1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng các tiêu chí để thực hiện SXSH trong dây chuyền sản xuất gỗ và đồ mộc xuất khẩu tại Công ty TNHH gỗ Lee Fu Việt Nam Tỉnh Đồng Nai

100 547 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nội dung nghiên cứu về sản xuất sạch hơn. Các cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng các tiêu chí để sản xuất sạch hơn trong Công ty chế biến gỗ. Các tiêu chí và giải pháp để thực hiện sản xuất sạch hơn trong Công ty chế biến gỗ. Đề xuất các tiêu chí có liên quan đến SXSH trong sản xuất chế biến gỗ. Áp dụng một số tiêu chí để đề xuất phương án thực hiện SXSH trong sản xuất chế biến gỗ.

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, hoạt động sản xuất ngày càng được nâng cao và các doanh nghiệp ngày càng mở rộng quy mô tăng sản lượng, đạt được hiệu quả kinh tế cao và thu nhiều lợi nhuận nhất Nhưng trong quá trình chạy theo lợi nhuận đó các doanh nghiệp lại thường bỏ quên một vấn đề quan trọng đó là ô nhiễm môi trường và sự tiêu hao, thất thoát một lượng nguyên, nhiên liệu trong quá trình sản xuất

Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực để hội nhập, phát triển và đang trở thành điểm nóng của các nhà đầu tư từ các nước trên thế giới Hiện tại cơ cấu kinh tế ngành dầu thô, thủy sản, dệt may, xuất khẩu gạo…., là những ngành chủ lực đóng góp phần vào kim ngạch xuất khẩu của đất nước, trong đó ngành Gỗ nổi lên như một điểm sáng với mức tăng trưởng nhanh, đang thu hút nhiều doanh nghiệp đầu tư và sản xuất vì lợi nhuận cao, thị trường rộng lớn, nhiều tiềm năng

Trong nghiên cứu ứng dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn đã và đang là con đường phù hợp nhất với các nước phát triển như nước ta hiện nay Việc thực hiện các tiêu chí, giải pháp này không những mang lại lợi ích về môi trường mà còn mang lại lợi ích về kinh tế- xã hội Việc ứng dụng các công nghệ sản xuất sạch hơn, trước tiên cải thiện môi trường sản xuất, có lợi cho sức khỏe của người lao động trực tiếp và người tiêu dùng Tiếp đó là giúp cho Công ty đạt được một số chỉ tiêu, chứng chỉ nhất định trong quản lý nhà nước, giúp các Công ty vượt qua được rào cản “xanh”, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, việc áp dụng sản xuất sạch hơn còn có tác dụng trong giáo dục tuyên truyền ý thức bảo vệ môi trường, tài nguyên, thúc đẩy phát triển bền vững của ngành công nghiệp sạch

Vì vậy sản xuất sạch hơn là một cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất hướng tới mục tiêu kinh doanh bền vững, trong đó chú trọng tới giảm

Trang 2

thiểu sử dụng các hóa chất độc hại ảnh hưởng tới môi trường và tăng lợi nhuận thông qua giảm lãng phí trong sản xuất, làm tiền đề thâm nhập vào thị trường quốc tế

Sản xuất sạch hơn là quy trình mang tính bao quát mọi khâu của doanh nghiệp, đòi hỏi phải áp dụng liên tục các giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tiết kiệm nguyên – nhiên liệu và giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm của doanh nghiệp

Trong sản xuất đồ gỗ, việc thực hiện sản xuất sạch hơn đã giúp các doanh nghiệp không những giảm được chất thải, mà còn tiết kiệm kinh phí thông qua việc giảm mức tiêu thụ nguyên liệu, nhiên liệu, năng lượng, hóa chất sản xuất sạch hơn là công cụ quản lý môi trường hữu hiệu phù hợp với doanh nghiệp Việt Nam, cần đẩy mạnh áp dụng ở các doanh nghiệp sản xuất sạch hơn bao gồm cả quá trình sản xuất nên mức độ phát thải tác động đến chất lượng cuộc sống cũng như sức khỏe của người sản xuất và người tiêu dùng

Thực tế cho thấy, ở các Công ty đã áp dụng rất nhiều biện pháp để bảo

vệ môi trường và giảm lượng nguyên vật liệu tiêu thụ nhưng giải pháp này chưa thật sự mang lại hiệu quả cao nhất Do vậy tìm hiểu những nguyên nhân làm cho việc sử dụng nguyên vật liệu và bảo vệ môi trường chưa thật sự đạt hiệu quả cao tại Công ty TNHH gỗ Lee Fu Việt Nam Tỉnh Đồng Nai là một việc làm cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên, vật liệu và bảo vệ môi trường, đây cũng là lý do để tiến hành tìm hiểu nghiên cứu thực tế tại Công ty để đề xuất các tiêu chí cụ thể áp dụng tại Công ty

Trang 3

gỗ nói riêng vẫn còn là ngành công nghiệp thải ra nhiều chất thải, bên cạnh đó

sự thất thoát nhiên liệu trong ngành này còn nhiều vấn đề đáng quan tâm và giải quyết

Với những vấn đề như vậy, hiện tại ngành gỗ xuất khẩu đang rất cần một công cụ giúp việc để kiểm soát hiệu quả trong quá trình sản xuất nhằm đem lại hiệu quả và lợi nhuận cao nhất, đồng thời giảm được chất thải phát sinh ra môi trường bên ngoài nhằm bảo vệ môi trường

Gần đây một tư duy mới đang phát triển đó là phòng ngừa và giảm thiểu chất thải đầu nguồn và cải thiện hiệu quả sản xuất, giảm tiêu hao nhiên liệu, cách tiếp cận này mang tính chủ động và tính tích cực hơn, tư duy “ Sản xuất sạch hơn” là phương pháp để thể hiện sự tối ưu cho việc giải quyết vấn

đề trên

Trong ngành chế biến gỗ Việt Nam hiện nay việc nhận thức về phương pháp SXSH và áp dụng các biện pháp SXSH còn hạn chế, chưa được phổ biến rộng rãi, do đó việc xây dựng các tiêu chí để thực hiện SXSH trong dây chuyền sản xuất gỗ cần phải nghiên cứu để áp dụng SXSH trong ngành chế biến sản xuất gỗ ở Việt Nam

Trong ngành chế biến gỗ các kỹ thuật SXSH cần phải tập trung giải quyết các vấn đề sau:

- Lãng phí nguyên liệu gỗ

- Ô nhiễm không khí do bụi gỗ, keo

Trang 4

- Lãng phí nước và ô nhiễm do nước thải

- Tiếng ồn và các chất thải nguy hại khác…

Xuất phát từ những vấn đề trên và nhằm đưa ra các phương pháp, tiêu chí cụ thể để áp dụng tại một dây chuyền sản xuất cụ thể trong nhà máy, do đó

tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xây dựng các tiêu chí để thực hiện SXSH trong dây chuyền sản xuất gỗ và đồ mộc xuất khẩu tại Công ty TNHH gỗ Lee Fu Việt Nam Tỉnh Đồng Nai.”

1.2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.2.1 Tình hình nghiên cứu về sản xuất sạch hơn trên thế giới

- Từ những năm 1985- 1990, việc áp dụng SXSH vào các quá trình sản xuất đã được áp dụng mạnh mẽ ở các nước phát triển như: Đan Mạch, Mỹ, Canada….Tháng 9/1990, UNEP chính thức phát động chương trình sản xuất sạch hơn tại hội nghị Canterbury Liên hiệp Anh Từ năm 1993, SXSH đã áp dụng các nước Đông Âu như: Ba Lan, Tiệp Khắc cũ, các quốc gia thuộc Châu

Á như; Trung Quốc, Ấn Độ mang lại nhiều hiệu quả về kinh tế và môi trường Hơn 1000 dự án trình diễn về SXSH đã được tiến hành tập trung vào một số ngành công nghiệp chính như: Dự án PRISMA ở Hà Lan, LANDSKRONA ở Thụy Điển, SPURT ở Đan mạch, DESIRE ở Ấn Độ……(trích tác giả Phùng Hoàng Vân, 2003)

- Hiện nay trên thế giới có 25 trung tâm sạch quốc gia đặt tại các khu vực trên thế giới như: Châu Á - Thái Bình Dương, Bắc Mỹ, Nam Trung Mỹ, Châu Phi Tại Châu Á- Thái Bình Dương có 4 nước có trung tâm sản xuất sạch quốc gia đó là Trung Quốc, Ấn Độ, Srikanca và Việt Nam Ngoài việc thành lập các trung tâm sạch quốc gia, nhiều tạp chí, báo ra đời nhằm cung cấp thông tin hỗ trợ SXSH Một số tham gia vào việc hỗ trợ để thực hiện sản xuất sạch hơn, Các quốc gia có nhiều chương trình hỗ trợ nhất đó là: Mỹ, Đức, Na

Uy, Thụy Sỹ, Đan Mạch

Trang 5

- Trong ngành chế biến đồ gỗ và nội thất thế giới, việc nhận thức về phương pháp luận SXSH và áp dụng các kỹ thuật SXSH còn nhiều hạn chế, các ứng dụng chưa được phổ biến rộng rãi Do đó tiềm năng SXSH cũng như đổi mới sản phẩm bền vững trong ngành còn rất lớn, đặc biệt đối với các nước đang phát triển

- Việc thực hiện SXSH trên thế giới là nhằm tiết kiệm nguyên – vật liệu, giảm rủi ro cho con người và tác động xấu đối với môi trường, tăng cường hiệu quả sản xuất thông qua cải tiến các kỹ thuật đã có và áp dụng các công nghệ tiên tiến hiện đại Ngoài ra các kỹ thuật SXSH mang lại những cơ hội giảm chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm Cụ thể trong ngành chế biến gỗ nói chung và chế biến đồ gỗ nói riêng, các vấn đề chính mà

kỹ thuật SXSH tập trung giải quyết bao gồm:

+ Lãng phí nguyên liệu gỗ,

+ Ô nhiễm không khí do bụi gỗ, các loại keo, chất phủ bề mặt,

+ Nước thải và lãng phí nước thải,

+ Lãng phí năng lượng điện,

+ Chất thải nguy hại

1.2.2 Tình hình nghiên cứu về sản xuất sạch hơn trong nước

- Trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2010, công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng đáng kể cả về quy mô phát triển, chất lượng sản phẩm và đặc biệt là giá trị kim ngạch xuất khẩu Với hơn 1200 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến gỗ năm 2000, đến năm 2009

cả nước đã có trên 2500 doanh nghiệp, trong đó nhiều doanh nghiệp đã phát triển thành các tập đoàn lớn Chất lượng sản phẩm gỗ được nâng cao, minh chứng là giá trị kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam liên tục tăng trong 10 năm qua: giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2000 đạt 219 triệu USD; năm 2009 đạt 2.620 triệu USD; tính bình quân giá trị kim ngạch xuất khẩu đồ mộc tăng bình quân 500 triệu USD/năm Sản phẩm gỗ của Việt Nam đã có

Trang 6

mặt trên 120 quốc gia và vùng lãnh thổ; trong đó các thị trường xuất khẩu chủ yếu là Hoa Kỳ (chiếm 38%-41% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu), các nước thuộc khối EU (chiếm 28-44% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu) và Nhật Bản (chiếm 12-15% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu)

- Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng và thuận lợi của ngành, hiện nay công nghiệp chế biến gỗ của nước ta cũng đang gặp rất nhiều khó khăn và bộc

lộ những điểm yếu kém từ khi chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung mệnh lệnh sang cơ chế thị trường Những năm gần đây, ngành công nghiệp chế biến

gỗ phát triển có bước phát triển vượt bậc song chưa vững chắc, thiếu quy hoạch và tầm nhìn chiến lược, tính cạnh tranh chưa cao, sự liên kết và phân công sản xuất chưa tốt (chưa có sự chuyên môn hóa, chưa có phân công sản xuất theo vùng, tiểu vùng…), chưa xây dựng được thương hiệu trên thị trường thế giới, thiếu vốn đầu tư cho phát triển và hiện đại hóa công nghệ

- Mặc dù giá trị kim ngạch xuất khẩu đồ mộc của Việt Nam có bước tăng trưởng nhưng đánh giá tổng thể, giá trị kinh tế mang lại cho đất nước còn hạn chế do lượng vật tư nguyên liệu nhập khẩu chiếm tỉ trọng quá lớn, trong

đó chỉ tính riêng nguyên liệu gỗ nhập khẩu hàng năm tương đương 40% -45% giá trị kim ngạch xuất khẩu Trong khi đó tiềm năng nguyên liệu gỗ rừng trồng của Việt Nam rất lớn lại sử dụng chủ yếu cho băm dăm xuất khẩu, một hình thức sơ chế không mang lại hiệu quả kinh tế cao và không thể nâng cao giá thu mua nguyên liệu và cơ hội nâng cao thu nhập cho người trồng rừng

- Nguồn nhân lực cho công nghiệp chế biến gỗ còn yếu, hiện chưa có chính sách thu hút lao động đúng mức để ổn định sản xuất Đội ngũ chuyên gia và công nhân kỹ thuật chưa đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của ngành

- Mặc dù chúng ta sản xuất đồ gỗ xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn song hiểu biết và ý thức về thương hiệu, các tiêu chuẩn đối với sản phẩm gỗ chưa cao, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Các doanh nghiệp thiếu những

Trang 7

kiến thức về luật thương mại, đặc biệt là luật thương mại quốc tế Năng lực cạnh tranh thị trường kém, thiếu thông tin dẫn đến dễ bị thua thiệt khi xảy ra tranh chấp quốc tế, bị chèn ép trong các khâu mua, bán…

- Trong cuộc cạnh tranh mạnh mẽ của ngành chế biến gỗ Việt Nam trên thị trường chế biến gỗ thế giới hiện nay, sau hội nhập WTO ngành chế biến gỗ Việt Nam đã bộc lộ nhiều yếu kém và hạn chế về mẫu mã, chất lượng, thương hiệu, pháp luật thương mại quốc tế, tiêu chuẩn, chứng chỉ quốc tế, thương mại điện tử Đó là chưa kể đến những cạnh tranh (kể cả cạnh tranh không lành mạnh) trong nội bộ các doanh nghiệp trong nước, cũng là một trong số các nguyên nhân làm cho các doanh nghiệp Việt Nam chỉ gia công sản phẩm gỗ xuất khẩu mà không mang thương hiệu của mình trên thị trường quốc tế

- Một vấn đề khác phát sinh đối với mặt hàng đồ gỗ khi chúng ta hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới đó là các chứng chỉ về nguyên liệu Mỹ có đạo luật LACEY, hay luật lâm nghiệp và quản trị rừng (FLEGT) đang được triển khai ở tất cả các quốc gia, đây là rào cản rất lớn Nhu cầu về đồ gỗ có chứng chỉ đang gia tăng, nhưng Việt Nam vẫn chưa có hệ thống chứng chỉ thích hợp Các khách hàng chủ yếu là EU ngày càng đòi hỏi các sản phẩm được làm từ nguồn gỗ nguyên liệu có chứng chỉ của một tổ chức như hội đồng các nhà quản lý rừng FSC Đến cuối tháng 5 năm 2011 ở nước ta mới chỉ có 5 Lâm Trường được cấp chứng chỉ rừng với tổng diện tích là 10.500 ha Vì vậy,

để đáp ứng nhu cầu rất lớn về gỗ để sản xuất đồ gỗ xuất khẩu, các nước sản xuất phải nhập khẩu gỗ có chứng chỉ FSC, giá thành sản phẩm đội lên cao nên khó khăn cạnh tranh và giá trị gia tăng của ngành gỗ bị giảm quá nhiều so với những quốc gia có hệ thống chứng chỉ, đồ gỗ bị giảm sụt quá nhiều so với những quốc gia có hệ thống chứng chỉ, cho dù đồ gỗ Việt Nam đang được ưa chuộng tại nhiều nước Hiện nay, Việt Nam có khoảng 200 doanh nghiệp có

Trang 8

chứng chỉ FSC và COC, đây là 2 loại chúng chỉ thiết yếu cho việc xuất khẩu

đồ gỗ ra quốc tế

- Trong khi đó, hầu hết các doanh nghiệp chế biến gỗ của ta chỉ làm gia công, không có thị trường tiêu thụ chủ động mà phụ thuộc nhiều vào khách hàng nước ngoài Trong số 3.000 cơ sở hoạt động trong ngành Gỗ thì có tới hơn 50% là cơ sở chế biến quy mô nhỏ, trang thiết bị vừa cũ kỹ, vừa lạc hậu

Số lượng và chất lượng của đội ngũ công nhân trong ngành chưa đáp ứng yêu cầu, thiếu kỹ năng, nguồn gỗ nguyên liệu thì bị động Hiện Việt Nam phải nhập khẩu đến 70 - 80% nguyên liệu, sự phát triển các nhà máy băm dăm mảnh gỗ xuất khẩu đã vượt quá khả năng cung cấp nguyên liệu gỗ rừng trồng trong nước Những hạn chế trên đã trì kéo mức tăng trưởng của ngành chế biến gỗ nước ta

- Theo Nguyễn Minh Chiến 2004 thì kết quả thực hiện SXSH mang lại lợi nhuận kinh tế đáng kể Kết quả với 78% giải pháp kỹ thuật SXSH có chi phí thấp, ít tốn thời gian, 61% phương án là loại chi phí thấp cần đầu tư, 80% phương án có thời gian hoàn vốn dưới 1 năm Hơn 55% phương án có tác động ít hoặc không tác động đến môi trường, 45% phương án có lợi ích môi trường rõ rệt, không có biện pháp nào tác động xấu đến môi trường

- Theo kinh nghiệm của các nhà chuyên gia về SXSH của UNIDO và khảo sát thực tế tại Tp.HCM hơn 50% chất thải có thể tránh được nhờ áp dụng biện pháp quản lý và các thay đổi nhỏ quy trình sản xuất và hơn 65% rào cản

để áp dụng SXSH liên quan đến động cơ và thái độ hợp tác của lãnh đạo, nhân viên Công ty, SXSH sẽ đem lại lợi ích thiết thực và hiệu quả cho các doanh

nghiệp của Tp.HCM, Đồng Nai

Trang 9

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Những nội dung nghiên cứu về sản xuất sạch hơn

- Các cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng các tiêu chí để sản xuất sạch hơn trong Công ty chế biến gỗ

- Các tiêu chí và giải pháp để thực hiện sản xuất sạch hơn trong Công

1.5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: Các tiêu chí để thực hiện SXSH trong sản xuất gỗ và đồ mộc tại Công ty TNHH gỗ Lee Fu Việt Nam tại Tỉnh Đồng Nai

Trang 10

- Phạm vi nghiên cứu: Các yếu tố tác động đến không khí, nước thải, chất thải rắn (rác thải), tiếng ồn, bụi ảnh hưởng đến quá trình sản xuất

- Các tiêu chí có liên quan đến SXSH trong sản xuất chế biến gỗ

- Đề xuất các giải pháp về kỹ thuật công nghệ và máy móc thiết bị

1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp tiếp cận: Dựa trên cơ sở lý luận về chiến lược, kết

hợp với việc thu thập số liệu sơ cấp, thứ cấp, tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các nhà Quản trị của các doanh nghiệp đang sản xuất và xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ, tổng hợp số liệu từ các cơ quan quản lý ngành, các tạp chí chuyên ngành đồ gỗ, sách báo, internet… Ngoài ra, thông qua việc khảo sát điều tra từ thực tế bằng phương pháp thống kê, tổng hợp, phỏng vấn chọn lọc, sử dụng phần mềm exel phân tích, đánh giá, từ đó tác giả đưa ra dự báo và giải pháp

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Sử dụng các lý thuyết về môi

trường và SXSH trong ngành chế biến gỗ

- Phương pháp kế thừa: kế thừa các kết quả nghiên cứu ĐTM

- Phương pháp phỏng vấn: sử dụng trong quá trình phỏng vấn lãnh

đạo và công nhân sản xuất

- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các chuyên gia về lĩnh vực

đánh giá tác động môi trường, nhà quản lý tiêu chuẩn, chuyên gia trong ngành chế biến gỗ

- Phương pháp phân tích: khảo sát, quan trắc, lấy mẫu tại hiện

trường và phân tích trong phòng thí nghiệm theo các Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN): TCVN 5937 – 1995, TCVN 5943 – 1995 và TCVN 5949 - 1998 về môi trường nhằm xác định các thông số về hiện trạng chất lượng môi trường không khí, tiếng ồn, nước, sinh thái tại khu vực của Công ty

Trang 11

- Phương pháp thực nghiệm: Khảo sát hiện trường để thu thập kết

quả, lấy kết quả thông qua thực nghiệm đo đếm được trên các máy móc thiết

bị về môi trường

Trang 12

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ SẢN XUẤT SẠCH HƠN

2.1.1 Khái niệm sản xuất sạch hơn

Khái niệm về ‘sản xuất sạch hơn” đã xuất hiện vào cuối thập niên 80 của thế kỷ trước và đến nay được chuyên gia môi trường nghiên cứu rộng rãi

và đề cập trong nhiều tài liệu SXSH là cách gọi chung cho cách tiếp cận mang tính phòng ngừa đối với các hoạt động sản xuất Hiện nay định nghĩa SXSH đưa ra bởi UNEP có thể được chấp nhận và sử dụng phổ biến nhất Theo đó SXSH được định nghĩa như sau:

Sản xuất sạch hơn là áp dụng liên tục một chiến lược tổng hợp mang tính phòng ngừa về môi trường trong các quá trình sản xuất, sản phẩm và dịch

vụ nhằm nâng cao hiệu suất kinh tế và giảm thiểu rủi ro đối với con người và môi trường

Định nghĩa trên nhấn mạnh đến phòng ngừa trong quá trình sản xuất cũng như trong suốt vòng đời sản phẩm SXSH liên quan đến việc áp dụng các

bí quyết nâng cao về mặt công nghệ, và hơn thế là sự thay đổi quan điểm và thái độ của các nhà sản xuất

2.1.2 Cách tiếp cận sản xuất sạch hơn

Sản xuất sạch hơn là một cách tiếp cận trong quản lý môi trường mà

có thể đem lại nhiều lợi ích cho sản xuất Cách tiếp cận trong SXSH có thể liên quan đến các khía cạnh sau:

Thiết kế sản phẩm

 Công nghệ sản xuất ít chất thải

 Sử dụng hiệu quả năng lượng và nguyên vật liệu thô

 Tính khả quan của các công nghệ hiện có

 Tiêu chuẩn cao trong an toàn lao động

Trang 13

Đối với quá trình sản xuất, SXSH bao gồm cả việc bảo tồn nguyên liệu thô và năng lượng, loại bỏ những vật liệu có tính độc hoặc nguy hiểm và giảm bớt sự thất thoát cũng như giảm thải ngay tại nguồn

Đối với sản phẩm chiến lược này được đặt trọng tâm vào việc làm giảm các tác động môi trường trong toàn bộ vòng đời của vật phẩm được sản xuất ra, bao gồm cả ý tưởng về sản phẩm đến cách thức sử dụng và sự thải bỏ cuối cùng của sản phẩm, qua đó lồng ghép vào các khái niệm môi trường

2.1.3 Kỹ thuật và phương pháp thực hiện

Chương trình SXSH được thực hiện trên cơ sở đánh giá quy mô toàn Công ty, từ thiết kế đến điều hành sản xuất, để xác định được các nguyên nhân phát thải, gây lãng phí từ đó có biện pháp ngăn chặn việc phát sinh chất thải ngay tại nguồn Đánh giá SXSH là phân tích, đánh giá đầu ra và đầu vào của từng công đoạn sản xuất, phân tích nguyên nhân phát thải và đề xuất các biện pháp khắc phục Theo UNEP một chương trình SXSH được thực hiện gồm 6 bước: khởi động, phân tích các bước công nghệ, đề xuất các giải pháp SXSH, lựa chọn các giải pháp, thực hiện các giải pháp, duy trì các giải pháp liên tục

tất cả được thực hiện theo chu trình khép kín thể hiện qua Sơ đồ 2 – 1:

Sơ đồ: 2 – 1: Sơ đồ các bước thực hiện SXSH

1 KHỞI ĐỘNG

4.LỰA CHỌN CÁC GIẢI PHÁP SXSH

5 THỰC HIỆN CÁC

GIẢI PHÁP SXSH

3 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP SXSH

6.DUY TRÌ CÁC

GIẢI PHÁP SXSH

2 PHÂN TÍCH CÁC BƯỚC CÔNG

NGHỆ

SẢN XUẤT SẠNH HƠN

Trang 14

2.2 CƠ SỞ KHOA HỌC, THỰC TIỄN XÂY DỰNG CÁC TIÊU CHÍ ĐỂ SẢN XUẤT SẠCH HƠN TRONG CHẾ BIẾN GỖ

2.2.1 Quan điểm về SXSH trong ngành chế biến gỗ

Trên cơ sở lý thuyết chung về SXSH và từ thực tiễn triển khai SXSH trong nhiều ngành công nghiệp, các chuyên gia cho rằng quá trình SXSH bao gồm 4 ý nghĩa sau:

+ Mục tiêu của SXSH là tiết kiệm nguồn năng lượng, giảm thấp sự tiêu hao của nguyên liệu, giảm lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường

+ Phương pháp cơ bản của SXSH là cải tiến kỹ thuật, tăng cường việc quản lý doanh nghiệp, lợi dụng tối đa đối với nguồn tài nguyên và năng lượng, cải tiến hệ thống sản phẩm, đổi mới quan niệm về thiết kế

+ Phương châm của SXSH là tính toán, kiểm tra được lượng ô nhiễm thải ra môi trường, tức là thông qua tính toán và kiểm tra sẽ phát hiện được những vị trí tạo ra ô nhiễm, nguyên nhân của nó, đồng thời tiến hành tìm giải pháp loại bỏ hoặc làm giảm lượng ô nhiễm tạo ra

+ Mục tiêu cuối cùng của SXSH là bảo vệ môi trường và con người, nâng cao lợi ích kinh tế cho các xí nghiệp

Như vậy, mưu cầu của SXSH là muốn đạt được hai mục tiêu: một là thông qua việc lợi dụng tổng hợp nguồn tài nguyên để thay thế cho các nguồn tài nguyên đang ngày càng cạnh kiệt, lợi dụng nguồn tài nguyên tái sinh, tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm nguyên liệu, tiết kiệm nước sẽ đạt được mục tiêu

về lợi dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên Hai là giảm thấp sự hình thành các chất thải và chất ô nhiễm, giảm đến mức thấp nhất sự uy hiếp đến môi trường và con người trong quá trình sản xuất

Mở rộng công nghiệp sản xuất sạch, về mặt vĩ mô cần thực hiện việc khống chế đối với toàn bộ quá trình sản xuất công nghiệp, bao gồm đánh giá

về tài nguyên, thiết kế quy hoạch, tổ chức, thi công, quản lý vận chuyển và kinh doanh, cải tiến, đánh giá về hiệu ích kinh tế …, về mặt vi mô cần thực

Trang 15

hiện khống chế được toàn bộ quá trình sản xuất và chuyển hóa của vật liệu, bao gồm có khai thác nguyên liệu, dự trữ và vận chuyển, xử lý sơ bộ, gia công, tạo hình, đóng gói, dự trữ và vận chuyển sản phẩm, bán hàng, xử lý các loại phế phẩm

Trong sản xuất sạch hơn, cũng cần phải sử dụng nguồn năng lượng tinh khiết Ngoài những nguồn năng lượng thông thường ra, cũng cần phải lợi dụng tối đa đối với những nguồn năng lượng tái sinh, tìm ra nguồn năng lượng mới, đồng thời sử dụng các biện pháp tiết kiệm năng lượng Thực hiện một quy trình SXSH đó cũng là cố gắng sử dụng ít hoặc không sử dụng những nguyên liệu có chứa độc tố, đảm bảo được trong sản phẩm không có độc hại, giảm thấp các nhân tố có tính nguy hiểm trong quá trình sản xuất như: áp suất cao, nhiệt độ cao dễ cháy nổ, tiếng ồn quá lớn, độ rung động quá lớn,… sử dụng công nghệ sản xuất ít hoặc không tạo ra chất thải, sử dụng các loại thiết

bị có hiệu quả cao, nên tiến hành sử dụng tái sinh tuần hoàn đối với các loại vật liệu bên trong nhà xưởng, sử dụng các hệ thống điều khiển và thao tác thuận tiện có độ tin cậy cao, đồng thời kiến lập các chế độ quản lý hoàn thiện trong quá trình sản xuất Cuối cùng là cần đạt được sản phẩm có độ tinh khiết cao, sản phẩm tinh khiết là những sản phẩm có khả năng tiết kiệm được nguyên liệu, năng lượng, ít sử dụng những loại nguyên liệu quý hiếm, hay những sản phẩm được tạo ra từ nguồn nguyên liệu tái sinh, trong quá trình sử dụng và sau khi sử dụng nó không có nguy hại đối với sức khỏe của con người

và môi trường sinh thái, dễ thu hồi và tái sản xuất, những sản phẩm mà nếu trở thành phế phẩm thì dễ dàng cho việc sử lý, dễ phân hủy

Sự khác nhau lớn nhất giữa SXSH và việc không tiến hành SXSH mà chỉ tiến hành xử lý hậu quả ở chổ, SXSH thể hiện được mức độ rất lớn về lợi ích kinh tế, lợi ích với môi trường, lợi ích với xã hội, thể hiện được tính cùng tồn tại giữa con người và môi trường Trong hàm ý của SXSH không những là

Trang 16

cần theo đuổi về tính khả thi của kỹ thuật, mà nó còn theo đuổi về tính khả thi

về mặt kinh tế

Áp dụng SXSH trong ngành chế biến gỗ sẽ có tác dụng quan trọng trong việc giải quyết những vấn đề về ô nhiễm môi trường trong ngành công nghiệp này SXSH trong ngành chế biến gỗ ở đây là nói đến việc khống chế được bụi ô nhiễm, lượng khí thải tạo ra, lượng nước thải ra và được khống chế trong ngành chế biến gỗ

2.2.2 Quan điểm về xây dựng tiêu chí SXSH trong ngành chế biến gỗ

Các quan điểm và cách tiếp cận để xây dựng tiêu chí SXSH trong ngành chế biến gỗ như sau:

Thứ nhất: từ mục tiêu quan trọng SXSH là giảm lượng chất ô nhiễm trong quá trình sản xuất đồ gỗ thải ra môi trường Trên cơ sở quy trình sản xuất cho từng loại sản phẩm (từ nguyên liệu đầu vào đến dạng sản phẩm cuối cùng) để xác định các chất gây ô nhiễm (thí dụ như: bụi ô nhiễm, nước thải ô nhiễm, khí thải ô nhiễm,…) nghiên cứu đặc trưng của chất ô nhiễm để có biện pháp thu gom, xử lý, xác định nguồn gốc tạo ra các chất ô nhiễm để xem xét, nghiên cứu tìm ra các giải pháp khống chế, giảm thiểu ô nhiễm Đây là nhóm tiêu chí về môi trường

Thứ hai: từ mục tiêu tiếp theo của SXSH là tiết kiệm nguồn năng lượng, giảm thấp sự tiêu hao nguyên liệu, nhiên liệu, vật tư,… Đây là nhóm tiêu chí kinh tế, một số tiêu chí trong nhóm này có vai trò quan trọng trong thực hiện SXSH Từ thực tế triển khai SXSH trong các ngành công nghiệp nói chung và trong một số cơ sở chế biến gỗ ta thấy, tiêu chí tiêu hao năng lượng, tiêu chí tiêu hao nguyên liệu là các tiêu chí có thể đo đếm được, có thể đặt các thiết bị theo dõi để quan trắc, để đo đếm, phân tích và đánh giá được hiệu quả kinh tế, đánh giá được mức độ tiến bộ của quá trình thực hiện SXSH, đồng thời cung cấp các số liệu kịp thời giúp cho việc giám sát và quản lý chặt chẽ quá trình sản xuất

Trang 17

Thứ ba: con người là đối tượng quan trọng trong việc thực hiện SXSH trong các cơ sở sản xuất Để tiến hành SXSH trong bất kỳ cơ sở sản xuất công nghiệp nào trước hết phải tuyên truyền, tập huấn, đào tạo để nâng cao nhận thức về SXSH cho đội ngũ cán bộ của doanh nghiệp (cán bộ lãnh đạo các cấp đến người công nhân trực tiếp sản xuất, các nhân viên phục vụ trong nhà máy) Đây là tiêu chí về nhận thức

Thứ tư: sau khi nghiên cứu quá trình sản xuất, nhóm thực hiện SXSH

sẽ đề xuất một loạt các giải pháp để triển khai SXSH Để đánh giá và lựa chọn được các giải pháp phù hợp với yêu cầu và nguyện vọng (trên cơ sở các nguồn lực về tài chính, công nghệ, thiết bị, điều kiện thực thi,…) của doanh nghiệp

để lựa chọn các giải pháp thực hiện SXSH phù hợp Đây là nhóm tiêu chí đánh giá

Thứ năm: cần hướng tới các tiêu chí quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến thực hiện SXSH, dễ nhận biết, dễ đo đếm và xác định được

2.2.3 Một số tiêu chí để sản xuất sạch hơn trong nhà máy chế biến gỗ

2.2.3.1 Nhóm tiêu chí về môi trường

Trong quá trình sản xuất đồ mộc, sẽ tạo ra một lượng bụi rất lớn, lượng bụi này bao gồm gỗ vụn, mùn cưa và bột gỗ là chính, ngoài ra còn có một lượng nhỏ Hydrocacbon hay Silicon dioxide (Si2O), chúng sẽ gây ra ô nhiễm đối với nhà xưởng và môi trường không khí Để xử lý đối với bụi tạo ra trong chế biến gỗ, cần căn cứ vào điều kiện cụ thể của quá trình sản xuất mà chọn ra những đối sách có tính khả thi Một đặc điểm quan trọng trong việc xử

lý đối với bụi ô nhiễm của ngành chế biến gỗ là tiến hành xử lý tổng hợp toàn diện đối với cả dây chuyền sản xuất, tức là giải quyết được vấn đề bụi từ nguồn gốc của nó

1 Nguồn gốc tạo ra bụi ô nhiễm trong ngành chế biến gỗ

Trong ngành chế biến gỗ, máy móc dùng để gia công có chủng loại rất phong phú, quy cách không đồng nhất, những loại máy móc này trong quá

Trang 18

trình gia công chế biến gỗ sẽ tạo ra một lượng lớn bụi gỗ, nếu như chúng không được xử lý một cách hợp lý, sẽ tạo thành sự ô nhiễm đối với môi trường không khí ở mức độ tương ứng Quá trình tạo ra bụi ô nhiễm trong chế biến gỗ

có thể khái quát thành 2 loại đó là quá trình cơ giới và quá trình hóa lý

* Quá trình cơ giới: quá trình và các bước công nghệ tạo thành bụi ô nhiễm chủ yếu gồm có:

Trong các công đoạn: Cưa xẻ, bào, phay tiện, đánh nhẵn trong quá trình hoạt động đều sinh ra bụi Trong xưởng chế biến gỗ, các loại máy cưa, máy bào, máy phay, máy đánh nhẵn đều được sử dụng rất rộng rãi Những loại máy này trong quá trình gia công không những tạo ra một lượng lớn bụi gỗ,

mà số lượng và tính chất của bụi gỗ tạo ra còn phụ thuộc vào rất nhiều các nhân tố như: chủng loại gỗ, cấu tạo và tính chất của gỗ, nhiệt độ và độ ẩm khi gia công, chủng loại máy, loại công cụ cắt, công nghệ gia công (tốc độ cắt, tốc

độ nạp liệu, hướng cắt hay lượng cắt…) khác nhau thì sẽ sinh ra lượng bụi khác nhau

Bên trong các xưởng sản xuất đồ mộc, khi tiến hành sấy và phun sơn cho sản phẩm, hay ở công đoạn làm sạch bề mặt đối với gỗ, cũng sẽ tạo ra một lượng bụi khá lớn

* Quá trình hóa lý: Các phương tiện vận chuyển trong nhà xưởng cũng thải ra môi trường một lượng lớn khói ô nhiễm

Các phương tiện vận tải phục vụ cho việc di chuyển chở nguyên liệu

và hàng hóa ra vào khu vực nhà máy, xe nâng hạ, hoặc các động lực kéo…cùng với các loại xe chở công nhân, xe du lịch và xe vãng lai trong quá trình vận hành sẽ thải ra khói thải chứa các thành phần: bụi, CO, SOx, NOx… Tải lượng chất ô nhiễm chứa trong khí thải giao thông vận tải phụ thuộc vào

số lượng xe lưu thông, chất lượng nhiên liệu sử dụng, tình trạng kỹ thuật phương tiện và chất lượng giao thông

Trang 19

Sự thay đổi về các điều kiện vật lý và hóa học của không khí cũng có thể sẽ tạo ra một lượng nhỏ bụi ô nhiễm

Quá trình vận hành máy phát điện dự phòng và lò hơi sẽ phát sinh một lượng lớn khí thải chứa nồng độ các thành phần ô nhiễm: bụi, SO2, NOx, CO,…

2 Một số tính chất của bụi

Bụi từ gỗ do rất nhiều những hạt đơn thể tạo thành một hệ thống những hạt nhỏ phức tạp, tính phức tạp của chúng chủ yếu được biểu hiện ở hai mặt: một là về bản chất cấu tạo của gỗ và sự không đồng tính đẳng hướng của tính chất các hạt nhỏ từ gỗ (chủng loại gỗ được sử dụng trong sản xuất có rất nhiều, cấu tạo, tính chất của gỗ cũng tùy theo sự khác nhau về điều kiện lập địa mà cũng khác nhau, cùng một loại cây, cùng một điều kiện lập địa nhưng ở các bộ phận khác nhau trên cây thì khối lượng thể tích và một số tính chất của

nó cũng không giống nhau), hai là về kích thước và hình dáng của các hạt nhỏ cũng có những khác nhau Do đó có thể nói, các hạt bụi từ gỗ là một hệ thống các hạt phân tán không đồng đều, trong đó sự khác nhau về kích thước và hình dáng là rõ ràng nhất, như dạng bụi được tạo thành từ quá trình đánh nhẵn đối với ván dăm, ván dán, ván gỗ ghép thì chúng có dạng bột mịn, còn bụi được tạo ra từ cưa xẻ gỗ khô thì chúng lại có cả dạng hạt và dạng bột mịn

Bụi gỗ được bao hàm một số những đặc tính của chất gỗ, đồng thời nó cũng biểu hiện một số những đặc tính của thể phân tán Đặc tính chủ yếu của bột gỗ gồm có: đặc tính vật lý (cấu trúc hình học, hình dạng bề mặt, sự phân

bố kích thước, mật độ, độ ẩm, thể tích, diện tích bề mặt,…) đặc tính lực học (mật độ tạo đống, góc ma sát,…) động lực của không khí (tốc độ lắng của hạt, tốc độ chuyển động của hạt, lực cản lớp hạt,…) đặc tính nhiệt học (tính năng cháy, tính nổ,…) đặc tính điện học (điện trở) và thành phần hóa học của bụi

3 Các biện pháp mang tính tổng hợp để khống chế lượng bụi ô nhiễm trong nhà máy chế biến gỗ

Trang 20

Quá trình xử lý các loại bụi tạo ra trong ngành chế biến gỗ rất phức tạp, cần căn cứ vào sự khác nhau của các nhân tố như: quá trình tạo ra bụi, tính chất của bụi, mức độ nguy hại của bụi,… để lựa chọn những biện pháp thích hợp để tiến hành xử lý Thực tiển chứng minh, trong phần lớn các trường hợp chỉ dựa vào một phương pháp nào đó thì rất khó giải quyết được những vấn đề ô nhiễm của bụi trong chế biến gỗ, mà cần phải sử dụng những biện pháp tổng hợp thì có thể đạt được hiệu quả như mong muốn Hiện nay, trong ngành chế biến gỗ trên thế giới phần lớn là sử dụng các biện pháp như: biện pháp về hành chính và biện pháp kỹ thuật để tiến hành giải quyết những vấn

đề ô nhiễm của bụi trong ngành công nghiệp chế biến gỗ

Biện pháp hành chính gồm có: pháp luật liên quan, các quy chế, tiêu chuẩn về khống chế ô nhiễm, thiết lập cơ cấu quản lý, bộ phận thi hành giám định ô nhiễm,… Một Công ty hoặc bộ phận quản lý khi được tổ chức thực hiện một cách đồng thời thì cần phải tăng cường công tác lãnh đạo và quản lý trong việc phòng chống ô nhiễm, thực hiện các biện pháp vệ sinh để bảo vệ sức khỏe

Biện pháp kỹ thuật phòng chống hoặc làm sạch bụi ô nhiễm mang tính công nghiệp gồm có 2 phương diện, thứ nhất là thiết lập phương pháp loại trừ hoặc làm giảm phần bụi ô nhiễm đã có như việc xử lý hoặc tập hợp bụi, thứ hai là thiết lập phương pháp loại trừ hoặc làm giảm nguồn bụi gây ô nhiễm Quy nạp lại cho thấy biện pháp kỹ thuật để loại bỏ hoặc làm giảm bụi ô nhiễm

có những nội dung sau:

Sử dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, cải tiến công nghệ sản xuất, khống chế tốt nguồn phát sinh ra bụi ô nhiễm, sử dụng kỹ thuật tiên tiến, cải tiến các thiết bị và công nghệ là một cách cơ bản để loại trừ hoặc làm giảm lượng bụi ô nhiễm mang tính công nghiệp Tổ chức một cách hợp lý quá trình sản xuất và vận dụng đồng thời giảm thấp lượng bụi tạo ra Trong cải tiến công nghệ đầu tiên cần phải lựa chọn các biện pháp mà trong quá trình sản

Trang 21

xuất không tạo ra bụi ô nhiễm, tiếp đó mới xem xét đến các biện pháp để xử lý chúng như thế nào

Loại bụi bằng phương pháp ướt, phương pháp thủy lực: đây là một biện pháp xử lý bụi ô nhiễm đơn giản mà kinh tế Trong điều kiện các yếu tố công nghệ và sản xuất cho phép thì đầu tiên nên xem xét đến phương pháp này, nhưng cũng cần phải phòng ngừa tốt sự ô nhiễm lần hai của nước thải tạo

ra

Bịt kín nguồn bụi gây ô nhiễm, khống chế sự khuếch tán của bụi tạo ra quá trình sản xuất kín, có tính cơ giới hóa, tự động hóa: sự khuếch tán của bụi chủ yếu là do dòng không khí thông qua điểm nguồn phát bụi quyết định Nguồn bụi ô nhiễm kín là một trong những cách rất tốt để ngăn cản quá trình tạo thành bụi ô nhiễm, trong sản xuất chế biến gỗ thường sử dụng để làm giảm

sự rơi vải, bay, lộ ra ngoài của bụi trong quá trình sản xuất Trong trường hợp không gây trở ngại cho quá trình sản xuất, cần cố gắng che đậy kín đối với các thiết bị tạo ra bụi, để ngăn chặn lượng bụi bay vào vùng không khí của vị trí thao tác, ngăn cản sự tiếp xúc của người công nhân đối với bụi Mặt khác, để nâng cao hiệu quả bịt kín nên cố gắng duy trì được độ chân không tốt ở bên trong thiết bị Kỹ thuật bịt kín nguồn bụi ô nhiễm thường được kết hợp sử dụng với các thiết bị loại bụi bằng quạt gió

Sử dụng hệ thống thông gió để loại bụi, giảm bớt sự ảnh hưởng của bụi ô nhiễm đến cơ thể người công nhân bên trong nhà xưởng: biện pháp này hiện nay đang được ứng dụng rất rộng rãi, hiệu quả cũng tương đối tốt, trong

xử lý bụi của ngành công nghiệp chế biến gỗ nó cũng đã phát huy được tác dụng rất quan trọng

Hiện nay, ngành chế biến gỗ của rất nhiều quốc gia trên thế giới đều

sử dụng các thiết bị loại bụi để giải quyết vấn đề ô nhiễm do bụi gây ra trong sản xuất Đối với các nước công nghiệp phát triển, đã tiến hành hàng loạt các nghiên cứu về kết cấu của thiết bị loại bụi cũng như những kỹ thuật mới trong

Trang 22

loại bụi, và cũng đã đạt được những thành quả đáng kể Những công nghệ loại bụi mới, các thiết bị mới không ngừng được phát minh, điều đó có tác dụng rất lớn đối với việc giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường một cách có hiệu quả

Hiện nay trong khống chế bụi ô nhiễm của ngành chế biến gỗ, thiết bị loại bụi kiểu khí động học và thiết bị loại bụi kiểu túi là những thiết bị được ứng dụng phổ biến nhất Thiết bị loại bụi kiểu khí động học phổ thông có kết cấu đơn giản, gia công và lắp đặt dễ dàng, giá thành rẽ nhưng nó chỉ thích hợp

để tập hợp đối với những loại bụi khô, còn đối với những loại bụi có kích thước nhỏ bay phân tán trong không khí thì hiệu quả loại của nó là không cao,

do đó trong chế biến gỗ thường sử dụng loại này làm thiết bị loại bụi cấp 1, còn sử dụng thiết bị loại bụi kiểu túi để làm thiết bị loại bụi cuối cùng, sẽ rất

có hiệu quả trong việc khống chế được lượng bụi bay phân tán ra bên ngoài trong quá trình sản xuất Bởi vì thiết bị loại bụi kiểu túi có thể tập hợp được những loại bụi siêu nhỏ (kích thước nhỏ hơn 5 µm), so sánh với thiết bị loại bụi bằng điện thì thiết bị loại bụi kiểu túi có thao tác và bão dưỡng đơn giản hơn

2.2.3.2 Nước thải và các biện pháp xử lý

1 Nguồn nước thải ô nhiễm trong chế biến gỗ

Trong ngành chế biến gỗ từ các quá trình sản xuất keo dán, xử lý nhuộm màu và tẩy trắng gỗ, xử lý bảo quản đối với gỗ, hệ thống phun sơn đồ

gỗ có trang bị màng nước để thu bụi sơn,… là những nguồn chủ yếu tạo ra nước thải công nghiệp Bởi vì, trong các quá trình này đều cần đến một lượng lớn nước công nghiệp dùng để làm dung dịch, làm nước pha loãng, làm nước truyền tải sợi, nước rửa, nước thu bụi,… trong nước thải còn chứa một lượng lớn các dung dịch hữu cơ, các chất có độc và những loại chất phế thải khác Nếu như không được xử lý thích hợp mà thải trực tiếp ra môi trường, thì nó không những sẽ làm ô nhiễm đối với nguồn nước ở các sông suối, ao hồ hay

Trang 23

đọng lại ở các con sông, mà nó còn có thể gây bụi nguy hại đối với sự sống và

sự sinh sản của các hệ sinh vật dưới nước, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, đồng thời cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp

Trong quá trình tổng hợp keo cũng sẽ tạo ra ô nhiễm đối với nguồn nước bao gồm: nước thải từ công đoạn sản xuất keo, nước rửa các thiết bị pha chế keo và nước rửa các hệ thống đường ống dẫn keo,… Trong công nghệ xử

lý mạ điện đối với đồ mộc cũng có thể gây ra ô nhiễm nguồn nước

2 Các chất ô nhiễm chủ yếu trong nước thải từ chế biến gỗ và tính nguy hại của nó

Các thành phần chủ yếu trong nước thải ô nhiễm của ngành chế biến

gỗ là các thành phần trong gỗ có khả năng hòa tan, lượng keo dư, các loại hóa chất có tính hòa tan hoặc không có tính hòa tan cho thêm vào trong quá trình sản xuất

Những chất trong gỗ có khả năng hòa tan như: các loại đường, hemicelluloses, lignin, tannin,… Hemicellulose và lignin ở một điều kiện nhất định sẽ phát sinh các phản ứng phân giải và tùy thủy phân, tạo thành rất nhiều các hợp chất hữu cơ có khả năng hòa tan trong nước Những chất hòa tan trong nước này sau khi đi vào trong nước, một bộ phận sẽ cần khí oxy để phân giải, làm giảm lượng oxy ở trong nước, bộ phận còn lại cũng sẽ phát sinh những phản ứng hóa học gây ô nhiễm cho nguồn nước

Ngoài ra trong nước thải của chế biến gỗ có chứa rất nhiều các nguyên

tố kim loại như: aluminium (Al), iron (Fe), molybdenum (Mo), chromium (Cr), nickel (Ni), zinc (Zn), barium (Ba),… Các nguyên tố này ở trong nước rất ổn định, về cơ bản không thể bị vi sinh vật oxy hóa phân giải, chúng sẽ làm tăng hàm lượng các nguyên tố kim loại có ở trong nước, thông qua thực vật để

đi vào cơ thể người sẽ tạo ra hiện tượng trúng độc mãn tính cho con người

Trong nước thải của công nghiệp sản xuất đồ gỗ có sử dụng các loại keo, trong keo có chứa các chất phenol, formaldehyde, hay các chất keo tổng

Trang 24

hợp Những chất này đều có độc tính đối với con người, khi chúng đi vào trong nước sẽ gây ô nhiễm nghiêm trọng cho nguồn nước, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của các sinh vật trong nước, ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản, khi nước đã bị ô nhiễm thì không thể sử dụng được, cũng không thể dùng

để tưới cho các cây trồng nông nghiệp được

Trong ngành chế biến gỗ có dùng một số chất hóa học có tính hòa tan hoặc không có tính hòa tan trong nước như: paraffin, hóa chất chống côn trùng hại gỗ, thuốc chống mốc,… Khi nước thải có chứa những hóa chất này, nếu như không được xử lý mà thải trực tiếp vào nguồn nước thì sẽ rất có hại đối với con người như các loài sinh vật sống trong nước

3 Kỹ thuật xử lý nước thải từ ngành chế biến gỗ

Nguyên tắc xử lý nước thải là “phòng được coi trọng hơn trừ, phòng trừ phải kết hợp với quản lý” “Phòng” là chỉ các biện pháp để khống chế đối với nguồn gây ô nhiễm, làm giảm đến mức thấp nhất lượng chất ô nhiễm thải

ra môi trường, “Trừ” là sử dụng các biện pháp hợp lý để tiến hành xử lý đối với nước thải, làm cho nước ô nhiễm trước khi thải ra môi trường phải đảm bảo được những quy định của tiêu chuẩn, “quản lý” bao gồm việc chế định cũng như thi hành các tiêu chuẩn chất lượng đối với các loại nước thải, cũng như đối với nguồn gây ô nhiễm, quản lý và kiểm tra thường xuyên đối với các

hệ thống xử lý nước thải ô nhiễm

Căn cứ vào những nguyên tắc trình bày ở trên, có thể sử dụng các biện pháp sau để tiến hành phòng chống sự ô nhiễm của nước thải công nghiệp

Thực hiện công nghệ SXSH để làm giảm các nguồn ô nhiễm

Sử dụng kỹ thuật để tiết kiệm nước và các kỹ thuật lợi dụng tổng hợp đối với nước thải, làm giảm lượng nước tiêu hao

Xây dựng các hệ thống xử lý nước thải hợp lý

Tăng cường công tác điều tra và giám sát quản lý

* Phương pháp xử lý nước thải

Trang 25

Phương pháp xử lý nước thải trong công nghiệp thông thường được phân ra thành 3 loại đó là: phương pháp vật lý, phương pháp hóa học và phương pháp sinh vật Có thể căn cứ vào tính chất, tố thành và trạng thái của các chất ô nhiễm có trong nước, yêu cầu về chất lượng đối với nước,… để tiến hành lựa chọn ra phương pháp xử lý thích hợp

Phương pháp vật lý: căn cứ vào tính chất vật lý của các chất ô nhiễm

có trong nước ở dạng huyền phù, trong quá trình phân ly hoặc xử lý đối với nước thải mà chúng không bị thay đổi về mặt hóa học, phương pháp vật lý thường thấy có:

Phương pháp lọc: là lợi dụng dạng tấm ngăn, lưới lọc, bể lọc bằng cát, máy siêu lọc, thực vật,… để loại bỏ các chất dạng huyền phù ra khỏi nước thải

Phương pháp lắng: là lợi dụng vào trọng lực làm cho các hạt nhỏ dạng huyền phù ở trong nước thải lắng dần xuống đáy hoặc là nổi lên bề mặt của nước, để dễ dàng đạt được mục đích phân ly chúng ra khỏi nước thải Các thiết bị dùng để lắng thường thấy có bể lắng, bể lắng cát hay bể ngăn dầu

Phương pháp bọt khí: sục không khí vào trong nước thải, lợi dụng sự phân tán của các bọt khí rất nhỏ, làm cho các hạt nhỏ huyền phù trong nước thải hấp phụ lên các bọt khí, rồi chúng theo các bọt khí nổi lên bề mặt của nước tạo thành một lớp tạp chất, từ đó được loại bỏ, đạt được mục đích phân

ly chúng ra khỏi nước thải

Phương pháp màng phân ly: là lợi dụng tính thẩm thấu qua màng lọc của các ion và phân tử có tính phân ly ở trong nước tiến hành Căn cứ vào độ lớn nhỏ của các lỗ hỏng ở trên màng lọc cũng như động lực khi lọc, có thể phân ra thành thẩm tích, điện thấm, siêu lọc và thấm tích ngược

Phương pháp hóa học: là lợi dụng một loại phản ứng hóa học nào đó

để làm cho tính chất của các chất ô nhiễm trong nước thải biến thành dạng keo hoặc dạng hòa tan hoặc là làm cho nó bị thay đổi về trạng thái, để dễ dàng

Trang 26

phân ly khỏi nước Phương pháp xử lý bằng hóa học thường thấy có ngưng kết, trung hòa, oxy hóa hoàn nguyên và kết tủa hóa học

Ngưng kết là thông qua đưa vào trong nước thải những chất có tác dụng ngưng kết, làm cho các hạt rất nhỏ ở dạng huyền phù và những hạt nhỏ dạng keo tụ tập lại với nhau tạo thành những hạt lớn hơn rồi lắng xuống và phân ly ra khỏi nước Các chất ngưng kết thường thấy có: muối nhôm như [aluminum sulfate Al2(SO4)3.18H2O, polymer aluminum chloride (AlCl3)n ], hợp chất hữu cơ cao phân tử dạng sợi như [polypropylene amine] Phương pháp ngưng kết có thể dùng để làm giảm độ đục hoặc độ màu của nước thải, loại bỏ được nhiều loại chất hữu cơ cao phân tử, các chất dạng kim loại nặng hay các chất có tính phóng xạ ra khỏi nước

Phương pháp trung hòa là cho thêm các chất có tính Axit hoặc kiềm tính vào trong dung dịch nước thải nồng độ thấp dạng bazơ hoặc trung tính nhằm để điều tiết độ PH của chúng về với trung tính, để thuận tiện cho tiến thêm bước nữa xử lý đối với chúng Các chất kiềm tính thường sử dụng có đá vôi, vôi, đá di-lo-mit Còn đối với nước thải sử dụng axit thì thường sử dụng loại axit công nghiệp như H2SO4, HCl, hoặc xử lý bằng khói lò có chứa CO2

Phương pháp kết tủa hóa học là lợi dụng vào sự hòa tan khác nhau của các chất trong nước, tiến hành cho thêm vào trong nước thải một số chất hóa học, làm cho các chất ô nhiễm ở trong nước thải phát sinh phản ứng tạo thành những chất không hòa tan trong nước mà chúng bị kết tủa rồi được phân ly ra khỏi nước

Phương pháp vi sinh vật: là phương pháp lợi dụng vi sinh vật để xử lý nước thải Có rất nhiều loại vi sinh vật có khả năng phân giải các chất hữu cơ

ở trong nước thải tạo thành các chất vô cơ, trong quá trình này vi sinh vật sẽ tự sinh sản mà duy trì được tác dụng xử lý làm sạch đối với nước thải Phương pháp xử lý bằng sinh vật có được ưu điểm là hiệu quả xử lý cao, mức độ tiêu

Trang 27

hao ít nên phương pháp này đã được ứng dụng khá rộng rãi trong xử lý nước thải công nghiệp hiện nay

2.2.3.3 Tiếng ồn gây ô nhiễm từ nhà máy chế biến gỗ và phương pháp

xử lý

1 Khái niệm về môi trường tiếng ồn

Tiếng ồn là một loại sóng âm nên nó có được tất cả những đặc tính của sóng âm Từ quan điểm vật lý mà xét tiếng ồn là chỉ tổ hợp của âm thanh

có cường độ lớn, tần xuất biến đổi không theo một quy luật nhất định, những

âm thanh mà con người không hề mong muốn

2 Đặc trưng chủ yếu của môi trường tiếng ồn

a) Môi trường tiếng ồn là sự có hại mang tính cảm giác, tiếng ồn cũng gây ra sự ô nhiễm cho môi trường như đối với bụi, nước thải và khí thải công nghiệp Nó là một loại gây hại cho môi trường sinh hoạt của con người, nhưng xét về tính chất gây hại của nó mà nói thì tiếng ồn thuộc loại gây hại về cảm giác, nó là chất gây hại mà hoàn toàn không có độc tố

b) Môi trường tiếng ồn có được “tính giới hạn, tính phân tán, tính tạm thời”, tiếng ồn ảnh hưởng đến môi trường không mang tính tích lũy, khoảng cách lan truyền có giới hạn, tức là phạm vi ảnh hưởng của môi trường tiếng ồn

là có giới hạn, nguồn phát ra tiếng ồn là dạng phân tán nên tiếng ồn có tính phân tán, khi nguồn phát ra tiếng ồn ngừng phát thì tính nguy hại của nó cũng theo đó mà mất đi, tức là sự ô nhiễm của tiếng ồn chỉ có tính tạm thời

Do 3 đặc tính trên của tiếng ồn mà làm cho nó không thể tiến hành xử

lý một cách tập trung được, mà cần phải sử dụng những phương pháp đặc thù

để tiến hành xử lý khống chế

Nguồn phát sinh tiếng ồn

Hoạt động của Công ty làm phát sinh tiếng ồn với các nguồn phát sinh như:

Trang 28

Từ các công đoạn như pha trộn, sấy, rửa và từ quá trình vận hành của các máy móc, thiết bị (máy xẻ, máy chà nhám, máy bào,…) trong các phân xưởng sản xuất

Do các phương tiện giao thông vận tải: tiếng ồn này phát ra từ động cơ

và sự rung động của các bộ phận xe…

3 Kỹ thuật khống chế tiếng ồn từ nhà máy chế biến gỗ

Tiếng ồn từ máy cưa đĩa và kỹ thuật khống chế: tiếng ồn từ máy cưa đĩa được tạo thành chủ yếu là do tốc độ quay quá lớn của lưỡi cưa Khi lưỡi cưa chuyển động quay sẽ tạo ra tiếng ồn dạng khí động học, tiếng ồn do sự rung động của lưỡi cưa, tiếng ồn phát ra từ máy và tiếng ồn tạo ra từ sự kết hợp và cộng hưởng lẫn nhau của 3 loại trên Đối với máy cưa đĩa, cấp tiếng ồn khi chạy không tải phổ biến là lớn hơn 90dB(A), trong trường hợp có tải thì

có thể đạt tới 110dB(A), tần số tiếng ồn của nhiều loại máy cưa đĩa thì các đỉnh sóng âm của chúng chủ yếu là thuộc vào khu vực thính giác nhạy cảm của con người, do đó mà nó rất có hại đối với sức khỏe của con người

Các phương pháp để làm giảm tiếng ồn của cưa đĩa có rất nhiều, các biện pháp kỹ thuật được sử dụng phổ biến hiện nay có thể được quy nạp thành hai phương diện, đó là cải tiến kết cấu của bản thân máy cưa đĩa và cải tiến kết cấu của lưỡi cưa cũng như loại hình của răng cưa Biện pháp cụ thể gồm có:

+ Làm giảm độ dày của lưỡi cưa

+ Trong điều kiện công nghệ gia công cho phép, nên thu nhỏ đường kính của lưỡi cưa

+ Làm cho lưỡi cưa có độ căng phẳng thích hợp

+ Trên lưỡi cưa được mở một số lỗ nhỏ đồng đều

+ Thiết kế các đĩa ốp lưỡi cưa một cách hợp lý

+ Hai cạnh của lưỡi cưa có ốp các vòng giảm rung

Tiếng ồn từ máy cưa vòng và kỹ thuật khống chế: tiếng ồn của máy cưa vòng là loại tiếng ồn được hình thành từ nhiều nguồn, thông thường gồm:

Trang 29

khi bánh đà và lưỡi cưa chuyển động sẽ tạo ra những tiếng ồn dạng khí động học; tiếng ồn tạo ra do lưỡi cưa và máy cưa bị rung; tiếng ồn cơ giới tạo ra do

ma sát giữa lưỡi cưa và bánh đà, tiếng ồn do điện từ, tiếng ồn do quá trình cắt gỗ,…Nguồn gốc chủ yếu tạo ra tiếng ồn từ máy cưa vòng là: tiếng ồn từ răng cưa, tiếng ồn do ma sát và rung động của lưỡi cưa, tiếng ồn do bánh đà quay, tiếng ồn do không khí bị đẩy ra, tiếng ồn do các ổ trục quay tạo thành, tiếng ồn

từ, tiếng ồn tạo ra từ giá máy, bàn thao tác hay các bộ phận che đậy máy

Đặc điểm chủ yếu của tiếng ồn tạo ra từ máy cưa vòng là có tần số cao, áp lực âm thanh lớn, tương đối nguy hại đến sức khỏe của người công nhân thao tác Hiện nay trên thế giới đã sử dụng rất nhiều các phương pháp nhằm làm giảm đối với tiếng ồn tạo ra từ máy cưa vòng, được sử dụng tương đối nhiều, gồm có:

+ Tiếng hành cải tiếng đối với kết cấu máy cưa vòng, loại bỏ những nhân tố gây ra rung động đối với máy, tăng cường các biện pháp khống chế độ rung động cần thiết đối với máy

+ Cải tiến hình dạng và kết cấu của răng cưa

Trong điều kiện thỏa mãn các yêu cầu công nghệ gia công, nên sử dụng tốc độ cắt thấp

+ Cố gắng sử dụng những lưỡi cưa mỏng

+ Cần che đậy để cách âm trên máy cưa vòng, các thiết bị che đậy để cách âm đối với máy cưa vòng được tổ chức thành từ: các tấm thép mỏng, thép chữ L, ván sợi, bông thủy tinh siêu mịn, thủy tinh hữu cơ và những loại ván nhân tạo khác, trong đó vật liệu được sử dụng chủ yếu nhất đó là bông thủy tinh siêu mịn Để đảm bảo được hiệu quả các âm, trong điều kiện thỏa mãn được các yêu cầu về công nghệ, cần cố gắng tăng diện tích che kín của các thiết bị che chắn, đồng thời cần tăng số lớp che chắn cách âm, đây cính là một trong những biện pháp chủ yếu hiện đang được sử dụng để làm giảm tiếng

ồn tạo ra từ máy cưa vòng Thực tiễn chứng minh, khi sử dụng kết cấu che

Trang 30

chắn cách âm dạng nhiều lớp, có thể làm giảm được cấp độ tiếng ồn từ 20dB(A)

10-+ Tăng cường các tấm chắn hút âm: để làm giảm tiếng ồn do các luồng không khí tạo ra khi cắt gọt, có thể được lắp một tấm chắn hút âm ở phía dưới của bánh đà trên đối với cưa vòng đứng Tấm chắn này thông thường là một miếng ván dán hình cong, trên bề mặt ván phủ một lớp bông thủy tinh siêu mịn (độ dày khoảng 10mm) Thực tiễn chứng minh, sử dụng tấm chắn hút âm có thể làm giảm được cường độ của tiếng ồn xuống từ 2-4dB(A)

+ Lắp đặt bộ phận nhỏ dầu và tấm đệm mềm đối với cưa: tấm đệm mềm đối với cưa, trên thực tế được lắp hai tấm nỉ mềm có độ dày nhất định ở trên khung của cưa, kết cấu của chúng cũng tương tự như với tấm đệm phổ thông Chúng có thể được lắp ở bên bộ phận căng lưỡi cưa hoặc là ở bên bộ phận thả lỏng đối với lưỡi cưa Khi cắt gọt đối với gỗ, lưỡi cưa sẽ chuyển động qua phần giữa của hai tấm vật liệu đệm mềm này, chúng sẽ phát huy được tác dụng làm giảm độ ồn tạo ra, đồng thời cũng hạn chế phần nào được

sự rung động của lưỡi cưa Thông qua xác định, sau khi được lắp các tấm đệm mềm, có thể làm giảm được cấp độ ồn xuống từ 1.5-2.0 dB(A) Bộ phận nhỏ dầu được hình thành từ hộp dầu và ống quản mềm bằng polymer, dầu bôi trơn

từ bên trong hộp dầu được đi ra tự động nhờ vào sự chênh lệch về độ cao, đồng thời nó cũng được lắp cơ cấu đóng mở để điều tiết dung lượng của dầu Dầu bôi trơn thông qua các đường ống dẫn bằng polymer, không ngừng được nhỏ lên tấm đệm mềm bằng nỉ Khi lưỡi cưa chuyển động qua, tấm thảm mềm

sẽ liên tục cấp dầu cho lưỡi cưa nhằm làm hòa tan phần nhựa cây bám ở lưỡi cưa hoặc dùng để bôi trơn cho lưỡi cưa

Khi bộ phận nhỏ dầu và các tấm đệm mềm đồng thời hoạt động, nó vừa có thể tạo ra sự bôi trơn cho lưỡi cưa, lại có khả năng làm sạch nhựa cây bám dính, nó còn có tác dụng làm giảm độ ồn, làm giảm độ rung động của

Trang 31

lưỡi cưa Qua thí nghiệm xác định, nó có thể làm giảm được cấp độ ồn xuống

từ 8-10dB(A)

Tóm lại, khi sử dụng các phương pháp như đã tình bày ở trên để tiến hành làm giảm tiếng ồn, có thể làm cho tiếng ồn của máy từ ban đầu là 102dB(A) giảm xuống còn nhỏ hơn 80dB(A), trong tần số của tiếng ồn bộ phận cao tần được loại trừ gần như hoàn toàn Đồng thời nó cũng làm giảm được tiếng ồn khi cắt gỗ từ ban đầu là 100dB(A) giảm xuống còn thấp hơn 90dB(A)

Tiếng ồn từ máy bào và kỹ thuật khống chế: máy bào có rất nhiều loại căn cứ vào công nghệ gia công và công dụng của nó thì có thể phân ra thành: máy bào thẩm, máy bào cuốn một mặt, máy bào nhiều mặt (như máy bào 2 mặt, máy bào 4 mặt),…Nhưng nguyên lý tạo ra tiếng ồn của chúng về cơ bản

là như nhau, bao gồm hai bộ phận chủ yếu là tiếng ồn do chạy không tải và tiếng ồn do cắt gọt Máy bào thường có tốc độ quay nhanh, có tốc độ cắt rất cao, nên tiếng ồn tạo ra tương đối lớn Các biện pháp nhằm làm giảm sự ô nhiễm của tiếng ồn tạo ra từ máy bào có sử dụng những loại dao cắt tạo ra mức độ ồn thấp xử lý cân bằng đối với các trục dao của máy bào, lựa chọn tốc

độ quay của trục dao một cách hợp lý, trên nắp đậy ở phía sau trục dao nên thiết kế máng tiêu âm, cải tiến đối với tấm dẫn nguyên liệu, sử dụng biện pháp che đậy, sử dụng tường cách âm,…

Tiếng ồn từ quạt gió và kỹ thuật khống chế: quạt gió tạo ra loại tiếng

ồn mang tính khí động học là chính, còn tiếng ồn mang tính cơ giới là phụ Do tiếng ồn mang tính khí động học của quạt gió được tổ thành chủ yếu từ: tiếng

ồn tạo ra do chuyển động quay của cánh quạt và tiếng ồn tạo ra do dòng xoáy của không khí Vì vậy việc thiết kế ra những loại quạt gió có tính năng hoạt động cao, tạo ra tiếng ồn ít là một cách cơ bản để khống chế đối với loại tiếng

ồn này Đối với những loại quạt gió đã được đưa vào sử dụng thì việc lắp đặt thêm những thiết bị tiêu âm thích hợp cũng là một biện pháp quan trọng để

Trang 32

khống chế tiếng ồn tương đối cao, cần phải tiến hành nhiều biện pháp như: làm giảm độ rung, hút âm, cách âm,…để đồng thời khống chế đối với cả tiếng

ồn về cơ giới, tiếng ồn do rung động, tiếng ồn điện từ,…thì mới có thể đạt được hiệu quả làm giảm mức độ ồn mong muốn

Tiếng ồn tạo ra do cánh quạt chuyển động quay trong không khí và tiếng ồn tạo ra do bản thân máy, có thể giải quyết bằng việc cải thiện tính năng của quạt gió, như yêu cầu các xưởng sản xuất quạt gió phải tăng cường độ chính xác về kết cấu khi chế tạo quạt, tính năng thông gió của quạt phải tốt, cánh quạt và vỏ quạt phải phù hợp với tính chất động lực học của không khí, các vật liệu sản xuất cánh quạt phải có tính đồng đều cao sau khi chế tạo cần tiến hành chạy thí nghiệm để tạo sự cân bằng tĩnh và cân bằng động (với các loại dây curua truyền động cũng cần phải tiến hành chạy thí nghiệm để tạo sự cân bằng động hợp lý), khi lắp đặt phải đảm bảo tốt các khe hở giữa cánh quạt

và miệng hút gió, giữa cánh quạt và phần vỏ, đảm bảo được độ đồng tâm giữa các trục với nhau, các ổ đỡ cần được xiết chặt với một mức độ thích hợp, đảm bảo được độ song song giữa trục của động cơ điện với bánh đà truyền chuyển động cho quạt, cả quạt gió và động cơ điện đều phải được lắp đặt trên nền kiên

cố, tốt nhất là phía trên của nền tại vị trí đặt thiết bị được lắp một lớp cao su chống rung hoặc một lớp vật liệu đàn hồi để có được tác dụng cách âm và chống rung cho máy Khi thiết kế cần cố gắng sao cho buồng hút gió của quạt được đặt phía bên ngoài của nhà xưởng, nếu điều kiện cho phép thì có thể đặt

ở vị trí cách nhà xưởng khoảng 20m, nếu không bên trong buồng hút gió của quạt nên thiết kế một lớp vật liệu polymer xốp có chiều dài khoảng 10-20 mm,

để phát huy được tác dụng hút âm, nhưng ở trên một mặt tường nào đó của buồng hút gió của quạt cũng nên mở một cửa thông với không khí (dạng cửa chớp) để tránh sự tản nhiệt của động cơ ở bên trong sẽ gặp khó khăn

Biện pháp giảm thiểu tiếng ồn: Bố trí các máy móc hợp lý nhằm tránh tập trung các thiết bị có khả năng gây ồn trong khu vực hẹp

Trang 33

Trong quá trình sản xuất, thường xuyên kiểm tra độ cân bằng các máy,

độ mài mòn các chi tiết, tra dầu mỡ và thay thế các chi tiết khi bị mài mòn

Đối với công nhân làm việc trực tiếp tại các khu vực có độ ồn cao thì được trang bị thiết bị bảo hộ lao động, có chế độ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý

Kiểm tra và theo dõi chặt chẽ việc sử dụng các phương tiện bảo hộ lao động thường xuyên của công nhân

2.2.3.4 Khí thải ô nhiễm trong nhà máy chế biến gỗ và biện pháp khống chế

1 Khí thải, bụi từ dây chuyền công nghệ sản xuất

Do dây chuyền công nghệ chế biến các sản phẩm từ gỗ bao gồm rất nhiều các công đoạn gia công khác nhau, ở mỗi công đoạn tùy thuộc vào cách gia công sẽ phát sinh ra các loại bụi với kích thước và nồng độ khác nhau Các công đoạn có khả năng phát sinh bụi nhiều nhất là các công đoạn sơ chế nguyên liệu gỗ và gia công chi tiết (bao gồm cưa, bào, xẻ gỗ, chà nhám, đánh bóng gỗ) chủ yếu là bụi mùn cưa Ngoài ra, bụi còn phát sinh từ sự bốc dỡ gỗ nguyên liệu từ các phương tiện vào kho, sự vận chuyển gỗ nguyên liệu từ kho đến khu vực gia công

Trong công đoạn phun sơn và đánh vecni lên bề mặt sản phẩm Công

ty sử cụng các loại sơn khác nhau để làm tăng giá trị sử dụng và tạo màu sắc cho sản phẩm, từ đó làm phát sinh bụi sơn và hơi dung môi

Quá trình vận hành máy phát điện dự phòng và lò hơi sẽ phát sinh một lượng lớn khí thải chứa nồng độ các thành phần ô nhiễm: bụi, SO2, NOx, CO,…

2 Khí thải từ hoạt động của phương tiện giao thông vận tải

Các phương tiện vận tải phục vụ cho việc di chuyển chở nguyên liệu

và hàng hóa ra vào khu vực nhà máy cùng với các loại xe chở công nhân, xe

du lịch và xe vãng lai trong quá trình vận hành sẽ thải ra khói thải chứa các thành phần: bụi, CO, SOx, NOx… Tải lượng chất ô nhiễm chứa trong khí thải

Trang 34

giao thông vận tải phụ thuộc vào số lượng xe lưu thông, chất lượng nhiên liệu

sử dụng, tình trạng kỹ thuật phương tiện và chất lượng giao thông

3 Nguồn gốc tạo ra khí ô nhiễm trong nhà máy chế biến gỗ

Chủng loại của khí thải dạng hóa học trong ngành chế biến gỗ có rất nhiều qui nạp lại chủ yếu gồm: benzene, gốc amino(-NH2), gốc nitro(-NO2), gốc alkyl, nguyên tố halogen, sulfonic acid, các acid hữu cơ, lead(chì,Pb), mercury(thủy ngân,Hg), chromium(Cr), các nguyên tố kim loại có độc chloride (Cl) hydrogen chloride(HCl), hydrogen fluoride(HF), sulfate dioxide (SO2), ammonia(NH3), phosgene (COCl2), dimethyl sulfate(C2H6O4S), bromine methyl hydride, phosphine(PH3), formic acid(HCOOH), formaidehyde (HCHO), carbon monoxide(CO), hợp chất của cyanide(CN), hydrogen sulfide (H2S) và các loại khí có độc của keo tổng hợp….Những loại khí hoặc hóa chất này sẽ trực tiếp gây hại đối với sức khỏe của con người, đồng thời chúng gây ra sự ô nhiễm cho môi trường

Thông thường, các quá trình hoặc các bước công nghệ tao ra khí thải hóa học trong ngành công nghiệp chế biến gỗ có thể được khái quát thành các mặt sau:

a) Trong quá trình phun sơn trang sức đối với đồ mộc, sẽ làm cho một lượng dung dịch hóa chất bay vào không khí

b) Do các quá trình phản ứng hóa học hoặc biến đổi vật lý ở trong không khí mà cũng có thể tạo thành những chất ô nhiễm cho môi trường

4 Sự nguy hại của khí thải trong công nghiệp chế biến gỗ

Chủng loại nguyên liệu khác nhau thì độc tính của khí thải gây hại đối với môi trường cũng không hoàn toàn giống nhau Đối với những loại khí có chứa benzene, gốc amino, gốc nitro, nguyên tố haologen, sunfonic hay các hợp chất của alkyl, chúng có thể thông qua sự hấp thụ của da hoặc là qua đường hít thở đi vào bên trong cơ thể mà dễ dàng dây độc cho cơ thể; trong công nghệ trang sức đồ mộc sẽ có một lượng dung dịch được bay hơi vào

Trang 35

không khí, nếu như nồng độ của chúng quá cao, có thể gây hại nghiêm trọng đến thần kinh của con người, dễ tạo thành các căn bệnh như chóng mặt, hôn

mê, co giật,… Nếu các khí bay ra có nồng độ thấp thì cũng có khả năng tạo thành đau đầu, mỏi mệt

Chì (Pb) trong công nghiệp hay các hợp chất được hình thành từ bụi chì, khói chì, thông qua đường hô hấp để đi vào cơ thể, hoặc thông qua tay hay thực phẩm bị ô nhiễm để đi vào đường tiêu hóa Khi bị nhiễm độc bởi chì

có thể tạo thành những triệu chứng như: đau bụng, thiếu máu, tê liệt, bệnh về não, suy nhược thần kinh, đau đầu, chóng mặt, mất ngủ, mê nhiều, trí nhớ kém, rối loạn tiêu hóa

Thủy ngân và các hợp chất của nó (như mercuric chlorid HgCl2 và các hợp chất vô cơ, hữu cơ khác) đều là những chất rất độc, hơi hoặc bụi của chúng có thể theo đường hô hấp đi vào cơ thể Các triệu chứng chủ yếu khi trúng độc thủy ngân có: chóng mặt, đau đầu, mệt mỏi, mất ngủ, giảm trí nhớ

Chromium (Cr) và các hợp chất của nó được sử dụng chủ yếu trong các ngành công nghiệp như: sơn dầu, chất màu, nhuộm màu,… trong ngành công nghiệp sản xuất đồ mộc, phun sơn trang sức cũng được sử dụng đến nó Thủy ngân gây hại đối với con người chủ yếu phát sinh ở các công đoạn như

mạ điện hay công đoạn sử dụng muối chromate nặng Trạng thái của nó chủ yếu là ở dạng sương mù hay dạng bụi, theo đường hô hấp đi vào cơ thể Triệu chứng lâm sàng khi trúng độc thủy ngân thường biểu hiện là: kích thích cục bộ

và ăn mòn trên da, có thể dẫn đến viêm mũi, viêm họng, viêm phế quản, thiếu máu, sút cân gây hại cho thận, ảnh hưởng đến hệ thống tiêu hóa

Hiện nay, các bộ phận sản xuất trong ngành chế biến gỗ đã sử dụng rộng rãi những loại keo tổng hợp, trong đó thường thấy nhất có keo UF, keo

PF và keo epoxy Những loại keo này không những sẽ gây ra độc tính nhất định đối với cơ thể con người, mà còn trong quá trình sử dụng dễ bị phân tán gây độc hại cho môi trường không khí, như phenol tự do, aldehyde tự

Trang 36

do,…đều là những chất có kích thích gây hại Thực tiễn chứng minh, nếu tiếp xúc với những dung dịch, thể khí hay bụi của keo tổng hợp trong thời gian dài,

sẽ có thể làm xuất hiện những triệu chứng như: mọc mụn trên da, phù, khô da, nứt nẻ, hay những bệnh về đường hô hấp hoặc về mắt

Khí formaldehyde (HCHO) tự do là một thể khí có hại điển hình nhất trong ngành công nghiệp chế biến gỗ, nó gây hại nghiêm trọng đến cơ thể của con người Tính năng phản ứng giữa formaldehyde với protein là rất cao, nó thuộc nhóm chỉ phản ứng theo một chiều, tạo thành những hợp chất không có khả năng hòa tan, không lưu thông, rất có hại cho sức khỏe của con người Nếu tiếp xúc với formaldehyde trong thời gian dài có thể sẽ làm cho da bị mất khả năng đàn hồi, nếu lượng formaldehyde đi vào cơ thể quá nhiều sẽ dẫn đến làm giảm thị lực hay xuất hiện những căn bệnh về gan Nếu như formaldehyde

tự do trong không khí đến một nồng độ nhất định, thì sẽ làm cho con người sống trong môi trường đó dễ phát sinh những triệu chứng như: bị kích thích về

da và mắt, khó thở, đau đầu, buồn nôn, thậm chí là hôn mê Căn cứ vào xác định, chỉ cần trong không khí có chứa một hàm lượng là 0.1 mg/m3

formaldehyde đạt đến giá trị từ 2.4 – 3.6 mg/m3, thì sẽ có tác dụng kích thích rất mạnh đối với mắt, mũi, họng, đặc biệt là thần kinh trung ương, nếu như hệ thống thông gió trong nhà xưởng không tốt, rất dễ làm cho người công nhân cảm thấy mệt mỏi, đau đầu, thậm chí là bị độc Các nghiên cứu cho thấy, formaldehyde ở trong máu và trong gan, sẽ nhanh chóng bị oxy hóa tạo thành formic acid (HCOOH), nếu như nồng độ của formic acid ở trong máu quá cao

sẽ làm cho giá trị pH của máu dao động quá lớn, dẫn đến một số ống quản dẫn máu bị trúng độc acid

Hiện nay, ván nhân tạo càng ngày càng được sử dụng nhiều ở trong môi trường gia đình Lượng formaldehyde tự do ở trong ván sẽ bốc hơi dần dần, liên tục trong thời gian dài giải phóng ra ngoài môi trường, nó sẽ làm ô

Trang 37

nhiễm nghiêm trọng đối với môi trường, nó sẽ làm ô nhiễm nghiêm trọng đối với môi trường bên trong phòng ở

5 Các biện pháp tổng hợp phòng trừ ô nhiễm khí thải trong chế biến

gỗ

Trong quá trình chế biến gỗ sẽ đưa ra môi trường một lượng lớn khí thải, nó gây nguy hại nghiêm trọng đối với sức khỏe của con người và môi trường không khí Thực tiễn trong phòng chống độc hại trên thế giới cho thấy, phương pháp hiệu quả để phòng trừ ô nhiễm của khí thải công nghiệp đầu tiên

là việc cải tiến công nghệ và thiết bị, cần ngăn chặn tận gốc hoặc làm giảm thấp quá trình tạo ra khí thải gây ô nhiễm, trên cơ sở đó tiếp tục sử dụng những biện pháp thông gió hợp lý, hay thiết lập kỹ thuật trong phòng chống độc hại của ngành công nghiệp chế biến gỗ;

5.a Phương pháp cải tiến công nghệ và thiết bị, tiến hành ngăn chặn tận gốc hoặc làm giảm sự hình thành của khí thải có hại Cải tiến công nghệ sẽ

có thể giải quyết được vấn đề ô nhiễm của khí thải một cách có hiệu quả, như

sử dụng kỹ thuật mới, nghiên cứu và giới thiệu sử dụng những loại keo dán hay sơn ít có độc tính

Đối với các lĩnh vực như: sản xuất đồ mộc, sơn trang sức, gia công bước hai,…thường sử dụng nhất là những loại keo dán và sơn tổng hợp Bản thân của những loại keo dán tổng hợp này cũng luôn tồn tại độc tính nhất định, trong quá trình sản xuất, dự trữ hay sử dụng đối với chúng nó còn khuếch tán

ra môi trường những thể khí có tính độc, các khí này sẽ khuếch tán dần dần và lẫn vào trong không khí xung quanh, gây nguy hại cho sức khỏe của con người, làm giảm hiệu quả sản xuất, giảm chất lượng của sản phẩm Hiện nay, vật liệu sơn sử dụng trong công nghiệp chế biến gỗ thường có chứa một lượng lớn dung dịch hữu cơ, mà những dung dịch hữu cơ này hầu hết đều có tính bay hơi, trong quá trình sản xuất, dự trữ và sử dụng chúng cũng tạo ra sự ô nhiễm nghiêm trọng đối với môi trường Để phòng chống sự ô nhiễm của những loại

Trang 38

hóa chất này, hiện nay các loại keo dán và sơn sử dụng trong công nghiệp chế biến gỗ được phát triển theo 3 xu hướng: bột hóa, có tính sử dụng với nước và không có chứa dung dịch

Đối với việc phòng chống ô nhiễm từ nguyên liệu sơn, đầu tiên cần xem xét đến việc sử dụng dạng bộ hóa, tức là sơn không có chứa các dung dịch hữu cơ, để cải tiến phương pháp truyền thống là trong quá trình hình thành màng sơ sẽ có một lượng lớn dung dịch hữu cơ bay hơi ra ngoài không khí, như vậy sẽ không những có lợi cho việc dự trữ và vận chuyển đối với sơn,

mà còn có thể làm giảm, thậm chí là tránh hoàn toàn được khả năng tạo thành các thể khí có độc bay ra ngoài không khí trong quá trình sử dụng sơn

Đối với những loại sơn có khả năng sử dụng với nước và những loại sơn không có chưa dung dịch thì nó đang là một xu hướng phát triển trong ngành công nghiệp chế biến gỗ Sơn có khả năng sử dụng với nước không những có thể nâng cao được tính năng của sơn, mà còn có khả năng phòng chống được những vấn đề ô nhiễm môi trường Hiện nay sử dụng tương đối nhiều là những loại sơn dạng keo nhũ hoặc sơn có tính hòa tan trong nước

Loại sơn không chứa dung dịch là loại sơn tổng hợp có độ nhớt rất thấp và không hàm chứa dung dịch bên trong, trong quá trình đóng rắn và tạo màng chúng không có quá trình bay hơi của dung dịch nên loại này thuộc loại sơn không gây ô nhiễm

Đối với keo dán mà nói, kể cả các Công ty sản xuất cũng như những nhà nghiên cứu về gỗ đã thử nghiệm sử dụng keo dán có hàm lượng formaldehyde, như keo tamin, hay keo isocyanate (RNCO)…Cũng có người còn tiến hành nghiên cứu kỹ thuật dán ghép không dùng keo

5.b Bịt kín nguồn tạo ra khí ô nhiễm, ngăn chặn sự tiếp xúc trực tiếp giữa con người với thể khí có hại Bịt kín nguồn tạo ra khí ô nhiễm là một biện pháp tốt để ngăn chặn các chất ô nhiễm, trong trường hợp không gây trở ngại cho các thao tác sản xuất, cần cố gắng dùng các biện pháp để bịt kín các thiết

Trang 39

bị sản sinh ra khí có hại, để phòng tránh thể khí có hại hay bay ra bên ngoài rồi đi vào vùng không khí tại vị trí người công nhân đang làm việc, đồng thời cũng cách ly sự tiếp xúc trực tiếp giữa người công nhân với khí ô nhiễm Như trong xưởng sản xuất keo dán, cần cố gắng hết mức để làm cho các phản ứng hóa học được thực hiện trong trạng thái kín, những vị trí sử dụng thủ công để nạp liệu, tháo liệu thì nên tiến hành sử dụng các máng có vị trí cao, các ống dẫn, hay thao tác bằng cơ giới, thực hiện cơ giới hóa trong sản xuất Ngoài ra,

để nâng cao hiệu quả bịt kín, nên duy trì tốt trạng thái chân không ở bên trong các thiết bị

5.c Sử dụng hệ thống thông gió hoặc kỹ thuật làm sạch không khí Thông qua các biện pháp cải tiến công nghệ và thiết bị, nếu như vẫn còn tồn tại thể khí có hại ở bên trong nhà xưởng thì nên sử dụng các thiết bị thông gió cục bộ hoặc hoặc hệ thống thông gió cho toàn bộ nhà xưởng, để sao cho nồng

độ của khí có hại không vượt quá chỉ tiêu quy định trong tiêu chuẩn, đồng thời cũng phải sao cho nồng độ của thể khí được thải ra bên ngoài cũng không được vượt quá tiêu chuẩn cho phép

Khi sử dụng biện pháp thông gió cục bộ cần phải bịt kín các thiết bị tạo ra khí có hại, để sao cho lượng gió cần thiết là nhỏ nhất mà hiệu quả đạt được là cao nhất Mặt khác, cũng cần có sự kết hợp hài hòa giữa bố trí tổng thể, thiết kế kiến trúc với các biện pháp thông gió, để tiến hành phòng chống ô nhiễm một cách tổng hợp Đây chính là biện pháp đang được sử dụng rộng rãi hiện nay và nó cũng có hiệu quả rất tốt, đã phát huy được những tác dụng đáng kể trong việc xử lý khí thải của ngành công nghiệp chế biến gỗ

5.d Bảo hộ cá nhân: do những nguyên nhân về công nghệ và kỹ thuật,

mà một số vị trí thao tác có nồng độ của khí thải không thể đáp ứng được những yêu cầu của tiêu chuẩn, do đó cần tiến hành biện pháp bảo hộ cá nhân đối với người công nhân thao tác, đây chính là phương diện quan trọng trong việc phòng chống ô nhiễm tổng hợp đối với thể khí có hại

Trang 40

5.e Tạo lập các chế độ kiểm tra và quản lý nghiêm khắc Để đảm bảo được quá trình vận hành an toàn của hệ thống thông gió, thúc đẩy cho công tác phòng chống khí ô nhiễm, cần thiết lập một chế độ kiểm tra và quản lý hết sức nghiêm khắc Tăng cường công tác quản lý và sửa chữa đối với hệ thống thông gió, định kỳ kiểm tra nồng độ của thí thải tại các điểm thải ra môi trường, làm tốt công tác kiểm tra và tiến thêm bước nữa nhằm cải thiện công tác phòng chống ô nhiễm môi trường Đối với những người công nhân có tiếp xúc với khí thải, cần định kỳ kiểm tra sức khỏe, để tiện cho việc phát hiện cũng như sử dụng những biện pháp thích hợp để xử lý

2.3 LỢI ÍCH VÀ RÀO CẢN CỦA VIỆC ÁP DỤNG SẢN XUẤT SẠCH HƠN TRONG SẢN XUẤT

2.3.1 Lợi ích

SXSH không những cho phép đáp ứng đúng các tiêu chí quy định về môi trường một cách dễ dàng, mà còn có tiềm năng mang lại lợi ích kinh tế to lớn Từ kết quả thực tế của nhiều quốc gia trên thế giới và tại Việt Nam (một

số kết quả thực hiện SXSH tại tp.HCM, Đồng Nai, Bình Dương) cho thấy SXSH có thể mang lại lợi ích về kinh tế lẫn môi trường Chỉ với các giải pháp

về SXSH chi phí thấp cũng có thể giảm đáng kể cho chi phí xử lý “cuối đường

Giảm thiểu chi phí cho xử lý “cuối đường ống”

Giảm chi phí nguyên vật liệu, năng lượng do sử dụng chúng có hiệu quả hơn

Ngày đăng: 06/04/2015, 00:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2  -  1:  Sản  phẩm  và  thị  trường  tiêu  thụ  đồ  gỗ  xuất  khẩu  Việt  Nam: - Xây dựng các tiêu chí để thực hiện SXSH trong dây chuyền sản xuất gỗ và đồ mộc xuất khẩu tại Công ty TNHH gỗ Lee Fu Việt Nam Tỉnh Đồng Nai
ng 2 - 1: Sản phẩm và thị trường tiêu thụ đồ gỗ xuất khẩu Việt Nam: (Trang 44)
Hình 3 – 1: Tên bảng hiệu công ty  Hình  3  –  2:  Mô  hình  tổng  thể  nhà - Xây dựng các tiêu chí để thực hiện SXSH trong dây chuyền sản xuất gỗ và đồ mộc xuất khẩu tại Công ty TNHH gỗ Lee Fu Việt Nam Tỉnh Đồng Nai
Hình 3 – 1: Tên bảng hiệu công ty Hình 3 – 2: Mô hình tổng thể nhà (Trang 50)
Hình 3 – 3: Tòa nhà quản lý điều hành - Xây dựng các tiêu chí để thực hiện SXSH trong dây chuyền sản xuất gỗ và đồ mộc xuất khẩu tại Công ty TNHH gỗ Lee Fu Việt Nam Tỉnh Đồng Nai
Hình 3 – 3: Tòa nhà quản lý điều hành (Trang 50)
Sơ đồ 3 – 1:  Sơ đồ cơ cấu tổ chức - Xây dựng các tiêu chí để thực hiện SXSH trong dây chuyền sản xuất gỗ và đồ mộc xuất khẩu tại Công ty TNHH gỗ Lee Fu Việt Nam Tỉnh Đồng Nai
Sơ đồ 3 – 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức (Trang 51)
Bảng 3 – 1: Danh mục nguyên liệu - Xây dựng các tiêu chí để thực hiện SXSH trong dây chuyền sản xuất gỗ và đồ mộc xuất khẩu tại Công ty TNHH gỗ Lee Fu Việt Nam Tỉnh Đồng Nai
Bảng 3 – 1: Danh mục nguyên liệu (Trang 52)
Bảng  3  –  3:  Bảng  nhu  cầu sử  dụng  điện  từ  tháng  5/2011 đến  tháng  9/2011 - Xây dựng các tiêu chí để thực hiện SXSH trong dây chuyền sản xuất gỗ và đồ mộc xuất khẩu tại Công ty TNHH gỗ Lee Fu Việt Nam Tỉnh Đồng Nai
ng 3 – 3: Bảng nhu cầu sử dụng điện từ tháng 5/2011 đến tháng 9/2011 (Trang 54)
Bảng 3 – 4: Thiết bị máy móc đang sử dụng trong công ty - Xây dựng các tiêu chí để thực hiện SXSH trong dây chuyền sản xuất gỗ và đồ mộc xuất khẩu tại Công ty TNHH gỗ Lee Fu Việt Nam Tỉnh Đồng Nai
Bảng 3 – 4: Thiết bị máy móc đang sử dụng trong công ty (Trang 54)
Sơ đồ quy trình sản xuất sản phẩm - Xây dựng các tiêu chí để thực hiện SXSH trong dây chuyền sản xuất gỗ và đồ mộc xuất khẩu tại Công ty TNHH gỗ Lee Fu Việt Nam Tỉnh Đồng Nai
Sơ đồ quy trình sản xuất sản phẩm (Trang 59)
Bảng 3 - 5: Danh sách chất thải không nguy hại phát sinh trung bình - Xây dựng các tiêu chí để thực hiện SXSH trong dây chuyền sản xuất gỗ và đồ mộc xuất khẩu tại Công ty TNHH gỗ Lee Fu Việt Nam Tỉnh Đồng Nai
Bảng 3 5: Danh sách chất thải không nguy hại phát sinh trung bình (Trang 64)
Bảng 3 – 6: Danh sách chất thải nguy hại phát sinh trung bình trong 1 - Xây dựng các tiêu chí để thực hiện SXSH trong dây chuyền sản xuất gỗ và đồ mộc xuất khẩu tại Công ty TNHH gỗ Lee Fu Việt Nam Tỉnh Đồng Nai
Bảng 3 – 6: Danh sách chất thải nguy hại phát sinh trung bình trong 1 (Trang 65)
Sơ đồ 3 – 3: Sơ đồ công nghệ hệ thống xử lý bụi - Xây dựng các tiêu chí để thực hiện SXSH trong dây chuyền sản xuất gỗ và đồ mộc xuất khẩu tại Công ty TNHH gỗ Lee Fu Việt Nam Tỉnh Đồng Nai
Sơ đồ 3 – 3: Sơ đồ công nghệ hệ thống xử lý bụi (Trang 67)
Sơ đồ công nghệ hệ thống thu hồi bụi sơn được công ty áp dụng như  sau: - Xây dựng các tiêu chí để thực hiện SXSH trong dây chuyền sản xuất gỗ và đồ mộc xuất khẩu tại Công ty TNHH gỗ Lee Fu Việt Nam Tỉnh Đồng Nai
Sơ đồ c ông nghệ hệ thống thu hồi bụi sơn được công ty áp dụng như sau: (Trang 69)
Sơ đồ công nghệ xử lý khói thải được công ty áp dụng: - Xây dựng các tiêu chí để thực hiện SXSH trong dây chuyền sản xuất gỗ và đồ mộc xuất khẩu tại Công ty TNHH gỗ Lee Fu Việt Nam Tỉnh Đồng Nai
Sơ đồ c ông nghệ xử lý khói thải được công ty áp dụng: (Trang 70)
Bảng 3 – 7: Chất lượng khí thải tại ống  khói - Xây dựng các tiêu chí để thực hiện SXSH trong dây chuyền sản xuất gỗ và đồ mộc xuất khẩu tại Công ty TNHH gỗ Lee Fu Việt Nam Tỉnh Đồng Nai
Bảng 3 – 7: Chất lượng khí thải tại ống khói (Trang 71)
Bảng 3 – 8: Chất lượng vi khí hậu và tiếng ồn - Xây dựng các tiêu chí để thực hiện SXSH trong dây chuyền sản xuất gỗ và đồ mộc xuất khẩu tại Công ty TNHH gỗ Lee Fu Việt Nam Tỉnh Đồng Nai
Bảng 3 – 8: Chất lượng vi khí hậu và tiếng ồn (Trang 72)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w