Điều đó sẽ hạn chế khả năng cung ứng nguồn nhân lực cho một thị trường với yêu cầu phát triển cao về chất nhằm phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quố
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:
1 TS HOÀNG AN QUỐC
2 TS LƯU THỊ KIM HOA
Phản biện 1: Phản biện 2: Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường họp tại: Vào hồi…… giờ……ngày…….tháng…… năm………
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện khoa học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
- Thư viện Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh
Trang 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 BCHTW : Ban chấp hành Trung ương
2 CHND : Cộng hoà nhân dân
3 CMKT : Chuyên môn kỹ thuật
4 CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
5 CNKT : Công nhân kỹ thuật
6 CSDN : Cơ sở dạy nghề
7 ĐH : Đại học
8 GD-ĐT : Giáo dục đào tạo
9 HNKTQT : Hội nhập kinh tế quốc tế
10 KCX-KCN : Khu chế xuất, khu công nghiệp
11 NCKH : Nghiên cứu khoa học
12 NNLCLC : Nguồn nhân lực chất lượng cao
13 TCCN : Trung cấp chuyên nghiệp
14 THCS : Trung học cơ sở
15 THPT : Trung học phổ thông
16 TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
17 TW : Trung ương
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
Sự phát triển của thế giới đang bước sang trang mới với những thành tựu có tính đột phá, trong đó yếu tố đóng vai trò trung tâm quyết định sự biến đổi về chất của nền kinh tế chính là nguồn nhân lực chất lượng cao Ngày nay, sự cạnh tranh giữa các quốc gia, các doanh nghiệp chủ yếu là cạnh tranh về hàm lượng chất xám, nghĩa là hàm lượng tri thức kết tinh trong sản phẩm hàng hoá dịch vụ nhờ vào nguồn nhân lực có chất lượng Vì vậy, để có được tốc độ phát triển cao và bền vững, các quốc gia trên thế giới đều chú trọng đến việc phát triển nguồn nhân lực,một vấn đề cấp bách có tầm chiến lược, có tính sống còn trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế thế giới
Đại hội Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010-2015 đã phân tích nhiều nhu cầu cấp bách phải tái cấu trúc kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020, xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao chính là một trong sáu chương trình đột phá của thành phố Hồ Chí Minh
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu về nguồn nhân hiện đang đặt ra cho nền kinh tế nước ta nói chung cũng như cho thành phố Hồ Chí Minh những vấn đề nan giải, cấp bách: Số lượng lao động thì dư thừa, nhưng chất lượng nguồn lao động thì lại không đáp ứng, yêu cầu lao động chất xám, lao động có trình độ chuyên môn, tay nghề luôn thiếu hụt Hệ thống giáo dục, đào tạo tuy đã được cải tiến, tiếp cận với hệ thống quốc tế, chất lượng đội ngũ giáo viên đã được nâng lên một bước, tuy nhiên chất lượng giáo dục và đào tạo vẫn còn nhiều bất cập trước yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước Điều đó sẽ hạn chế khả năng cung ứng nguồn nhân lực cho một thị trường với yêu cầu phát triển cao về chất nhằm phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế của thành phố
Từ thực trạng và yêu cầu phát triển nguồn nhân lực nêu trên, tác giả quyết định chọn
đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc ở thành phố Hồ Chí Minh” làm luận án tiến sỹ chuyên ngành kinh tế chính trị
1 Bối cảnh nghiên cứu và lý do chọn đề tài
1.1 Những công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lƣợng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả Nguyễn Bá Ngọc và Trần Văn Hoan (2002) cho rằng quá trình toàn cầu hoá
có tính chất hai mặt, vừa tạo ra cơ hội, vừa đặt ra những thách thức đối với các nước đang phát triển Lao động Việt Nam có trở thành nguồn lực quyết định sự thành công trong tham gia hội nhập quốc tế hay trở thành rào cản trong tiến trình đuổi kịp các nước tiên tiến, đều tuỳ thuộc vào ý chí vươn lên của dân tộc Việt Nam
Tác giả Phạm Thị Thu Hằng (2008) và Hoàng Văn Châu (2009) đều đánh giá tổng quan về môi trường kinh doanh của Việt Nam 2007, phân tích các hoạt động sản xuất kinh
Trang 5doanh của doanh nghiệp trên 4 khía cạnh: lao động, tài chính, công nghệ và tiếp cận thị trường trong 6 ngành (dệt may, xây dựng, du lịch, ngân hàng, bảo hiểm, sản xuất chế biến thực phẩm) bị ảnh hưởng nhiều nhất của việc Việt Nam gia nhập WTO từ các vấn đề lao động và phát triển nguồn nhân lực Các tác giả nhận định thị trường lao động Việt Nam sẽ tiếp tục thiếu hụt và khan hiếm nguồn nhân lực cao cấp quản lý trở lên
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Liên (2011) xác định nguyên nhân chính của vấn đề là mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp chưa thật sự chặt chẽ, và sự đầu tư cho quá trình chuyển đổi của thành phố chưa theo kịp nhu cầu xã hội Từ đó tác giả các giải pháp là tái cấu trúc nhân lực thành phố, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho trường học theo hướng hiện đại, tăng cường liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp đồng thời nâng cao vai trò quản lý của nhà nước về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Tác giả Đàm Nguyễn Thuỳ Dương (2004) cho rằng giáo dục có vai trò quan trọng nhất đối với sự phát triển tiềm năng của con người Năng suất lao động không chỉ phụ thuộc vào sức khoẻ người lao động, vào công nghệ sản xuất mà còn phụ thuộc nhiều vào trình độ hiểu biết của người lao động Kết quả giáo dục là tăng lực lượng lao động
Các tác giả Francis Green, David Ashton, Donna James, Johnny Sung (1999) đề xuất một giải thích mới về vai trò của nhà nước trong việc hình thành kỹ năng, với ba nền kinh tế Đông Á mới công nghiệp hóa Bài viết xem xét các cơ chế chính trị giúp cho việc đảm bảo sự phát triển của giáo dục và hình thành các chính sách đào tạo tuân theo những mệnh lệnh của sự tăng trưởng kinh tế
Trong tác phẩm “Tư duy lại tương lai” do Rowan Gibson biên tập (2002) các nhà nghiên cứu cho rằng: Từng ngóc ngách trong lối tư duy của kỷ nguyên công nghiệp bây giờ đây đang được xem xét lại kỹ lưỡng và được tu chỉnh một cách mạnh mẽ Thông qua quan điểm các nhà nghiên cứu, đã có 6 tổng kết đặc biệt quan trọng để thực hiện những bước tư duy lại tương lai: (1) Tư duy lại các nguyên tắc, (2) Tư duy lại vấn đề cạnh tranh, (3) Tư duy lại sự kiểm soát và tính phức tạp, (4) Tư duy lại vai trò lãnh đạo, (5) Tư duy lại thị trường, (6) Tư duy lại thế giới
Tiếp nối những nghiên cứu này, tác giả John Naisbitt (2009) đã tổng kết 11 lối tư duy của tương lai cho những ai muốn tham gia vào đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao
Dù đề ra quan điểm phải tư duy lại tương lai hay phải có lối tư duy của tương lai nhưng các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau rằng, đó phải là tư duy sáng tạo
Trong công trình: Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai, sau khi nhấn mạnh vai trò trung tâm của giáo dục đối với con người trong xã hội ngày nay, tác giả Edgar Morin (2008) đã luận giải về bảy tri thức cần phải trở thành nền tảng trong nền giáo dục tương lai
để những bộ óc được đào tạo tốt, có khả năng sáng tạo cao, đó là: Sự đuôi mù của nhận thức: Sai lầm và ảo tưởng; Những nguyên tắc để có một nhận thức đúng đắn; Về hoàn cảnh
Trang 6con người; Căn cước địa cầu; Đương đầu với những bất xác định; Sự thông cảm; Đạo lý của nhân loại
1.2 Những nhận định về NNLCLC trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam
Tác giả Đức Vượng (2008) cho rằng nguồn nhân lực ở Việt Nam khá dồi dào, nhưng chưa được sự quan tâm đúng mức, chưa được quy hoạch, chưa được khai thác, đào tạo thì nửa vời, nhiều người chưa được đào tạo; Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa lượng và chất;
Tác giả Nguyễn Thanh Tuyền và cộng sự (2002) khẳng định con đường hội nhập đối với Việt Nam là tất yếu Xây dựng được cho mình những yếu tố ngày càng mạnh của kinh
tế tri thức là cách duy nhất để có được năng lực cạnh tranh, và hợp tác một cách bình đẳng trong sự hội nhập đó
Tác giả Lê Thị Ngân (2002) cho rằng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tiếp cận kinh tế tri thức là nâng cao năng lực thể chất và tinh thần sáng tạo, tìm kiếm, phát hiện thông tin và vật chất hoá thông tin thành sản phẩm và công nghệ mới Do đó, khả năng sáng tạo đổi mới là đặc điểm nổi bậc của chất lượng nguồn nhân lực tiếp cận kinh tế tri thức
Cùng quan điểm khi nghiên cứu NNLCLC tác giả Trần Văn Hùng (2012) cho rằng điều kiện để tạo được lợi thế cạnh tranh trong thời đại ngày nay là đầu tư phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao đi đôi với cấu trúc lại nền kinh tế Cạnh tranh kinh tế hiểu theo nghĩa rộng chính là cạnh tranh về giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ
Nhìn nhận NNLCLC thông qua giáo dục – đào tạo, tác giả Nguyễn Trung (2012) cung cấp cho người đọc thông tin đáng chú ý về chất lượng đào tạo ở nước ta thông qua đánh giá của các chủ doanh nghiệp Việt Nam đối với những lao động được đào tạo qua các
cơ sở đào tạo trong nước: (a) họ phải đào tạo lại hầu hết mọi người ở mọi cấp bậc – học nghề, đại học, sau đại học - mà họ nhận vào doanh nghiệp của mình, (b) họ không tin tưởng vào hệ thống đại học và các viện nghiên cứu của trong nước, vì chất lượng giảng dạy thấp; nội dung thấp và lạc hậu; khả năng nghiên cứu nghèo nàn; sách vở và thiết bị đều
thiếu, không đồng bộ, cũ kỹ, yếu về ngoại ngữ, năng lực tổ chức và quản lý thấp
Tác giả Đàm Nguyễn Thuỳ Dương (2004) chứng minh lao động ở TP.HCM phân bố không đồng đều giữa các khu vực kinh tế Mặc dù kinh tế thành phố phát triển cao, hàng năm giải quyết được một số lượng lớn lao động nhưng tỷ lệ người thất nghiệp của TP.HCM vẫn còn khá cao chiếm 6,53% tổng số người trong độ tuổi lao động (so với Đông Nam Bộ:4,65%; Hà Nội:4,61%; cả nước:2,1%)
1.3 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu
Ý nghĩa lý luận
- Các công trình nghiên cứu trong nước đều khẳng định vai trò to lớn của NNLCLC đối với quá trình CNH, HĐH và HNKTQT của Việt Nam; Khi bàn về NNLCLC trong nền kinh tế, tinh thần cơ bản toát lên từ những công trình kể trên là sự nhấn mạnh tới yêu cầu về
Trang 7việc con người phải thay đổi tư duy để thích ứng và làm chủ những xu hướng phát triển rất mới và đầy bất ngờ trong thời đại ngày nay
Ý nghĩa thực tiễn
Tất cả những nghiên cứu đều khẳng định rằng nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình CNH,HĐH và quá trình HNKTQT ở Việt Nam hiện nay Những tài liệu trên đã phát họa được bức tranh phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam nói chung, với nét chủ yếu là thực trạng và nhu cầu nguồn nhân lực, cũng như hạn chế của hệ thống giáo dục và đào tạo cần được khắc phục một cách hiệu quả để từ
đó đưa ra những giải pháp về nguồn nhân lực cho Việt Nam
1.4 Những vấn đề đặt ra cho luận án
- Các tác giả nước ngoài có những cách phân tích và luận giải tương đối cuốn hút và thuyết phục về tầm quan trọng của tri thức và trí tuệ trong quá trình hình thành nền kinh tế tri thức Tuy nhiên, đó là những nghiên cứu chủ yếu gắn với bối cảnh kinh tế ở các nước phát triển hàng đầu thế giới, không phải là những nghiên cứu gắn với Việt Nam
- Các nghiên cứu trong nước cũng chỉ đề cập đến các lý luận chung về xây dựng, quản lý, phát triển nguồn nhân lực, những yếu tố riêng lẻ tác động đến nguồn nhân lực trong suốt quá trình hình thành và phát triển theo sự phát triển của kinh tế xã hội Chưa có các nghiên cứu chỉ rõ những yếu tố nào ảnh hưởng đến nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu HNKTQT tại TP.HCM Chưa có nghiên cứu phân tích cụ thể những nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình phát triển NNLCLC ở TP.HCM
- Việc nghiên cứu phát triển NNLCLC ở khía cạnh cung và cầu lao động vào một vùng lãnh thổ đặc trưng như TP.HCM cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào
đề cập đến một cách toàn diện, đầy đủ, luận giải một cách sâu sắc Chưa có tác giả nghiên cứu xây dựng thang đo chất lượng NNLCLC dựa trên nhu cầu lao động tại TPHCM
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
- Phân tích thực trạng NNLCLC; Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển NNLCLC ở khía cạnh cung và cầu lao động chất lượng cao ở TP.HCM trong bối cảnh HNKTQT; Lập luận về phương pháp, mục tiêu và đề xuất quan điểm và giải pháp phát triển NNLCLC trong bối cảnh HNKTQT của TP.HCM
3 Đối tƣợng phạm vi và giới hạn nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực sản xuất (lao động kỹ thuật) trên địa bàn TP.HCM
- Nội dung vấn đề nghiên cứu: Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu HNKTQT ở TP.HCM
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án nghiên cứu nguồn nhân lực chất lượng cao với tư cách là một bộ phận cấu thành của lực lượng sản xuất; là đội ngũ lao động trực tiếp sản xuất của nền kinh tếtrên địa bàn TP.HCM trong bối cảnh HNKTQT
Trang 84 Điểm mới và những đóng góp của luận án
4.1 Về phương diện học thuật: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao, các tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ HNKTQT hiện nay ở hai khía cạnh cung và cầu lao động tại TP.HCM; Góp phần xác định và chứng minh các nguyên nhân ảnh hưởng
trực tiếp đến quá trình phát triển NNLCLC trong HNKTQT ở TP.HCM
4.2 Về phương diện thực tiễn: Kết quả nghiên cứu giúp cho các nhà nghiên cứu, các nhà
hoạch định chính sách có cách nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về cách thức tiếp cận đối với
NNLCLC với tư cách là một bộ phận cấu thành của lực lượng sản xuất; Nhận thức đầy đủ,
rõ ràng hơn về thực trạng phát triển NNLCLC trong bối cảnh HNKTQT ở TP.HCM Từ đó
đề xuất các giải pháp làm cơ sở cho việc hoạch định và nâng cao chất lượng phát triển
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƯỢNG CAO TRONG BỐI CẢNH HNKTQT 1.1 Khái niệm và các tiêu chí đánh giá NNLCLC trong bối cảnh HNKTQT
1.1.1 Phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao
Khái niệm về nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất
lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức
- tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội
Phát triển nguồn nhân lực: Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể
lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hoá; truyền thống lịch sử v.v Từ góc độ xã hội, phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng lên về mặt số lượng (quy mô) nguồn nhân lực và nâng cao
về mặt chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý Với góc
độ cá nhân, phát triển nguồn nhân lực là quá trình làm cho con người trưởng thành, có năng
lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội cao
Khái niệm NNLCLC: NNLCLC là một bộ phận nhân lực có sức khoẻ đáp ứng
yêu cầu, được đào tạo dài hạn, có chuyên môn kỹ thuật cao, có phẩm chất đạo đức tiêu
Trang 9biểu, có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi của công nghệ, biết vận dụng sáng tạo những tri thức những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất, đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội một cách hiệu quả nhất
Theo định nghĩa trên, chất lượng NNLCLC được thể hiện qua bốn tiêu chí: Tiêu chí
về thể lực; Tiêu chí về trí lực; Tiêu chí về nhân cách; Tiêu chí về năng động xã hội
Phát triển NNLCLC: là quá trình tạo ra sự biến đổi về số lượng và chất lượng
nguồn nhân lực biểu hiện ở sự hình thành và hoàn thiện từng bước về thể lực, kiến thức kỹ năng, thái độ và nhân cách nghề nghiệp đáp ứng những nhu cầu hoạt động, lao động của cá nhân và sự phát triển xã hội Phát triển NNLCLC cũng gắn với phát triển nguồn nhân lực của xã hội nhưng tập trung khai thác nguồn nhân lực ở khía cạnh lao động chất xám, với trình độ tay nghề cao, có khả năng đáp ứng được yêu cầu cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá
và hội nhập kinh tế quốc tế Quá trình phát triển nguồn nhân lực là quá trình làm biến đổi về
số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực để ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của
nền kinh tế
1.1.2 Hội nhập kinh tế quốc tế và yêu cầu đối với phát triển NNLCLC
Hội nhập kinh tế quốc tế: Là quá trình các quốc gia gắn kết nền kinh tế của nước
mình với kinh tế khu vực và thế giới bằng các nỗ lực thực hiện tự do hoá kinh tế, mở cửa kinh tế trên các cấp độ đơn phương, song phương, đa phương và giảm thiểu sự khác biệt để trở thành một bộ phận hợp thành của chỉnh thể kinh tế toàn cầu
Các đặc trƣng cơ bản của hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ nhất, HNKTQT là sự phát triển cao của phân công lao động quốc tế; Thứ hai,
HNKTQT là sự phối hợp mang tính chất liên quốc gia giữa hai hay nhiều nhà nước độc lập,
có chủ quyền trong một hay nhiều hiệp định kinh tế - thương mại; Thứ ba, hội nhập kinh tế
khu vực và song phương được xem như một giải pháp trung hoà giữa hai xu hướng đối lập
nhau trên thị trường thế giới: xu hướng tự do hoá mậu dịch và bảo hộ mậu dịch; Thứ tư, hội
nhập kinh tế khu vực và song phương luôn là một hành động tự giác, tích cực của các thành viên nhằm phối hợp và điều chỉnh các chương trình phát triển kinh tế với những thỏa thuận
có đi có lại của các nước thành viên
Yêu cầu đối với phát triển nhân lực chất lƣợng cao trong HNKTQT
Trong điều kiện HNKTQT, sự ra đời và phát triển nhanh chóng công nghệ kỹ thuật hiện đại đã nảy sinh cách phân chia mới về các ngành kinh tế Sự phân chia mới về các ngành kinh tế, trong đó có sự xuất hiện ngành công nghệ kỹ thuật cao đã đặt ra nhu cầu rất lớn về tri thức và trí lực, hay nói một cách chính xác hơn là nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao (lao động kỹ thuật, chuyên môn giỏi)
HNKTQT kéo theo sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và sự phát triển vượt bậc về trình độ áp dụng khoa học – công nghệ hiện đại của các ngành truyền
Trang 10thống trong nền kinh tế hội nhập sẽ làm tăng nhu cầu lao động trong khu vực công nghệ kỹ thuật cao Do vậy, cần phải có một đội ngũ lao động có chất lượng cao nhằm đáp ứng kịp thời những yêu cầu của thị trường trong quá trình chuyển dịch này
HNKTQT sẽ thu hút nhiều dòng vốn đầu tư vào các nước đang phát triển như Việt Nam, đòi hỏi của các nhà tuyển dụng, các công ty đa quốc gia cũng rất khắc khe, nhất là đối với những ngành thâm dụng chất xám hay những lao động kỹ thuật cao Để đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế hội nhập, đội ngũ nhân lực của một quốc gia phải cung cấp đầy đủ
về số lượng và đảm bảo về chất lượng cho nhà đầu tư
Do quá trình sáng tạo và ứng dụng tri thức được khuếch đại bởi sức mạnh to lớn của công nghệ thông tin, nên những nội dung tri thức nghề nghiệp của lao động biến đổi không ngừng và với tốc độ rất nhanh Điều đó đòi hỏi người lao động phải thường xuyên cập nhật,
bổ sung tri thức nghề nghiệp để có khả năng thích ứng cao với công việc
Trong nền kinh tế hội nhập, sản phẩm là kết quả hợp tác của nhiều nước, nghĩa là quy mô của lao động tổng thể được sử dụng ngày càng mở rộng và khả năng thích ứng, tính linh hoạt của nguồn nhân lực càng trở thành một yêu cầu cấp thiết
Trong nền kinh tế tri thức, công nghệ đổi mới rất nhanh, vòng đời công nghệ rút ngắn, các nhà sản xuất muốn trụ được và phát triển thì phải luôn đổi mới công nghệ và sản xuất Sáng tạo là linh hồn của sự đổi mới Do vậy cần phải có đội ngũ nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu này
HNKTQT, đặc biệt trong khu vực sẽ là cơ hội cho lao động Việt Nam xuất khẩu sang các nước để kiếm thêm thu nhập và học hỏi những kinh nghiệm tổ chức, quản lý sản xuất của các nước Nhưng lao động Việt Nam phần lớn xuất phát từ nền nông nghiệp còn lạc hậu, nên cần phải có những chính sách phát triển đội ngũ lao động thật sự có chất lượng thì sẽ thu về một lượng ngoại tệ không nhỏ đối với các quốc gia
1.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong
thời kỳ HNKTQT ở khía cạnh cung cầu lao động
Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ HNKTQT ở khía cạnh cung lao động
+ Tác động của giáo dục đào tạo đến phát triển NNLCLC: Giáo dục – đào tạo
quyết định đến trình độ học vấn người lao động Trình độ học vấn nói lên sự hiểu biết và khả năng của một người trong quá trình lao động, là nền tảng để người lao động trau dồi các
kỹ năng lao động khác Thông thường học vấn càng cao thì năng lực lao động phức tạp càng cao Học vấn là điều kiện cần phải có để người lao động cạnh tranh trên thị trường lao động, vì nhờ vào giáo dục, người học sẽ tiếp thu được khoa học kỹ thuật hiện đại, công
nghệ sản xuất tiên tiến, sẽ tạo ra năng suất lao động cao hơn khi đi làm việc trong tương lai
Trang 11+ Tác động của khoa học công nghệ đối với lao động chất lượng cao: Khoa học
công nghệ phát triển sẽ dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động giữa các ngành, nhất là sự chuyển lao động từ nông nghiệp sang các lĩnh vực công nghiệp và dịch
vụ Điều này có tác động không nhỏ đến nguồn nhân lực, đặc biệt đối với NNLCLC là rất quan trọng trong phát triển lực lượng sản xuất sự phát triển của khoa học công nghệ cần phải có một đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật nhất định để ứng dụng và triển khai, áp dụng vào thực tế, thì cũng cần phải có một đội ngũ nhân lực được đưa đi đào
tạo ở các nước phát triển để quay về phát triển khoa học công nghệ của nước nhà
+ Tác động của văn hoá và xã hội đối với lao động chất lượng cao: Truyền thống
văn hoá, phong tục tập quán lối sống là nguồn gốc cơ bản hình thành lên năng lực phẩm chất của người lao động Phong tục tập quán tốt đẹp, lối sống lành mạnh sẽ tạo cho người lao động một năng lực tinh thần khoẻ mạnh thuần khiết Người lao động có nhận thức sâu sắc về lao động, ý thức làm việc cao Tuy nhiên, nó cũng ảnh hưởng tới tác phong làm việc của người lao động
+ Tác động của chính sách nhà nước đối với lao động chất lượng cao: Chính
sách vĩ mô của nhà nước có tác động không nhỏ đến việc phát triển NNLCLC, trong đó đặc biệt là các chính sách kinh tế - xã hội như: chính sách giáo dục-đào tạo, chính sách sử dụng, tuyển dụng lao động, chính sách tiền lương, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm lao động
và các chính sách phát triển kinh tế khác Khi các chính sách vĩ mô của nhà nước phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực và ngược lại nó sẽ kìm hãm sự phát triển của NNLCLC
Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển NNLCLC trong thời kỳ HNKTQT ở khía cạnh cầu lao động
+ Qui mô số lượng NNLCLC: Chính là đội ngũ nhân lực chất lượng cao được đào
tạo hằng năm để cung ứng cho thị trường lao động Và cũng xét đến sự gia tăng tỷ lệ lao động trình độ đại học trên tổng số lực lượng lao động, lực lượng lao động có trình độ trên
đại học trong tổng số lực lượng lao động, các chuyên gia trong tổng số lực lượng lao động
+ Chất lượng NNLCLC được thể hiện qua 4 tiêu chí: Thể lực; Trí lực; Nhân cách
và Năng động xã hội Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, khoa học – công nghệ, tri thức càng được đề cao bao nhiêu thì vai trò của trí tuệ con người cũng được đề cao bấy nhiêu Song tri thức chỉ trở thành sức mạnh bởi con người Tuy nhiên, con người phải nắm được đặc điểm tri thức trong thế kỷ XXI, đó là tốc độ gia tăng nhanh chóng, đổi mới diễn ra liên tục, khả năng lan truyền và phổ biến rộng rãi, trực tiếp gắn với hoạt động sản xuất và đời sống xã hội Nắm được bốn đặc điểm này chỉ bước đầu, vấn đề quyết định là khả năng con người ứng dụng tri thức vào cuộc sống
Trang 12+ Tác động của chính sách sử dụng đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao: Việc sử dụng đãi ngộ người lao động là nguyên nhân của thực trạng trình độ chuyên
môn kỹ thuật nguồn nhân lực bởi vì cơ chế sử dụng và cơ chế đãi ngộ người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật sẽ tác động đến tâm lý người lao động trong định hướng nghề
nghiệp cho con cháu hay chính trong công việc hiện tại của mình
1.2 Một số lý thuyết về vai trò của NNLCLC trong phát triển và hội nhập quốc tế 1.2.1 Lý thuyết về NNLCLC là yếu tố trực tiếp của quá trình sản xuất
Adam Smith cho rằng lao động chứ không phải đất đai, tiền bạc là nguồn gốc cơ bản tạo ra mọi của cải vật chất cho xã hội Theo Ricardo thì vốn và lao động luôn kết hợp với nhau theo tỷ lệ nhất định trong từng ngành Do vậy để tạo ra được khối lượng sản phẩm tăng thêm thì không những cần phải tăng vốn mà còn phải tăng thêm lao động Theo học thuyết Mác xít thì các yếu tố tác động đến quá trình tái sản xuất là đất đai, lao động, vốn và tiến bộ khoa học Mác đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của lao động trong việc tạo ra giá trị thặng dư Đây là nguồn gốc của tích luỹ đầu tư mở rộng sản xuất Ăngghen chỉ rõ: Trong một chế độ hợp lý vượt lên trên sự chia rẽ về lợi ích, thì đương nhiên yếu tố tinh thần sẽ được liệt kê là một trong số các yếu tố của sản xuất và sẽ tìm được vị trí của nó trong các hạng mục chi phí sản xuất của kinh tế chính trị học Đến lúc ấy đương nhiên chúng ta sẽ vui mừng thấy rằng một thành quả khoa học như máy hơi nước của James Watt, trong 50 năm đầu tồn tại của nó đã đem lại cho thế giới lợi ích nhiều hơn so với những giá phải trả cho công cuộc phát triển khoa học kể từ lúc bắt đầu Như vậy ngay từ đầu thế kỷ XX, Ăngghen
đã dự đoán được tầm quan trọng của tri thức sẽ được liệt kê vào danh sách các yếu tố sản xuất và ngày càng giữ vị trí quan trọng trong quá trình sản xuất
Nói đến chất lượng nguồn lực là nói đến hàm lượng trí tuệ, trong đó bao gồm trình
độ tay nghề, phẩm chất tốt đẹp của người lao động, thể lực cường tráng, tâm hồn trong sáng, biết cảm nhận cái đẹp, có văn hoá lao động công nghiệp Trong các yếu tố đó, yếu tố trí tuệ là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực Lúc sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng cho rằng một dân tộc dốt là một dân tộc yếu
1.2.2 Lý thuyết về vốn nhân lực và tăng trưởng kinh tế
Trong một số mô hình tăng trưởng kinh tế phổ biến, thường sử dụng hàm số tổng sản lượng dạng Cobb Douglas Y = AKaLb trong đó K là vốn, L là lao động, A = TFP là yếu tố thể hiện năng suất, hiệu quả của việc sử dụng K và L, do vậy nếu dùng quá nhiều vốn (K)
có nghĩa là nền kinh tế dựa phần lớn vào yếu tố vốn vật chất để tăng trưởng, hàm ý là năng suất biên của vốn thấp, và do vậy sự tăng trưởng không thể bền vững, còn yếu tố L có thể chỉ là lao động giản đơn như trong các mô hình cổ điển, đến lao động có kỹ thuật, có tri thức, hàm chứa công nghệ như trong các mô hình tân cổ điển, mô hình tăng trưởng nội sinh
Mô hình của Mankiw và cộng sự (1992) Y = KaHb(AL)1-a-b (với H là vốn con người), có
Trang 13hàm chứa nhân tố vốn con người (human capital), yếu tố A = TFP là do các cải tiến của nguồn vốn con người tác động trên công việc, quản lý, thể hiện yếu tố hiệu suất để duy trì tăng trưởng kinh tế dài hạn
Theo Solow (1956), con người không thể giải thích tăng trưởng kinh tế mà chỉ dựa trên sự gia tăng vốn vật chất và lao động Yếu tố “số dư” hàm chứa vô vàn nhân tố không xác định, một trong số đó (và có thể là nhân tố quan trọng nhất) là sự nâng cao chất lượng của các yếu tố đầu vào Ngay từ cách đây hơn 50 năm, Schultz (1961) đã dự báo “đầu tư vào vốn con người có lẽ là lời giải thích cơ bản cho sự chênh lệch” giữa tăng trưởng ñầu ra
và tăng trưởng các đầu vào vốn vật chất và lao động
1.2.3 Lý thuyết về ích lợi của việc đầu tƣ vào vốn nhân lực
Adam Smith chú ý tới tầm quan trọng của giáo dục theo hai phương diện: “Giáo dục
có thể là một cách thức tốt nhằm chống lại sự khốn cùng do phân công lao động liên tục gây ra”, và Giáo dục có thể đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự hài hòa xã hội; Alfred Marshall lại coi giáo dục là một loại đầu tư quốc gia và ủng hộ giáo dục nhằm cải tiến kỹ thuật Ông chỉ ra rằng mặc dù giáo dục cơ bản ít mang lại lợi ích trực tiếp đối với tiến bộ kỹ thuật, nhưng nó khiến con người trở nên thông minh hơn, đáng tin cậy hơn trong những công việc thông thường; Karl Marx chia sẻ những quan điểm truyền thống này khi ông viết giáo dục có vai trò chủ chốt trong việc thúc đẩy hòa bình và hài hòa xã hội, cải thiện bản thân và trong quá trình tạo ra của cải; Tuy nhiên, chính Schultz (1961) mới là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên coi giáo dục như một khoản đầu tư vào con người và nó cũng có tác động như một loại vốn – “vốn con người” Ông rất chú trọng đến những vấn đề chính sách liên quan đến đầu tư vào vốn con người và cho rằng việc loại bỏ những rào cản đối với đầu tư vào vốn con người sẽ mang lại nhiều lợi ích cho xã hội; Fitzimons (1999) cho rằng các cá nhân tự đầu tư nhằm tích luỹ những kỹ năng và kiến thức (một phần của vốn nhân lực), những cái có thể mang lại lợi ích lâu dài sau đó cho bản thân họ Sự đầu tư này cũng mang lại lợi ích kinh tế quốc dân và thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế; Becker (1964) tìm ra nhiều cách thức khác nhau để đầu tư cho vốn nhân lực, nhưng chủ yếu vẫn thông qua giáo dục đào tạo Đầu tư vào vốn nhân lực lại có thể tạo ra sự thịnh vượng cho
một quốc gia vì: Một là, giáo dục mang lại cho mỗi cá nhân ở một trình độ nhất định việc làm và thu nhập (lợi ích cá nhân) Hai là, vốn nhân lực thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế Ba
là, vốn nhân lực góp phần tạo nên sự bền vững xã hội
1.2.4 Lý thuyết về vai trò của nguồn nhân lực chất lƣợng cao trong hội nhập quốc tế
Adam Smith (2003) cho rằng phân công lao động có thể nâng cao năng suất lao động vì: Kĩ xảo của công nhân do chuyên môn hóa mà ngày càng tiến bộ Ông nhận thức rõ về cơ
sở phân công lao động trong kinh tế thị trường, khi phân công lao động phát triển giữa các nước, sẽ cho phép mỗi nước phát huy được lợi thế tuyệt đối Lợi thế tuyệt đối trong việc sản
Trang 14xuất một loại sản phẩm có thể do các lợi thế tự nhiên hoặc các lợi thế có được do kỹ thuật
và sự lành nghề; David Ricardo (1978) đã đưa ra lý thuyết lợi thế so sánh khi cho rằng ngoại thương có lợi cho mọi quốc gia miễn là xác định đúng lợi thế so sánh, tức là tạo ra phân công lao động giữa các nước Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối hơn so với các nước khác, vẫn có thể và có lợi khi tham gia vào phân công lao động và quốc tế, vì mỗi nước đều có những lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng và một số kém lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng khác; Theo lý thuyết H – O (Eli Hecksher và B.Ohlin) một số nước này có lợi thế so sánh hơn trong việc sản xuất và xuất khẩu một số sản phẩm hàng hoá của mình là do việc sản xuất những sản phẩm đó đã sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà một trong số nước đó đã được ưu đãi về các lợi thế tự nhiên của các yếu tố sản xuất này (bao gồm vốn, lao động, tài nguyên, đất đai, khí hậu ) đã khiến một số nước đó có chi phí cơ hội thấp hơn (so với việc sản xuất các sản phẩm hàng hoá khác) khi sản xuất những sản phẩm hàng hoá đó Như vậy, cơ sở lý luận khoa học của lý thuyết H-O vẫn chính là dựa vào lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo, nhưng ở trình độ phát triển cao hơn là đã xác định được nguồn gốc của lợi thế so sánh chính là sự ưu đãi về các yếu tố sản xuất mà kinh tế học phát triển đương đại vẫn gọi
là nguồn lực sản xuất
1.3 Những bài học rút ra từ việc nghiên cứu kinh nghiệm của các nước Hàn Quốc,
Trung Quốc và Malaysia
1.3.1 Bài học kinh nghiệm về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
Thứ nhất, coi giáo dục đào tạo đóng vai trò quyết định trong quá trình phát triển
NNLCLC; Thứ hai, gắn chiến lược đào tạo và phát triển nhân lực với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; Thứ ba, thực hiện mô hình giáo dục đại học đại chúng để gia tăng nguồn nhân lực chất lượng cao; Thứ tư, quan tâm đến đào tạo nghề cho lao động
1.3.2 Bài học kinh nghiệm về sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao
Thứ nhất, coi nhân lực là yếu tố quyết định cơ bản cho sự phát triển kinh tế - xã hội; Thứ hai, triệt để thu hút nhân lực chất lượng cao từ mọi nguồn; Thứ ba, thúc đẩy khả năng
sáng tạo của NNLCLC bằng việc trả giá cao, tương xứng với tri thức, chất xám và tạo điều kiện cho nhân lực trẻ phát huy tài năng