đó, Bộ luật hình sự năm 1999 đã ra đời để đáp ứng tình hìnhmới

1.2 Khái niệm tội không tố giác tội phạm theo qui định Bộ luật hình sự 1999.

Trang 8

Trên cơ sở kế thừa và phát triển từ các Bộ luật trước đó, đặc biệt là Bộluật hình sự 1985, Bộ luật hình sự 1999 tiếp tục ghi nhận tội không tố giác tộiphạm trong một điều luật riêng, được xếp vào chương Các tội xâm phạm hoạt

động tư pháp Điều 22 Bộ luật hình sự qui định “Tội không tố giác tội phạm là

hành vi của người biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác”.

Về bố cục, Điều 314 Bộ luật hình sự năm 1999 cơ cấu thành ba khoảnnhưng khác với các tội phạm khác, khoản 1 là cấu thành cơ bản và cũng là cấuthành có khung hình phạt cao nhất Khoản 2 của điều luật là trường hợp loại trừtrách nhiệm hình sự đối với một số người trong một số trường hợp Khoản 3 củađiều luật là cấu thành giảm nhẹ, không có khung hình phạt mà là trường hợpđược miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt

Điểm mới của Điều 314 Bộ luật hình sự 1999 so với Điều 247 Bộ luậthình sự 1985, đó là đối với người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu,anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệmhình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia, hoặc các tộikhác là tội đặc biệt nghiêm trọng Điều 314 cũng không liệt kê các tội phạm màngười phạm tội không tố giác mà sử dụng phương pháp dẫn chiếu đến Điều 313

Bộ luật hình sự 1999

Nhằm làm rõ các đặc điểm của tội không tố giác tội phạm theo Bộ luậthình sự 1999 cũng như làm rõ điểm mới của điều luật, dưới đây tôi đi vàonghiên cứu những dấu hiệu đặc trưng của tội này ở lần lượt từng yếu tố cấuthành

1.2.1 Khách thể của tội không tố giác tội phạm.

Con người khi thực hiện bất kì một hoạt động nào cũng luôn hướng tớimột hay nhiều khách thể nhất định Hành vi phạm tội nhằm tới khách thể là cácquan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ, nhưng khác với những hoạt động bình

thường của con người, chủ thể tội phạm thực hiện hành vi phạm tội “không phải

Trang 9

để cải biến mà gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại”[18] cho những quan hệ

này

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ và bịtội phạm xâm hại Bất kì tội phạm nào được thực hiện, hay đang được chuẩn bịthực hiện cũng đều hướng tới một khách thể - quan hệ xã hội cụ thể, nhất địnhnào đó được Luật hình sự bảo vệ Pháp luật hình sự không trừng trị, lượng hìnhmột tội phạm mới chỉ nảy sinh ở dạng suy nghĩ, ý tưởng…do đó, chỉ có hành viphạm tội nào xâm hại hay đe dọa xâm hại những quan hệ xã hội được qui địnhtrong Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 mới bị trừng trị

Ở các mức độ khái quát khác nhau của các quan hệ xã hội bị tội phạmxâm hại, khoa học luật hình sự phân biệt ba loại khách thể: khách thể chung,khách thể loại, khách thể trực tiếp

Khách thể chung của tội phạm là tổng hợp các quan hệ xã hội được Luật

hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm, được xác định trong Điều 1

và Điều 8 của BLHS, đó là: “độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ

Tổ quốc, chế độ chính trị, an toàn xã hội; quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức; tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tự do, tài sản, các quyền cũng như lợi ích hợp pháp của công dân…” Mọi hành vi phạm tội đều xâm hại hoặc đe

dọa xâm hại tới một trong những quan hệ kể trên, do đó đều xâm hại tới kháchthể chung

Khách thể loại của tội phạm là nhóm quan hệ xã hội cùng tính chất được

nhóm các qui phạm pháp luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm.Khách thể loại chính là dấu hiệu mà từ đó nhà làm luật nhận biết được các loạitội có tính chất và mức độ nguy hiểm gần giống nhau, là cơ sở để hệ thống hóacác qui phạm trong phần các tội phạm thành 15 chương Mỗi tội phạm cụ thểtrong từng chương đều có những đặc điểm chung là: xâm phạm cùng một loại

khách thể: các tội xâm phạm an ninh quốc gia “xâm phạm độc lập, chủ quyền,

thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội, chế độ Nhà nước Cộng hòa

Trang 10

XHCN Việt Nam, xâm hại sự tồn tại, sự vững mạnh của chính quyền nhân dân”[18]; các tội phạm về ma túy xâm phạm khách thể là “chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước”[18].

Khách thể trực tiếp của tội phạm là quan hệ xã hội cụ thể bị loại tội phạm

cụ thể trực tiếp xâm hại Quan hệ xã hội được coi là khách thể trực tiếp là quan

hệ xã hội khi căn cứ vào các mặt: tầm quan trọng của quan hệ xã hội, mức độthiệt hại…thể hiện được đầy đủ, trọn vẹn bản chất nguy hiểm cho xã hội củahành vi

Tội không tố giác tội phạm nằm trong nhóm các tội xâm phạm hoạt động

tư pháp mà khách thể của tội này là xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm hoạt độngđúng đắn của các cơ quan tiến hành tố tụng, gây khó khăn cho công tác điều tra,truy tố, xét xử, từ đó xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các công dânkhác Hoạt động đúng đắn của các cơ quan tư pháp chính là hoạt động điều tra,truy tố, xét xử và thi hành các bản án hình sự cũng như quá trình giải quyết các

vụ án dân sự, hành chính, lao động, kinh tế…Việc xâm phạm hoạt động đúngđắn của các cơ quan tư pháp chính là làm cho quá trình trên bị sai lệch, khôngđúng pháp luật từ đó gây thiệt hại cho lợi ích nhà nước, tổ chức và của công dân.Những hoạt động này đã được qui định trong các vản pháp luật liên quan để đảmbảo những cơ quan tố tụng thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình, đảmbảo quyền và lợi ích cho công dân Muốn vậy, không chỉ các cơ quan trên phải

nỗ lực nghiêm túc thực hiện đúng thẩm quyền của mình mà còn đòi hỏi có sựhợp tác rất lớn từ phía nhân dân trong việc đấu tranh phòng ngừa và chống tộiphạm Nói cách khác, khi có một tôi phạm xuất hiện, cơ quan tiến hành tố tụngvới trách nhiệm của mình phải có những biện pháp, nghiệp vụ điều tra, truy tố,xét xử, tuy vậy trên thực tế không phải việc đấu tranh với tội phạm lúc nào cũng

đi đến kết quả cuối cùng nếu không có sự hợp tác từ phía quần chúng cung cấpthông tin liên quan

Trang 11

Do đó, nếu công dân biết những chi tiết về vụ án mà không không thôngbáo cho cơ quan tiến hành tố tụng thì vô hình chung đã gây khó khăn cho côngtác phát hiện, đấu tranh với tội phạm, thậm chí có thể dẫn đến sự bế tắc trongđường lối giải quyết vụ án Tóm lại, khách thể của tội không tố giác tội phạm làhành vi nguy hiểm cho xã hội gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quyềnlợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân qua việc xâmphạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan tư pháp bằng hình thức không tố giáctội phạm.

Đối tượng tác động của tội không tố giác tội phạm

Theo lý thuyết chung về đối tượng tác động của tội phạm, đối tượng tác độngcủa tội không tố giác tội phạm là một bộ phận của khách thể của tội không tốgiác tội phạm, bị hành vi “không tố giác” tác động đến để gây thiệt hại hoặc đedọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Cụ thể,những quan hệ đó là quan hệ phát sinh trong hoạt động tư pháp của các cơ quan

tư pháp trong quá trình thực thi nhiệm vụ bảo vệ công lý

Về lý luận cũng như thực tiễn, khái niệm cơ quan tư pháp còn nhiều ý kiếnkhác nhau Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, cơ quan tư pháp chỉ bao gồm các Tòa án

Điều thứ 63 Hiến pháp năm 1946 qui định:“Cơ quan tư pháp của nước Việt

nam dân chủ cộng hòa gồm có: Tòa án tối cao, các tòa án phúc thẩm, các tòa

án đệ nhị và sơ cấp” Tuy nhiên, trải qua các lần thay đổi, sửa đổi Hiến pháp, tổ

chức bộ máy nhà nước đã có sự thay đổi cho phù hợp thực tiễn phát triển đấtnước, trong đó cơ quan tư pháp cũng có nhiều sự đổi mới Hiện nay, ngoài Tòa

án còn có các cơ quan khác như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng được gọi

là cơ quan tư pháp; Cơ quan thi hành án hình sự (các trại giam thuộc Bộ côngan), Cơ quan thi hành án dân sư thuộc Bộ tư pháp tuy không gọi là cơ quan tưpháp nhưng hoạt động của các cơ quan này nếu theo qui định tại Điều 292 Bộluật hình sự thì cũng gọi hoạt động tư pháp

Trang 12

Hoạt động tư pháp là hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án thựchiện thông qua hành vi của người tiến hành tố tụng như: thủ trưởng, phó thủtrưởng Cơ quan điều tra; viện trưởng, phó viện trưởng Viện kiểm sát; chánh án,phó chánh án tòa án; điều tra viên; kiểm sát viên; thẩm phán; hội thẩm nhân dân

và thư kí tòa án…

Mức độ nghiêm trọng của hành vi không tố giác tội phạm thể hiện ở việcđồng thời xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan tiến hành tố tụng, ảnhhưởng đến việc phát hiện, chứng minh tội phạm, và xâm phạm đến nhiều quan

hệ xã hội khác được luật hình sự bảo vệ: quan hệ nhân thân, quan hệ sở hữu…

1.2.2 Chủ thể của tội không tố giác tội phạm.

Chủ thể của tội phạm này cũng giống như tất cả các tội phạm khác, phải đáp ứng điều kiện:

có trách nhiệm trong quản lý, bảo vệ, sử dụng bí mật nhà nước…

Tuy nhiên chủ thể này có một số đặc điểm: chỉ những người từ đủ 16 tuổitrở lên mới có thể là chủ thể tội phạm này, vì tội phạm này là tội phạm ít nghiêmtrọng (mức cao nhất của khung hình phạt của tội này là đến 3 năm) Cơ sở pháp

lý là qui định tại Điều 12 Bộ luật hình sự năm 1999“Người từ đủ 16 tuổi trở lên

phỉa chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm”, tội cố ý cũng như tội vô ý; tội

đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng, tội nghiêm trọng cũng như tội ítnghiêm trọng Căn cứ vào thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm và trên cơ

sở tham khảo kinh nghiệm của các nước, Bộ luật hình sự của Nhà nước ta đã xác

Trang 13

định tuổi chịu trâch nhiệm hình sự đầy đủ lă từ đủ 16 tuổi trở lín Khi đạt đến độtuổi phâp luật qui định, câ nhđn đê phât triển vă hoăn thiện về câc mặt tđm sinh

lý, đê có đủ nhận thức cần thiết để nhận biết về câc hănh vi vi phạm, tự mìnhđânh giâ được hănh vi đang được chuẩn bị, đang hoặc đê xảy ra có nguy hiểmcho xê hội không, có vi phạm phâp luật không Do đó, nếu phât hiện ra tội phạm

mă không tố giâc thì họ phải chịu trâch nhiệm về hănh vi của mình

“Người từ đủ 14 tuổi trở lín nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trâch nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiím trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiím trọng”[7] Điều đó có nghĩa, ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi,

câ nhđn không phải chịu trâch nhiệm hình sự về tội ít nghiím trọng, tội nghiímtrọng cũng như tội rất nghiím trọng do vô ý

Theo qui định tại khoản 2 Điều 314 BLHS, chủ thể của tội năy có thể lẵng, bă, cha, mẹ, con, châu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tộinếu tội mă họ không tố giâc lă câc tội xđm phạm an ninh quốc gia hoặc câc tộikhâc lă tội đặc biệt nghiím trọng qui định tại Điều 313 Bộ luật hình sự Đđy lăqui định mới của Bộ luật hình sự 1999 so với Bộ luật hình sự 1985, thể hiện sự

kế thừa truyền thống phâp luật của ông cha ta Trong Quốc triều hình luật (Bộluật Hồng đức 1483) đê qui định việc không trừng phạt (trừ tội mưu phản) đốivới việc giấu tội cho nhau giữa những người thđn thích, ruột thịt Qui định năychính lă sự ghi nhận mối quan hệ tình cảm gia đình sđu nặng vốn lă nĩt đặctrưng của truyền thống  đông

1.2.3 Mặt khâch quan của tội không tố giâc tội phạm.

Tội phạm lă hănh vi của con người, dù được được biểu hiện dưới dạngnăo thì đó cũng lă thể thống nhất giữa những diễn biến tđm lý bín trong củangười thực hiện hănh vi nguy hiểm cho xê hội vă những biểu hiện ra bín ngoăi

mă ta có thể nhận biết trực tiếp bằng câc giâc quan Những biểu hiện của tộiphạm ra bín ngoăi bao gồm: hănh vi nguy hiểm cho xê hội; hậu quả nguy hiểmcho xê hội vă mối quan hệ nhđn quả giữa hănh vi vă hậu quả; câc điều kiện bín

Trang 14

ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội như công cụ, phương tiện, phươngpháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội Như vậy, mặt khách quan của tội

phạm là “mặt bên ngoài tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn

ra hoặc tồn tại bên ngoài của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan”.[18]

Như vậy, việc xâm phạm quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ là nétđặc trưng khi nghiên cứu khách thể tội phạm thì dấu hiệu, biểu hiện cơ bản củamặt khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội Bởi lẽ, không thể nói đến hậuquả của tội phạm cũng như các biểu hiện khách quan khác như: công cụ, phươngtiện, địa điểm, thời gian phạm tội…khi không có hành vi nguy hiểm cho xã hội.Những nội dung biểu hiện của mặt chủ quan là lỗi, mục đích, động cơ cũng luôngắn với hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể Hành vi nguy hiểm cho xã hội xâmphạm hoặc đe dọa xâm phạm đến các quan hệ xã hội cũng là nhằm mục đíchbiến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động và do vậy là nguyênnhân gây thiệt hại cho quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm Tóm lại, mặtkhách quan là yếu tố của cấu thành tội phạm, được phản ánh trong tất cả cấuthành tội phạm, các dấu hiệu thuộc mặt khách quan có ý nghĩa thực tiễn quantrọng Từ những biểu hiện khách quan (hành vi nguy hiểm cho xã hội là biểuhiện quan trọng nhất) chúng ta có thể xác định được tội phạm đã xảy ra, làm rõcác yếu tố khác: chủ thể, khách thể của tội phạm…

Căn cứ vào sự mô tả của nhà làm luật, cấu thành tội phạm của tội không

tố giác tội phạm là cấu thành hình thức Bởi lẽ, nội dung của mặt khách quan,luật chỉ qui định dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội, người đã thực hiệnhành vi được mô tả trong điều luật thì bị coi là phạm tội và tội phạm đã hoànthành Đối với các tội phạm có cấu thành hình thức nói chung và tội không tốgiác tội phạm nói riêng, đặc trưng của mặt khách quan của tội phạm là: chỉ riênghành vi nguy hiểm cho xã hội đã thể hiện được đầy đủ bản chất của loại tộiphạm đó, hoặc hậu quả cụ thể của tội phạm gây ra rất khó xác định rõ ràng Tội

Trang 15

phạm qui định tại Điều 314 Bộ luật hình sự là tội phạm “ẩn”, cơ quan tiến hành

tố tụng phát hiện ra hành vi không tố giác tội phạm là điều khó khăn, việc tínhtoán bằng số liệu cụ thể hay dự liệu được mức độ gây thiệt hại là bao nhiêu lạicàng khó thực hiện hơn

Do tội không tố giác tội phạm có cấu thành hình thức nên hành vi kháchquan là dấu hiệu bắt buộc, thể hiện dưới hai hình thức: hành động và khônghành động phạm tội

Chủ thể của tội này đã không thực hiện nghĩa vụ tố giác hành vi phạm tộicủa người khác mặc dù có đủ khả năng và điều kiện để thực hiện việc tố giác.Chính hành vi không tố giác đã làm biến đổi tình trạng bình thường của đốitượng tác động (biến dạng xử sự của người đã thực hiện hành vi không tố giáctội phạm), qua đó, xâm phạm khách thể là hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của

cơ quan tố tụng Việc phải tố giác hành vi phạm tội là nghĩa vụ pháp lý mà pháp

luật đã qui định tại khoản 1 Điều 25 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 “các tổ chức,

công dân có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác hành vi phạm tội; tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức” Khi một người biết có

hành vi phạm tội mà không tố giác có nghĩa người đó đã không thực hiện đúngnghĩa vụ do luật định, đi ngược lại những đòi hỏi trong chuẩn mực xã hội, dovậy họ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi ấy

So với các tội phạm khác, dạng thể hiện của hành vi không tố giác không

đa dạng, phong phú và diễn biến tinh vi, phức tạp như một số tội: Tội đánh bạc(Điều 248); Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất

ma túy (Điều 196); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139)…Tội không tốgiác tội phạm ngay từ tên gọi đã cho thấy hành vi chỉ có thể được thể hiện dướidạng không hành động phạm tội Người phạm tội đã không tố giác với cơ quan

có thẩm quyền và người có thẩm quyền biết về tội phạm đang được chuẩn bị,đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà mình biết rõ Tuy nhiên, hiện

Trang 16

nay chưa có văn bản hướng dẫn nào qui định hình thức tố giác dưới dạng nào:bắt buộc phải bằng văn bản có chữ kí và địa chỉ rõ ràng hay là chỉ cần báo cáodưới dạng trình báo tại cơ quan có thẩm quyền Do đó, có thể hiểu “không tốgiác” có nghĩa là người phạm tội lựa chọn xử sự im lặng trước hành vi phạm tộicủa người khác Họ không tố giác bằng miệng với Cơ quan điều tra, Viện kiểmsát, Tòa án hoặc với cơ quan, tổ chức khác và cũng không gửi tố giác bằng vănbản đến các cơ quan trên Hiện nay, có rất nhiều “kênh” mà người không tố giác

có thể thực hiện: gửi tố giác vào các thùng thư tố giác đặt ở các nơi công cộng,khu dân cư…hoặc gửi thư đến trụ sở các cơ quan có trách nhiệm hoặc qua điệnthoại Đặc biệt, cùng với sự phát triển của xã hội, Viện kiểm sát nhân dân tốcao và Tổng cục Cảnh sát nhân dân đã mở hai hòm thư tố giác trên trang tin địa

tử để tất cả nhân dân có thể góp ý và giúp cho các cơ quan này tiếp nhận thôngtin tố giác nhanh chóng, kịp thời…Như vậy, người dân ngày càng có thể lựachọn nhiều cách thức để thực hiện việc tố giác phù hợp với khả năng, trình độ,điều kiện của bản thân Mặc dù có nhiều hình thức đa dạng song người phạm tội

đã không lựa chọn một trong số cách thức trên để tố giác hành vi vi phạm phápluật của người khác

Theo Điều 101 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 “Công dân có thể tố

giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với cơ quan, tổ chức khác” Với qui định trên, nội dung tố giác không chỉ được tiếp nhận bởi cơ

quan tư pháp mà còn có thể được tiếp nhận bởi cơ quan, tổ chức khác Công dânkhông bắt buộc phải tố giác với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án mà tạođiều kiện cho họ có thể tố giác đến bất cứ cơ quan, tổ chức nào nếu thấy thuậntiện, đó cũng không nhất thiết phải là cơ quan Nhà nước Đây là qui định theohướng “mở” của pháp luật, tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho người đi tốgiác để họ được tự do lựa chọn nơi mình tin tưởng, thoải mái tâm lý…Qui địnhnày cũng là sự ghi nhận trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong xã hội cùngchung tay phối hợp đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, giữ gìn trật tự antoàn xã hội và chính là sự cụ thể hóa của nguyên tắc phối hợp giữa các cơ quan

Trang 17

tiến hành tố tụng với các cơ quan tổ chức khác Điều 26 Bộ luật tố tụng hình sự.

Hành vi không tố giác là một đặc trưng điển hình, tiêu biểu cho dạngkhông hành động phạm tội được qui định tại BLHS 1999 Không hành độngphạm tội là chủ thể không làm hoặc làm không đầy đủ một việc mà pháp luậtqui định phải làm mặc dù có đủ khả năng và điều kiện để thực hiện việc đó Vìvậy, làm biến đổi trạng thái bình thường của đối tượng tác động, gây thiệt hạicho khách thể của tội phạm Chủ thể không làm một việc mà pháp luật qui địnhphải làm tức là không thực hiện nghĩa vụ pháp lý của chủ thể Không tố giác tộiphạm là hành vi vi phạm nghĩa vụ mà pháp luật qui định bắt buộc mọi công dânphải tuân thủ, tuy nhiên, không phải người nào không tố giác cũng đều phải chịuTNHS Người không tố giác tội phạm chỉ bị coi là tội phạm nếu họ có đủ khảnăng tố giác, không gặp bất cứ một trở ngại khách quan nào: không bị uy hiếp

về tinh thần, không bị đe dọa về tính mạng, tài sản của bản thân người tố giác vàngười thân của họ…

Hoặc nếu vì lý do khách quan mà người không tố giác không có khả năng

tố giác: gia đình đột xuất có người đau ốm cần phải đưa đi cấp cứu, trở ngại dothiên tai gây ra như bão lụt gây khó khăn cho việc đi tố giác thì hành vi không

tố giác đó cũng không bị coi là hành vi phạm tội Hoặc là người nước ngoài đếnViệt nam, hoàn toàn không biết tiếng Việt, chưa thông thuộc địa hình nếu pháthiện tội phạm đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện thì cũng rất khó

có khả năng tố giác tội phạm, mặc dù họ hoàn toàn có đủ năng lực hành vi,không bị ép buộc hay đe dọa về tinh thần Một trường hợp khác nữa, đồng bàodân tộc miền núi không biết tiếng Kinh, không có ai phiên dịch giúp họ thì họcũng không thể tố giác tội phạm…Trong những trường hợp này, họ cũng khôngthể bị coi là tội phạm

Tuy nhiên, điều luật không qui định khoảng thời gian tối thiểu và tối đa để

tố giác tội phạm kể từ khi người phạm tội biết rõ tội phạm đang được thực hiệnhoặc đã được thực hiện Về lý luận, khi biết rõ một tội phạm đang được chuẩn bị

Trang 18

đã phải tố giác ngay cho cơ quan có thẩm quyền hoặc người có thẩm quyền đểngăn chặn tội phạm nhưng trong thực tiễn, do một lý do nào đó, người có nghĩa

vụ tố giác có đầy đủ điều kiện để tố giác đã không kịp thời tố giác tội phạm

Ví dụ: Trong vụ bảo mẫu hành hạ trẻ em tại Đồng nai, các phóng viên của

Đài truyền hình Đồng nai được phân công nhiệm vụ ghi hình lại những cảnhđánh đập của bảo mẫu Quảng Thị Kim Hoa đã chứng kiến các em nhỏ bị hành

hạ dã man một tháng Các phóng viên này hoàn toàn có thể đi tố giác với cơquan có thẩm quyền ngay sau khi đọc lá thư tố cáo và phát hiện ra một số hành

vi đánh đập (qua việc đặt máy quay trộm) Nếu ngăn ngừa sớm thì một số cháu

bé đã không bị bà Hoa giật ngược tóc để đút cơm và liên tục vả vào mặt, dùng tôđánh ngược vào cằm, mặt; một số cháu bé do sợ hãi đã rơi vào trạng thái trầmcảm…dư luận cũng đã lên tiếng cho rằng phải chăng các nhà báo vì muốnphóng sự của mình có những cảnh “nóng” nhất, gây được nhiều chú ý hơn nên

đã thờ ơ trước cảnh bạo hành đã và đang diễn ra trong hàng tháng liền?

Nếu hành vi tố giác quá muộn, nội dung tố giác không có ý nghĩa giúp cơquan tiến hành tố tụng chứng minh tội phạm, hoặc cơ quan tiến hành tố tụng đã

có đủ bằng chứng chứng minh tội phạm thì người có hành vi tố giác quá muộn

đó có thể vẫn bị coi là hành vi phạm tội

Ví dụ: Phạm Phương T biết rõ một số người mua bán gỗ quí để vận

chuyển trái phép ra nước ngoài nhưng T đã không thông báo cho cơ quan cóthẩm quyền Chỉ đến khi Cơ quan điều tra bắt được một trong số những ngườithực hiện hành vi vận chuyển trái phép gỗ quí qua biên giới, còn những ngườikhác chưa bắt được thì T mới tố giác với Cơ quan điều tra Hành vi tố giác quámuộn của T bị coi là hành vi không tố giác tội phạm đang được chuẩn bị

Tội phạm hoàn thành từ khi người phạm tội biết rõ tội phạm đang đượcchuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, khôngphụ thuộc vào hậu quả của việc tố giác đó có đạt kết quả hay không thì ngườithực hiện hành vi vẫn bị truy cứu Tuy nhiên, mức độ trách nhiệm có khác nhau,

Trang 19

nếu do hành vi không tố giác mà việc điều tra, truy tố, xử lý tội phạm khôngthực hiện được hoặc phải kéo dài gây tốn kém tiền bạc hoặc những hậu quảnghiêm trọng khác thì người có hành vi không tố giác phải chịu trách nhiệmnặng hơn.

Tuy nhiên, nếu hành vi không tố giác tội phạm chưa gây ra hậu quả: bỏlọt tội phạm, lọt người, gây cản trở cho quá trình điều tra…thì người không tốgiác có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt

Hành vi không tố giác tội phạm tuy là hành vi gây khó khăn cho cơ quantiến hành tố tụng phát hiện, xử lý tội phạm nhưng không phải hành vi không tốgiác nào cũng là hành vi phạm tội Cụ thể, nhà làm luật đã sử dụng phương phápdẫn chiếu đến các tội phạm được qui định tại Điều 313 Bộ luật này để xác địnhngười không tố giác có phạm tội theo Điều 314 hay không ?

Theo Điều 313 liệt kê các loại tội phạm cụ thể, ta thấy:

Nhận định 1: Không phải nhóm tội nào cũng có thể trở thành đối tượng củatội không tố giác tội phạm Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính, các tộixâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân, các tội phạm về môi trường…đềukhông là đối tượng của tội phạm qui định tại Điều 314 Lí giải cho qui định này,

ta thấy những trường hợp mà nhà làm luật không liệt kê thì trên thực tiễn cũngrất khó xảy ra hoặc nếu xảy ra thì cũng ít ảnh hưởng đến việc phát hiện, xử lý tộiphạm Hơn nữa, có những tội phạm có thể xảy ra trên thực tế, diễn ra công khai:Tội ra quyết định trái pháp luật (Điều 296), Tội quảng cáo gian dối (Điều168)…song không phải công dân nào cũng đủ khả năng hiểu biết, am hiểu sâu chuyênmôn về luật học, dược học, hóa học…để phân tích, tìm hiểu, phát hiện ra sai lầm

ở đâu để tố giác Mặt khác, có những tội phạm: Tội cưỡng dâm (Điều 113), Tộigiao cấu với trẻ em (Điều 115)…nếu công dân phát hiện ra nhưng không tố giácthì mức độ ảnh hưởng đến việc phát hiện, xử lý tội phạm cũng không đáng kểđến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự Điều này cũng phù hợp thực tiễn, đặcđiểm của các tội này Người bị hại do tâm lý e ngại, xấu hổ, sợ hãi…đã không

Trang 20

dám tự mình tố cáo hành vi phạm tội hoặc âm thầm chịu đựng và không muốngia đình, người thân, bạn bè…tố giác với cơ quan có thẩm quyền Bản thânngười bị hại và gia đình người bị hại có mong muốn được giữ kín sự việc đã xảy

ra, không muốn dư luận bàn luận, không dám đấu tranh với kẻ phạm tội đếncùng

Nhận định 2: Trong cùng một nhóm tội: nhóm các tội xâm phạm sở hữu,nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của conngười…chỉ có một số tội nếu không tố giác mới phải chịu TNHS Số lượng các

tội này được liệt kê cũng có sự chênh lệch nhau, Ví dụ các tội xâm phạm an ninh

quốc gia (từ Điều 78 đến Điều 91); Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người

và tội phạm chiến tranh (từ Điều 341 đến Điều 344 ) Trong khi đó, Các tội xâmphạm an toàn công cộng, trật tự công cộng được nhà làm luật dự liệu bao gồmcác Điều 206 khoản 2,3,4; Điều 221; Điều 230, Điều 231, Điều 232 khoản 2, 3,4…đặc biệt, các tội xâm phạm hoạt động tư pháp chỉ “góp mặt” Điều 311 khoản 2.Nhận định 3: Xét đến cấp độ nhỏ nhất, trong phạm vi một tội cụ thể: chỉ cómột số khoản là đối tượng được liệt kê trong Điều 313 Thông thường, đó làkhoản 2, 3, 4 của các tội, thường là tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêmtrọng do có thêm một hoặc nhiều tình tiết là yếu tố định khung hình phạt Khoản

1 thường là tội ít nghiêm trọng Tuy nhiên, một số tội, do tính chất quan trọngđặc biệt của khách thể (hòa bình thế giới, an ninh lương thực của cả quốc gia,tính mạng con người…) nên pháp luật không loại trừ khoản nào Người không

tố giác phải chịu TNSH về mọi trường hợp không phụ thuộc đó là tội ít nghiêmtrọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng…Trở lạitrường hợp cá nhân không tố giác các tội qui định trong Điều 113, Điều 115BLHS…nếu tội phạm mà họ không tố giác chỉ thuộc khoản 1 thì vấn đề tráchnhiệm hình sự không đặt ra cho họ Họ chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếucác trường hợp phạm tội là các khoản 2, 3, 4 Điều 111 (tội hiếp dâm); các khoản

2, 3 Điều 116 (tội dâm ô với trẻ em)…Các tình tiết tăng nặng như: phạm tội

Trang 21

nhiều lần; làm nạn nhân có thai; gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệthương tật từ 61% trở lên; biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội…cho thấychủ thể của tội phạm đã xâm phạm nghiêm trọng thuần phong mĩ tục của dântộc, gây nguy hại nghiêm trọng đến sức khỏe của người khác…do vậy, nhữnghành vi phạm tội trên phải được đấu tranh đến cùng Nếu cá nhân phát hiện, biết

rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang hoặc đã thực hiện mà không tố giác thì họphải bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Tóm lại, chỉ cấu thành tội không tố giác tội phạm nếu người phạm tội không

tố giác các tội được qui định tại Điều 313, còn không tố giác các tội phạm khôngđược dẫn chiếu đến Điều 313 thì hành vi đó không cấu thành tội này, ngườikhông tố giác không phải chịu TNHS

Có ý kiến cho rằng nhà làm luật không cần phải liệt kê cụ thể các tội phạm(theo phương pháp dẫn chiếu đến Điều 313), thay vào đó chỉ cần qui định loạitội nào nếu không tố giác sẽ phải chịu TNHS [21;tr.187] Theo đó, hướng quiđịnh cuả pháp luật sẽ rất khái quát, ví dụ không tố giác tội rất nghiêm trọng, đặcbiệt nghiêm trọng phải chịu TNHS…

Tuy nhiên, xuất phát từ thực tiễn, có những tội phạm rất nghiêm trọng hoặcđặc biệt nghiêm trọng do cố ý nhưng không được tố giác thì cũng không nguy

hiểm đáng kể để buộc người có hành vi không tố giác phải chịu TNHS Ví dụ,

Điều 135 khoản 2 tội cưỡng đoạt tài sản là tội đặc biệt nghiêm trọng, khung hìnhphạt tù đến 20 năm Nếu anh Nguyễn Văn A phát hiện ra hành vi của anhNguyễn Đức V đã nhiều ngày uy hiếp anh Nguyễn Đức B (là em trai), dọa sẽphát tán nhiều bức ảnh về đời tư của anh B trong quá khứ nhằm chiếm đoạt ngôinhà 5 tầng (trị giá 9 tỷ đồng) mà bố mẹ để lại cho anh B thừa kế Mặc dù anh Akhông tố giác nhưng hành vi này tuy nghiêm trọng nhưng cũng chưa đến mứcphải chịu TNHS

Trang 22

Ngược lại, có những tội phạm tuy chỉ là tội nghiêm trọng nhưng nếu không

bị tố giác kịp thời thì rất nguy hiểm Ví dụ Điều 86 khoản 2 tội phá hoại việcthực hiện các chính sách kinh tế xã hội

Điều 313 BLHS đã liệt kê các tội phạm mà người không tố giác sẽ bị coi làhành vi phạm tội, song để xác định được chính xác tội phạm đang được chuẩn

bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện là tội phạm có thuộc trường hợpđược liệt kê tại Điều 313 hay không phải đánh giá các tình tiết cụ thể của từng

vụ án thì mới xác định được tội phạm mà người đó không tố giác thuộc trườnghợp qui định tại khoản nào của điều luật

Ví dụ, chị Nguyễn Thị X là nhân viên của quán cà phê M (Hà nội), do anh

Nguyễn Quốc B làm chủ Chị X đã phát hiện ra anh B có hành vi bán chị ĐinhThị A (là cháu họ của anh B, ở quê lên giúp việc cho nhà anh B) cho một tiệmmát xa ở Bà rịa-Vũng tàu Do lo sợ bị đuổi việc nếu tố giác hành vi của B, chị X

đã im lặng 1 tháng sau, chị A trốn được và đi tố cáo hành vi của B với Công anhuyện Đ Sau khi thu thập chứng cứ, cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố Bvới tội mua bán phụ nữ theo Điều 119 Hành vi không tố giác của chị X rõ ràng

là vi phạm pháp luật nhưng liệu chị X có bị khởi tố theo Điều 314 không ?Trong trường hợp này, cơ quan tố tụng phải xem xét hành vi mua bán phụ nữcủa B thuộc khoản nào của Điều 119, có tình tiết tăng nặng không…Nếu kếtluận hành vi của B không thuộc Điều 119 khoản 2 thì hành vi không tố giác củachị X theo đó cũng cấu thành tội không tố giác tội phạm theo Điều 314 khoản 1.Nếu hành vi của B chỉ thuộc trường hợp Điều 119 khoản 1 và không có tình tiếttăng nặng thì hành vi không tố giác của chị X cũng không cấu thành tội không tốgiác tội phạm

Việc xác định hành vi không tố giác có thuộc điều khoản pháp luật dự liệukhông, không phụ thuộc vào nhận thức của người không tố giác mà trách nhiệmxác định tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng Trách nhiệm hình sự làhậu quả pháp lý mà người thực hiện hành vi phạm tội phải gánh chịu trước nhà

Trang 23

nước chứ không phải đối với người mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâmhại Điều đó có nghĩa: cơ quan tố tụng muốn buộc tội một người nào đó có hành

vi không tố giác tội phạm thì chính cơ quan ấy phải tự tìm được các chứng cứ đểcăn cứ vào đó kết tội hành vi Do đó, khi khởi tố, truy tố, xét xử một người tội

“không tố giác tội phạm”, người tiến hành tố tụng phải xác định trước tội phạm

đã xảy ra nhưng không bị tố giác là tội phạm gì, có thuộc các điều, khoản quiđịnh tại Điều 313 không? Trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự được diễn ratheo một trật tự lô-gíc, tuần tự nên đòi hỏi người tiến hành tố tụng phải có tráchnhiệm cao trong công việc, trong phần công việc mình đảm nhiệm (giai đoạnkhởi tố, hay giai đoạn điều tra…) Thực tiễn, có một số trường hợp Cơ quan điềutra khởi tố người không tố giác tội phạm nhưng trong quyết định khởi tố vụ án,khởi tố bị can về tội mà người phạm tội không tố giác đã không ghi rõ thuộctrường hợp nào, thuộc khoản nào của điều luật

Trở lại ví dụ về tội mua bán phụ nữ (Điều 119 BLHS) nêu trên, nếu cơquan điều tra huyện Đ khởi tố B về hành vi bán phụ nữ, đồng thời khởi tố X vềhành vi không tố giác tội phạm nhưng vì lý do nào đó mà không nêu rõ trongquyết định khởi tố cụ thể khoản nào của Điều 119 BLHS Trong quá trình kiểmsát điều tra, Kiểm sát viên cũng không phát hiện được việc khởi tố NguyễnQuốc B và Nguyễn Thị X chưa đúng với qui định của BLHS nên đã lập cáotrạng truy tố Nguyễn Quốc B về tội mua bán phụ nữ và Nguyễn Thị X về tộikhông tố giác tội phạm Nhưng sau khi xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồngxét xử xác định Nguyễn Quốc B phạm tội “mua bán phụ nữ” thuộc khoản 1Điều 119 nên hành vi không tố giác tội phạm của Nguyễn Thị X không cấuthành tội “không tố giác tội phạm” Phân tích ví dụ trên cho thấy, nếu cơ quanđiều tra trong quá trình khởi tố không cụ thể hóa khoản nào của điều luật thì sẽgây khó khăn rất lớn cho các quá trình tố tụng tiếp theo, gây tốn kém, mất thờigian cho các cơ quan tố tụng cũng như ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của côngdân

Trang 24

Tóm lại, khi cơ quan tiến hành tố tụng xác định sai mà khởi tố, truy tố, xét

xử người không tố giác thì tùy từng giai đoạn tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng

sẽ phải ra quyết định đình chỉ vụ án đối với người không tố giác Hoặc ngượclại, nếu do xác định sai mà không khởi tố, không truy tố hoặc không kết án thìtùy từng giai đoạn tố tụng mà cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tốhoặc phục hồi điều tra hoặc phải xét xử lại Nếu thời hiệu truy cứu trách nhiệmhình sự vẫn còn thì người không tố giác các tội đã được dẫn chiếu đến Điều 313BLHS vẫn bị đưa ra xem xét lại như các tội phạm khác

1.2.4 Mặt chủ quan của tội không tố giác tội phạm.

Mặt chủ quan là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội, bao gồmlỗi, mục đích, động cơ Tùy thuộc và từng tội phạm cụ thể mà mức độ phản ánhcủa các yếu tố có sự khác nhau trong CTTP, tuy nhiên yếu tố lỗi là dấu hiệukhông thể thiếu được của bất cứ CTTP nào

Lỗi của người phạm tội không tố giác tội phạm thực hiện hành vi củamình là do cố ý Trước một tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiệnhoặc đã được thực hiện, người phạm tội chỉ có thể lựa chọn một trong hai xử sựbắt buộc: đi tố giác hoặc không tố giác; kết quả của sự tự lựa chọn ấy theo lô-gíccủa hành vi sẽ là: tuân thủ pháp luật, thực hiện đúng nghĩa vụ của công dân,hoặc là phủ nhận những qui định của pháp luật, gây khó khăn cho cơ quan tiếnhành tố tụng Nói cách khác, người phạm tội này mặc dù nhận thực hành vi củangười khác (người đã thực hiện tội phạm nhưng không bị tố giác) là trái phápluật, có khả năng lựa chọn cho mình một xử sự tích cực, phù hợp với lợi ích của

xã hội nhưng đã không lựa chọn khả năng này Người phạm tội cũng nhận thức

rõ hành vi không tố giác tội phạm sẽ gây khó khăn cho cơ quan tố tụng trongviệc pháp hiện, xử lý tội phạm nhưng cố ý để hậu quả này xảy ra

“Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình

Trang 25

thức cố ý hoặc vô ý”[18] Thái độ tâm lý ở đây bao gồm yếu tố lý trí và ý chí là

2 yếu tố cần thiết, gắn bó với nhau tạo thành lỗi

a) Biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị: là biết rõ hành vi của người phạm tội(người chưa bị tố giác), nhận thức rõ hành vi đó cấu thành tội phạm Chuẩn bịphạm tội là giai đoạn đầu tiên trong quá trình thực hiện tội phạm, không thểthiếu được đối với những tội phạm có lỗi cố ý Những biểu hiện trên thực tế củagiai đoạn chuẩn bị tội phạm là hành vi đang tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phươngtiện hoặc tạo ra những điều kiện khác cho việc thực hiện tội phạm Ở giai đoạnnày, người phạm tôi chưa bắt đầu thực hiện hành vi thuộc mặt khách quan củacấu thành tội phạm nhưng đã bắt đầu có hành vi tạo tiền đề cơ bản giúp cho việcthực thiện tội phạm dễ dàng, thuận lợi và khả năng thành công cao

Hành vi chuẩn bị phạm tội thường được thể hiện dưới các dạng sau:

Chuẩn bị kế hoạch phạm tội: chủ thể tội phạm thường bàn bạc, phân côngtrách nhiệm cho từng người, lên kế hoạch tiêu thụ, tẩu tán tài sản…dạng chuẩn

bị phạm tội này thường xảy ra đối với những tội phạm được thực hiện có đồng

Trang 26

phạm hoặc có tổ chức Tuy vậy, nếu tội phạm chỉ do một cá nhân thực hiện thìviệc chuẩn bị kế hoạch phạm tội cũng có thể xảy ra Chị Nguyễn Thị M có ýđịnh đầu độc ông Đinh Trọng T (là người tình) nhằm hưởng di sản thừa của ôngnày, tự M đã vạch ra kế hoạch đầu độc ông T Chị M đã lên kế hoạch đi muathạch tín ở đâu, phân chia liều lượng cho vào đồ ăn như thế nào.

Thăm dò hoặc tìm địa điểm phạm tội: Dạng chuẩn bị này thường gắn với cáctội xâm phạm sở hữu hoặc xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của côngdân Để thực hiện tội phạm thành công: trộm cắp tài sản, giết đúng người…người phạm tội phải tìm hiểu địa điểm sẽ diễn ra tội phạm có thuận lợi không(đoạn đường vắng người qua lại, xa khu dân cư hoặc thói quen sinh hoạt của giađình mà tội phạm dự định trộm cắp xe máy…)

Chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội: Tùy thuộc vào loại tội định thựchiện (trộm cắp, cướp, giết người ) và tùy thuộc vào khách thể (đối tượng tácđộng) của tội phạm mà công cụ, phương tiện được chuẩn bị Thông thường đó lànhững vũ khí có khả năng sát thương (dao găm, kiếm tự chế, thuốc nổ…), giấy

tờ giả mạo dù là công cụ được chuẩn bị công phu, phức tạp hay đơn giản, có khảnăng sát thương cao hay không có khả năng sát thương (súng giả…) người phạmtội khi sử dụng đều tin là những công cụ ấy có khả năng giúp tội phạm đạt đượcmục đích

Loại trừ trước trở ngại khách quan để thực hiện tội phạm được thuận lợi:trước khi cướp tiệm vàng của nhà anh Nguyễn Quang T, tên Nùng Tuấn M vàHoàng Anh N đã ngắt hệ thống báo động, cắt dây điện thoại để cho đồng bọn dễdàng đột nhập vào nhà mà không bị phát hiện…

Theo luật hình sự Việt nam, chuẩn bị phạm tội là được coi là một giai đoạncủa quá trình thực hiện tội phạm mặc dù hành vi chuẩn bị chưa phải là hành vithực hiện vì việc thực hiện tội phạm có xảy ra hay không và xảy ra như thế nàophụ thuộc nhiều vào hành vi chuẩn bị Hành vi chuẩn bị góp phần không nhỏvào thành công hay thất bại của tội phạm bởi lẽ nếu việc chuẩn bị chu đáo, mọi

Trang 27

khó khăn được dự tính và loại trừ trước thì khả năng thành công của các hành vitiếp sau rất khả quan Và ngược lại, một tội phạm xảy ra bột phát, nhất thời,ngẫu hứng, không có tính toán thì sự thất bại cũng tiềm ẩn Với tầm quan trọng

đó, nhà làm luật qui định người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị màkhông tố giác cũng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự

b) Biết rõ tội phạm đang được thực hiện là biết rõ người phạm tội đã bắt đầuthực hiện hành vi khách quan xâm hại đến khách thể (người, tài sản ) nhưngchưa thực hiện xong vì những nguyên nhân ngoài ý muốn (nạn nhân hoặc người

bị hại đã chống lại được, thuốc độc dùng để đầu độc không đủ liều lượng…).Mặt thực tế của hành vi đã biểu hiện rõ ràng trên thực tế (hành vi đâm chémngười, cắt khóa bảo vệ của xe máy…) nhưng kết quả cuối cùng của tội phạmchưa đạt được (nạn nhân chưa chết, kẻ hiếp dâm mới vật ngã được nạn nhânnhưng chưa thực hiện được việc giao cấu thì đã bị bắt giữ…Cũng giống vớitrường hợp người không tố giác biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, ngườikhông tố giác trong trường hợp này có thể không được tận mắt chứng kiến địađiểm xảy ra tội phạm, không biết rõ người đang thực hiện tội phạm mà chỉ đượcnghe kể lại Khoa học pháp lý gọi trường hợp phạm tội này phạm tội chưa đạt.Người phạm tội cố ý thực hiện tội phạm, lường trước được tính nguy hiểm củahành vi nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi, mong muốn tội phạm đạtđược kết quả đã dự tính, nhưng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn nên khôngthực hiện được đến cùng

Đã bắt đầu thực hiện tội phạm là đã bắt tay vào thực hiện một hoặc một sốdấu hiệu thuộc hành vi khách quan của cấu thành tội phạm cụ thể Ví dụ, kẻ giếtngười thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng của người khác bằng cách đã đâmnhiều nhát vào vai nạn nhân Hành vi đâm là hành vi được mô tả trong CTTP tộigiết người (Điều 93 BLHS)

Trang 28

Căn cứ vào thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi, có 2 trườnghợp phạm tội chưa đạt: phạm tội chưa đạt chưa đạt đã hoàn thành và phạm tộichưa đạt chưa hoàn thành

“Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành là trường hợp người phạm tội vì nguyên nhân khách quan mà chưa thực hiện hết các hành vi cho là cần thiết để gây ra hậu quả của tội phạm”[18] Người phạm tội trước khi thực hiện tội phạm

đã lên kế hoạch thực hiện các thao tác như thế nào, thực hiện bao nhiêu lần, thựchiện hành vi nào trước…nhưng mới chỉ thực hiện được một trong số các hành vi

đã vạch ra trước đó thì đã gặp phải trở ngại khách quan, hành vi phạm tội buộc

phải dừng lại Ví dụ, một người phụ nữ có ý định dùng dao chọc tiết lợn đâm

nhiều nhát vào tình địch để tước đi tính mạng nhưng mới đâm được một nhát thìhàng xóm chạy vào can ngăn khiến cô này không đâm tiếp được nữa, tình địchcũng chỉ bị thương Với 1 nhát đâm như vậy, người phụ nữ kia chưa thể “thỏamãn” với ý định giết người ban đầu, chưa tin vào hậu quả chết người sẽ xảy ra

và trên thực tế, hậu quả tội phạm cũng chưa xảy ra

“Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành là trường hợp phạm tội chưa đạt nhưng người phạm tội đã thực hiện hết các hành vi cho là cần thiết để gây ra hậu quả nhưng do nguyên nhân ngoài ý muốn, hậu quả vẫn không xảy ra”[18] Khác với

trường hợp trên, người phạm tội đã thực hiện hết được những hành vi mà mình

đã dự tính lúc đầu, hành vi của người phạm tội trên thực tế cũng đã thể hiện đầy

đủ các dấu hiệu của mặt khách quan của cấu thành Người phạm tội tin là hậuquả chắc chắn phải xảy ra nhưng vì nguyên nhân khách quan mà hậu quả khôngxảy ra

Người phạm tội đã thực hiện hết những hành vi là dấu hiệu khách quan củacấu thành tội phạm, tức là cấu thành tội phạm qui định bao nhiêu hành vi kháchquan thì người phạm tội đã thực hiện hết Đối với mỗi một tội phạm cụ thể, phápluật phải dự liệu những hành vi nào khi xảy ra có thể đe dọa đến hoạt động bìnhthường của khách thể và những hành vi ấy đã được liệt kê trong từng tội, nhóm

Trang 29

tội, nguời phạm tội trong trường hợp này đã thực hiện được Ví dụ, tội lừa đảochiếm đoạt tài sản có hai hành vi là dấu hiệu khách quan của cấu thành, đó làhành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt, nếu người phạm tội mới có hành vi giandối nhưng chưa thực hiện được hành vi chiếm đoạt đã bị phát hiện nên khôngthực hiện được đến cùng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nữa thì không phải làtrường hợp phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành mà thuộc trường hợp phạm tộichưa đạt đã hoàn thành.

c) Biết rõ tội phạm đã thực hiện là biết rõ tội phạm đã xảy ra, bao gồm tộiphạm đã hoàn thành và tội phạm kết thúc

“Tội phạm đã hoàn thành là trường hợp hành vi phạm tội đã thỏa mãn hết

các dấu hiệu được mô tả trong CTTP”[18] Khi tội phạm hoàn thành thì hành vi

phạm tội đã có đủ các dấu hiệu phản ánh đầy đủ, trọn vẹn bản chất nguy hiểmcho xã hội của loại tội đó Thời điểm hoàn thành của mỗi tội phạm khác nhau,căn cứ vào tính chất, đặc điểm của từng tội phạm Căn cứ vào các dấu hiệu mànhà làm luật mô tả trong từng tội mà có thể nhận biết khi nào tội phạm hoànthành Đối với tội phạm có cấu thành vật chất thì thời điểm hoàn thành là lúc tộiphạm đó gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội: tội giết người, tội lừa đảo chiếmđoạt tài sản…Đối với tội phạm có cấu thành hình thức thì thời điểm hoàn thành

từ lúc người phạm tội bắt đầu thực hiện hành vi khách quan của tội phạm, khôngphụ thuộc vào hậu quả nguy hiểm đã xảy ra hay chưa: Tội bắt cóc nhằm chiếmđoạt tài sản…

Tội phạm kết thúc là tội phạm đã hoàn thành nhưng không còn tiếp tục xảy ranữa Thông thường, đối với các tội phạm có cấu thành vật chất, tội phạm ở thờiđiểm hoàn thành cũng lúc tội phạm kết thúc Tuy nhiên, đối với các tội có cấuthành hình thức, mặc dù tội phạm đã hoàn thành nhưng nếu không có gì ngăncản thì người phạm tội vẫn tiếp tục xảy ra cho đến khi thực hiện được như ýmuốn của mình

Trang 30

Người phạm tội biết rõ việc mình không tố giác hành vi phạm tội cụ thể đangđược chuẩn bị, đang hoặc đã thực hiện là trái pháp luật nhưng liệu người không

tố giác có cần nhận thức được tội phạm đang chuẩn bị là tội phạm ít nghiêmtrọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng? Trách nhiệmhình sự là trách nhiệm của người phạm tội trước nhà nước và người phạm tộikhông có nghĩa vụ chứng minh tội phạm mà mình đã thực hiện, do đó, để kết tộihành vi không tố giác của công dân, cơ quan tố tụng phải có nghĩa vụ chứngminh tội phạm Như vậy, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người cóhành vi không tố giác tội phạm, ngoài những dấu hiệu khác thì cơ quan tiếnhành tố tụng cần phải xác định trước tội phạm mà người không tố giác là loại tộiphạm nào, có được qui định tại điều 313 Bộ luật hình sự không ?

Trong lịch sử lập pháp Việt nam, không tố giác tội phạm là một chế định

đã xuất hiện từ rất sớm và ngày càng được phát triển, củng cố và hoàn thiệntrong các Bộ luật Trải qua quá trình lâu dài, từ Bộ luật Hồng đức, Bộ luật Gialong…cho đến Bộ luật hình sự 1999, tội không tố giác đã hoàn thiện ở mức độcao nhất về kĩ thuật lập pháp

Theo qui định tại Điều 22 Bộ luật hình sự 1999 “Không tố giác tội phạm là

hành vi của người biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã thực hiện mà không tố giác” Điều 314 Bộ luật hình sự qui định chi tiết

nội dung cụ thể của tội không tố giác tội phạm về phương diện hình phạt, cáctrường hợp miễn trách nhiệm hình sự, một số đối tượng là chủ thể loại trừ tráchnhiệm hình sự…

Trang 31

CHƯƠNG 2 Phân biệt tội không tố giác tội phạm với một số trường hợp phạm tội khác

Tội không tố giác tội phạm và tội che giấu tội phạm là hai tội phạm nằmtrong chương các tội xâm phạm hoạt động tư pháp Do đó, khách thể của hai tộiphạm này là xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểmsát, xét xử và thi hành án Hành vi không tố giác và hành vi che giấu tội phạmchỉ cấu thành tội không tố giác tội phạm và tội che giấu tội phạm nếu người đókhông tố giác hoặc che giấu các tội được liệt kê trong khoản 1 Điều 313 BLHS.Người phạm tội không buộc phải biết tội mà mình che giấu hoặc không tố giác

là tội đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, nghiêm trọng, hay ít nghiêmtrọng Nghĩa vụ chứng minh tội phạm là trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan tốtụng Cả 2 tội này chỉ được khởi tố sau khi khởi tố đối tượng đã thực hiện tộiphạm, nếu hành vi của người được che giấu thuộc vào khoản 1 Điều 313 BLHSthì người che giấu mới bị truy cứu TNHS Tội không tố giác tội phạm cũngtương tự

Điều 313 BLHS qui định những trường hợp che giấu tội phạm cụ thể cấuthành tội che giấu tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự Đó là nhữngtrường hợp che giấu một trong các tội đã được liệt kê tại khoản 1 Điều 313.Tương tự như vậy, Điều 314 cũng đã liệt kê các tội cụ thể mà hành vi không tốgiác tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự

Chủ thể của 2 tội không tố giác tội phạm và tội che giấu tội phạm khôngphải là chủ thể đặc biệt, điều đó có nghĩa tất cả những ai từ đủ 16 tuổi trở lên, cóđầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đều có thể là chủ thể của tội phạm này Tuynhiên, khoản 2 Điều 314 BLHS giới hạn một số chủ thể: ông, bà, cha, mẹ, con,cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ có thể trở thànhchủ thể của tội không tố giác tội phạm nếu tội mà họ không tố giác là các tộixâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng

Ngày đăng: 03/04/2013, 13:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ chính trị (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Ban chấp hành Trung ương Đảng, Hà nội Khác
2. Bộ chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020, Ban chấp hành Trung ương Đảng, Hà nội Khác
3. Bộ chính trị (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Ban chấp hành Trung ương Đảng, Hà nội Khác
4. Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội, 1997 Khác
5. Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999, NxB Tư pháp, Hà nội, 2007 Khác
6. Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam năm 2003, Nxb Tư pháp, Hà nội, 2007 Khác
7. Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2004/HSST ngày 8/1/2004 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình Khác
8. Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999, Phần Các tội phạm, tập X, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2006 Khác
9. Đinh Văn Quế, Bình luận án và một số vấn đề thực tiễn áp dụng trong Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2006 Khác
10. Lê Cảm (chủ biên), Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, Nxb Tư pháp, Hà nội, 2005, tr.288 Khác
11. Lê Cảm, Về sáu dạng miễn TNHS khác (ngoài Điều 25) trong Bộ luật hình sự 1999, tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 2, 2001 Khác
12. Lê Cảm (chủ biên), Gíao trình luật hình sự Việt Nam (phần chung), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2003 Khác
13. TS. Lê Thị Sơn (chủ biên), Quốc triều hình luật lịch sử hình thành, nội dung và giá trị, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội, 2004, tr.216-218 Khác
14. Nguyễn Ngọc Hòa, Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007 Khác
15. Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên), Gíao trình luật Hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà nội, 2002 Khác
16. Những vấn đề lý luận của việc đổi mới pháp luật hình sự trong giai đoạn hiện nay, Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật, tr.187 Khác
17. Nguyễn Văn Thành-Vũ Trinh-Trần Hựu, Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long), tập I, tr.7, Nxb Văn hóa-Thông tin, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1995 Khác
18. Phạm Thanh Bình, Về một số nội dung mới của chương các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong Bộ luật hình sự Việt nam năm 1999, Tập san TAND, số 4, 2000 Khác
19. Phạm Văn Tỉnh, Tội phạm ẩn tự nhiên có lý do từ phía bị hại, Nhà nước và pháp luật, số 4, 2000 Khác
20. Tòa án nhân dân tối cao (2005, 2006, 2007), số liệu từ phòng tổng hợp, Hà nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w